1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh Lãnh Đạo Công Tác Vận Động Ngƣời Việt Nam Ở Nƣớc Ngoài Từ Năm 2001 Đến Năm 2015.Pdf

100 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh Lãnh Đạo Công Tác Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Từ Năm 2001 Đến Năm 2015
Tác giả Mai Quốc Dũng
Người hướng dẫn PGS, TS Trần Trọng Thơ, TS Nguyễn Thị Hồng Mai
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH MAI QUỐC DŨNG ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2[.]

Trang 1

MAI QUỐC DŨNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC

VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

MAI QUỐC DŨNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC

VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Mai Quốc Dũng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan và nội dung luận án tập trung nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2001 - 2005) 26

2.1 Những yếu tố tác động đến công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 26

2.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài (2001 - 2005) 55

2.3 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài (2001 - 2005) 60

CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI (2006 - 2015) 75

3.1 Những yêu cầu mới tác động đến công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài 75

3.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài (2006 - 2015) 84

3.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện đẩy mạnh công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2006 - 2015) 90

CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 122

4.1 Một số nhận xét 122

4.2 Một số kinh nghiệm 139

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

Trang 5

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

NVNONN : Người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh UBND : Ủy ban nhân dân

VNCH : Việt Nam cộng hòa

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đến nay có khoảng 4.500.000 người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) có cuộc sống ổn định và hòa nhập sâu hơn vào xã hội các nước sở tại, có vai trò quan trọng trong việc quảng bá văn hoá, hình ảnh, con người Việt Nam, thúc đẩy quan hệ hữu nghị Việt Nam với các nước Ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, thành đạt trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, kinh tế, văn hóa - xã hội; một số người tham gia chính trường nước sở tại NVNONN có tiềm lực về kinh tế, tri thức với gần 500.000 người

có trình độ đại học trở lên, có tinh thần tự tôn dân tộc, hướng về cội nguồn

Đa số, NVNONN tin tưởng, ủng hộ chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, ngày càng tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo hướng về quê hương, Tổ quốc

Trong thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc củng cố và phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó có NVNONN càng trở nên quan trọng Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “NVNONN là bộ phận không tách rời, là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước” và “công tác đối với NVNONN

là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân” Cụ thể hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 19/2008/CT-TTg ngày 6-6-2008, yêu cầu: “Các bộ, ban, ngành và địa phương cần tiếp tục nâng cao nhận thức, xác định công tác đối với NVNONN là trách nhiệm của chính mình”

Trang 7

Quán triệt quan điểm của Đảng về công tác NVNONN, Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) luôn xác định công tác vận động NVNONN là một nhiệm vụ chính trị quan trọng Từ đó, Đảng bộ TP.HCM đã đề ra những chủ trương về vận động, tranh thủ NVNONN và tìm tòi những bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương

Công tác vận động NVNONN của Đảng bộ TP.HCM đã đạt nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ Hằng năm, thành phố nhận được hơn 50% lượng kiều hối và là địa phương có số lượng doanh nhân, chuyên gia, trí thức NVNONN đông nhất cả nước, góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của thành phố và của cả nước Tuy nhiên, công tác vận động NVNONN của Đảng bộ TP.HCM chưa khai thác tối đa và hiệu quả tiềm lực Số lượng và chất lượng đóng góp của NVNONN đối với TP.HCM chưa nhiều, các doanh nghiệp vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, kinh doanh, sản xuất, chưa có nhiều người ở lại làm việc lâu dài Tâm lý e dè, thiếu niềm tin vào chính sách vẫn còn Thực tế cho thấy chính sách, cơ chế về công tác vận động NVNONN đã ban hành chưa đồng bộ, việc thực thi chính sách của các cơ quan quản lý, trong nhiều trường hợp còn chưa đúng với tinh thần “cởi mở, thông thoáng” nên đã gây lên những lực cản, thậm chí làm mất lòng tin của NVNONN đối với các cơ quan công quyền Bên cạnh đó, thủ tục hành chính rườm rà, phiền nhiễu cũng là rào cản lớn đối với sự nhiệt tình đóng góp của NVNONN

Từ thực trạng trên, cần một nghiên cứu, tổng kết, đánh giá toàn bộ quá trình lãnh đạo, thực hiện chính sách đối với công tác vận động NVNONN của Đảng bộ TP.HCM, chỉ ra thành công, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm về

sự lãnh đạo của Đảng bộ TP.HCM trong công tác vận động NVNONN, đồng thời, thông qua nghiên cứu tại một địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị, văn hóa, có số đông NVNONN và thân nhân NVNONN là TP.HCM sẽ cung cấp những cơ sở khoa học nhằm góp phần tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác vận động NVNONN ở tầm vĩ mô, để từ đó hoạch định chính

Trang 8

sách về công tác này, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Với lý đó, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề “Đảng bộ thành phố Hồ

Chí Minh lãnh đạo công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra những vấn đề đã được giải quyết, những nội dung mà luận án tập trung nghiên cứu

- Phân tích các nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ TP.HCM

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Các chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ TP.HCM đối với công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2015

Trang 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm

2001 đến năm 2015 Luận án lấy mốc thời gian từ năm 2001 là năm đầu thế

kỷ XXI, năm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VII, kết thúc năm 2015 là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng

bộ thành phố lần thứ IX

Về không gian: Luận án nghiên cứu công tác vận động NVNONN trên

địa bàn TP.HCM

Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình

Đảng bộ TP.HCM chỉ đạo thực hiện công tác vận động NVNONN từ năm

2001 đến năm 2015, trên một số nội dung sau: xây dựng và ban hành các chủ trương về vận động NVNONN; thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền đến NVNONN; công tác thu hút và phát huy tiềm năng của NVNONN trên hai phương diện chính là tri thức và kinh tế; công tác hỗ trợ NVNONN ổn định cuộc sống; tăng cường hoạt động của Ủy ban về NVNONN TP.HCM

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 ở l luận

Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, công tác quần chúng, đoàn kết dân tộc

4.2 Nguồn tài liệu

Văn kiện của Đảng và Nhà nước bao gồm: các nghị quyết, chỉ thị, luật,

nghị định, kế hoạch, thông tư, chương trình

Văn kiện của Đảng bộ, chính quyền TP.HCM (Tỉnh ủy, UBND, các sở, ban, ngành) bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chương trình, thông tư,

đề án

Các sách, báo, tạp chí đã xuất bản; luận văn, luận án, đề tài viết về NVNONN đã bảo vệ thành công

Trang 10

4.3 Phư ng ph p nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu, đồng thời, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, như phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp

Phương pháp lịch sử được sử dụng để trình bày quá trình lãnh đạo công tác vận động NVNONN của Đảng bộ TP.HCM

Phương pháp lôgíc được dùng để làm rõ mối liên hệ giữa các quan điểm, chủ trương với quá trình chỉ đạo thực hiện, những kết quả đạt được, từ

đó, khái quát những ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ TP.HCM lãnh đạo công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2015

Các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề mà luận án đặt ra

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án cung cấp những cơ sở thực tiễn có thể được dùng làm những luận cứ khoa học cho việc xây dựng chủ trương, biện pháp chỉ đạo công tác vận động NVNONN của Đảng bộ TP.HCM

Luận án góp phần làm phong phú, toàn diện và sâu sắc thêm lịch sử

Trang 11

Đảng bộ TP.HCM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trên những cấp độ khác nhau, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề NVNONN được công bố Có thể khái quát và phân loại thành các nhóm công trình sau đây:

1.1.1 Nhóm công trình khoa học nghiên cứu chung về người Việt Nam ở nước ngoài

Cuốn sách “Về người Việt Nam định cư ở nước ngoài” của tác giả

Nguyễn Ngọc Hà, 1990 [61] Tác giả khái quát về NVNONN (tập trung ở các nước tư bản chủ nghĩa) từ quá trình hình thành, nguồn gốc xã hội, tâm tư nguyện vọng, thực trạng đời sống tinh thần đến một số vấn đề văn hóa, xã hội tồn tại cần giải đáp; về tình hình các phong trào Việt kiều, những tổ chức và hoạt động chính trị phản động lưu vong người Việt Nam đối với NVNONN

và phong trào Việt kiều

Cuốn sách “Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi hương” của tác giả

Vũ Ngọc Bình, 1996 [31] Cuốn sách đề cập đến vấn đề về người tị nạn trên thế giới, về thuyền nhân Việt Nam và quá trình ra đi cũng như hồi hương của

họ, về luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam đối với thuyền nhân Cuốn sách đã thống kê nhiều số liệu về người tị nạn trên thế giới và thuyền nhân Việt Nam; phân tích các chương trình hành động toàn diện, chương trình ra đi

có trật tự Đặc biệt, những số liệu về người Việt Nam vượt biên bằng đường biển, số người hồi hương, số người còn trong các trại tị nạn, số người được đi định cư ở nước thứ ba từ năm 1975 đến 1996 được thể hiện khá đầy đủ

Cuốn sách “Người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Trần Trọng

Đăng Đàn, 1997 [43] Trên cơ sở phân tích tình hình của NVNONN trong

Trang 13

những năm 90 của thế XX ở nhiều khía cạnh như: Sự phân bố địa bàn sinh sống, vấn đề pháp lý của NVNONN và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của

họ, tác giả đã dựng lại khá toàn diện quá trình hình thành cộng đồng NVNONN từ sự kiện hoàng tử Lý Long Tường có mặt trên đất nước Cao Ly đến những người Việt ở lại các nước sở tại sau khi các nước XHCN ở Đông

Âu, Liên Xô sụp đổ và những thế hệ thứ 1, thứ 2, thứ 3… sinh ở nước ngoài, những số liệu, phân bố địa bàn cư trú của NVNONN cũng được tác giả đề cập tới

Cuốn sách “Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có Việt kiều” của

tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, 2005 [44] Cuốn sách nghiên cứu về lịch sử hình thành, quá trình biến động và phân bố dân cư của NVNONN dưới góc độ

về pháp lý, văn hóa, xã hội

Cuốn sách “Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào” của tác giả

Nguyễn Quốc Lộc, 2006 [73] Tác giả đã phân tích, làm rõ quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam ở ba quốc gia Thái Lan, Campuchia và Lào, đồng thời nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của những cộng động người Việt ở ba quốc gia này từ khi hình thành cho đến năm 2005, những đóng góp của họ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Cuốn sách “Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam” của tác giả Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana, 2006 [95] Cuốn

sách đề cập đến quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam vào Vương quốc Thái Lan; phong trào đấu tranh của Việt kiều Thái Lan giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; chính sách của Chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng NVNONN; Việt kiều hồi hương trong những năm đầu 60 thế kỷ XX; lối

sống hoà đồng xã hội của người Việt ở Thái Lan

Cuốn sách “Vai trò của Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan

hệ Việt Nam - Lào” của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 2008 [128] Các tác

Trang 14

giả đã dựng lại quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Lào; phân tích thực trạng của cộng đồng người Việt hiện nay trên các lĩnh vực và vai trò của cộng đồng người Việt trong hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam - Lào

Cuốn sách “Cộng đồng và trí thức người Việt Nam ở một số nước Đông Âu những năm đầu thế kỷ 21” của tác giả Nguyễn An Hà (chủ biên),

2011 [60] Cuốn sách phản ánh quá trình hình thành và phát triển đội ngũ trí thức người Việt Nam ở một số nước Đông Âu như: Ba Lan, Séc, Hungary; nêu rõ những tác động của chính sách nhập cư; tình hình kinh tế - xã hội các nước sở tại và quan hệ đối ngoại của Việt Nam tới cộng đồng và trí thức người Việt Nam ở một số nước Đông Âu

Luận án “Quá trình hình thành phát triển cộng đồng người Việt ở Thái Lan” của tác giả Hà Nguyên Khoa, 2016 [72] Luận án nghiên cứu toàn diện, hệ

thống, chuyên sâu về cộng người Việt ở Thái Lan qua hai giai đoạn từ đầu thế kỷ

XX đến năm 1945 và từ năm 1946 đến đầu thế kỷ XXI Luận án đánh giá về sự đóng góp của cộng đồng người Việt đối với Thái Lan và mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam, đồng thời đưa ra những đề xuất với cơ quan hữu quan trong việc hoạch định những chính sách phù hợp với cộng đồng NVNONN, trong đó có Việt kiều ở Thái Lan

Chuyên đề nghiên cứu “Các nguồn lực từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài” thuộc đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KHXH-02-03 do tác giả Vũ Hy

Chương chủ trì, 1999 [40] Chuyên đề đã khái lược cơ bản về cộng đồng NVNONN, trong đó xác định quá trình đóng góp của cộng đồng đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, xác định hai nguồn lực chính là nguồn lực chất xám và nguồn lực kinh tế

Bài “Người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và hướng về quê hương”

của tác giả Nguyễn Đình Bin, 2003 [26] Bài viết đã phân tích làm rõ quá

Trang 15

trình hình thành và tình hình cộng đồng người NVNONN trong đó tập trung ở một số nước phương Tây, Liên Xô cũ và Đông Âu

Bài “Huy động trí tuệ của Việt kiều và người nước ngoài” của tác giả

Trần Kim Dung, 2003 [59] Tác giả khẳng định nguồn nhân lực được đào tạo là nhu cầu cấp thiết của quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, việc sử dụng nguồn nhân lực từ Việt kiều và người nước ngoài là giải pháp quan trọng bù đắp sự thiếu hụt lao động chất lượng cao Nguồn nhân lực này không cần đầu

tư lớn về tiền bạc và thời gian đào tạo mà có thể tham gia ngay vào hoạt động kinh tế Tác giả xác định nguồn lao động này có nhiều ưu thế về trình độ, khả năng tiếp cận khoa học, đa dạng ngành nghề, sử dụng ngôn ngữ phong phú…

so với lao động trong nước, đồng thời, khẳng định tình cảm của kiều bào luôn hướng về quê hương và sẵn sàng đóng góp trí tuệ để xây dựng đất nước

Bài “Tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả

Nguyễn Phú Bình, 2004 [149] Bài viết làm rõ sự phát triển và tình hình NVNONN về số lượng, phân bố, thành phần; tiềm năng kinh tế, chính trị, tri thức khoa học và công nghệ; ghi nhận những thành tích đóng góp của kiều bào trong những năm kháng chiến, xây dựng đất nước cũng như trong công cuộc đổi mới

Bài “Bước đầu nghiên cứu cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”

tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, 2011 [90] Bài viết đã phân tích khái quát lịch sử

5 luồng di cư của người Việt Nam, luồng di cư thứ nhất: từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIX; luồng di cư thứ hai: từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; luồng

di cư thứ ba: sau ngày 30-4-1975, đây là luồng di cư lớn nhất, tạo nên sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính chất, địa bàn sinh sống của cộng đồng NVNONN; luồng di cư thứ tư: từ năm 1980 đến 1991, người Việt Nam đến các nước xã hội chủ nghĩa theo diện học tập, lao động và một số người ở lại; luồng di cư thứ năm: từ năm 1992 đến năm 2010, người Việt Nam đi lao động, học tập các nước trên thế giới

Trang 16

Bài “Một số đóng góp của Việt kiều ở Pháp trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược” của tác giả Trần Thị Vui,

2015 [139] Tác giả đã trình bày những hoạt động phong phú của phong trào Việt kiều yêu nước ở Pháp từ những cuộc mít tinh, biểu tình phản chiến đến hoạt động quyên góp vật chất ủng hộ Chính phủ cách mạng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Đặc biệt, thời kỳ kháng chiến chống quốc Mỹ xâm lược và thống nhất Tổ quốc, Việt kiều Pháp đã tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh ở trong nước và hỗ trợ hiệu quả cho Đoàn ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn đàm phán Hiệp định Pari

Bài “Kiều bào Việt Nam hướng về Tổ quốc trong cuộc đấu tranh giành

và giữ chính quyền (1945-1946)” của tác giả Trần Thị Vui, 2016 [141] Tác

giả đã trình bày những hoạt động hướng về Tổ quốc giai đoạn 1945 - 1946 của kiều bào Việt Nam ở 5 nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp Phong trào yêu nước của kiều bào trong giai đoạn này có hoạt động đặc biệt khác với các giai đoạn khác là ở: Lào, Camphuchia, Thái Lan, kiều bào thành lập những lực lượng Việt kiều cứu quốc, quyên góp tiền, mua vũ khí, tòng quân về nước đấu tranh cùng với Chính quyền cách mạng

Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau của nhiều chuyên ngành khoa học: Lịch sử, Triết học, Xã hội học, các công trình khoa học trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành, phát triển cộng đồng NVNONN, nguyên nhân hình thành của cộng đồng được trình bày tương đối toàn diện, từ nguyên nhân kinh tế đến những biến động chính trị trong lịch sử, đã làm thay đổi về số lượng đến chất lượng của cộng đồng kiều bào Các công trình nghiên cứu cũng phân tích sự phát ở thế hệ kiều bào được sinh ra tại các nước sở tại và người Việt Nam đi xuất khẩu lao đông, du học ở giai đoạn sau năm 1975 và thời kỳ đổi mới

Các công trình phân tích những đặc điểm về tâm lý, địa vị pháp lý, đời sống văn hóa, hoạt động kinh tế và giáo dục, đào tạo của kiều bào, từ đó, đã

Trang 17

làm rõ những tiềm lực của cộng đồng NVNONN có thể đóng góp cho đất nước, đồng thời cũng phân tích những vấn đề như: những khó khăn trong đời sống của kiều bào, một bộ phận kiều bào còn bị tác động, lôi kéo của các thế lực phản động

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc, từ quan điểm nhất quán đó, Đảng đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng đối với NVNONN Những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác vận động NVNONN được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, thể hiện qua các công trình như sách, bài viết, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu các cấp

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài: thực tiễn và một số cơ sở lý luận” của Ủy ban Nhà nước

về người Việt Nam ở nước ngoài, 2003 [98] Công trình đã đề cập đến cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của công tác đối với NVNONN Công trình đã phân tích và làm rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà đối với công tác NVNONN trước năm 2003; phân tích những vấn đề như: hợp tác với các nước sở tại để bảo vệ lợi ích hợp pháp của Việt kiều, duy trì bản sắc văn hóa và dạy tiếng Việt cho thế hệ Việt kiều trẻ, đảm bảo quyền lợi cho kiều bào trong lĩnh vực tư pháp, thu hút nguồn lực của NVNONN trong sự nghiệp phát triển đất nước Công trình cũng đã nêu một số hạn chế trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác vận động NVNONN đảm bảo thực chất, hài hòa giữa thu hút và hỗ trợ, để bà con sẵn sàng tự nguyện đóng góp vật chất và tri thức vào công cuộc xây dựng, phát triển quê hương, đất nước

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tăng cường năng lực đội ngũ cán

bộ làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đáp ứng yêu cầu của tình

Trang 18

hình mới do tác giả Trần Trọng Toàn làm chủ nhiệm, 2008 [92] Đề tài đánh

giá thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác về NVNONN hiện nay, trong đó

đã nêu rõ những tồn tại và hạn chế đã làm giảm tính tích cực của đường lối, chính sách, là một trong nhiều nguyên nhân tác động đến hiệu quả công tác NVNONN Đề tài đưa ra những kiến nghị về phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác về NVNONN trong tình hình mới

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Phát huy vai trò của các tổ chức

đảng và đảng viên trong công tác vận động, tập hợp, giáo dục và quản lý lưu

học sinh Việt Nam du học tự túc ở ngoài nước” của Đảng ủy ngoài nước,

2010 [58] Đề tài đề cập đến hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và

Nhà nước đối với công tác tập hợp, vận động, giáo dục và quản lý lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài; thực trạng và giải pháp trong công tác tập hợp, vận động, tuyên truyền và giáo dục chính trị, tư tưởng cho lưu học sinh Việt Nam du học tự túc; thực trạng và giải pháp trong công tác quản lý lưu học sinh Việt Nam du học tự túc; vai trò của các tổ chức Đoàn, Hội thanh niên, sinh viên trong việc tập hợp, đoàn kết lưu học sinh Việt Nam du học tự túc; hoạt động của các tổ chức kinh tế - xã hội trong việc đưa học sinh đi du học tự túc Đề tài đưa ra một số giải pháp phòng, chống việc lôi kéo, tác động của các thế lực thù địch đối với lưu học sinh Việt Nam du học tự túc

Cuốn sách “Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam

ở nước ngoài trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Trần Thị Vui, 2017 [143]

Tác giả đã phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển cộng đồng NVNONN; những đóng góp của kiều bào trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Cuốn sách phân tích những bước chuyển căn bản quan điểm, chủ trương của Đảng qua 3 giai đoạn: trước năm

1986, từ năm 1986 đến 1993, từ năm 1993 đến 2016 Từ sự dè dặt, cảnh giác, các chính sách chủ yếu tập trung ở bộ phận Việt kiều có lịch sử yêu nước gắn

Trang 19

với công cuộc đấu tranh giành độc lập đã thay đổi sang quan điểm toàn diện hơn, xác định NVNONN là bộ phận không tách rời, là vốn quý của dân tộc Đối tượng kiều bào được mở rộng, công tác vận động đa dạng, cởi mở trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, những vấn đề mang tính lịch sử ra đi của kiều bào được xem xét thấu đáo trên cơ sở hòa hợp dân tộc xóa bỏ định kiến

vì một Việt Nam đoàn kết, thống nhất và phát triển

Luận văn “Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Bảo Chung, 2008 [41] Luận

văn phân tích chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với NVNONN ngoài từ năm 1986 đến năm 2008, thể hiện rõ nét qua hai nghị quyết chuyên

đề là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 36-NQ/TW Những chính sách của Việt Nam đã tác động lớn đến tâm tư, nguyện vọng của kiều bào và làm sâu sắc tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, bà con kiều bào phấn khởi, tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng đất nước do Đảng khởi xướng, đồng thời sẵn sàng chung tay, đóng góp phát triển đất nước Bên cạnh những điểm tích cực trong công tác NVNONN giai đoạn trước 2008, luận văn đưa ra những kiến nghị để tiếp tục tăng cường công tác vận động NVNONN trong giai đoạn tiếp theo

Luận văn “Thu hút đầu tư của Việt kiều vào phát triển kinh tế Hà Nội”

của tác giả Trần Thị Minh Trâm, 2009 [89] Từ sự phân tích các nhân tố tác động tới thu hút đầu tư của Việt kiều vào phát triển đất nước, tác giả trình bày những đặc điểm kinh tế xã hội của Hà Nội ảnh hưởng tới thu hút đầu tư của Việt kiều, những đặc điểm thuận lợi, khó khăn, thành công, hạn chế và nguyên nhân của quá trình thu hút đầu tư của Việt kiều trên phương diện kiều hối, các dự án đầu tư trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, thương mại, công tác thu hút đầu tư của Việt kiều vào phát triển kinh tế giai đoạn trước năm

2008 Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp định hướng cho giai đoạn 2015

và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 20

Luận văn “Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong

sự nghiệp phát triển đất nước thời kỳ đổi mới” của tác giả Phạm Văn Hùng,

2011 [64] Luận văn nghiên cứu sự đóng góp của NVNONN trong công cuộc phát triển đất nước thời kỳ đổi mới trên các phương diện: kinh tế; khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo; văn hóa; chính trị Từ những kinh

nghiệm của Việt Nam trong việc phát huy vai trò của cộng đồng NVNONN

trong công cuộc phát triển đất nước như: xây dựng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công tác thông tin, tuyên truyền; thực hiện kịp thời chính sách khen thưởng, tác giả đề xuất những nhóm giải pháp như: xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước phù hợp với sự nghiệp đổi mới; việc thực hiện các công tác liên quan đến NVNONN kịp thời đáp ứng những tâm tư, nguyện vọng của kiều bào; thu hút và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân, trí thức Việt kiều trong công cuộc xây dựng đất nước

Bài “Làm tốt công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Nguyễn Chiến Thắng, 2004 [93] Bài viết đã khái quát những chính sách

của Nhà nước đối với NVNONN giai đoạn trước năm 2004; về công tác tổ chức, bộ máy thực hiện chính về NVNONN

Bài “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế”, 2005 [27] và bài “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005”, 2006 [28] của

tác giả Nguyễn Phú Bình Tác giả phân tích quan điểm nhất quán của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về NVNONN qua các thời kỳ và kết quả thực hiện; chỉ ra những mặt hạn chế tồn tại, đề ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác NVNONN

Bài “Thu hút kiều bào, khơi thông nguồn lực Việt”, của tác giả Nguyễn

Thanh Hải, 2007 [63] Tác giả xác định tiềm năng từ kiều bào là rất lớn, các chính sách đã tạo ra nhiều điều kiện để bà con về quê làm ăn, kết quả thu

Trang 21

được là khả quan, nhưng so với tiềm năng thì vẫn chưa tương xứng Từ quá trình phân tích sự bất cập của luật và quá trình thực hiện chưa thông suốt, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn để đảm bảo tốt quyền lợi của nhà đầu tư, tạo niềm tin vào sự “rộng cửa” của thể chế pháp luật, từ đó bà con yên tâm và mạnh dạn đầu tư

Bài “Phát huy tiềm năng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” của tác

giả Nguyễn Thanh Sơn, 2009 [97] Tác giả đã trình bày và phân tích tiềm năng tri thức của kiều bào, đồng thời xác định đây là nguồn lực quan trọng trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước Vấn đề trí thức kiều bào được Đảng và Nhà nước coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào trở về làm ăn, công tác tại Việt Nam, tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước trong nhiều lĩnh vực Qua quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những khó khăn, vướng mắc được các cơ quan, bộ ngành chủ động tháo gỡ Tuy nhiên, theo tác giả, Việt Nam vẫn chưa có nhiều chính sách để thu hút, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi

để trí thức kiều bào về đóng góp xây dựng đất nước

Bài “Giải pháp thu hút nhân tài Việt về nước” của tác giả Quang Hoan,

2013 [69] Tác giả đã nêu rõ những quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng

về công tác NVNONN và sự đóng góp của trí thức, doanh dân Việt kiều đối với quê hương, đất nước Bên cạnh những hiệu ứng tích cực từ kiều bào, tác giả cũng đã nêu ra những hạn chế trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, dẫn đến sự búc xúc của kiều bào, hạn chế tính sự đóng góp của họ cho quê hương, đất nước Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm thu hút nguồn tài nguyên quý giá từ trí thức, doanh nhân kiều bào; đa dạng hình thức vận động; xây dựng cơ chế đãi ngộ thỏa đáng, hoàn chỉnh chính sách khen thưởng

Trang 22

Bài “Thu hút và phát huy vai trò của trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Trần Đắc Hiến, 2015 [65] Tác giả

trình bày một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác thu hút tri thức NVNONN như: Chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp quan trọng để thu hút nhân tài cho đất nước; quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức có quy định về tuyển dụng đặc cách không qua thi tuyển vào làm việc trong các

cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đối với những người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài; quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là NVNONN

và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam Bằng những chính sách cụ thể trên, tác giả đã nêu những kết quả đạt được, đồng thời đề xuất 5 giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí thức NVNONN

Bài “Công tác người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Bùi Thị Thu Hà, 2016 [62] Tác giả làm rõ sự chuyển

biến nhận thức của Đảng và các cơ quan chức năng đối với NVNONN, từ việc coi một bộ phận Việt kiều là đối tượng đấu tranh sang tích cực tìm hiểu, vận động tranh thủ, quan tâm đến nhu cầu chính đáng của số đông bà con người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn hướng về Tổ quốc, muốn đóng góp cho sự phát triển của đất nước, dân tộc Tác giả trình bày những cơ chế, chính sách của Nhà nước đã giúp đỡ kiều bào ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần, tăng cường mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và hướng

về quê hương, Tổ quốc

Nhìn chung nhóm công trình nghiên cứu trên, đã đề cập khá toàn diện

về những quan điểm, chủ trương của Đảng đối với công tác NVNONN từ tư

Trang 23

tưởng và hoạt động thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc trước khi thành lập Đảng

và sau khi thành lập Đảng đến những năm đầu thế kỷ XXI Đặc biệt, những chính sách của Nhà nước Việt Nam từ sau khi Đảng ban hành Nghị quyết số 08/1993/NQ-TW và Nghị quyết số 36/2004/NQ-TW đã làm thay đổi thái độ của NVNONN NVNONN đã có những hoạt động thiết thực đối với công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước qua việc hồi hương, thăm thân, đầu tư kinh doanh, sản xuất, gửi kiều hối, sinh sống và làm việc tại Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cũng nêu những vướng mắc, những lực cản làm hạn chế việc phát huy tiềm lực của kiều bào

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh

Với những đặc điểm về văn hóa, xã hội, lịch sử, TP.HCM thu hút sự quan tâm và đóng góp của NVNONN nhiều nhất cả nước Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác NVNONN ở TP.HCM:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố “Khả năng thu hút và thực

tế sử dụng trí thức Việt kiều về làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển và hội nhập hiện nay” của tác giả Trần Văn Phương, 2009

[96] Tác giả cho rằng, với hơn 400.000 trí thức NVNONN được đào tạo tại những cơ sở giáo dục tiên tiến và có nhiều cơ hội thực tiễn ở những tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, là nguồn lực rất lớn và là “mỏ vàng” vô giá Mặc dù còn một số hạn chế và rào cản từ chính sách ưu đãi, môi trường làm việc đã không tạo được sự yên tâm đối với NVNONN, nhưng phần lớn trí thức kiều bào luôn hướng về Tổ quốc và có nhiều đóng góp để xây dựng quê hương, đất nước Tác giả cũng đã đề xuất nhiều nhóm giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác vận động trí thức NVNONN về làm việc tại TP.HCM trong quá trình phát triển và hội nhập

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố “Giải pháp khai thác tiềm lực của người Việt Nam ở nước ngoài góp phần phát triển kinh tế thành phố

Trang 24

Hồ Chí Minh” của tác giả Đoàn Kim Thành (chủ nhiệm), 2012 [86] Tác giả

xác định tiềm lực của NVNON là tri thức và kinh tế Về tiềm lực kinh tế, tác giả đã phân tích đầu tư trực tiếp của NVNONN thông qua các dự án và thành lập doanh nghiệp có vốn kiều bào có bước phát triển, nhưng nhìn chung chưa tương xứng với nguồn lực của NVNONN Theo tác giả, những quy định gần đây có sự bất lợi khi đặt NVNONN nằm chung trong nhóm đầu tư của người nước ngoài Do đó, dẫn đến một số lượng không nhỏ kiều bào muốn đầu từ phải thông qua thân nhân trong nước nên dễ dẫn tới trình trạng tranh chấp khi

có mâu thuẫn lợi ích phát sinh Về tiềm lực tri thức, theo tác giả là rất lớn, tuy nhiên, các điều kiện về cơ sở vật chất vẫn chưa đủ hấp dẫn để có thể thu hút nhiều các nhà khoa học về nước làm việc Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất những giải pháp thu hút hơn nữa tiềm lực của kiều bào nhằm phát triển thành phố cũng như phát triển đất nước

Cuốn sách “Hội nghị hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật thành phố

Hồ Chí Minh và Việt kiều” của Ban Việt kiều thành phố Hồ Chí Minh, 1991

[24] Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài tham luận của các nhà khoa học về vấn

đề hợp tác, đầu tư về kinh tế và khoa học, kỹ thuật của TP.HCM với một số công ty của kiều bào ở nước ngoài Những tham luận đã khẳng định những đóng góp của Việt kiều đối với sự phát triển của thành phố trong lĩnh vực kinh tế và khoa học, kỹ thuật từ năm 1975 đến năm 1990 Đồng thời, nêu những tồn tại trong quá trình thu hút nguồn lực của kiều bào, đưa ra kiến nghị những chính sách để phát huy hiệu quả hơn nữa sự đóng góp của kiều bào trong sự phát triển của TP.HCM cũng như cả nước

Bài “Thành phố Hồ Chí Minh với công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thực tiễn và vấn đề đặt ra” của tác giả Lê Thị Bình, 2012 [30]

Tác giả đã nêu khái quát công tác về NVNONN của TP.HCM từ ngày thống nhất đến năm 2011 Tác giả khẳng định những chủ trương, biện pháp cụ thể của thành phố đã tạo niềm tin cho kiều bào mạnh dạn đầu tư và cống hiến trí

Trang 25

tuệ cho sự phát triển của thành phố Từ những kết quả của 7 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, tác giả cũng nêu ra những mặt hạn chế cần khắc phục, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa những tiềm năng của kiều bào

Những bài viết thông tin về Hội nghị “Kiều bào chung sức xây dựng thành phố Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế” từ

ngày 10 đến ngày 16-11-2016 được đăng tải trên tạp chí Quê hương online Các bài viết đã khẳng định thành phố đã quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn địa phương; tập trung một số giải pháp chủ yếu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, kiềm chế, kiểm soát lạm phát; hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2010 - 2015, góp phần cùng cả nước ổn định kinh tế vĩ

mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị Đạt được những kết quả trên, có một phần đóng góp không nhỏ của cộng đồng NVNONN, trước hết là lực lượng trí thức và doanh nhân kiều bào

đã tích cực tham gia đóng góp với thành phố trên nhiều lĩnh vực chính trị đối ngoại, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo… Để phát huy hơn nữa lợi thế và tiềm năng của kiều bào trong việc đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố, trong thời gian tới, TP.HCM cần tập trung thực hiện các biện pháp nhằm huy động sức mạnh lực lượng kiều bào như: xây dựng thành phố phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, trình độ cao; thu hút nguồn lực NVNONN; cải tiến sản phẩm; thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Bài “Doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài - tiềm năng góp phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hoàng Xuân Bình, 2016

[148] Theo tác giả, với kinh nghiệm, kiến thức, tài chính và hơn hết là tình cảm, trách nhiệm với quê hương, các doanh nhân NVNONN luôn mong muốn được hỗ trợ, đóng góp cho sự phát triển của đất nước nói chung và TP.HCM

Trang 26

nói riêng Doanh nghiệp NVNONN là tiềm năng to lớn góp phần giúp TP.HCM đạt được các mục tiêu trước mắt và lâu dài Tác giả tập trung phân tích hướng hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài thông qua vai trò của doanh nghiệp Việt kiều Để đạt được hiệu quả, tác giả đề nghị thành phố nên chủ động tiên phong trong sử dụng và khai thác các tiềm năng với những chiến lược trung, dài hạn, chuyển từ tư duy chỉ thu hút nguồn tiềm năng đã có của doanh nghiệp kiều bào về trong nước hay khai thác ngắn hạn sang tư duy chủ động cùng hợp tác với các doanh nghiệp NVNONN để vươn ra thế giới

Bài “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Tất Đạt, 2016 [151] Tác giả phân

tích những yêu cầu của việc đổi mới cơ chế giáo dục - đào tạo, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, đề xuất nhiều giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố, trong đó, tập trung ở những vấn đề cụ thể như: thành lập và tài trợ chương trình hoặc dự án cho các nhà nghiên cứu Việt Nam xuất sắc trên thế giới về nước làm việc thường xuyên, hợp tác với các nhà khoa học trong nước; thành lập các trung tâm nghiên cứu nhằm phát triển nguồn nhân lực cao và xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học cho các nhà nghiên cứu trẻ tại TP.HCM

Bài “Giải pháp cho Thành phố Hồ Chí Minh phát triển thịnh vượng” của tác giả Nguyễn Hoài Bắc, 2016 [148] Tác giả cho rằng, TP.HCM là nơi

hội tụ tinh hoa của kinh tế và tri thức, nhưng thực tế sau nhiều năm cũng chưa làm tốt trọng trách của mình, việc thu hút nhân tài trong nước cũng như NVNONN Tác giả đã đề xuất những giải pháp để TP.HCM phát triển vượt bậc như: Tạo sân chơi không giới hạn cho các nhà trí thức và doanh nghiệp thực hiện các dự án, ước mơ của mình mà pháp luật không cấm; tiến tới quản

lý điều hành con người và kinh tế trên nguyên tắc xã hội hiện đại, pháp luật phải được thượng tôn triệt để; tập trung vào nghiên cứu phát triển ứng dụng

Trang 27

công nghệ cao, thương mại hoá các nghiên cứu, phát minh phục vụ cho các ngành nghề trong nước và xuất khẩu ra thế giới; cho những Việt kiều tiêu biểu, xứng đáng, có tâm, có tầm tham gia vào các tổ chức bộ máy công quyền

để họ được cống hiến, được phát huy khả năng và trí tuệ cho đất nước

Bài “Doanh nghiệp Việt Nam tại Nga và cầu nối hợp tác phát triển

thương mại Nga – thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Trường Sơn, 2016

[Error! Reference source not found.] Tác giả khẳng định, tiềm lực cộng

đồng doanh nghiệp Việt Nam ngày càng mở rộng cả về quy mô, số lượng và chất lượng; đồng thời đã phân tích, làm rõ những hiệu quả từ những Hiệp định được ký kết giữa chính phủ Việt Nam và Liên bang Nga, hiệp định hợp tác giữa TP.HCM với với Moscow, Ekaterinburg, Vladivostok… Tác giả đã đề xuất một số giải pháp sau: Thành lập các doanh nghiệp, nhà phân phối chuyên kinh doanh hàng hóa Việt Nam tại Nga; xây dựng kênh thông tin về nhu cầu hàng hóa Việt Nam ở nước sở tại để hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu; kết nối các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng hàng hóa, từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm đến với người tiêu dùng

Các công trình nghiên cứu trên, chủ yếu trình bày những đóng góp của kiều bào đối với quá trình xây dựng, phát triển của TP.HCM trên phương diện tri thức, kiều hối, đầu tư; đề xuất một số giải pháp đối với chính sách phát huy nguồn lực kiều bào được trình bày khá rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về công tác NVNONN của Đảng bộ TP.HCM còn khá ít, nhất là việc thu hút nguồn lực kiều bào Đây là một vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN VÀ NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu

Về nội dung, các công trình đã xuất bản nghiên cứu về NVNONN đã giải

quyết những nội dung như sau:

Trang 28

Đã trình bày những vấn đề cơ bản về NVNONN theo các phương diện: quá trình hình thành, phát triển; số lượng và khu vực phân bố; đặc điểm cơ bản

về kinh tế, văn hóa, giáo dục, địa vị pháp lý ở các nước sở tại Qua đó, cho thấy

rõ vị trí, vai trò của kiều bào trong sự nghiệp cách mạng Đồng thời, khẳng định, đại đa số NVNONN có tình cảm, hướng về Tổ quốc và mong muốn đóng góp, xây dựng quê hương, đất nước

Đã phân tích rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác vận động NVNONN Trình bày những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại trong việc thu hút, khai thác nguồn lực kiều bào Chỉ ra những thời cơ, vận hội và khó khăn, thách thức, từ

đó, đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác NVNONN

Đã phân tích và đưa ra những kết quả trong công tác vận động NVNONN của TP.HCM Chỉ ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và

đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác vận động NVNONN của TP.HCM

Về tư liệu, các công trình trên, đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đa

dạng nhiều góc độ khác nhau về công tác NVNONN, tạo nên bức tranh sinh động, nhiều mặt về bộ phận dân cư này Từ đó, giúp cho việc nghiên cứu về công tác vận động NVNONN được thuận lợi trên bình diện cả nước cũng như từng địa phương cụ thể

Về phương pháp, các công trình trên, đã cung cấp những phương pháp

nghiên cứu khoa học (phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phân tích, so sánh, thống kê,…) khi nghiên cứu về công tác NVNONN, giúp cho tác giả luận án thuận lợi hơn khi thực hiện đề tài

Các nhóm công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu chung về quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm cơ bản của NVNONN, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác NVNONN

Qua tìm hiểu tác giả thấy rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào

Trang 29

nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, chuyên sâu về Đảng bộ TP.HCM lãnh đạo công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2015 như đề tài luận án mà tác giả đã chọn Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả thực hiện đề tài luận án

1.2.2 Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu

Từ thực tiễn đó tác giả định hướng nghiên cứu và xác định những nội dung trọng tâm cần nghiên cứu:

Một là, luận án làm rõ những mối liên hệ giữa kiều bào với TP.HCM

trên phương diện lịch sử, văn hóa, chính trị - xã hội Những yếu tố tác động đến công tác vận động NVNONN của TP.HCM từ năm 2001 đến năm 2015

Hai là, luận án phân tích những chủ trương của Đảng bộ TP.HCM đối

với công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2015

Ba là, luận án phân tích, làm rõ quá trình Đảng bộ TP.HCM chỉ đạo thực

hiện công tác vận động NVNONN từ năm 2001 đến năm 2015

Bốn là, luận án đánh giá những kết quả và những hạn chế, đồng thời

đúc kết những kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ TP.HCM lãnh đạo công tác vận động NVNONN nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Tiểu kết chương 1

Là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của dân tộc, NVNONN luôn nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu Hiện nay, nghiên cứu về NVNONN có thể khái lược ở 3 nhóm chính: Nhóm công trình nghiên cứu chung về NVNONN; nhóm công trình nghiên cứu chung về công tác vận động NVNONN; nhóm công trình nghiên cứu về công tác vận động NVNONN ở TP.HCM

Các công trình nghiên cứu được đầu tư công phu và đạt được những kết

Trang 30

quả như sau: Đã trình bày những vấn đề cơ bản về NVNONN theo các phương diện: quá trình hình thành, phát triển; số lượng và khu vực phân bố; đặc điểm

cơ bản về kinh tế, văn hóa, giáo dục, địa vị pháp lý ở các nước sở tại; đã phân tích những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác vận động NVNONN; đã trình bày một số chính sách và đưa ra một số kết quả trong công tác vận động NVNONN của TP.HCM

Trong thời gian qua, những công trình nghiên cứu về công tác vận động NVNONN ở cấp độ Trung ương đã đạt được kết quả cao Tuy nhiên, ở cấp độ địa phương, cụ thể là TP.HCM (địa phương có số lượng kiều bào và thân nhân lớn nhất cả nước), mảng đề tài này còn tản mạn, hầu như chưa được thực hiện có hệ thống, trên các nội dung: Những yếu tố tác động đến công tác vận động NVNONN của TP.HCM; những chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện, cũng như kết quả, bài học kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ TP.HCM lãnh đạo công tác vận động NVNONN Vì vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ TP.HCM đối với công tác vận động NVNONN là việc rất cần thiết trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 31

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG BỘ

Việt kiều là khái niệm được sử dụng thường xuyên, sớm nhất và chính

thức trong các văn bản của Nhà nước Điều 36, Hiến pháp năm 1959 và Điều

75, Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của Việt kiều” Ban Việt kiều Trung ương cũng là tên gọi đầu tiên của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, kiều bào đã có nhiều đóng góp

sức người, sức của, lúc này khái niệm Việt kiều được sử dụng thường xuyên

trong tên gọi của các phong trào Việt kiều yêu nước Sau năm 1975, số lượng người Việt di tản, vượt biên ra nước ngoài tăng lên nhanh chóng Những người này không nhận mình là Việt kiều vì sợ lẫn với phong trào Việt kiều yêu nước, vì vậy người di tản, vượt biên tự gọi mình là “người Việt tị nạn”,

“người Việt hải ngoại”, “người Việt tự do”… Những Việt kiều ra đi trước đó cũng không muốn mình bị hiểu lầm là người ra đi sau năm 1975, những người Việt định cư hoặc làm ăn theo diện Nhà nước cử đi các nước Đông Âu và Liên Xô, cũng không muốn coi mình là Việt kiều vì cho rằng Việt kiều chỉ để nói tới người Việt ở các nước tư bản Vì vậy, cách hiểu và dùng khái niệm Việt kiều chưa được thống nhất

Trang 32

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1997, từ kiều mang nghĩa: yếu tố ghép

sau một danh từ riêng, tên gọi của một dân tộc để cấu tạo danh từ, có nghĩa kiều dân, ví dụ: Hoa kiều, Ấn kiều, Việt kiều… Về ngôn ngữ, kiều mang ý xa xôi, sống phiêu bạt ở nước ngoài

Hiện nay, trên tinh thần đổi mới, quan niệm về xuất thân của Việt kiều ngày càng cởi mở, thông thoáng, tư tưởng mặc cảm của đa phần Việt kiều được xóa bỏ Do đó, từ Việt kiều thậm chí được một số người coi là một từ sang trọng

Việc sử dụng khái niệm Việt kiều ít nhiều tạo ra những khác biệt trong

suy nghĩ nên hiện nay trong các văn bản pháp quy không sử dụng khái niệm

này, thay thế nó bằng khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài Nhưng trong

đời sống thường ngày, khái niệm này vẫn được sử dụng

Kiều bào, theo Từ điển Tiếng Việt (1997): “Kiều bào là người dân nước mình sinh sống ở nước ngoài” Khái niệm này được sử dụng chủ yếu

chỉ về những người Việt Nam đi lao động, học tập có thời hạn ở nước ngoài theo diện Nhà nước cử đi, hoặc đi theo coi đường chính thống khác Từ kiều bào mang một tình cảm, trân trọng nhất định nên trong các văn bản, phát biểu của các vị lãnh đạo, khái niệm này vẫn được sử dụng song song với các

khái niệm khác

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Hiến pháp năm 1992 của nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2008 sử dụng khái niệm

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Khái niệm người Việt Nam định cư

ở nước ngoài được giải thích rõ ràng:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định

Trang 33

theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh

sống lâu dài ở nước ngoài” [Điều 3]

Định nghĩa này trong thực tế vẫn còn có những điểm lưu ý, vì quy chế định cư của các nước không hoàn toàn giống nhau, các trường hợp cụ thể phải xem xét theo điều kiện khác nhau trên cơ sở giấy tờ của đương sự, các mối quan hệ xã hội, luật pháp sở tại

Người Việt Nam ở nước ngoài, được sử dụng phổ biến hiện nay Tại

khoản 3 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 định nghĩa: NVNONN là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài Đây là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay

cư trú

Thực tiễn có nhiều khái niệm khác nhau nói về NVNONN, song chưa

có khái niệm nào được định nghĩa đầy đủ và không có văn bản chính thức quy định buộc phải sử dụng khái niệm nào, nên tùy theo hoàn cảnh hay thói quen mà sử dụng linh hoạt Trong luận án, để rút gọn trong khi viết và để nhấn mạnh ý nghĩa tình cảm dân tộc, đồng bào (hơn là tính pháp lý) một số

chỗ vẫn sử dụng khái niệm kiều bào hoặc Việt kiều thay cho người Việt Nam

ở nước ngoài

Công tác vận động NVNONN là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống công tác dân vận của Đảng và Nhà nước Đây là cuộc vận động cách mạng, là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, là sự thể hiện tình cảm

và sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với bộ phận bà con sinh sống ở nước ngoài, là sự đấu tranh quyết liệt đối với một số thế lực phản động người Việt phá hoại đất nước [6, tr.7] Vì là một nhiệm vụ trong công tác dân vận nên công tác vận động NVNONN mang đầy đủ nội dung, tính chất, ý nghĩa của công tác dân vận

Trang 34

Khái niệm vận động người Việt Nam ở nước ngoài: Vận động

NVNONN là vận động tất cả lực lượng của mỗi người Việt ở nước ngoài, không để sót một cá nhân nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, phải làm

Khái niệm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài: Công tác

vận động NVNONN là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng

2.1.2 Một số vấn đề cơ bản về người Việt Nam ở nước ngoài

Hiện tượng di cư từ vùng này sang vùng khác hay từ quốc gia này sang quốc gia khác diễn ra từ lâu đời, phổ biến và thường gắn với những nhu cầu

về điều kiện kinh tế hoặc biến cố lịch sử xã hội Từ thời 1000 năm Bắc thuộc, chính quyền phong kiến phương Bắc thường bắt Giao Chỉ cống nạp thợ thủ công giỏi, nô dịch và sự phát triển giao thương buôn bán giữa các nước hoặc chiến tranh loạn lạc, nhiều người Việt ra nước ngoài rồi ở lại Bên cạnh đó, trong quá trình khai hoang và di cư tự nhiên để tránh thiên tai, mất mùa,…, người Việt đã di chuyển đến những vùng đất thuộc Trung Quốc, Lào, Campuchia ngày nay

Một trong những dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành NVNONN

là “từ thế kỷ thứ XIII hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ hai của vua Lý Anh Tông, đã sang Cao Ly (bán đảo Triều Tiên ngày nay) tị nạn, tránh sự tàn sát của nhà Trần vào năm 1226” [100, tr.15] Có thể nói, dòng họ Lý Hoa Sơn với hơn 1.000 người là cộng đồng đầu tiên của NVNONN

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp theo, sử sách còn ghi lại một số lần ra đi khác như: trường hợp của ông Nguyễn An, “vào thời nhà Minh xâm chiếm nước ta, một số nhà sư, thợ thuyền đã bị bắt đưa về Trung

Trang 35

Quốc Ông Nguyễn An có thể là một trong số những người bị bắt đó Do có tài năng, ông được nhà Minh chú ý và cất nhắc vào làm quan, vì đã có công lớn trong xây dựng mới thành Bắc kinh” [33, tr.20]; sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Vua Quang Trung năm 1789 một số quan, quân nhà Lê sang nương náu ở triều đình nhà Thanh; những người theo Gia Long bị Tây Sơn đánh bại chạy dạt sang Thái Lan; những người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn sang các nước láng giềng thời nhà Nguyễn cấm đạo

Hoạt động giao thương kinh tế cũng góp phần hình thành nên cộng đồng NVNONN Giai đoạn năm 1573 - 1636 người Nhật đến Việt Nam thường xuyên hơn và đã đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế ở Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam giai đoạn đầu thế kỷ XVII) Quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản rất phát triển thời này, “cư dân Việt đã có mặt tại Nhật Bản” [43, tr.21] và các đảo, quần đảo trên Biển Đông Theo sử liệu Nhật Bản, công chúa của Chúa Nguyễn là Ngọc Vạn mà người Nhật gọi là Anio, vào năm 1619 đã kết hôn với Araki Sotaro và theo chồng về Nagasaki, Nhật Bản sống Trong bài “13 bức thư về quan hệ Việt – Nhật cách dây 400 năm” đăng trên báo quân đội nhân dân số ra ngày 27-3-

1994, tác giả Trần Ánh viết: Mối bang giao giữa Triều đình nhà Nguyễn và triều đình Nhật Bản không đơn thuần là các bức thư từ trao đổi Việc chúa Nguyễn gả một trong bốn cô công chúa yêu của mình là Ngọc Hoa cho một thương gia tiếng tăm thời bấy giờ của Nhật [43, tr.21,22] cũng nói lên được quá trình hình thành cộng đồng NVNONN

Những chi tiết lịch sử trên cho thấy người Việt ra nước ngoài sống có

từ rất sớm, nhưng còn nhỏ lẻ chưa tập trung đông, họ ra nước ngoài bằng các hình thức bằng làm nô dịch, cống nạp, cưới gả giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với các nước, buôn giao thương…, các cuộc di cư chủ yếu mang tính tự phát, lẻ tẻ, người Việt sau đó thường hoà nhập nhanh chóng vào cộng đồng dân cư bản địa, qua nhiều thế hệ đã trở thành người bản xứ

Trang 36

Cuối thế kỷ XIX, dưới ách đô hộ và chính sách bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều người Việt Nam bị bắt đi làm phu đồn điền, phu mỏ ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và một số thuộc địa khác của Pháp

ở châu Phi và châu Đại Dương Năm 1891, 800 người Việt Nam đầu tiên đã đặt chân đến Tân Đảo, đó là những người bị thực dân Pháp đưa đi lưu đày dưới hình thức tù khổ sai Đến năm 1939 đã có 12.000 người Việt Nam tới Tân Đảo làm phu mỏ theo hợp đồng [100, tr.15], sau khi hết hợp đồng, họ đã

ở lại Tân Đảo Trong thời gian này, nhiều chí sĩ Việt Nam ở nước ngoài tổ chức các phong trào yêu nước với tư tưởng tiến bộ như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đưa những thanh niên ưu tú, có tinh thần yêu nước đến Nhật Bản nghiên cứu, học tập, đến năm 1908, số du học sinh lên đến 200 người Trước năm 1946, có tới 60.000 người Việt Nam sinh sống tại Lào [100, tr.15] và khoảng 10.000 người ở Thái Lan đã có mặt từ trước hình thành nên cộng đồng người Việt khá đông, họ là những người sang từ thời Cần Vương, thời Đông Du vì bị chế độ phong kiến Việt Nam đàn áp và sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, người Việt Nam tập trung tại mười tỉnh Đông Bắc của Thái Lan Tại Trung Quốc, cộng đồng người Việt Nam bao gồm chủ yếu

là phụ nữ (chiếm tới 85%), bị đưa sang Trung Quốc làm con ở, nàng hầu; một

số là công nhân do thực dân Pháp đưa sang làm việc; số khác theo chân quân đội Tưởng Giới Thạch rút về Trung Quốc năm 1945 - 1946

Tại Pháp, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, hàng ngàn người Việt đã bị bắt đi lính, sau đó giải ngũ và ở lại Pháp, hình thành nên các cộng đồng người Việt tại một số thành phố lớn Bên cạnh

đó cũng có một số lượng đáng kể người đi du học rồi ở lại; những người lấy

vợ, lấy chồng là người Pháp hoặc lính viễn chinh về sống tại Pháp hoặc các nước thuộc địa của Pháp

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước chống Pháp bùng lên ở Việt Nam cũng dẫn đến nhiều cuộc ra đi với mục đích tìm đường

Trang 37

cứu nước như trường hợp Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc tìm cách xây dựng cơ sở, khôi phục phong trào Cần Vương, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân Nhiều nhà cách mạng cũng chọn Trung Quốc làm địa bàn hoạt động

Từ năm 1945 đến trước năm 1975, số người Việt Nam ra nước ngoài chủ yếu vẫn là những người đi du học, đi làm ăn, kinh doanh, tránh chiến tranh, trốn quân dịch hoặc là vợ con của những người nước ngoài tham gia phục vụ chiến tranh ở miền Nam Việt Nam hết hạn về nước

Từ năm 1950, sau khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước XHCN, Việt Nam đã gửi một số cán bộ đi nghiên cứu, đào tạo tại Liên

Xô và các nước XHCN khác (một số nước Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba ) hàng chục nghìn lượt lưu học sinh Phần lớn những người này sau khi hoàn thành chương trình đào tạo đã trở về Việt Nam Tuy nhiên, cũng

có một số lượng nhỏ được các nước sở tại giữ lại để đào tạo cao hơn hoặc làm việc trong các trung tâm nghiên cứu; một số người ở lại kết hôn với công dân của các nước sở tại

Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1975, số lượng NVNONN dần tăng lên, đôi khi có những đợt ra đi tương đối đông, địa bàn cư trú ngoài các nước láng giềng còn mở rộng sang cả châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương Cộng đồng người Việt ở một số khu vực, một số nước đã hình thành rõ nét, với quy mô từ vài nghìn đến vài chục nghìn người

Người Việt Nam ra đi từ năm 1975: Sau những thất bại liên tiếp của

quân đội VNCH trên khắp chiến trường miền Nam và nhất là sau khi Mỹ tuyên bố không đưa quân trở lại Việt Nam, hàng loạt tướng, tá cao cấp và những người Việt Nam trực tiếp làm việc cho Mỹ đã chuẩn bị ra nước ngoài Giữa tháng 4-1975, Tổng thống Mỹ Gerald Ford tuyên bố sẽ di tản khoảng 176.000 người, bao gồm người Mỹ và những người Việt Nam trực tiếp phục

vụ chính quyền VNCH Từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 năm 1975 đã có

Trang 38

khoảng 131.000 người rời đất nước ra đi [100, tr.20] Bên cạnh số người được

Mỹ trực tiếp tổ chức di tản còn một số không ít người do hoang mang, bị lừa bịp và đe doạ về một cuộc “tắm máu” của cộng sản nên cũng ồ ạt ra đi Những người ra đi ở giai đoạn này được đưa đến các căn cứ quân sự của Mỹ

ở Philippines và đảo Guam, sau đó được chuyển tiếp đi định cư ở Mỹ

Người ra đi bất hợp pháp: Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải

phóng, hàng chục ngàn người đã từng sống và làm việc dưới chế độ Mỹ - VNCH, do mặc cảm, định kiến hoặc bị tuyên truyền lừa bịp về “hiểm họa cộng sản”, không thích nghi được với chế độ mới đã rời bỏ đất nước một cách bất hợp pháp bằng cách vượt biên Việc số lượng lớn người Việt Nam di tản

ra nước ngoài đã làm thay đổi thành phần và tính chất của cộng đồng NVNONN

Bên cạnh đó, trong thời gian này tình hình kinh tế đất nước sau chiến tranh gặp nhiều khó khăn, viện trợ nước ngoài bị cắt giảm đáng kể, thiên tai liên tiếp, cộng thêm sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch đã khiến nhiều người tiếp tục ra nước ngoài chủ yếu bằng đường thủy, được gọi là

“thuyền nhân” Cơ quan Cao ủy Liên hợp quốc cho biết: Từ giữa năm 1975

đến tháng 2-1985, các nước phương Tây đã tiếp nhận 555.573 thuyền nhân từ các tỉnh, thành thuộc miền Nam Việt Nam đến [43, tr.25]; Từ giữa năm 1978,

số lượng người vượt biên tăng đột biến, trong đó đáng kể là số người Việt gốc Hoa phần lớn hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ do bất mãn với chính sách cải tạo công thương nghiệp và những căng thẳng ngày càng tăng trong quan hệ Việt – Trung, sự kích động của Trung Quốc Từ giữa năm 1978 đến giữa năm

1986 đã có khoảng 270.000 người Việt gốc Hoa vượt biên [43, tr.26]

Người ra đi hợp pháp: Nhằm tìm giải pháp cho vấn đề người tị nạn

Đông Dương tại các nước Đông Nam Á và Hồng Kông, tháng 7-1979 Hội nghị Geneva về người tị nạn được triệu tập Tại đây các nước phương Tây đồng ý tăng số người được phép nhập cư vào nước mình theo “Chương trình

Trang 39

ra đi có trật tự” (ODP) Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, từ năm 1979 - 1994, chương trình ODP đã đưa 523.000 người Việt ra đi định cư tại Mỹ Từ năm 1988,

“Chương trình con lai” đã đưa gần 90.000 trẻ em và gia đình người Việt sang

Mỹ và từ năm 1989, “Chương trình Tái định cư nhân đạo” đưa khoảng 167.000 người từng đi học tập cải tạo sau chiến tranh cùng gia đình sang định

cư tại Mỹ Từ năm 1975 - 1995 có khoảng 1.750.000 người Việt Nam, kể cả

số ra đi hợp pháp và bất hợp pháp, được định cư ở nước ngoài, trong đó chủ yếu là ở nước Mỹ, còn lại là tại các nước: Ôxtrâylia, Canada, Pháp, Anh, Đức, các nước Bắc Âu [64, tr.22]

Quá trình hình thành cộng đồng người Việt tại Liên Xô và một số nước Đông Âu: Từ đầu những năm 1980, theo các “Hiệp định về lao động và dạy

nghề” ký giữa Việt Nam với Liên Xô và các nước Đông Âu, hàng chục vạn công dân Việt Nam được đưa sang các nước này lao động, học tập Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ tháng 5-1980 đến năm

1991, đã có 247.578 công nhân đi hợp tác lao động, trong đó riêng Liên Xô tiếp nhận 103.000 lao động Việt Nam [41, tr.17] Sau khi chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhiều công nhân, kể cả số hết hạn và chưa hết hạn hợp đồng lao động cũng như nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp hoặc chưa tốt nghiệp đã ở lại làm ăn, sinh sống Những người ở lại sau

đó còn làm cầu nối đưa một số lượng lớn người thân, bạn bè từ Việt Nam sang cư trú, làm ăn Từ năm 1997, các quy định về xuất cảnh, xuất khẩu lao động thông thoáng hơn, hàng năm có thêm hàng ngàn người Việt Nam sang nước Nga, Séc, Ba Lan và một số nước Đông Âu khác theo hình thức du học, thăm thân, du lịch rồi ở lại

Từ năm 1980, Việt Nam ký “Hiệp định về hợp tác chuyên gia” với một

số nước châu Phi như Algeria, Angola, Mozambique Theo đó, hàng nghìn lượt chuyên gia Việt Nam, trong đó có hơn 3.000 chuyên gia giáo dục sang giảng dạy tại các nước này, các nước tiếp nhận nhiều nhất là nước Algeria,

Trang 40

Angola, Congo, Mozambique [64, tr.22] Sau khi hết hạn hợp đồng, một số chuyên gia Việt Nam ở lại làm ăn, sinh sống, dần dần đưa thêm người nhà và lao động tự do sang làm việc

Trong giai đoạn từ cuối những năm 1990 - 2000, việc hợp tác xuất khẩu lao động giữa Việt Nam với nhiều nước được đẩy mạnh Do vậy, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng, đã có hàng trăm nghìn lượt lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng Các thị trường xuất khẩu lao động chính của Việt Nam là Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước ở khu vực Trung Đông, Đông

Âu Việt Nam không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu lao động sang các nước ở khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu và châu Úc Bên cạnh đó, số phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài gia tăng nhanh chóng cũng góp phần làm tăng lên

về số lượng NVNONN

Tuy số lượng không đông và quy mô đi ra nước ngoài không ồ ạt như trong những năm 1975 - 1989, nhưng số lượng người Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài trong giai đoạn năm 1990 - 2000 vẫn ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng, góp phần hình thành những cộng đồng NVNONN tương đối đông tại nhiều địa bàn mới

Từ quá trình hình thành phát triển của cộng đồng NVNONN và những thay đổi của tình hình quốc tế và trong nước NVNONN có một số đặc điểm

cơ bản sau:

Do những biến động của lịch sử và nhiều nguyên nhân về chính trị, kinh tế, xã hội,… nhiều người Việt Nam rời đất nước ra đi, hình thành cộng đồng NVNONN bao gồm nhiều thành phần, nhiều thế hệ Trong tổng số NVNONN thì phần đông tập trung ở những nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp, Canada, Ôxtrâylia, Đức, Anh, Hà Lan, Bỉ, Nhật Bản

Đại đa số NVNONN sống xen kẽ với dân nước sở tại, nhưng cũng có một số nơi, đặc biệt là Mỹ, người Việt sống tập trung ở những khu vực riêng như quận Cam (Orange) thuộc Nam California

Ngày đăng: 03/02/2023, 19:03

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm