1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Trong Trường Tiểu Học Quận Hồng Bàng - Hải Phòng 6833438.Pdf

60 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Trong Trường Tiểu Học Quận Hồng Bàng - Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Ngọc Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Thị Kim Thoa
Trường học Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Output file 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN NGỌC ANH CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG TRƢỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN NGỌC ANH

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG - HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số : 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đinh Thị Kim Thoa

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HB - HP : Hồng Bàng - Hải Phòng

THCS : Trung học cơ sở TCN : Trước công nguyên THPT : Trung học phổ thông THSP : Trung học sư phạm

PHHS : Phụ huynh học sinh XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang

Bảng 2.1 Đặc điểm đội ngũ CBQL, GV, HS các trường Tiểu học 34 Bảng 2.2 Tình hình cơ sở vật chất các trường Tiểu học 35 Bảng 2.3 Chất lượng hai mặt giáo dục 36 Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về HĐGDKNS 38 Bảng 2.5 Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh của giáo viên Tiểu học 42 Bảng 2.6 Ý kiến của học sinh về hình thức tổ chức HĐGDKNS 43 Bảng 2.7 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch HĐGDKNS của CBQL, GV 45 Bảng 2.8 Thực trạng việc bồi dưỡng đội ngũ về HĐGDKNS 46 Bảng 2.9 Thực trạng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ

Biểu đồ 2.1 Độ tuổi bình quân của CBQL và GV giảng daỵ 35 Biểu đồ 2.2 Nhận thức của CBQL, GV, PHHS, HS về vai trò củaHĐGDKNS 41 Biểu đồ 2.3 Thực trạng việc bồi dưỡng đội ngũ về HĐGDKNS 47 Biểu đồ 2.4 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ cho

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 4

3.Đối tượng, khách thể và giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5.Giả thuyết khoa học 5

6.Phương pháp nghiên cứu 5

7.Cấu trúc luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC 8

1.1.Một số nét về lịch sử nghiên cứu của đề tài 8

1.2.Một số vấn đề cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục 10

1.2.1.Khái niệm về quản lý 10

1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục 13

1.2.3 Khái niệm về quản lý trường học 15

1.2.4 Chức năng quản lý 17

1.2.5 Biện pháp quản lý giáo dục 18

1.3 Một số vấn đề về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 19

1.3.1 Khái niệm kỹ năng sống 19

1.3.2 Tại sao phải dạy kỹ năng sống? 20

1.3.4 Phân loại kỹ năng sống 20

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học 28

1.4.1 Quản lý kế hoạch thực hiện HĐGDKNS 28

1.4.2 Quản lý đội ngũ thực hiện HĐGDKNS 29

1.4.3 Quản lý việc phối hợp các lực lượng thực hiện HĐGDKNS 30

1.4.4 Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDKNS 30

Tiểu kết chương 1 32

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT

ĐỘNG GIÁO DỤC KNS TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN

ĐỊA BÀN QUẬN HỒNG BÀNG - HẢI PHÒNG 33

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33

2.1.1 Tình hình phát triển giáo dục quận Hồng Bàng - Hải Phòng 33

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục Tiểu học quận Hồng Bàng 34

2.2 Thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống 37

2.2.1.Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh, học sinh về HĐGDKNS 38

2.2.2.Thực trạng HĐGDKNS trong trường Tiểu học quận HB- Hải Phòng 41

2.2.3.Thực trạng quản lý HĐGDKNS trong trường Tiểu học quận HB-HP 44

2.2.4 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 53

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3:CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG - HẢI PHÒNG 57

3.1.Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 57

3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng về Giáo dục và Đào tạo 57

3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu Giáo dục Tiểu học 58

3.1.3.Nguyên tắc tổ chức HĐGDKNS phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Tiểu học 59

3.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa dạy học và tổ chức HĐGDKNS 60

3.1.5.Nguyên tắc đảm bảo phát huy khả năng của học sinh trong quá trình tham gia HĐGDKNS 61

3.2 Các biện pháp quản lý HĐGDKNS trong trường Tiểu học quận HB- HP 62

Trang 6

3.2.1.Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kỹ năng hướng dẫn, tổ chức

HĐGDKNS cho đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường 63

3.2.2.Quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐGDKNS của TPT, GVCN 65

3.2.3.Quản lý hình thức tổ chức HĐGDKNS cho học sinh Tiểu học 67

3.2.4.Quản lý việc tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng xã hội cùng tham gia vào quá trình tổ chức HĐGDKNS 72

3.2.5.Kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDKNS trong trường Tiểu học 74

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 76

3.4.Khảo sát tính cần thiết và khả thi của một số biện pháp quản lý HĐGDKNS 77

3.4.1.Mục đích, khảo sát 77

3.4.2.Đối tượng khảo sát 77

3.4.3.Nội dung khảo sát 77

3.4.4.Phương pháp khảo nghiệm 77

3.4.5.Khảo nghiệm 77

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Khuyến nghị 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hiện nay, khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, một nền văn minh mới: nền

văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức thì giáo dục ngày càng được coi trọng hơn và còn được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của một quốc gia, của mỗi con người trong xã hội Đảng và nhân dân mỗi nước đều đánh giá cao về vai trò của giáo dục Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, sự giao lưu, cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới ngày càng mạnh mẽ Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với quy mô ngày càng rộng

và trình độ ngày càng cao, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện theo hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá Chính vì vậy tại điều 2 của Luật giáo dục được Quốc hội XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày

14 tháng 6 năm 2005 ghi rõ:“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt

Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Bên cạnh đó, kết quả việc thực hiện giáo dục toàn diện của giáo dục Việt Nam chưa cao như mục tiêu đã đặt ra do cách thức giáo dục còn nặng nề

về cung cấp kiến thức, sử dụng những phương pháp làm cho người học thụ động, không khuyến khích, phát huy được tư duy sáng tạo của mỗi cá nhân

1.2 Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân

Bậc học có vị trí quan trọng trong giáo dục cũng như trong đời sống xã hội

Tại điểm 2 - Điều 27 - Luật giáo dục năm 2005 ghi rõ:“Giáo dục Tiểu học

nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.”

Trang 8

Sự phát triển nhân cách của học sinh hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng giáo dục toàn diện ở mỗi cấp học, bậc học Do đó nếu các em không đạt kết quả giáo dục tốt ở bậc Tiểu học thì chắc chắn cũng khó theo học tốt được những cấp học tiếp theo Vì vậy, giáo dục Tiểu học không chỉ đặt nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông mà còn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Để giúp cho học sinh phát triển toàn diện và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bên cạnh việc truyền thụ, trang bị những kiến thức về khoa học cơ bản của hoạt động học thì cần phải trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, hình thành cho học sinh về ý thức, về niềm tin, về thái độ ứng sử đúng đắn trong quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi, kỹ năng hoạt động cơ sở…Như vậy việc trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cơ bản thực sự là một đòi hỏi không thể có gì thay thế được

Bên cạnh đó do nhu cầu đổi mới giáo dục, đáp ứng sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như đáp ứng nhu cầu được phát triển của người học, giáo dục phổ thông nước ta trong những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học gắn với bốn trụ cột trong giáo dục của thế kỷ XXI là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống mà thực chất là một cách tiếp cận kỹ năng sống Đặc biệt, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đã được Bộ giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013

1.3 Mặt khác việc giáo dục toàn diện cho học sinh ở nước ta còn rất nhiều hạn

chế Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là việc rất quan trọng ảnh hưởng tới quá trình hình thành nhân cách cho trẻ Việc làm quen với các môn học về kỹ năng sống như giao tiếp, thuyết trình, làm việc theo nhóm, khả năng lãnh đạo, tổ chức thậm chí là các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội, các tệ nạn xã hội,

Trang 9

vấn đề môi trường, hoả hoạn, chống tai nạn thương tích… và nhiều vấn đề

khác trong cuộc sống sẽ giúp các em tự tin chủ động và biết xử lý mọi tình

huống trong cuộc sống và quan trọng hơn là khơi gợi những khả năng tư duy

sáng tạo, biết phát huy thế mạnh của học sinh Điều này lại một lần nữa khẳng

định việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên cần thiết nhằm

góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ các mặt: “ĐỨC– TRÍ - THỂ - MỸ”.

1.4 Năm học 2009-2010 là năm học có tính đột phá cao, lần đầu tiên Bộ giáo

dục và Đào tạo đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vào chỉ thị

nhiệm vụ năm học Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là một trong 5 nội

dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích

cực” mà Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát động trong năm học đó là:

- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống,

thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm

- Rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, kỹ năng phòng ngừa

tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác

- Rèn luyện các kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hoà bình, phòng

ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội

Giáo dục kỹ năng sống sẽ giúp các em hiểu biết về thể chất, tinh thần

của bản thân mình, từ đó biết bảo vệ, tránh stress và khủng hoảng tâm lý

Chẳng hạn trong những thời kỳ dịch bệnh, nếu được trang bị kỹ năng sống,

các em sẽ biết bảo vệ bản thân mình và cộng đồng để tránh lây nhiễm

Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục những hiểu biết, hành vi, thói quen

ứng xử xã hội sao cho có văn hóa, hiểu biết và chấp hành luật pháp Giáo dục

kỹ năng sống, tựu trung lại là giáo dục làm người - những con người có thể

thích ứng với nhiều hoàn cảnh và đòi hỏi khác nhau của cuộc sống

Những hành vi của mỗi con người, đặc biệt là những người ở lứa tuổi

măng non không phải tự nhiên mà tốt, cần phải có sự kết hợp cả gia đình, nhà

trường và xã hội Cho nên cần đưa kỹ năng sống vào trường học, song việc

làm này muốn thực hiện được tốt không phải là dễ

Trang 10

Là quận trung tâm của thành phố Hải Phòng, quận Hồng Bàng có mật

độ dân số cao, kinh tế phát triển đời sống tương đối cao, song tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, giáo dục còn gặp nhiều khó khăn Xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và hoạt động…mà một số trường học trong Quận còn chưa quan tâm đến việc dạy kỹ năng sống cho học sinh Trên thực tế, ở một số thành phố lớn, các bậc phụ huynh đã không thể ngồi chờ ngành GD mà đã đến các trung tâm tư nhân hoặc liên kết với nước ngoài để “nhờ” họ trang bị cho con mình kỹ năng sống Giáo dục kỹ năng sống chính là giáo dục cho học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội, từ đó từng cá nhân mới có được niềm tin vào bản thân, sau đó là vào xã hội và cuộc sống

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài:

“Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng

3.2 Khách thể nghiên cứu

Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục

kỹ năng sống trong trường Tiểu học

Trang 11

- Giới hạn về khách thể: 28 cán bộ quản lý, 64 giáo viên chủ nhiệm lớp của ba trường Tiểu học

- Giới hạn về địa bàn: 3 trường Tiểu học của quận Hồng Bàng-Hải Phòng: Trường tiểu học Nguyễn Huệ, Trần Văn Ơn và Ngô Gia Tự

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

4.1.Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng

sống trong trường Tiểu học

4.2.Đánh giá thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường

Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng

4.3.Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong

trường Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng

5 Giả thuyết khoa học

HĐGDKN trong các trường Tiểu học còn mang tính tích hợp nên việc triển khai thực hiện, đánh giá kết quả và quản lý hoạt động này gặp nhiều khó khăn

Nếu xác định được những biện pháp quản lý HHĐGDKNS trong các trường Tiểu học một cách hợp lý thì kết quả của HĐGDKNS cho học sinh sẽ được nâng cao, góp phần không nhỏ vào việc giáo dục toàn diện nhân cách học sinh

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết: nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và hệ thống các văn bản như văn kiện, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của nhà nước và của Bộ giáo dục và Đào tạo các tài liệu có liên quan đến lý luận quản lý, quản lý giáo dục và các đề tài liệu liên quan đến vấn

đề đề tài nghiên cứu

Trang 12

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xem xét, phân tích nội dung, các biện pháp, cách thức, kiểm tra đánh giá việc giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục Tiểu học nhằm đảm bảo tính chân thực, khách quan của đối tượng nghiên cứu như:

Phương pháp điều tra (An ket): điều tra bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng của hoạt động giáo dục kỹ năng sống của giáo viên, việc quản lý hoạt động này của cán bộ quản lý các trường Tiểu học trong địa bàn quận Hồng Bàng

Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh, giáo viên khi tổ chức giáo dục KNS trong các hoạt động dạy học, tổ chức hoạt động tập thể…để phát hiện khả năng tiếp thu cũng như vận dụng những KNS của bản thân trong giao tiếp như thế nào từ đó đưa ra những biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển KNS cho các em

Phương pháp toạ đàm: Trao đổi với phụ huynh học sinh, giáo viên, phụ huynh để đánh giá nhận thức, hành vi, thái độ của học sinh, đánh giá kết quả cũng như phát hiện các yếu tố quản lý của các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học

Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của chuyên gia, trao đổi với nhà các nhà quản lý thu thập thông tin cần thiết liên quan đến đề tài

Phương pháp thăm dò: Khảo sát thăm dò một số biện pháp để khẳng định tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất

6.3 Phương pháp bổ trợ

- Phân tích số liệu, thống kê để xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng

- Tổng kết kinh nghiệm quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường Tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng

Trang 13

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ

lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ cở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý hoạt giáo dục KNS trong giáo dục Tiểu học

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường Tiểu học thuộc địa bàn Quận Hồng Bàng - Hải Phòng

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường Tiểu học thuộc địa bàn Quận Hồng Bàng- Hải Phòng

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, QUẢN LÝ GIÁO DỤC

VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC

1.1 Một số nét về lịch sử nghiên cứu của đề tài

Ngày nay nhu cầu về quản lý ngày càng phát triển gắn với tiến trình lịch sử của nhân loại trở thành các quan điểm, tư tưởng quan trọng đối với các nhà triết học, chính trị dưới các chế độ khác nhau ngay từ thời kỳ chiếm hữu

nô lệ ở các quốc gia phương Tây cũng như phương Đông

Tiêu biểu cho phương Đông, trong nhà nước Trung Hoa cổ đại có Khổng Tử (551 - 479 TCN), Mạnh Tử (372 - 289 TCN), Thương Ưởng (390-

338 TCN) đã nêu lên tư tưởng quản lý "Đức trị, Lễ trị" lấy chữ Tín làm đầu Bởi vì:"dân không tín thì chính quyền sẽ đổ" Những tư tưởng quản lý đó đã

có ảnh hưởng khá lâu dài đối với một số nước phương Đông chịu ảnh hưởng Nho giáo trong xã hội phong kiến được phát triển từ thấp đến cao, từ vĩ mô

đến vi mô:"chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"

- C.Mác (1818-1883) và F.Ăng ghen (1820-1895) - Người sáng lập ra học thuyết Cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại C.Mác

cho rằng:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến

hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"[39] Hai ông

còn xác định mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra: "con người phát

triển toàn diện" Muốn vậy phải theo "phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất" Đây chính là phương thức giáo dục hiện đại

Trang 15

- V.I Lê nin (1870-1924) -Người phát triển học thuyết giáo dục XHCN của C.Mác và F.Ăng ghen đã đưa ra quan điểm: Người Hiệu trưởng trong nhà trường XHCN không phải chỉ cần biết tổ chức việc dạy và học theo yêu cầu

xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một "công cụ

của chuyên chính vô sản"(Lê nin-Bàn về giáo dục)

- Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên Xô đang trên con đường xây dựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và

HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh Trong cuốn sách "Tổ chức và lãnh

đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông"[40], tác giả I.X.Marienco đã trình

bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL

Theo Phạm Minh Hạc:"Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói

chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh"

- Tác giả Giang Thị Khuyên với nghiên cứu: "Thực trạng quản lý hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học miền núi huyện Mai Sơn - Sơn La"[52], đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức HĐGDNGLL

đối với việc nâng cao chất lượng trường Tiểu học miền núi như: bồi dưỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ GV; cải tiến công tác quản lý, hướng dẫn HĐ GDNGLL; phối hợp các lực lượng tham gia…sẽ là các tác động tích cực để thúc đẩy HĐGDNGLL trong trường Tiểu học miền núi, nhằm xây dựng hình thành ở

HS những năng lực, phẩm chất tốt nhất của người cán bộ dân tộc trong tương lai

- Nguyễn Như Ý với nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay"[53], đã khẳng định

Trang 16

HĐGDNGLL với nội dung, hình thức phong phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành" Nghiên cứu đã chỉ

ra được một số biện pháp như: thành lập ban chỉ đạo, kế hoạch hoá HĐGDNGLL, quy định tiêu chuẩn thi đua đối với việc tham gia tổ chức hoạt động của giáo viên, chỉ đạo tổ chuyên môn, khối chủ nhiệm tham gia tổ chức HĐGDNGLL sẽ góp phần làm cho công tác quản lý chỉ đạo HĐGDNGLL của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn

Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL như vai trò, biện pháp quản lý, hình thức tổ chức trong nhà trường và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau: giáo dục Mầm non, giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT, giáo dục Đại học

Thuật ngữ kỹ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện."[18] Từ đó đến nay nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục

kỹ năng sống gắn với các vấn đề xã hội như: phòng chống ma tuý, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường…

Như vậy, đã có không ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề HĐGDNGLL nhưng ở nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ hoạt động quản lý HĐGDKNS ở trường Tiểu học là chưa được đề cập có hệ thống, đặc biệt chưa

có công trình nào nghiên cứu vấn đề này tại thành phố Hải Phòng

1.2 Một số vấn đề cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục

1.2.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, nó là nội hàm của quá trình lao động Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm

Trang 17

Theo quan niệm của C.Mác: “Bất cứ nơi nào có lao động, ở đó có quản lí”, và “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”

Quản lí là: “Nhằm thiết lập sự phối hợp những công việc giữa các cá nhân và thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn

bộ cơ sở sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó”

Các nhà nghiên cứu về quản lí ở Liên Xô cũ cũng đã quan niệm “Quản

lí là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”

Các nhà nghiên cứu về quản lí ở Việt Nam cũng đã đưa ra những quan niệm về quản lí Tại giáo trình “Quản lí hành chính nhà nước, 1996” của viện

hành chính quốc gia đã viết “Hoạt động quản lí là một dạng lao động đặc biệt

của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các hoạt động trí óc liên kết các

bộ máy quản lí thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà, phối hợp các khâu,

Nguyễn Minh Đạo định nghĩa “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định

hướng của chủ thể quản lí (người quản lí hay tổ chức quản lí) lên khách thể quản lí (đối tượng) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lí”

Bản chất của quản lí là sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lí thông qua các hoạt động chuyên biệt Do vậy, quản lí vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Quản lí mang tính khoa học vì hoạt động của nó có tổ chức,

có định hướng, dựa trên những qui luật, những nguyên tắc và phương pháp

Trang 18

hoạt động cụ thể Quản lí mang tính nghệ thuật vì hoạt động của nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội Đặc biệt, trong quản lí thì quản lí con người là quản lí bậc cao, là

cơ sở của quản lí xã hội

Theo Từ điển tiếng Việt do trung tâm từ điển học biên soạn 1998, khái niệm quản lý được định nghĩa là:

+ Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định

+ Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

- Frederick Winslow Taylor (1856-1915), người sáng lập thuyết quản lý

theo khoa học đã định nghĩa: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn

người khác làm, người sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách

- Henry Fayol (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho

rằng: "Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển,

phối hợp và kiểm tra"[19,tr 03] trong định nghĩa này, ông đã nêu 5 chức năng

cơ bản của nhà quản lý:

+ Chức năng kế hoạch hoá;

+ Chức năng tổ chức;

+ Chức năng ra lệnh (chỉ huy);

+ Chức năng phối hợp;

+ Chức năng kiểm tra

- Harold Koontz, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại,

đã viết: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ

lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất"[33, tr 29]

- Theo Nguyễn Văn Lê:"Quản lý là một hệ thống tác động khoa học

nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống"

Trang 19

- Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng:"Quản lý là một quá trình

định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống."[43]

- Nguyễn Ngọc Quang quan niệm:"Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu đã dự kiến"[43,tr 24]

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu một cách

khái quát: "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của

chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra"

1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục

Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quản lý nói chung và quản

lý giáo dục nói riêng cả trong và ngoài nước Các công trình này đã nghiên cứu chủ yếu về mặt lý luận như các khái niệm quản lý và chức năng quản lý,

về mối liên hệ giữa khoa học quản lý giáo dục với những khoa học khác Những kết quả của việc nghiên cứu trên đã được ứng dụng rộng rãi trong đội ngũ CBQL giáo dục nói chung, đội ngũ quản lý các trường phổ thông nói riêng và đã mang lại kết quả nhất định

Trong lịch sử phát triển của xã hội, khoa học quản lý giáo dục ra đời muộn hơn khoa học quản lý kinh tế Theo sơ đồ phân loại khoa học của B.m.Kêđrốp thì quản lý giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội Do mỗi phương thức sản xuất của xã hội đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên

khái niệm "Quản lý giáo dục" đã ra đời và hình thành từ nhiều quan niệm

khác nhau Chẳng hạn: ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) , do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý

cơ sở giáo dục như một loại "Xí nghiệp đặc biệt" Trong đề mục "Quản lý cơ

sở giáo dục" của bộ từ điển bách khoa quản lý do Patrich Jonfre và Fvesimon

chủ biên đã có thuật ngữ: "Xí nghiệp giáo dục"

Trang 20

Trái lại, ở các nước XHCN do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý

giáo dục, nên "quản lý giáo dục" lại được xếp nằm trong lĩnh vực "quản lý

văn hoá - tư tưởng" như A.g.afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển

nổi tiếng: "Con người trong quản lý xã hội" của mình

Thực tế khái niệm"Quản lý giáo dục" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ "giáo dục" "Quản lý giáo dục" được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi "giáo dục" được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội Còn khi "giáo dục" được diễn ra trong ngành

giáo dục (Từ bộ giáo dục - đào tạo đến cơ sở trường học) hay các trung tâm

kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp thì "quản lý giáo dục" được hiểu theo nghĩa

hẹp là quản lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường… để hiểu một cách

chính xác hơn về "Quản lý giáo dục", ta xem xét các quan niệm sau đây:

- Theo M.M.Mechti Zađe, nhà lý luận Xô Viết trước đây đã nêu: "Quản

lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính…) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng"

- Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Quang đã viết:"Quản lý giáo dục là hệ

thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"[43,tr 35]

Hiện nay, định nghĩa quản lí giáo dục, tuy chưa hoàn toàn thống nhất với nhau, nhưng đã có nhiều ý kiến cơ bản đồng nhất Người ta thường xem

xét quản lí giáo dục theo 2 góc độ: Hệ thống giáo dục theo đặc trưng thứ bậc (toàn xã hội, Bộ , Sở, Phòng, trường), hệ thống giáo dục tồn tại có tính bản

thể (quá trình sư phạm, cơ sở vật chất, thiết bị…các định hướng giáo dục:

Trang 21

đường lối, chính sách…yếu tố con người: thầy, trò, cán bộ quản lí…quan hệ giữa con người là chủ thể quản lí với con người là khách thể quản lí)

Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng:“Quản lí nhà trường (quản lí giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[29]

Trong tài liệu “Những vấn đề quản lí nhà nước và quản lí giáo dục”, Hà Nội 1998, Trường cán bộ quản lí Giáo dục - Đào tạo viết:“Quản lí giáo dục là

sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” Cũng trong tài liệu này, Đặng Quốc Bảo viết:“Quản lí giáo dục là quản lí một loại quá trình kinh tế - xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có kĩ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” Cũng ở tài liệu nêu trên, trong chủ đề

“Quản lí nhà nước về Giáo dục - Đào tạo” tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc định

nghĩa: “Quản lí nhà nước trong giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công, được xã hội uỷ thác để điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục - đào tạo trong phạm vi toàn xã hội”

Quản lý giáo dục là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục

1.2.3 Khái niệm về quản lý trường học

Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp

và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục

và đào tạo trong nhà trường

-Phạm Khắc Chương cho rằng: "Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý

nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc

Trang 22

tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào tạo, giáo dục nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc, triết xuất được cho thế hệ trẻ Vì vậy, nhà trường trong bất cứ xã hội nào cũng sẽ là tâm điểm hội tụ của hoạt động giáo dục và quản

3 Nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên tham gia vào quá trình quyết định quản lý các mặt tài chính, nhân sự…kể cả cải tiến nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường

4 Quản lý hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương trình giáo dục trên cơ sở quản lý nhà giáo, cán

bộ, nhân viên, tuyển sinh và quản lý người học

5 Quản lý môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành hệ thống mở nhằm xã hội hoá và công khai hoá các hoạt động giáo dục, đào tạo của nhà trường hướng vào các mục tiêu cấp học

6 Quản lý và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các lực lượng chủ thể

và khách thể trong và ngoài nhà trường, phục vụ cho hoạt động dạy, học và thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường."

Trang 23

1.2.4.Chức năng quản lý

Chức năng: là hoạt động, tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng

của một cơ quan hoặc một hệ cơ quan nào đó Chức năng quản lí gắn liền với

sự xuất hiện và tiến bộ của sự phân công, hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động Đến nền sản xuất công nghiệp, khoa học kĩ thuật phát triển, sự phân công lao động diễn ra theo lối chia quá trình sản xuất ra nhiều công đoạn, mỗi công đoạn có nhiệm vụ thực hiện một dạng hoạt động sản xuất nhất định, được chuyên môn hoá Thực hiện phối hợp, liên kết cả chuỗi dây chuyền sản xuất đó thành một qui trình công nghệ

liên tục sẽ hoàn thành sản phẩm với năng suất, chất lượng cao

Cũng như các hoạt động quản lí kinh tế - xã hội, quản lí giáo dục có hai chức năng tổng quát: Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội; Chức năng đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ, phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, là hoạt động có mục đích, có chương trình, có kế hoạch Chức năng quản lí giáo dục ra đời cũng là một tất yếu khách quan để thực hiện mục đích giáo dục

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: chức năng quản lí giáo dục

là sự tác động của chủ thể quản lí giáo dục đến khách thể quản lí giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu, mục đích giáo dục

Tất cả các chức năng quản lí chung đều có thể vận dụng vào quản lí giáo dục Đồng thời, xuất phát từ 2 chức năng tổng quát nêu trên, quản lí giáo dục có 4 chức năng cụ thể như sau:

- Kế hoạch hoá: đưa mọi hoạt động Giáo dục - Đào tạo và công tác kế

hoạch hoá với mục tiêu, phương pháp, biện pháp rõ ràng, các bước đi cụ thể,

ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu

- Tổ chức thực hiện: hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ

mệnh, với nhiệm vụ chính trị với các loại mục tiêu (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn)

Trang 24

- Chỉ đạo (chỉ huy, điều hành, điều khiển): chức năng này mang tính tác

nghiệp Trong quá trình kế hoạch hoá, cần chú ý thực hiện dân chủ, lấy ý kiến

từ cơ sở, đồng thời lưu ý sự tập trung, thống nhất điều khiển

- Kiểm tra đánh giá: công việc này gắn với sự đánh giá, tổng kết kinh

nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu

Hệ thống quản lí giáo dục, nhà trường hoạt động trong trạng thái đa dạng, phức hợp Quản lí giáo dục, quản lí dạy học thực chất là quản lí các mục tiêu vừa tường minh, vừa trong mối tương tác của các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục nói chung, quá trình dạy học nói riêng

Theo Đặng Quốc Bảo trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về quản lí giáo dục”, Hà Nội, 1998 đã nhấn mạnh: hoạt động tương tác của các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục làm nảy sinh các vấn đề và tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải quyết kịp thời Quản lí giáo dục chính là quá trình xử lí các tình huống có vấn đề (mâu thuẫn, gây cấn, xung đột) trong việc đào tạo để giáo dục, để nhà trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của kinh tế - xã hội”[20]

1.2.5 Biện pháp quản lý giáo dục

Biện pháp: là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể chẳng hạn

biện pháp hành chính, biện pháp kỹ thuật, biện pháp vĩ mô, biện pháp vi mô

Biện pháp quản lí: là định hướng quan điểm cho công tác quản lí một

lĩnh vực nào đó; là cách thức, con đường, cách làm cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất của quá trình quản lí, nhằm tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức của các thành phần tham gia quản lí

Biện pháp giáo dục, từ góc độ phương pháp luận, được hiểu như những định hướng chung, quan điểm chung cho một lĩnh vực giáo dục xác định; từ

góc độ lí luận dạy học, biện pháp được hiểu như một hệ thống kết nối giữa định hướng chung của lí luận dạy học với hoạt động dạy học cụ thể của giáo

viên khái niệm biện pháp có khi được hiểu là các thao tác, thủ thuật, cách

thức dạy học của giáo viên trong hoạt động dạy học

Trang 25

1.3 Một số vấn đề về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống

1.3.1 Khái niệm kỹ năng sống

Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống (KNS):

- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

- Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp cá nhân thay đổi, hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng

- Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc

(UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết (learn to

know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra

quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học để làm (learn to

do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và làm nhiệm vụ như: kỹ năng đặt

mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm….; Học để cùng chung sống (learn to live

toghether) gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng

định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học làm người

(learn to be) gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…

Kỹ năng là khả năng biết làm, biết thực hiện điều gì đó một cách tự giác, thành thạo trong mọi hoàn cảnh mà không cần một sự nỗ lực quá lớn Vídụ: Một người có khả năng giao tiếp có hiệu quả trong mọi tình huống mà không cần ai khuyến khích, nhắc nhở được gọi là người có kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần có giúp người ta học tập, làm việc

có hiệu quả hơn, sống tốt hơn Có hàng trăm kỹ năng sống khác nhau Tuỳ theo hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà người ta cần dạy cho trẻ

em những kỹ năng thiết yếu khác nhau.Ví dụ: Trẻ em ở đồng bằng sông Cửu Long cần được dạy kỹ năng bơi lội, đi xuồng, ghe hơn là kỹ năng sử dụng

Trang 26

các phương tiện giao thông công cộng Trẻ em đường phố cần được dạy kỹ năng tự bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại tình dục, kỹ năng từ chối (khi được mời thử ma tuý, bỏ học )

1.3.2 Tại sao phải dạy kỹ năng sống?

Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình Quan niệm này mang tính chất khái quát nhưng chưa thể hiện rõ kỹ năng cụ thể mặc

dù khi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm của kỹ năng sống theo quan điểm của UNESCO Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Còn quan niệm của UNICEF nhấn mạnh kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng kiến thức thái độ

Khái niệm học cũng như mục tiêu của sự học là rất rộng Tuy nhiên, với chương trình, nội dung và phương pháp học ở nhà trường hiện nay của chúng ta, trẻ em chủ yếu là học được nhiều kiến thức (học để biết) Còn việc học để biết làm (biết hành động), học cách để chung sống và đặc biệt là học

để tự khẳng định còn nhiều hạn chế Dạy trẻ em các kỹ năng sống là góp phần bổ sung sự thiếu hụt những điều các em còn ít được dạy ở nhà trường,

ở gia đình

Không chỉ trẻ em, mà cả người trưởng thành cũng cần có những kỹ năng sống thiết yếu Việc học kỹ năng sống không bao giờ là muộn và phải

được học suốt đời, dưới nhiều hình thức khác nhau

1.3.4 Phân loại kỹ năng sống

Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống

- Dựa vào môi trường sống, Kỹ năng sống tại trường học; Kỹ năng sống tại gia đình; Kỹ năng sống tại nơi làm việc

Trang 27

- Dựa vào các lĩnh vực tâm lý, Kỹ năng nhận thức; Kỹ năng xã hội; Kỹ

năng quản lý bản thân…

- Dựa vào mục đích của việc học, theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục

1.3.4.1 Học để biết (learn to know)

Nhóm này gồm có các kỹ năng cơ bản sau:

- Kỹ năng tư duy phê phán

Tư duy có phê phán (hay còn gọi là tư duy phê phán) là một kỹ năng trong đó cá nhân chủ động xem xét lại vấn đề mà người khác hay nhiều người

đã chấp nhận Tư duy phê phán được xây dựng trên những suy nghĩ, quan điểm và niềm tin của riêng cá nhân cộng với những bằng chứng xác đáng mà

cá nhân đó thu được, cuối cùng đưa ra kết luận mới: Chấp nhận hay phản bác lại những gì người khác đã cho là "hiển nhiên"

- Kỹ năng tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với một ý tưởng mới, theo một phương thức mới, các sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng phám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ

Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết các phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bó hẹp vào những kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt

- Kỹ năng ra quyết định

Kỹ năng ra quyết định là tổng hoà một loạt các kết luận và hoạt động của bản thân để đưa ra một quyết định đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theo mong muốn của bản thân Khả năng đưa ra quyết định tốt có thể giúp chúng ta: Đạt được mục đích đã đề ra trong học tập, trong cuộc sống và tránh được những sai lầm có thể để lại hậu quả không tốt

Trang 28

Mỗi ngày một người phải ra hàng chục các quyết định khác nhau Có những công việc không quan trọng, ít ảnh hưởng tới cuộc sống, chúng ta cần quyết định nhanh chóng

-Kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành đồng theo phương án đã chọn để giải quyết

vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống

Để giải quyết vấn đề có hiệu quả chúng ta cần: Xác định rõ vấn đề

hoặc tình huống, liệt kê các cách giải quyết, hình dung đầy đủ về kết quả xảy

ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện theo phương án giải quyết đó để so sánh đưa

ra quyết định cuối cùng Hành động theo quyết định đã lựa chọn và kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định và giải quyết vấn

đề lần sau

1.3.4.2 Học làm người (Learning to be)

Nhóm này gồm có các kỹ năng cơ bản sau:

- Kỹ năng ứng phó với sự căng thẳng

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của sự căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng giúp con người: Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của bản thân Xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh

-Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối

Trang 29

với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể

- Kỹ năng từ chối

Kỹ năng từ chối là "Nghệ thuật nói không" với những điều người khác

đề nghị, nhưng bản thân mình không muốn, không có khả năng thực hiện,

nhưng lại không làm tổn thương lớn tới mối quan hệ vốn có

Từ chối rất khó, nhất là từ chối những người mà bạn yêu mến, kính trọng hay mang ơn Kĩ năng từ chối không chỉ là biết "nói không" khi được đề nghị, mà phải làm sao cho người khác không dám hay không có cơ hội đề nghị Thành thật với chính mình, không ai thương bạn hơn bạn, hạnh phúc của bạn là do chính bạn quyết định Đừng vì sợ mất đi hay tổn thương một mối quan hệ nào đó mà phải chấp nhận những điều mình không muốn hay chưa muốn Bạn cũng cần được tôn trọng!

- Kỹ năng quyết đoán

Kĩ năng quyết đoán (kiên quyết, quả quyết) là khả năng diễn đạt cảm xúc, tình cảm của bản thân, bảo vệ quyền của mình nhưng không làm tổn thương đến cảm xúc và quyền của người khác

* Những khái niệm cần phân biệt

Quyết đoán không phải là bảo thủ: Quyết đoán là khi bạn thấy ý kiến của mình là đúng, kiên quyết bảo vệ nó, nhưng không phê phán ý kiến của người khác Bảo thủ là khi bạn nhận ra mình sai, nhưng không thừa nhận, mà vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến ấy

Trang 30

Quyết đoán không phải là thô bạo: Bạn quyết đoán không có nghĩa là phải hùng hổ đe nẹt người khác, bắt người khác nghe theo ý kiến của mình Nếu người ta không chấp nhận thì tức giận, phá ngang

Quyết đoán trái hẳn với thụ động, trông chờ: Người quyết đoán bao giờ cũng có suy nghĩ chín chắn, có chủ kiến, không trông chờ, a dua theo số đông

- Kĩ năng kiên định

Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được gì mình mong muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác

Kiên định khác với hiếu thắng, nghĩa là luôn chỉ nghĩ đến quyền và nhu cầu của bản thân, bằng mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mình, không quan tâm đến quyền và nhu cầu của người khác

Kiên định cũng khác với phục tùng, nghĩa là luôn bị phụ thuộc vào người khác; hy sinh cả quyền và nhu cầu chính đáng của bản thân để phục vụ cho quyền và nhi cầu không chính đáng của người khác

Kĩ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm thái độ và những quyết định của bản thân, đững vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh Kĩ năng kiên định cũng giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả

1.3.4.3 Học để sống với người khác (Learning to live together)

Nhóm này gồm có các kỹ năng cơ bản sau:

- Kỹ năng xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với người khác (interpersonal skills)

Kĩ năng xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa người với người là khả

năng của một người thiết lập và duy trì những mối quan hệ lâu dài, tốt đẹp với người khác, nhằm làm phong phú thêm đời sống tinh thần, hỗ trợ nhau trong

Ngày đăng: 03/02/2023, 19:07

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm