1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đảng Bộ Tỉnh Hà Nam Thực Hiện Nhiệm Vụ Xây Dựng Đảng Từ Năm 2000 Đến Năm 2013.Pdf

71 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Tỉnh Hà Nam Thực Hiện Nhiệm Vụ Xây Dựng Đảng Từ Năm 2000 Đến Năm 2013
Tác giả Nghiêm Thị Lan Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Đăng Tri
Trường học Học viện Khoa học Xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Niên luận ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC – XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  NGHIÊM THỊ LAN OANH ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2013 LUẬN VĂN THẠC SĨ Ch[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC – XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGHIÊM THỊ LAN OANH

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC – XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGHIÊM THỊ LAN OANH

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng

từ năm 2000 đến năm 2013” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Ngô Đăng Tri

Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Hà Nội ngày 21/10/2013

Tác giả luận văn

Nghiêm Thị Lan Oanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo hết sức nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Lịch sử, đặc biệt là PGS.TS Ngô Đăng Tri Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô và các bạn Đồng thời xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Trung tâm lữu trữ UBND tỉnh Hà Nam, Trung tâm lữu trữ Tỉnh ủy Hà Nam, văn phòng tư liệu khoa Lịch sử, Trung tâm Thư viện Quốc gia – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp tôi sưu tầm tài liệu trong quá trình thực hiện đề tài Mặc dù đã có sự đầu tư nghiên cứu và làm việc trên

cơ sở tư liệu có độ tin cậy cao, nhưng đây là một đề tài hết sức rộng lớn và phức tạp nên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội ngày 21/10/2013

Tác giả luận văn

Nghiêm Thị Lan Oanh

Trang 5

UBND Ủy ban nhân dân UBKT Ủy ban kiểm tra VKSND Viện Kiểm sát nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 7 1.1 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI (12/2000)

và chủ trương xây dựng Đảng 7

1.1.1 Vài nét về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trước năm 2000 7 1.1.2 Chủ trương xây dựng Đảng của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác xây dựng Đảng 38 2.1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 40

2.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam tiếp tục đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng đảng từ năm 2010 đến năm 2013 62

2.2.1 Chủ trương đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 62 2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 64

Trang 7

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 79

3.1 Nhận xét 79

3.1.1 Về ưu điểm 79

3.1.2 Về hạn chế 87

3.2 Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra 91

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 111

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hơn tám thập kỷ qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn giữ vai trò là lực lượng lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng của dân tộc, do đó sự lãnh đạo, quá trình phát triển của Đảng đều có ý nghĩa quyết định đối với thành quả cách mạng qua các thời kỳ lịch sử Sự lãnh đạo của Đảng là toàn diện đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đối với mọi tổ chức trong hệ thống chính trị Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định: “Những thành tựu và yếu kém trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và những

ưu khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng” [2, 137]

Nhận thức rõ được vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức quan tâm và thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ này Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác xây dựng Đảng những năm vừa qua còn không ít hạn chế và tiêu cực: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về CNXH

và con đường đi lên CNXH ở nước ta.Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế, Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp” [4, 173] Những tiêu cực nảy sinh ngay trong nội bộ Đảng càng trở nên nguy kịch hơn khi các thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng từ mọi phía bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu chính là: phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN

ở nước ta hiện nay Do đó xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nhiệm vụ sống còn, then chốt trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay

Trang 9

Hà Nam, mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, có bề dày lịch sử trên 120 năm, với diện tích 859,5 km2, dân số 846.653 người (theo thống kê năm 2013) Hà Nam nằm ở phía Tây Nam châu thổ sông Hồng, vào khoảng 20,41 độ vĩ bắc; 105,31 độ kinh đông Phía Bắc tiếp giáp với Hà Tây, phía Nam giáp Nam Định, phía Đông giáp Thái Bình và Hưng Yên, phía Tây Nam giáp Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình Từ lâu Hà Nam đã được mệnh danh là cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, nằm trên huyết mạch giao thông Bắc – Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy hết sức thuận lợi, cùng với cầu Yên Lệnh nối đôi bờ sông Hồng, tạo cho Hà Nam lợi thế mới để mở rộng giao lưu hợp tác với các tỉnh Đông Bắc và ra cảng biển Hải Phòng Trung tâm tỉnh lỵ là Thành phố Phủ Lý - thành phố anh hùng, nơi hội tụ của ba con sông: sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ Hà Nam được coi là mảnh đất trung tâm - địa - kinh tế - văn hoá của khu vực đồng bằng sông Hồng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Hà Nam đã đoàn kết một lòng, hăng say xây dựng đời sống mới, đẩy mạnh CNH – HĐH, phấn đấu đưa

Hà Nam trở thành một tỉnh giàu mạnh, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp hơn Sau hơn mười năm tái lập (1997), Hà Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thành công trên là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó không thể không kể đến những tác động tích cực từ việc Đảng bộ tỉnh luôn chú trọng thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và coi đây là nhiệm vụ then chốt trong mọi thời kỳ Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh vẫn còn tồn tại một số vấn đề nổi cộm như: tệ quan liêu, tham nhũng, một số đảng viên giảm sút ý chí, kém tổ chức kỷ luật; tổ chức cơ sở Đảng nhiều nơi yếu kém, phương thức lãnh đạo còn chậm đổi mới,…

Những việc đã làm được và chưa làm được của nhân dân Hà Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội những năm đầu của thế kỷ XXI

Trang 10

cũng gắn liền với kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương Nghiên cứu quá trình Đảng bộ Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013 trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức

sẽ rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh trong công tác xây dựng Đảng trong thời gian sắp tới Đó chính là những lý

do chúng tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây

dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013” làm đề tài luận văn chuyên ngành

Lịch sử Đảng của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tƣ liệu

Xây dựng Đảng là một vấn đề rộng lớn, phức tạp và có ý nghĩa then chốt trong công cuộc xây dựng CNXH của nước ta Chính vì vậy, đã có không ít những công trình nghiên cứu về vấn đề này Trong phạm vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài, xin nêu ra một vài công trình tiêu biểu sau:

Về sách: Tác giả Lê Đức Thọ với tác phẩm: Những nhiệm vụ cấp bách

của công tác xây dựng Đảng; Hoàng Tùng: Đổi mới tư duy lý luận về công tác xây dựng Đảng; Lê Quang Thưởng: Một số vấn đề xây dựng Đảng về tổ chức trong giai đoạn hiện nay; Nguyễn Văn Vinh – Nguyễn Đức Thịnh: Xây dựng Đảng vững mạnh trong thời kỳ đổi mới đất nước,…

Các bài viết trên Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản như: bài

“Đảng cầm quyền và đạo đức, phong cách của cán bộ, đảng viên” của tác giả Nguyễn Xuân Tảo; “Tự phê bình và phê bình ở các tổ chức cơ sở Đảng hiện nay” của tác giả Trần Thông; GS Trần Nhâm với tác phẩm “Phòng chống tham nhũng – nhiệm vụ cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”,… Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số luận văn thạc sỹ có cùng đề tài để làm phong phú, sâu sắc cho bài viết Tiêu biểu là luận văn “Đảng bộ Hà Tây thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng thời kỳ 1991-2000” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền; “Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Yên Khánh (Ninh Bình) từ năm 1996 đến năm 2010” của học viên Nguyễn Thị Hoa, Ngô

Trang 11

Thị Lan Hương với luận văn “Đảng bộ huyện Sóc Sơn thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 1996 đến năm 2010”…

Những cuốn sách lý luận chung về công tác xây dựng Đảng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Nghị quyết, báo cáo tổng kết về công tác xây dựng Đảng của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội là nguồn tư liệu cơ sở khi nghiên cứu đề tài này

Các Nghị quyết, văn kiện Đại hội, các báo cáo cuối năm của Đảng bộ

tỉnh Hà Nam đặc biệt từ năm 2000 đến năm 2013 và 2 cuốn “Lịch sử Đảng bộ

tỉnh Nam Hà” tập 1 (1930-1954), “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam” tập 2

(1975-2005) là nguồn tư liệu chủ yếu để chúng tôi nghiên cứu đề tài này

Tất cả những công trình nói trên đều đề cập đến các vấn đề chính yếu, cốt lõi của công tác xây dựng Đảng Tuy nhiên, tiếp cận ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, nên mỗi tác giả có những ý kiến riêng của mình Đây chính

là những tư liệu mang tính chất nền tảng, cơ sở để phục vụ đề tài nghiên cứu Tính đến thời điểm thực hiện luận văn, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 2000 đến năm 2013

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài với mong muốn sẽ đưa ra một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm đầu của thế kỷ XXI Xa hơn nữa, chúng tôi hi vọng với việc thực hiện đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm một góc nhỏ cho bức tranh toàn cảnh của Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và trưởng thành từ năm 2000 đến năm 2013

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài là tìm hiểu sự nhận thức, các chủ trương, biện pháp, kết quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 2000 đến năm 2013 từ đó làm rõ lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng Đảng

Trang 12

Luận văn có 3 nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Thu thập và xử lý nguồn tư liệu về đề tài để phục vụ cho mục đích nghiên cứu

- Trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013

- Rút ra những nhận xét về thành tựu, hạn chế và một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu chủ yếu là quá trình nhận thức, các chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương từ năm 2000 đến năm 2013, những thành tựu và hạn chế của Đảng bộ tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trên

cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức Nguyên nhân của những thành tựu cũng như các hạn chế, đó là những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng ở Hà Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở địa phương từ năm 2000 đến năm 2013 là phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh

về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng Những chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay là

cơ sở chính, cung cấp quan điểm chỉ đạo cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu

Trang 13

khoa học lịch sử nói chung, của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng Cụ thể: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và các nhóm phương pháp khác

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần bổ sung những tư liệu cụ thể để làm rõ hơn lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 2000 đến năm 2013

Những bài học kinh nghiệm mà luận văn rút ra từ việc Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013 sẽ có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác xây dựng Đảng ở Hà Nam trong thời gian tới, và cũng có thể là những bài học kinh nghiệm có tính chất tham khảo cho các địa phương khác khi thực hiện nhiệm

Trang 14

Tỉnh Hà Nam được tái lập

Ngày 20/10/1890, tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập Đất đai tỉnh

Hà Nam gồm đất phủ Liêm Bình, 17 xã của huyện Vụ Bản, Thượng Nguyên (thuộc tỉnh Nam Định), 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Nội (cho nhập vào huyện Duy Tiên) và 2 huyện cũ là Duy

Tiên, Kim Bảng của phủ Lý Nhân

Trải qua hơn một trăm năm (kể từ ngày thành lập), địa danh và địa giới hành chính của tỉnh đã có nhiều thay đổi qua các thời kỳ Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tỉnh thuộc liên khu III Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, tháng 5/1953, Trung ương quyết định cắt các huyện phía Bắc tỉnh Nam Định gồm Ý Yên, Vụ Bản,

Mỹ Lộc và 7 xã phía Bắc Nghĩa Hưng nhập vào tỉnh Hà Nam; chuyển châu Lạc Thuỷ về tỉnh Hoà Bình Tháng 4/1956, sau giảm tô và cải cách ruộng đất,

3 huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và 7 xã của Nghĩa Hưng sát nhập trở lại tỉnh Nam Định Năm 1956, tỉnh Hà Nam và Nam Định sát nhập thành tỉnh Nam

Hà Đầu năm 1976, Nam Hà sát nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh Năm 1992, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ Ngày 06/11/1996, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết chia tỉnh Nam Hà thành hai tỉnh Hà Nam và Nam Định Ngày 01/01/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng và thị xã Phủ Lý

Trang 15

Ngay sau khi tái lập, phát huy truyền thống lịch sử của cha ông, trong những năm qua Đảng bộ, quân và dân Hà Nam luôn đoàn kết một lòng, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội Đảng bộ và nhân dân Hà Nam luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, đóng góp vào thành công của hai cuộc kháng chiến

và trong thời kỳ đổi mới thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với những đóng góp đó, Đảng bộ quân và dân Hà Nam cùng 6/6 huyện, thành phố vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều danh hiệu cao quý khác

Sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định và Ninh Bình, tỉnh Hà Nam được tái lập là sự kiện chính trị quan trọng đối với Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh, mở ra thời kỳ phát triển mới của tỉnh Hà Nam

Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trước năm 2000

Bước vào xây dựng tỉnh mới tái lập, Hà Nam có một số thuận lợi cơ bản Về vị trí địa lý, Hà Nam nằm ở phía Nam thủ đô Hà Nội, có trục đường giao thông Bắc – Nam chạy qua, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng giao lưu, hợp tác với các vùng, các trung tâm kinh tế lớn của đất nước Sau mười năm đổi mới, đời sống vật chất tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã được nâng lên, tình hình an ninh chính trị được giữ vững là những thuận lợi để Hà Nam cùng với cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH – HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh còn nhiều khó khăn Khó khăn lớn nhất

là khi tách tỉnh, lực lượng cán bộ từ tỉnh Nam Hà chuyển về vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối về cơ cấu So với tổng số cán bộ từng khu vực ở tỉnh Nam Hà cũ, số cán bộ chuyển về Hà Nam chiếm tỷ lệ rất thấp: cán bộ chuyên môn nghiệp vụ và khoa học kĩ thuật ở khu vực quản lý nhà nước ở các sở, ngành có 180 người, chiếm 17,81%; khu vực sự nghiệp có 330 người, chiếm

Trang 16

23,12%; khu vực hành chính sự nghiệp có 510 người Nhiều cơ quan, ban ngành, đoàn thể không đủ người làm việc, không có cán bộ chủ chốt, đội ngũ cán bộ không có tính kế thừa Các cơ quan của tỉnh chưa có công sở, phải đi thuê mượn địa điểm làm việc Đời sống, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức mới chuyển về gặp nhiều khó khăn, chưa có nhà ở

Nhận thức rõ những thuận lợi, khó khăn của tỉnh mới tái lập, kế thừa và phát huy thành quả 32 năm hợp nhất với Nam Định và Ninh Bình, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo BCH lâm thời Đảng bộ tỉnh chú trọng khơi dậy truyền thống cách mạng, niềm tự hào quê hương, ý thức trách nhiệm trước yêu cầu phát triển, tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh, khắc phục khó khăn, phấn đấu xây dựng tỉnh phát triển, đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân

Đảng bộ đã tập trung khắc phục một số khó khăn chủ yếu của tỉnh mới chia tách, nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh sớm đi vào hoạt động bình thường Ngày 12/01/1997, Ban

Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị quyết số 01-NQ/TU về Những

nhiệm vụ trọng tâm trước mắt Nghị quyết đã chỉ ra những thuận lợi và khó

khăn khi chia tách tỉnh và nhấn mạnh: “Trong giai đoạn lịch sử này, BCH lâm thời Đảng bộ tỉnh không được chủ quan, nóng vội đồng thời cũng không bi quan, ngại khó, phải đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp sức, sáng tạo trong tư duy, mạnh dạn trong tổ chức thực hiện để làm tốt những nhiệm vụ mà Đảng

bộ và nhân dân giao phó” [60, 297] Nghị quyết đề ra 11 nhiệm vụ trọng tâm bao gồm các lĩnh vực: phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng

và chuẩn bị điều kiện cho Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Trong đó có 2 nhiệm vụ được đưa lên hàng đầu: “Thứ nhất: Đẩy mạnh các hoạt động sản xuất nông nghiệp như tu bổ đê kè, làm thủy lợi nội đồng, …phấn đấu giành

vụ chiêm xuân thắng lợi với năng suất và tổng sản lượng cao nhất Thứ hai: Phải giải quyết cơ bản nhu cầu về trụ sở làm việc của các cơ quan tỉnh và nơi

ăn ở cho cán bộ công chức mới chuyển về, nhằm ổn định đời sống, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức yên tâm công tác” [60, 297]

Trang 17

Sau một thời gian chuẩn bị, thực hiện sự chỉ đạo của TW Đảng, từ ngày

02 đến ngày 05/7/1998, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV đã được tiến hành tại nhà Văn hóa trung tâm tỉnh Dự đại hội có 258 đại biểu chính thức đại diện cho 33.988 đảng viên toàn Đảng bộ Đại hội đã đề ra các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, chủ trương xây dựng Đảng của tỉnh Đại hội nhấn mạnh: “Công tác xây dựng Đảng phải được thực sự coi trọng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của tỉnh trong những năm tới” [61, 77] Trọng tâm của công tác xây dựng Đảng trong thời

kỳ này đó là: “Tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết TW 6 lần 2 (khoá

VIII) Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng

hiện nay Đây là Nghị quyết quan trọng gắn liền với cuộc vận động xây dựng

và chỉnh đốn Đảng, nhằm xây dựng Đảng mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức Thực hiện Nghị quyết phải đảm bảo phương châm đoàn kết, tự phê bình

và phê bình có hiệu quả, thấu tình đạt lý, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tạo niềm tin trong nhân dân với Đảng Trong đó đặc biệt chú trọng đến việc sửa chữa khuyết điểm, tăng cường đoàn kết, thống nhất, tạo ra những chuyển biến tích cực, cụ thể, thiết thực trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị” [60, 358]; “Vấn đề giữ nguyên tắc, kỷ cương của Đảng và đoàn kết nội bộ phải được đặc biệt coi trọng” [61, 77]

Trên cơ sở quán triệt nội dung văn kiện, các chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1996-2000) đề ra và dựa trên việc phân tích thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh, Đại hội Đảng bộ tỉnh

Hà Nam lần thứ XV (7/1998) và các Hội nghị tiếp theo đã cho ra đời những Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư… về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ năm

1998-2000 Thực hiện Nghị quyết TW 5 (khóa VII) về Đổi mới quản lý trong

các hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã, các ngành, các cấp của tỉnh đã nghiên

cứu đánh giá thực trạng 156 hợp tác xã nông nghiệp trong toàn tỉnh Trên cơ

sở đó, BCH Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 14/11/1998 về

Chuyển đổi và đổi mới tổ chức quản lý các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật

Trang 18

Hợp tác xã Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1988 của Bộ Chính

trị (khóa VIII), về việc Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ngày

16/10/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị 03-CT/TU và tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt trong tỉnh để quán triệt các văn bản của TW và của Tỉnh

ủy về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Quán triệt tinh thần Nghị quyết, chủ trương của Đại hội đảng bộ tỉnh, công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ này đã có sự chuyển biến rõ rệt trên tất

cả các mặt

Trong phát triển kinh tế, nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò sản xuất nông nghiệp của tỉnh thuần nông, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, nhằm tạo ra sự ổn định trong đời sống nhân dân Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 1.067,6 tỷ đồng, tăng 10,7% so với năm

1996 [61, 27]

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, điện lực, bưu điện bước đầu đạt được một số kết quả, tạo tiền đề phát triển trong những năm tiếp theo Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1997 đạt 315,8 tỷ đồng, tăng 9,2 % so với năm 1996 [61, 29]

Hoạt động văn hóa – xã hội có bước chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữ vững, các ngành trong khối nội chính có nhiều hoạt động tích cực

Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, các cấp ủy Đảng luôn coi trọng việc quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng của đảng bộ, của quê hương, để nâng cao nhận thức trách nhiệm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Đặc biệt làm tốt đợt tuyên truyền bầu cử Quốc hội khóa X và bầu bổ sung đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 1994-1999 Đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, nhằm cung cấp

những thông tin có định hướng cho cán bộ và nhân dân Bản tin Thông báo

nội bộ được phát hành ngay trong tháng đầu khi tỉnh mới đi vào hoạt động,

duy trì và từng bước nâng cao chất lượng phục vụ cho sinh hoạt chi bộ hàng

Trang 19

tháng Số lượng phát hành hàng tháng tăng từ 2.200 cuốn năm 1997, lên

2.650 cuốn năm 2000 [60, 361] Hoàn thành biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ

tỉnh Hà Nam giai đoạn 1927-1975 Tính đến hết tháng 8/1999, các huyện, thị

ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh đã hoàn thành việc tổ chức học tập, nghiên cứu Nghị quyết đến cán bộ chủ chốt và toàn thể đảng viên cơ sở Kết quả nổi bật của cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã góp phần củng cố tổ chức

cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Trong 3 năm (1998-2000), đã bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho gần 39.000 lượt cán bộ, đảng viên, tuyên truyền viên, duy trì theo quy chế của cấp ủy Do làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nên đại đa số cán bộ, đảng viên trong đảng bộ có lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng XHCN, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không có biểu hiện hoài nghi, mơ hồ về chính trị, không có tư tưởng đa nguyên, đa đảng

Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ, Tỉnh

ủy rất coi trọng củng cố, kiện toàn bộ máy cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị Ngay khi tỉnh được tái lập, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời đã ra Chỉ thị

số 01 –CT/TU, ngày 06/01/1997 về việc ổn định tổ chức cán bộ đảm bảo hoạt động của các cơ quan Đảng, đoàn thể trong thời gian trước mắt nhằm khắc phục tình trạng tổ chức cán bộ khi chia tách vừa yếu vừa thiếu Chỉ thị số 01 được triển khai hết sức khẩn trương, đến tháng 9/1997, toàn tỉnh đã nhanh chóng bố trí sắp xếp ổn định 56 đầu mối các cơ quan trực thuộc Đề bạt bổ nhiệm 91 đ/c lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể; điều động 39 đ/c huyện

ủy viên các huyện tăng cường cho tỉnh.Tỉnh ủy đã thực hiện nghiêm túc việc tinh giản bộ máy các cơ quan Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII)

Các cấp ủy đã quan tâm hơn đến công tác quy hoạch cán bộ, gắn với công tác rà soát chính trị nội bộ Làm tốt công tác nhân sự bầu HĐND các cấp tháng 11/1999 và công tác nhân sự Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội

Trang 20

Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 6 lần 2 (khóa VIII) Đến năm 2000, tình hình cán bộ và bộ máy đã được kiện toàn Hầu hết tổ chức Đảng cấp trên cơ sở và 90% số tổ chức đảng cơ sở đã xây dựng, bổ sung quy chế làm việc, đảm bảo đúng nguyên tắc và Điều lệ Đảng

Công tác kết nạp Đảng viên mới được quan tâm, từ năm 1997 đến năm 2000, toàn Đảng bộ mở gần 100 lớp cho 6.500 quần chúng ưu tú học tập, tìm hiểu về Đảng Đã kết nạp được trên 3000 đảng viên; trong đó 47%

là đoàn viên, 51,6% có trình độ trung cấp và đại học Năm 2000, thực hiện

Chỉ thị số 51 CT/TW của Bộ Chính trị Về phát triển đảng viên nhân dịp kỷ

niệm 70 năm ngày thành lập Đảng, đã kết nạp được 994 đảng viên, cao nhất

so với những năm trước đó, nâng số đảng viên trong toàn đảng bộ lên 35.858 đồng chí [60, 363]

Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên Số tổ chức

cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh ngày càng tăng, từ 77% năm 1998 lên 82,28% năm 2000, vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra Chỉ còn 5 tổ chức cơ sở đảng yếu kém, chiếm 1,26% Bình quân trong 3 năm (1998-2000), số đảng viên đủ

tư cách đạt 78,7%, số đủ tư cách nhưng còn hạn chế từng mặt là 19,9%, số đảng viên vi phạm và không đủ tư cách còn 1,4% [60, 363]

Hoạt động của Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiều tiến bộ, đạt hiệu quả tốt Ủy ban kiểm tra các cấp đã phối hợp kiểm tra 164 tổ chức Đảng và 1.761 đảng viên về việc chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt và thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng Đã xử lý kỷ luật 11 tổ chức đảng và 857 đảng viên,

có 37% là cấp ủy viên các cấp, khai trừ khỏi đảng 119 trường hợp [60, 364]

Trong năm 1997, Ủy ban kiểm tra đã tiến hành kiểm tra 859 đảng viên,

83 tổ chức cơ sở đảng có dấu hiệu vi phạm, phát hiện 248 đảng viên, chiếm 28,8% và 28 tổ chức cơ sở đảng, chiếm 33,7% vi phạm kỷ luật đảng Đã xử lý

kỷ luật 206 đảng viên, trong đó bị kỷ luật, khiển trách 57, cảnh cáo 91, cách chức 28, khai trừ 30, đưa ra khỏi đảng bằng các hình thức cho rút, xóa tên 99

Trang 21

Xử lý khiển trách 02 Ban Thường vụ Đảng ủy xã, 01 Ban Thường vụ Đảng ủy phường, 01 chi ủy chi bộ cơ sở [61, 41]

Sau khi tái lập tỉnh (1997), Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng đảng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế: vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng ở một số nơi, nhất là cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; năng lực lãnh đạo kinh tế còn hạn chế; tình trạng phát tán đơn, thư mạo danh, nặc danh với động cơ xấu

có lúc diễn ra nghiêm trọng nhưng chưa được ngăn chặn kịp thời; đặc biệt nghiêm trọng là có cán bộ, đảng viên ở cương vị lãnh đạo cố ý làm trái nguyên tắc, để cho chủ nghĩa cá nhân chi phối, gây chia rẽ bè phái, tham nhũng, quan liêu, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng

1.1.2 Chủ trương xây dựng Đảng của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

IX của Đảng với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện để xây dựng nước ta thành một nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đến năm 2020 cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng bộ đã chủ trương phát huy nội lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH – HĐH, xây dựng tỉnh Hà Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh Nhiệm vụ quan trọng mà Đảng bộ nhấn mạnh trong các kỳ họp Đại hội “củng

cố và đổi mới công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trong mọi thời kỳ”

Đại hội đại biểu tỉnh Hà Nam lần thứ XVI được tiến hành vào tháng 12 năm 2000 - thời điểm đất nước ta giành được những thành tựu hết sức to lớn

Trang 22

trong công cuộc đổi mới Cuộc vận động, xây dựng chỉnh đốn Đảng đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã đi qua chặng đường 4 năm kể từ khi tái lập tỉnh Đại hội được diễn ra trong không khí phấn khởi khi nhân dân tỉnh vừa tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 110 năm ngày thành lập tỉnh và 70 năm tiếng trống Bồ Đề Những sự kiện trọng đại và đầy ý nghĩa đó chính là động lực tinh thần quan trọng giúp Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh thêm quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ đặt ra

Đại hội đã đề ra các chủ trương phát triển kinh tế xã hội, chủ trương xây dựng Đảng Nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, Đảng viên được Đảng bộ đặt lên hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng ở địa phương thời kỳ này: “Thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho cán bộ đảng viên về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội Nâng cao chất lượng giảng dạy của trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị, thực hiện nghiêm túc Quy định 54 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng Kịp thời nắm bắt dư luận xã hội và làm tốt công tác thông tin có định hướng, đảm bảo quyền được thông báo tin cho cán bộ đảng viên và nhân dân” [62, 73]

Trong nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt tổ chức, Đảng bộ chủ trương:

“Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII), khắc

phục sự chồng chéo, bao biện trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành” [62, 74]

Đảng bộ đặc biệt nhấn mạnh vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức

cơ sở đảng nhất là những cơ sở yếu kém, để từ đó cần khảo sát tình hình, thực trạng cơ sở đảng, làm rõ nguyên nhân yếu kém để có chủ trương, biện pháp giải quyết có hiệu quả Đảng bộ chủ trương: “Nâng cao chất lượng lãnh đạo toàn diện của cấp ủy và tổ chức đảng Đổi mới phong cách lãnh đạo, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ, tăng cường trách nhiệm lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách Gắn chế độ trách nhiệm cá nhân, tập thể với công

Trang 23

tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật…Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo hạt nhân của tổ chức đảng

và vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên Củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhất trong đảng, kiên quyết không để tái diễn khuyết điểm mất đoàn

kết Nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh” [62, 75]

Cùng với chủ trương nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, Đảng bộ Hà Nam coi việc nâng cao chất lượng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng từ năm

2000 đến năm 2005: “Nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước; đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái; chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, tư tưởng thực dụng, cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết, vi phạm phẩm chất, đạo đức của cán

bộ đảng viên Thực hiện nói và làm theo Nghị quyết của Đảng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân” Mỗi cán bộ, Đảng viên phải ra sức thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” ;“Duy trì nề nếp sinh hoạt, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên gắn với việc kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt việc phân công đảng viên phụ trách các hộ quần chúng, giữ mối quan

hệ với chi bộ, chi ủy cơ sở và nhân dân nơi cư trú” [62, 75]

Đối với công tác bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ, Đảng bộ chủ trương: “Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cơ sở

xã, phường, thị trấn”; “Thực hiện việc luân chuyển cán bộ theo yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện” Về công tác phát triển đảng viên mới, Đảng

bộ nhấn mạnh: “làm tốt công tác tạo nguồn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên”;

“Cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, sinh

Trang 24

hoạt Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy định 55 của Bộ chính trị (khóa VIII) về

những điều đảng viên không được làm” [62, 74]

Về nguyên tắc lãnh đạo cán bộ phải thực hiện tốt nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, thực hiện việc phân công, quản lý cán bộ theo đúng quy định của Bộ Chính trị Công tác tuyển dụng, đề bạt, khen thưởng, đánh giá, nhận xét cán bộ thực hiện nghiêm túc theo quy chế, quy định, quy trình thống nhất, chặt chẽ” Về việc bố trí, sử dụng cán bộ: “đúng người, đúng việc, đáp ứng nhiệm vụ được giao Làm tốt công tác bảo vệ chính trị

Đề cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới và người đứng đầu, đảm bảo tính chủ động, kịp thời, chính xác Chú trọng sơ kết, tổng kết các chuyên đề để nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước, của nhân dân, của các cơ quan thông tin đại chúng và

dư luận xã hội Kịp thời động viên các đơn vị giải quyết tốt những vấn đề bức

xúc, quần chúng đang quan tâm,…” [62, 76] Để thực hiện công tác kiểm tra

một cách có hiệu quả, Đảng bộ chủ trương: “Mở rộng dân chủ, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, thường xuyên và định kỳ lấy ý kiến đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên”

Đó là những chủ trương lớn và chủ yếu nhất của Đảng bộ Hà Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2005 Đây được coi là kim chỉ nam cho mọi hành động của các cấp ủy, các ban ngành và toàn thể nhân dân Hà Nam

Trang 25

1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2005

1.2.1 Thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt chính trị và tư tưởng

Về mặt chính trị

Với chức năng của một Đảng bộ địa phương thì nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt chính trị chủ yếu của Đảng bộ Hà Nam là nghiên cứu các chủ trương, đường lối kinh tế, chính trị, xã hội của Trung ương và cụ thể hóa thành những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội sao cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương Từ đó lãnh đạo hệ thống chính trị, nhân dân trong tỉnh thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra

Trên cơ sở quán triệt nội dung Văn kiện mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra và dựa trên việc phân tích thực trạng kinh tế xã hội toàn tỉnh (1997-2000), Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI (12/2000) và các Hội nghị tiếp theo đã cho ra đời những Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh những năm 2000-2005 Về kinh tế, nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ này là: “Ra sức phát huy nội lực, đi đôi với tranh thủ thu hút, khai thác tốt các nguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế

theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [62, 55]

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đề ra các chỉ tiêu từ năm 2000 đến năm 2005 cơ bản như sau: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 9%/năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 4,5-5 triệu đồng Cơ cấu kinh tế đến năm 2005 là một cơ cấu kinh tế hợp lý trong đó: nông nghiệp chiếm 32%, công nghiệp – xây dựng chiếm 34%, dịch vụ chiếm 34%; giá trị sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông lâm nghiệp, thủy sản) tăng bình quân 3,5 %/năm; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đến năm 2005 đạt 1,1%-1,2%; tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2005 còn dưới 7%,… [62, 57]

Về nông nghiệp, quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 10/11/1998

về Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn của Bộ Chính trị (khóa VIII); Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về Đẩy mạnh CNH – HĐH nông

Trang 26

nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010, ngày 21/05/2001 Ban Thường vụ

Tỉnh ủy đã cho ra đời Nghị quyết số 03-NQ/TU Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông nghiệp và phát triển ngành nghề dịch vụ ở nông thôn Tiếp đó ngày

29/09/2004, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 19-CT/TU Về tăng cường

sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với phong trào xây dựng cánh đồng đạt

50 triệu đồng/ha/năm, hộ nông dân đạt 50 triệu đồng/năm Chỉ thị nêu rõ: xây

dựng cánh đồng, hộ nông dân đạt 50 triệu/năm là chủ trương lớn, vừa cấp bách, vừa lâu dài, trực tiếp xóa đói giảm nghèo, là nhiệm vụ trọng tâm chỉ đạo phát triển nông nghiệp

Về công nghiệp, để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, gắn phát triển kinh tế với củng cố an ninh, quốc phòng, ngày 02/05/2003, BCH Đảng

bộ tỉnh ra Nghị quyết số 08-NQ/TU về Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp Nghị quyết đề ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu là: Tạo

điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích đầu tư, phát triển tiềm năng, thế mạnh và các nguồn lực, đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Tập trung phát triển mạnh những ngành có nhiều lợi thế, ngành nghề thu hút được nhiều lao động và những cơ sở sản xuất làm vệ tinh cho các

trung tâm công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm

Về thương mại, dịch vụ, du lịch, kinh tế đối ngoại: Đầu tư khai thác du lịch theo quy hoạch, phát triển các loại hình du lịch gắn với dịch vụ, du lịch lễ hội và sinh thái, gắn với khu vực Hương Sơn (Hà Nội), Hòa Bình, ven sông Hồng, sông Châu,… Đảng bộ cũng rất coi trọng việc huy động nguồn vốn nước ngoài “phấn đấu đến năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh chiếm khoảng 10% tổng số vốn đầu tư” [62, 62]

Đối với các vấn đề xã hội, trong Đại hội Đảng lần thứ XVI, Đảng bộ tập trung vào những vấn đề chủ yếu: Giảm tỷ lệ người lao động thiếu và không có việc làm; tích cực tạo công ăn việc làm, thực hiện có hiệu quả chiến lược dân số; tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo

Trang 27

dục đào tạo, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; tiếp tục đẩy mạnh phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, lĩnh vực, đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ đe dọa chiến tranh của các thế lực thù địch

Đó chính là những chủ trương lớn, những chiến lược quan trọng của tỉnh trong công tác xây dựng Đảng về mặt chính trị nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2000 đến năm 2005 Những chủ trương này nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân và đã thu được những kết quả đáng mừng

Để thực hiện các chủ trương, chính sách trên, Đảng bộ Hà Nam đã chú trọng việc chỉ đạo các cấp chính quyền, các ban ngành, Mặt trận Tổ quốc tỉnh tích cực củng cố và hoạt động thực hiện một cách có hiệu quả các mục tiêu đề

ra Trong nhiệm kỳ 2000-2005, hoạt động của bộ máy chính quyền đã thu được nhiều thành tựu quan trọng

Tỉnh uỷ và các cấp uỷ Đảng đã đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của HĐND và UBND các cấp, tăng cường công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền, nhất là ở cơ sở Thực hiện tốt chức năng giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp và UBND cấp dưới; nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND Tập trung chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử HĐND 3 cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, bầu cử các chức danh HĐND và UBND các cấp, đảm bảo dân chủ, đúng luật UBND tỉnh và chính quyền các cấp đã bám sát Nghị quyết, Chỉ thị của cấp uỷ, HĐND, cụ thể hoá thành Chương trình, Kế hoạch, Đề án để triển khai thực hiện, đồng thời coi trọng công tác kiểm tra, sơ, tổng kết để kịp thời rút kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện

Trang 28

Kết quả nổi bật là: UBND tỉnh đã tập trung xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, quy định, quy chế khuyến khích thu hút đầu tư phát triển kinh tế -

xã hội, thu hút nhân tài, thực hiện cải cách hành chính; chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, từng bước nâng cao đời sống nhân dân

Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, Mặt trận Tổ quốc Hà Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ và chức năng của mình đặc biệt là trong việc xây dựng và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, giám sát và bảo vệ chính quyền “Các cấp Mặt trận trong tỉnh luôn xác định công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm của công tác mặt trận” [70, 9]

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đã đổi mới phương thức hoạt động hướng về cơ sở, kịp thời giải quyết những bức xúc của nhân dân; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo của địa phương Mặt trận đã phối hợp với các tổ chức thành viên để tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân và các chức sắc tôn giáo tích cực nghiên cứu và đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách của Đảng như: đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng, văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Hà Nam lần thứ XVII Thông qua đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, các tầng lớp nhân dân càng hiểu sâu hơn về đường lối, chính sách của Đảng, chân thành bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng, niềm tin của mình đối với Đảng

Hệ thống dân vận của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua trong tầng

Trang 29

lớp nhân dân như: Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi; lao động giỏi, lao động sáng tạo; giỏi việc nước, đảm việc nhà; thi đua tình nguyện xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc; Hội Cựu chiến binh với phong trào “Hội viên hội Cựu chiến binh gương mẫu”; Hội phụ nữ thi đua “phụ nữ giúp nhau xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu chính đáng”,… đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân

Công tác xóa đói giảm nghèo được được các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh tích cực chỉ đạo và đạt kết quả quan trọng Ngày 31/10/2003 Ban thường

vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 10-NQ/TU về Công tác xóa đói giảm nghèo

Mục tiêu đến năm 2005 là không để tái đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 10%, xóa nhà tranh tre, dột nát cho trên 10.000 hộ nghèo; cấp thẻ y tế và

giấy khám chữa bệnh miễn phí cho 100% hộ nghèo [57, 435] Trong năm

2004, hội viên và gia đình hội Cựu chiến binh trong tỉnh ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”, nạn nhân chất độc da cam, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và quỹ

“Khuyến học” được 136.700.000 đồng

Nhờ những chủ trương, chính sách kịp thời, phù hợp của Đảng bộ tỉnh

Hà Nam cùng với sự đoàn kết, năng động, sáng tạo của nhân dân, tình hình kinh tế xã hội trong 5 năm qua (2000-2005), đã có bước phát triển mạnh mẽ Tổng sản phẩm GDP trong tỉnh tăng bình quân 9,05%/năm; bình quân thu nhập đầu người năm 2005 đạt 5,1 triệu đồng; cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực năm 2005: Công nghiệp – xây dựng chiếm 39,66%, nông – lâm – thủy sản chiếm 28,41%, dịch vụ chiếm 31,93% Nổi bật là việc thực hiện có

hiệu quả Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp, phát triển ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, Nghị quyết 08 của Tỉnh

ủy Về đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp [63, 20]

Những thành tựu đó được khẳng định rất rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVII (12/2005) của Đảng bộ tỉnh Hà Nam Về nông nghiệp, lâm

Trang 30

nghiệp và thủy sản: Bình quân 5 năm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,1%/năm, vượt chỉ tiểu Đại hội 0,6%; sản lượng lương thực đạt 419.000 tấn/năm, tăng 5,9% so với thời kỳ 1997-2000, sản lượng thủy sản năm 2005 đạt 11,5 nghìn tấn, gấp 2,36 lần năm 2000 Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi thủy sản từ 23,2% (năm 2000), lên 31,3% (năm 2005), giảm tỷ trọng trồng trọt từ 72,6% (năm 2000) xuống 66,2% (năm 2005) Chăn nuôi thủy sản đang từng bước trở

thành ngành chính trong sản xuất nông nghiệp [63, 21]

Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trung bình 20%/năm Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt 2.871 tỷ đồng, tăng 19,7% so với năm 2004 [25, 6] Công nghiệp vật liệu xây dựng phát triển nhanh đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh với sản phẩm chủ yếu như: Xi măng tăng bình quân 17,8%/năm; đá các loại tăng 19,6%/năm; bột nhẹ tăng 39,7%/năm Đã quy hoạch mới được 5 khu công nghiệp, 7 cụm công nghiệp - tiểu, thủ công nghiệp, 10 cụm tiểu, thủ công nghiệp – làng nghề với 1.160ha,…

Hệ thống thương mại, dịch vụ, du lịch ngày càng phát triển Giá trị hàng xuất khẩu bình quân 5 năm tăng 11,7%/năm, vượt chỉ tiêu Đại hội đề

ra 1,7% Số lượng khách du lịch thu hút vào tỉnh tăng từ 12.000 lượt người (năm 2001) lên 42.566 lượt người (năm 2005) Dịch vụ bưu chính viễn thông, vận tải, điện, nước phát triển và mở rộng theo hướng đa dạng Năm

2005 đạt 8,2 máy điện thoại/100 dân; 98/110 xã, thị trấn có nhà bưu điện

văn hóa xã,… [63, 23]

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội đã có những chuyển biến tích cực Hà Nam là một trong hai tỉnh đầu tiên của cả nước có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở và là một trong những tỉnh đi đầu trong cả nước về xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Năm học 2004-2005, toàn tỉnh

có 134 trường đạt chuẩn quốc gia [60, 409] Hoạt động khoa học và công

nghệ tiếp tục được tăng cường Năm 2005 đã nghiệm thu 10 và phê duyệt 19

Trang 31

nhiệm vụ khoa học, triển khai 25 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, 100% huyện thị đã thành lập Hội đồng Khoa học công nghệ [26, 8]

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm Ngày

15/12/2001, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra chỉ thị số 01-CT/TU Về tăng cường

sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với việc thực hiện chiến lược quốc gia về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 Năm 2005,

tuyến tỉnh đã khám cho 121.927 lượt bệnh nhân, đạt 107,9% kế hoạch; tuyến huyện có 1.173.700 lượt bệnh nhân, đạt 106,7% kế hoạch năm [60, 415] Mạng lưới y tế cơ sở được quan tâm đầu tư cả về đào tạo đội ngũ và xây dựng

cơ sở vật chất

Công tác dân số - gia đình – trẻ em có chuyển biến rõ rệt, chất lượng dân số được cải thiện đáng kể Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2005 đạt 0,945%, trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 22% [63, 29] Cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển sâu rộng Toàn

tỉnh có 475 làng, 397 đơn vị và gần 80% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa

Công tác quốc phòng, an ninh: “Thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu “diễn biến

hòa bình” của các thế lực thù địch cho cán bộ, đảng viên và nhân dân” [63,

33] Năm 2005, Đảng bộ đã chỉ đạo và tiến hành tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ

thị 09-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Về một số vấn đề cấp bách trong

việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay Toàn tỉnh đã giải quyết được

345/428 vụ, đạt 80,6%, trong đó cấp tỉnh giải quyết 7/15 vụ việc, đạt 47%, cấp huyện 105/117 vụ, đạt 90%, cấp xã 233/296 vụ việc, đạt 79% [26, 9] Dưới sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, kịp thời và sát sao của BCH Trung ương Đảng nói chung, của Đảng bộ tỉnh Hà Nam nói riêng, việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt chính trị từ năm 2000 đến năm 2005 của Đảng bộ Hà Nam đã thu được những kết quả tốt đẹp Việc đề ra những Nghị quyết, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể thực hiện các chủ trương đó trong những năm

Trang 32

2000-2005 đã thể hiện rõ sự sáng tạo và linh hoạt trong đường lối lãnh đạo, hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân

Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số những hạn chế, tồn tại cần khắc phục: “Xây dựng và ban hành một số cơ chế chính sách còn chậm, chưa kịp thời Công tác quản ký nhà nước về đô thị, đất đai, quy hoạch xây dựng, khai thác tài nguyên khoáng sản và bảo vệ hành lang an toàn giao thông, trật tự an ninh xã hội trên một số lĩnh vực còn hạn chế Thực hiện cải cách hành chính còn chậm, chưa rõ nét Ở một số nơi, nhất là cơ sở xã, phường, thị trấn chưa

phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân” [63, 45] Công tác tổ chức thực

hiện nhiệm vụ chính trị ở một số cơ quan, đơn vị còn yếu; chỉ đạo, điều hành, quản lý của chính quyền có nơi chưa tập trung, kiên quyết, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy lên cấp trên Sự phối kết hợp giữa cấp và ngành, giữa ngành với ngành chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ; phân công, phân cấp chưa rõ ràng, nên chưa phát huy hiệu quả Công tác tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, trách nhiệm của một số sở, ban, ngành, đoàn thể còn hạn chế, có nơi còn biểu hiện mất đoàn kết, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ Chất lượng và hiệu quả cải cách hành chính chưa rõ nét, triển khai cơ chế hành chính “một cửa” còn chậm

Trang 33

hiệu quả kinh tế tập thể, về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH

Trung ương khóa IX Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chỉ

thị số 23-CT/TW, ngày 27/03/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết hội nghị lần thứ 9; Kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCH TW Đảng khóa IX…

Trong việc học tập, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các cấp ủy Đảng đã đổi mới phương pháp và hình thức tuyên truyền như mở các lớp chuyên đề công tác tôn giáo cho cán bộ cơ sở; tổ chức thi tìm hiểu 75 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, 60 năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 115 năm thành lập tỉnh Hà Nam; tổ chức Hội thi cán bộ làm công tác dân vận khéo; giảng viên lý luận giỏi; bí thư chi bộ giỏi; báo cáo viên giỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh; mở các chuyên mục về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống” trên báo và Đài phát thanh truyền hình Hà Nam Báo Hà Nam duy trì định kỳ 2 số/tuần trong đó có 5 số đặc biệt nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng

Đài phát thanh truyền hình Hà Nam luôn phát sóng chương trình thời

sự hàng ngày của Đài truyền hình Trung ương, duy trì chương trình phát thanh hàng ngày, chương trình truyền hình địa phương 3 chương trình/tuần Nội dung chương trình phát thanh truyền hình đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền toàn diện các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương

Về công tác dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy thường xuyên tổ chức nghe, phản ánh và tổng hợp tình hình dư luận xã hội hàng tháng Công tác dư luận xã hội nói chung đã kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng, diễn biến tâm trạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh, tổng hợp báo cáo Trung tâm Dư luận xã hội, Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương và Thường trực Tỉnh ủy…Những hoạt động tích cực trên đã góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị, giáo dục lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu

Trang 34

độc lập và chủ nghĩa xã hội, khơi dậy và phát huy truyền thống cách mạng của quê hương

Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh được triển khai sâu, rộng theo tinh thần hướng về cơ sở, gắn công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra ở cơ sở

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa

IX Về công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới và Quy định số QĐ/TW của Bộ chính trị khóa IX Về chế độ học tập lý luận trong Đảng, trong

54-5 năm qua (2001-20054-5), toàn tỉnh đã mở 206 lớp bồi dưỡng chuyên đề, 109 lớp bồi dưỡng cấp ủy, 217 lớp bồi dưỡng tìm hiều về Đảng cho hơn 50.000 lượt cán bộ, đảng viên và quần chúng ưu tú Trình độ lý luận chính trị, nhận thức về Đảng của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt [60, 440]

Nếu như năm 2000, toàn tỉnh chỉ có 1.935 cán bộ, đảng viên tham gia vào lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng, 977 học viên vào lớp bồi dưỡng đảng viên mới; 1757 học viên với 25 lớp bồi dưỡng cấp ủy; 10 lớp bồi dưỡng trưởng thôn, cán bộ các đoàn thể thu hút được 1.232 học viên; 3 lớp trung cấp

lý luận tại chức với 194 học viên [17, 4] thì đến năm 2005 những con số này

có sự thay đổi rõ rệt Năm 2005, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị

xã và các Đảng bộ trực thuộc tỉnh đã mở được 80 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên đề cho đội ngũ cán bộ cơ sở với tổng số 6.398 lượt học viên Trong đó 28 lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng với 2.087 học viên; 15 lớp đảng viên mới với 1.062 học viên; 5 lớp sơ cấp lý luận chính trị cho 262 học viên; 18 lớp bồi dưỡng công tác Đảng cho Bí thư Chi bộ và cấp ủy cơ sở với

1.627 lượt học viên; 14 lớp bồi dưỡng chuyên đề với 1.360 học viên [28, 5]

Công tác biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng bộ đạt kết quả tích cực, góp phần giáo dục truyền thống, lòng yêu quê hương đất nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là thế hệ trẻ Ban tuyên giáo tỉnh đã ban hành Công văn số 561-CV/TG, ngày 12/10/2005 đôn đốc đẩy mạnh công tác biên

Trang 35

soạn lịch sử Đảng bộ theo tinh thần Chỉ thị 15 của Ban Bí thư Trung ương và Thông tri 27 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàn thành biên soạn nội dung tóm tắt lịch sử Đảng bộ Hà Nam phục vụ trang Wesite của Tỉnh ủy, hoàn thành xây dựng biên soạn cuốn sách “Bác Hồ với Hà Nam” Các Đảng bộ huyện Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm; ngành Công an đã xuất bản sách lịch sử nhân dịp Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2010

Nhờ sự đoàn kết, sự cố gắng về mọi mặt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Hà Nam, công tác tư tưởng của Đảng bộ Hà Nam đã đạt được kết quả có ý nghĩa: “Góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong Đảng bộ và nhân dân; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo và công cuộc đổi mới của Đảng” [63, 36] Tuy nhiên, công tác tư tưởng vẫn còn một số hạn chế và khuyết điểm: “Một số cấp ủy chưa thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, vận động cán bộ

đảng viên và nhân dân” [63, 44]

1.2.2 Thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt tổ chức

Củng cố tổ chức cơ sở đảng

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh được tăng cường Tiếp tục triển khai thực hiện hướng dẫn số 18 và 20 của Ban Tổ

chức Trung ương Về đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên

Các huyện, thị ủy và đảng trực thuộc đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo chặt chẽ việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình gắn với đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên Các cấp ủy Đảng vừa coi trọng nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh vừa coi trọng việc củng cố, khắc phục cơ sở đảng yếu kém, chăm lo, giáo dục, rèn luyện, đội ngũ đảng viên, xử lý nghiêm minh các vi phạm, góp phần nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên

Chất lượng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh được nâng lên bình quân hàng năm, số tổ chức cơ sở đảng vững mạnh đạt 83,19%, vượt chỉ tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra Các cấp ủy đảng đã có nhiều

Ngày đăng: 03/02/2023, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w