1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đảng Bộ Tỉnh Bắc Ninh Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Từ Năm 1997 Đến Năm 2012.Pdf

71 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Tỉnh Bắc Ninh Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Từ Năm 1997 Đến Năm 2012
Tác giả Vũ Thị Yến
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Lương Diệu
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC ĐẠI HỌC QUỐC GIA Hµ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X HỘI Vµ NH¢N VĂN ***o0o*** VVŨŨ TTHHỊỊ YYẾẾNN ĐĐẢẢNNGG BBỘỘ TTỈỈNNHH BBẮẮCC NNIINNHH LL NNHH ĐĐẠẠOO PPHH¸̧TT TTRRIIỂỂNN KKIINNHH TTẾẾ TTƯƯ NNHH[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA Hµ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X· HỘI Vµ NH¢N VĂN

***o0o***

VŨ THỊ YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH L·NH ĐẠO PH¸T TRIỂN KINH TẾ TƯ NH¢N

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hµ NéI, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA Hµ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X· HỘI Vµ NH¢N VĂN

***o0o***

VŨ THỊ YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH L·NH ĐẠO PH¸T TRIỂN KINH TẾ TƯ NH¢N

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ sử học Phạm Thị Lương Diệu - Trường ĐHKHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội

Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 01 tháng 03 năm 2014

Tác giả luận văn

Vũ Thị Yến

Trang 4

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BẮC NINH

***

Trang 5

BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 14

1.1 Khái quát các yếu tố tác động và thực trạng kinh tế tư nhân của Bắc Ninh trước khi tái lập tỉnh (trước tháng 1 năm 1997) 14

1.1.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của KTTN ở Bắc Ninh 14

1.1.2 Thực trạng KTTN của Bắc Ninh trước ngày 01/01/1997 (trước khi tái lập tỉnh) 22

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2000 25

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 25

1.2.2 Sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ 31

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2012 42

2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 2001 đến năm 2005 42

2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ Bắc Ninh 42

2.1.2 Quá trình chỉ đạo phát triển KTTN (2001 - 2005) 46

2.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 2006 đến năm 2012 63

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 63

2.2.2 Quá trình chỉ đạo phát triển (2006-2012) 68

Tiểu kết chương 2 77

Trang 7

Chương 3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 79

3.1 Đánh giá 79

3.1.1 Về ưu điểm 79

3.1.2 Về hạn chế 87

3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 100

3.2.1 Kinh nghiệm trong xác định chủ trương 100

3.2.2 Kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện 102

Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 118

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế tư nhân (KTTN) là loại hình tổ chức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất (bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân),

là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Thành phần kinh tế này

do có những cách nhìn, quan điểm khác nhau qua các thời kỳ nên nó có những bước phát triển, thăng trầm, nhưng như Các Mác đã từng khái quát rằng: một kết cấu kinh

tế xã hội không thể bị loại trừ bởi đời sống xã hội khi bản thân nó vẫn còn sức sống

Từ tháng 12 năm 1986, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng

sự thật, nói rõ sự thật” Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp

đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất Theo đó, thành phần KTTN được phép tồn tại và phát triển Qua hơn

20 năm đổi mới, khu vực KTTN Việt Nam cũng đã được thừa nhận và có đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định vai trò trên các mặt: tạo công ăn việc làm, tăng vốn đầu tư phát triển, mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; thúc đẩy phát triển các thị trường, đổi mới kinh tế và hành chính, ngoài ra khu vực KTTN cũng đang tạo ra một không gian rộng mở để thu hút và bồi dưỡng nhân tài Song, thành phần kinh tế này cũng còn nhiều hạn chế, năng lực quản lý chưa cao, hiệu quả kinh tế không ổn định, thực hiện pháp luật chưa tốt, nạn buôn lậu, trốn thuế vẫn thường xuyên diễn ra, khả năng thích ứng với hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế còn thấp, …

Do vị trí địa lý của nước Việt Nam trải dài, chia thành nhiều vùng miền khác nhau dẫn tới mỗi địa phương có những đặc thù riêng về nguồn lực, vị trí địa lý, văn hóa xã hội , chính những đặc thù riêng này ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển

Trang 9

của khu vực KTTN của mỗi vùng miền, mỗi tỉnh Cụ thể, thành phần KTTN Bắc Ninh có những nét chung, nét riêng so với cả nước và các địa phương khác

Là một trong những địa phương phát triển mạnh, năng động, Bắc Ninh trở thành trung tâm chiến lược đặc biệt quan trọng, là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội - trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, có nền văn hóa lâu đời, là cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và nằm trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long KTTN của tỉnh Bắc Ninh luôn được đầu tư, nghiên cứu, định hướng đúng đắn nên cũng có những bước phát triển mạnh mẽ

Từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997), triển khai đường lối của Trung ương, Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh kế thừa những chủ trương của tỉnh ủy Hà Bắc, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, thành phần KTTN được tạo điều kiện phát triển, mang lại những đóng góp to tớn cho kinh tế địa phương Tuy nhiên trong bối cảnh mới của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thì khu vực KTTN của tỉnh Bắc Ninh cũng bộc lộ không ít hạn chế, thể hiện: chưa có định hướng phát triển dài hạn; năng lực cạnh tranh chưa cao; vấn đề phát triển bền vững chưa được đề cập; trình độ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế; nhiều doanh ngiệp nhận thức chưa rõ các vấn đề liên quan tới Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Vì vậy Đảng bộ Bắc Ninh làm thế nào để KTTN phát huy được mặt mạnh, khắc phục được những tồn tại để phát triển nhanh, vững chắc trở thành động lực mạnh trong quá trình phát triển KTXH của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và nền kinh tế nước Việt Nam nói chung thực sự là vấn đề cấp bách đặt ra

Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng nói chung, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong lãnh đạo phát triển KTTN nhằm rút ra những mặt mạnh, cái hạn chế để

có sự chỉ đạo đúng đắn hơn nhằm phát huy hết tiềm năng của nó đối với việc phát triển đất nước hiện nay trong những năm tiếp theo là quan trọng và cấp thiết cả về

lý luận cũng như thực tiễn

Hơn nữa chọn một tỉnh để tập trung nghiên cứu làm rõ sự lãnh đạo của Đảng

bộ địa phương về phát triển KTTN trong những năm đổi mới vừa qua là cách tiếp cận hợp lý để có được cái nhìn sâu sắc hơn, từ đó có thể phần nào suy ra những địa phương khác (từ điểm suy ra diện)

Trang 10

Vì những ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh

Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2012" làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

KTTN ở Việt Nam đã trải qua một thời kỳ cải tạo theo hướng xóa bỏ, từ khi

có đường lối đổi mới nó lại được phục hồi và đẩy mạnh phát triển Hình thức kinh doanh của KTTN là phong phú đa dạng, vì vậy cũng có tình trạng tùy tiện, khó kiểm soát, khó tổng hợp số liệu Vì thế, việc nghiên cứu KTTN ở Việt Nam rất phức tạp và khó khăn nhất là trên góc độ lịch sử Đảng Mặc dù vậy, cho đến nay vấn đề KTTN ở Việt Nam đã thực sự trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 200 đầu sách, bài viết, các đề tài nghiên cứu, hơn 60 văn bản pháp lý và hơn 30 văn kiện của Đảng về KTTN hoặc có liên quan đến thành phần KTTN Song, qua quá trình khảo cứu sơ bộ, có thể chia thành các nhóm cơ bản như sau:

2.1 Nhóm 1: Nhóm các công trình, bài viết về kinh tế tư nhân

- Nhóm tác giả cuốn sách "Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư

nhân - Lý luận và chính sách" (2002, Nxb CTQG) do PGS, TS Hà Huy Thành chủ

biên đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (theo ngành nghề và phân theo vùng lãnh thổ) nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại, yếu kém, nguyên nhân chủ yếu và khuyến nghị những chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khu vực KTTN Trên cơ sở

đó, nhóm tác giả đưa ra khuyến nghị phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với KTTN ở Việt Nam

- Cuốn sách: “KTTN Việt Nam sau 2 thập kỉ đổi mới thực trạng và những vấn

đề đặt ra” (2005, Nxb Khoa học xã hội) của tác giả Định Thị Thơm Đây là ấn

phẩm thu thập và hệ thống các bài viết phân tích, đánh giá, kiến giải và những giải pháp đúc kết trong những công trình, bài viết của 9 nhà nghiên cứu về những vấn đề

lý luận, thực tiễn phát triển và hạn chế cũng như triển vọng phát triển của khu vực

Trang 11

đổi mới, tiến triển và những vấn đề; (2) Các thành phần kinh tế ở Việt Nam, chính sách và thực tiến thời kì đổi mới; (3) Những dự báo và chính sách sử dụng kinh tế

tư bản tư nhân theo định hướng XHCN

- Cuốn sách: “Sự vận động, phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa” (2005, Nxb CTQG) của các tác giả Mai Tết, Nguyễn

Văn Tuất, Đăng Danh Lợi Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên vai trò và thực trạng KTTN Việt Nam từ trước tới nay; trên cơ sở đó các tác giả đã cố gắng tìm những luận cứ khoa học để đưa ra những dự báo về xu hướng vận động và phát triển của sở hữu tư nhân, KTTN trong nền kinh tế thị trường

- Trong cuốn: “Phát triển KTTN ở Việt Nam hiện nay” (2006, Nxb CTQG) của

tác giả Vũ Quốc Tuấn đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn trình bày quá trình tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, đấu tranh tư tưởng và tổng kết sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam, trong đó KTTN là bộ phận quan trọng Đồng thời phân tích, nhận dạng và dự báo xu hướng phát triển KTTN, đề xuất một số chính sách, giải pháp phát triển KTTN trong giai đoạn tới

- “Về việc phát triển khu vực KTTN trong giai đoạn hiện nay” của Trần Thị

Hạnh, luận án tiến sỹ kinh tế, năm 1994, đã nêu ra được khái niệm về hoạt động kinh doanh tư nhân, các hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh tư nhân, các hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh tư nhân, phân tích quá trình phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam, thực trạng và hạn chế của nó

- “Kinh tế tư nhân ở Việt Nam từ 1986 đến 1995” của Hồ Sỹ Lộc, Luận án

Phó tiến sỹ khoa học lịch sử, Hà Nội, 1996 đã khái quát tình hình KTTN qua các giai đoạn: khôi phục và phát triển (1954 - 1957), giai đoạn cải tạo KTTN (1958 - 1985) và KTTN ở Việt Nam trong quá trình đổi mới (từ 1986 đến 1995)

- Cuốn sách: “Sở hữu tư nhân và KTTN trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (2006, Nxb CTQG) của tác giả GS.TS Nguyễn

Thanh Tuyền là kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước KX.0104 Trong cuốn sách này, tác giả không chỉ đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất, vai trò và vị trí của KTTN nói chung cũng như trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa nói riêng, thực trạng phát triển KTTN ở nước ta, mà còn nêu lên

Trang 12

những nhận thức của tác giả về những vấn đề “cần được làm rõ”: (1) Nêu rõ luận cứ khoa học về tính tất yếu khách quan và sự phát triển lâu dài của sở hữu tư nhân và KTTN ở Việt Nam; vai trò, vị trí của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; vấn đề Đảng viên làm KTTN, lợi ích KTXH mà KTTN đem lại (2)

Đề xuất 8 chính sách đổi mới có tính hệ thống và đồng bộ và phát triển KTTN trong

cơ chế thị trường ở Việt Nam; (3) Dự báo về phương hướng xã hội hóa, sở hữu tư nhân và KTTN trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- “Kinh tế ngoài quốc doanh, hiện trạng, phương hướng phát triển và giải

pháp” của TS Lê Văn Toàn đăng trên tạp chí Thông tin Kinh tế Kế hoạch (năm

1993) đã điều tra hiện trạng và xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh trong lĩnh vực công thương nghiệp Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm và giải pháp cho sự phát triển thành phần kinh tế này

Ngoài ra còn rất nhiều công trình, bài viết đề cập đến vấn đề KTTN ở những góc độ khác nhau như:

Vấn đề tạo lập môi trường kinh doanh cho khu vực KTTN: Bài viết “Hoàn

thiện thể chế môi trường kinh doanh phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc

tế của Việt Nam” của tác giả Lê Danh Vĩnh đăng trên tạp chí kinh tế phát triển số

220 tháng 2/2009; cuốn “Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt

Nam” (2009, Nxb CTQG) của tác giả Lê Doanh Vĩnh; cuốn “Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” (năm 2009, Nxb Thông Tấn) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; “Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ” (2008, Nxb CTQG)

của Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI); bài viết “Thực hiện luật

đầu tư và luật doanh nghiệp từ góc độ cải cách thể chế” (Tạp chí quản lý kinh tế, số

18 (3+4/2008) của tác giả Nguyễn Đình Cung

Về KTTN với quá trình hội nhập: Cuốn sách “KTTN trong giai đoạn toàn

cầu hóa” (năm 2003, Nxb Khoa học xã hội) của Viện thông tin khoa học xã hội);

Công trình “Phát triển khu vực KTTN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế” (Tạp chí Ngân Hàng số 5 - 2003) của tác giả Phan Hồng Giang; Công trình

Trang 13

số tháng 4/2003) của tác giả Vũ Thị Bạch Tuyết; cuốn sách: “WTO thuận lợi và

thách thức cho các Doanh nghiệp Việt Nam” (2006, Nxb Lao động - xã hội) của tác

giả Nguyễn Thủy Nguyên; “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện

toàn cầu hóa” (2006, Nxb Lao động) của tác giả Trần Sửu - Đại học Ngoại thương;

“Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế” (2006, Nxb CTQG) của tác giả Vũ Trọng Lâm; “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện

nay” (2006, Nxb CTQG)

Về kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số quốc gia: Liên quan tới kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số quốc gia cũng có một số bài báo và công trình

nghiên cứu như: “Nước Mỹ với vấn đề hỗ trợ tài chính cho phát triển khu vực

KTTN” đăng trên Thông tin Kinh tế - xã hội số 10/2012; “Phát triển khu vực KTTN kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” của tác giả Lê Thị Vân Anh

đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển số 69/2003; “KTTN trong một số nền kinh tế

chuyển đổi Đông Âu” của tác giả Nguyễn Văn Tâm đăng trên Tạp chí Những vấn đề

kinh tế thế giới số 3 (83) 2003; “KTTN ở một số nền kinh tế chuyển đổi những năm

qua” của tác giả Đinh Thị Thơm đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 3 -

2004; “Vai trò khu vực KTTN trong nền kinh tế Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Mậu Quyết đăng trên Tạp chí Thị trường giá cả số 4/2003; “Phát triển KTTN ở

Trung Quốc” của tác giả Đinh Đào Ánh Thủy đăng trên Tạp chí Những vấn đề Kinh

tế thế giới số 3 (119) 2006; trong cuốn “Trung Quốc sau khi gia nhập WTO - Thành

công và thách thức” từ trang 166 đến 175 đề cập tới vấn đề phát triển KTTN ở

Trung Quốc Nhìn chung các công trình và bài viết kể trên đề cập tới quá trình hình thành cũng như vai trò của khu vực KTTN đối với nền kinh tế của các quốc gia đó Các bài viết cũng nhấn mạnh tư tưởng, quan điểm đổi mới nhằm phát huy tiềm lực của khu vực KTTN, cùng với đó là những chính sách về môi trường vĩ mô và những giải pháp cụ thể như chính sách đất đai, tài chính tín dụng để thúc đẩy khu vực KTTN phát triển

Nghiên cứu phát triển KTTN ở phạm vi địa phương:

Trang 14

- Trong cuốn sách: “Kinh tế - xã hội nhân văn trong phát triển KTTN ở Hà

Nội” (2004, Nxb CTQG) của các tác giả GS.TSKH Lê Du Phong, PGS.TS Hoàng

Văn Hoa, PGS.TS Nguyễn Văn Áng, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Cuốn sách

đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTN ở nước ta, thực trạng phát triển KTTN ở Hà Nội và những vấn đề đặt ra về kinh tế - xã hội - nhân văn; từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề trên

- Cuốn sách: “Phát triển KTTN ở Hà nội” (2004, Nxb CTQG) của các tác giả

TS Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội Cuốn sách nêu lên những kinh nghiệm quốc tế (của Nhật Bản, Trung Quốc, các nước đang phát triển khác ở Châu Á, các nước có nên kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu) trong quá trình phát triển KTTN, quá trình phát triển KTTN ở Việt Nam, phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN ở Hà Nội, đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu để phát triển KTTN ở Hà Nội trong thời gian tới Đồng thời tác giả cũng kiến nghị một số vấn đề cụ thể với chính phủ, các Bộ, ngành và thành phố Hà Nội nhằm thúc đẩy phát triển KTTN ở Hà Nội nói riêng và

cả nước nói chung

- Luận án “Phát triển đội ngũ doanh nhân thành phố Hồ Chí Minh trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” - Khoa kinh tế - Đại học Quốc Gia

Tp Hồ Chí Minh năm 2007 làm rõ lý luận về doanh nhân một vấn đề rất mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; khái quát toàn diện

đa chiều về thực trạng phát triển đội ngũ doanh nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra định hướng, hệ thống quan điểm phát triển đội ngũ doanh nhân ở thành phố Hồ CHí Minh

Bên cạnh các cuốn sách trên cũng có nhiều bài viết trên các tạp chí như:

“KTTN thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và xu thế phát triển” của tác giả Hà Văn Ánh đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 294 - tháng 11/2002; “Làm gì để

phát triển KTTN ở Hà Nội” của tác giả Đinh Thị Thu Hương đăng trên Tạp chí Thị

trường giá cả và dự báo số 9 - 002; “KTTN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh -

thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Doan đăng trên tạp chí Thương

Trang 15

Đồng Nai” của tác giả Nguyễn Công Thành đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số 8

- 2002 Các công trình này đều đưa ra được các tiêu chí: sự tăng trưởng về số lượng, quy mô vốn đăng kí của các DNTN, cơ cấu theo ngành, sự đóng góp của khu vực kinh tế này vào việc phát triển kinh tế địa phương (GDP, thu hút lao động, giải quyết việc làm, nộp ngân sách…) và những hạn chế đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm phát triển trên khu vực KTTN tại từng địa phương

Các công trình nghiên cứu về KTTN nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:

- Luận án Tiến sĩ : “Quá trình phát triển DN vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 - 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”

năm 2008 của tác giả Mẫn Bá Đạt - Đại học KTQD Tác giả đã nghiên cứu sự phát triển của các DN vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh để thấy được thực trạng của khu vực này và những chính sách của nhà nước và địa phương tác động đến sự phát triển của các DN vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, hoạt động của DN vừa

và nhỏ ngoài quốc doanh và những đóng góp của nó đối với sự phát triển kinh tế xã

hội ở địa phương

- Luận án tiến sĩ: “Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh trong điều kiện

hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2011 của tác giả Nguyễn Đức Chính - Viện Khoa học

xã hội Việt Nam Luận án làm rõ một số vấn đề cơ bản về phát triển KTTN ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2009 nêu rõ những thành quả và những tồn tại bất cập Đề xuất quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển KTTN của tỉnh trong giai đoạn tới

2.2 Nhóm 2: Những công trình, bài viết nói về chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ các địa phương, về quản lý nhà nước đối với KTTN

- Tiêu biểu là Luận án tiến sĩ “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển

KTTN từ năm 1986 đến năm 2005” năm 2012 của tác giả Phạm Thị Lương Diệu

-Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận án đã trình bày: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về KTTN từ năm 1986 đến năm 2005; Quá trình chỉ đạo của Đảng và thực trạng phát triển sinh động của KTTN Việt Nam trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới; Đánh giá ưu điểm, hạn chế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh

Trang 16

đạo phát triển KTTN, nêu nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó và rút ra các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về lãnh đạo phát triển KTTN Việt Nam trong thời gian 20 năm đầu đổi mới và các kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với thành phần kinh tế này trong thời gian tiếp theo

- Đề tài cấp nhà nước hoàn thành năm 1993: “Phát triển và quản lý kinh tế

ngoài quốc doanh” do PGS.TS Hoàng Kim Giao làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành điều

tra trên 100 doanh nghiệp tư nhân tại 16 tỉnh thành phố khắp cả nước Với 70 báo cáo

và tham luận, 34 chương sách và một số ấn phẩm khác, đề tài đã phác họa một bức tranh phong phú về kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam: vừa đa dạng, vừa linh hoạt, vừa tùy tiện với các tên gọi khác nhau; lẫn lộn giữa cái đăng kí và cái có thật, giữa tên gọi và thực chất… rất khó kiểm định Một thực thể kinh tế được thừa nhận nhưng chưa định hình, nhiều biến động, nhiều thăng trầm

- Cuốn “Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

thị trường ở Việt Nam” do PTS Nguyễn Hữu Hải chủ biên, đã nghiên cứu vai trò

của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường, qua đó cho thấy ở Việt Nam các doanh nghiệp tư nhân đa phần ở quy mô vừa và nhỏ Từ đó, tác giả rút ra kết luận: phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là phù hợp với trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp ở Việt Nam và thu hút được nguồn lao động xã hội

- Luận án Tiến sĩ : “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển

làng nghề của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm

và giải pháp” năm 2008 của tác giả Nguyễn Như Chung - Đại học KTQD Luận án

này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các chính sách đối với sự phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế thị trường; đồng thời phân tích các tác động của chính sách (của nhà nước và địa phương) đến sự phát triển của các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh, rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất các quan điểm, các giải pháp chủ yếu và các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh

2.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu nói trên

Các công trình nghiên cứu đều thừa nhận KTTN là khu vực cung cấp khối

Trang 17

phần kinh tế, trong đó có KTTN là tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là khu vực kinh tế năng động và có khả năng thích ứng nhanh nhạy với những đặc trung của nền kinh tế thị trường, có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, tăng trưởng kinh tế Các tác giả cũng nhất trí với quan điểm phát triển KTTN là có lợi cho chủ nghĩa xã hội và được coi là điều kiện không thể thiếu

để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Các công trình nghiên cứu KTTN ở Bắc Ninh đã được một số tác giả chú ý nhưng chỉ đề cập ở một vài khía cạnh và tất cả các công trình nêu trên đã cho thấy hiện trạng sôi động của KTTN ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào khác sát một cách có hệ thống các chủ trương, chính sách về KTTN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTTN của Đảng bộ duới góc độ khoa học lịch sử Đảng, nhất là những năm gần đây

2.4 Những nội dung mà luận văn sẽ nghiên cứu (bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu)

Ở từng góc độ, các công trình trên đã cung cấp những số liệu đáng quan tâm cho các nhà nghiên cứu, có giá trị với việc thực hiện luận văn này

Chọn và nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng qua luận văn của mình sẽ phần nào làm rõ thêm sự lãnh đạo của Đảng bộ Bắc Ninh đối với thành phần KTTN từ năm 1997 đến năm 2012 Trên cơ sở đó luận văn đi đến những luận định, rút ra những bài học kinh nghiệm để góp phần thúc đẩy KTTN ở Bắc Ninh phát triển mạnh mẽ hơn góp phần tích cực vào sự phát triển KT - XH của địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

trong việc phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2012 Đồng thời rút ra một số nhận xét

và kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận văn là:

+ Trình bày khái quát quan điểm, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về kinh tế, KTTN để làm rõ quá trình quán triệt, vận dụng của Đảng bộ tỉnh

Trang 18

Bắc Ninh vào thực tiễn lãnh đạo phát triển KTTN ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012

+ Dựng lại quá trình chỉ đạo phát triển KTTN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và thực trạng phát triển của thành phần kinh tế này từ năm 1997 đến năm 2012

+ Đánh giá, nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh với những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó, đồng thời luận văn còn rút ra một số kinh nghiệm lịch sử trong quá trình lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng bộ Bắc Ninh trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2012

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng bộ tỉnh Bắc

Ninh từ năm 1997 đến năm 2012, cụ thể là nghiên cứu chủ trương, đường lối và quá trình tổ chức thực hiện phát triển KTTN của Đảng bộ Bắc Ninh

ký đề tài luận văn

+ Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với KTTN ở cả 3 bộ phận cấu thành: kinh tế cá thể, kinh

tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển KTTN trong mối liên quan với các thành phần kinh tế khác ở một mức độ nhất định Đồng thời

có sự so sánh với các tỉnh có cùng thời điểm tái lập và có những nét tương đồng về

vị trí địa lý kinh tế

Trang 19

5 Cơ sở nghiên cứu, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở nghiên cứu:

+ Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTN

+ Cơ sở thực tiễn: Từ thực tiễn phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm từ 1997 đến 2012

- Nguồn tư liệu chủ yếu để nghiên cứu đề tài này bao gồm:

+ Các tác phẩm của C.Mác - Lênin liên quan đến sở hữu tư nhân và KTTN + Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới có liên quan đến kinh tế, KTTN, nhất là trong những năm 1997 đến năm 2012

+ Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về kinh tế, KTTN trong những năm 1997 đền năm 2012 (Đại hội XV, XVI, XVII, XVIII) Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất

+ Niên giám Thống kê của Cục thống kê Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012 + Các công trình nghiên cứu vấn đề này trên nhiều góc độ khác nhau

- Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành luận văn, công trình đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê toán học, phỏng vấn chuyên gia, thực địa…

6 Đóng góp của luận văn

- Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012

- Nêu khái quát quá trình phát triển của KTTN và đóng góp của khối kinh tế này đối với kinh tế địa phương từ năm 1997 đến năm 2012

- Phân tích, đánh giá về ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với thành phần KTTN ở địa phương trong thời gian

từ năm 1997 đến năm 2012

Trang 20

Ngoài ra, luận văn có thể dùng như một tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về tỉnh Bắc Ninh trong lĩnh vực phát triển kinh tế, KTTN dưới góc độ lịch sử Đảng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển KTTN từ năm 1997

Trang 21

Chương 1

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN

KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000

1.1 Khái quát các yếu tố tác động và thực trạng kinh tế tư nhân của Bắc Ninh trước khi tái lập tỉnh (trước tháng 1 năm 1997)

1.1.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của KTTN ở Bắc Ninh

* Điều kiện tự nhiên

Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc của Việt Nam Bắc Ninh là vùng đất được hình thành sớm trong thời đại đồ đá Cùng với nhiều biến thiên thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có những thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính Thời Hùng Vương - An Dương Vương, đây

là đất thuộc bộ Vũ Ninh trong nhà nước Văn Lang - Âu Lạc Dưới thời Lý, có tên là

Lộ Bắc Giang Thời Hồ lại tách ra thành Lộ Bắc Giang và Lộ Lạng Giang Sang thời Lê đổi tên thành trấn Kinh Bắc Trên 4 thế kỷ, trấn Kinh Bắc ổn định với 20 huyện trong 4 phủ Năm 1931, trấn Kinh Bắc được đổi thành tỉnh Bắc Ninh với 21 huyện Đến thời thuộc Pháp Bắc Ninh được chia làm 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang

Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội khóa II ra nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc với 14 huyện và 2 thị xã

Tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã Quyết định phê chuẩn việc tái lập 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới Bắc Ninh ngày nay bao gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện thị: Gia Bình, Lương Tài, Quế

Võ, Thuận Thành, Tiên Du và Yên Phong

nhất trong 64 tỉnh thành phố trên cả nước) Bắc Ninh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc và Đông Bắc, với tỉnh Hải Dương và Hưng Yên ở phía Nam và Đông Nam, với thủ đô Hà Nội ở phía Tây và Tây Bắc

Trang 22

Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng đất chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn Địa hình chia làm 2 vùng: vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến từ 300 - 400m Diện tích đồi núi của tỉnh chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích của toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du, ngoài ra còn có một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ và Yên Phong

Bắc Ninh có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như: Quốc lộ 1A, 1B mới nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; đường cao tốc 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng, Quốc lộ 3 mới, vành đai 3,và 4 Hà Nội; trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc, đường sắt cao tốc Yên Viên – Cái Lân; mạng lưới đường thủy rất thuận lợi nối với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng, tạo cho Bắc Ninh là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội Bắc Ninh còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn như thủy điện Hòa Bình, nhiệt điện Phả Lại, nhiệt điện Uông Bí và than Quãng Ninh Trong cấu trúc không gian lãnh thổ vĩ mô, vị trí địa lý của Bắc Ninh như vậy có nhiều thuận lợi cho sự phát triển KTXH, trở thành một hệ thống hòa nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ

đô Hà Nội và có tương tác nhất định với hệ thống địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc thúc đẩy khu vực KTTN của Bắc Ninh giao lưu kinh tế, xuất khẩu hàng hóa với các địa phương khác: do vị trí liền kề với thủ đô Hà Nội trung tâm kinh tế, thị trường rộng lớn thứ hai của cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hóa, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội còn

là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thủy sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ

Tuy nhiên, Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với các tỉnh

Trang 23

đồng về vị trí địa lý cũng như địa hình của Bắc Ninh Do vậy, Bắc Ninh sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các địa phương trên trong việc thu hút vốn đầu tư và nguồn nhân lực

có chất lượng, đây là điều gây khó khăn cho sự phát triển của khu vực KTTN

Tài nguyên thiên nhiên: Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Bắc Ninh nhìn

chung khá nghèo nàn không phong phú về chủng loại cũng như dồi dào về trữ lượng, bao gồm:

Về tài nguyên khoáng sản: Có đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở huyện Quế Võ và huyện Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh; đất cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu, đá sa thạch

Phong với trữ lượng khoảng từ 6 vạn đến 20 vạn tấn

Về tài nguyên đất: Bắc Ninh có tổng diện tíh đất tự nhiên khoảng 82271,2

ha, chiếm 0,25 diện tích đất tự nhiên cả nước Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trần tích sa bồi, với loại đất chủ yếu là đất phù sa tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với hệ thống cây trồng đa dạng Đặc biệt là đất phù sa được bồi đắp bởi sông Cầu, sông Đuống với lượng phù sa trong

hàng nghìn ha thuộc các huyện Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ Đất có tỷ lệ mùn, dinh dưỡng cao phù hợp với nhiều loại cây trồng Đất phù sa sông Thái Bình với phần lớn khu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên lượng phù sa lớn và bồi đắp phù sa tạo thành hàng trăm ha soi bãi màu mỡ, thích hợp cho trồng rau màu và cây dâu Nguồn tài nguyên này rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp chiếm 60,03%, đất phi nông nghiệp chiếm 39,20%, đất chưa sử dụng còn 0,77% [15, tr.24]

Theo điều tra khảo sát, toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 15 loại đất chính bao gồm: đất cát ven sông, đất phù sa được bồi của hệ thống sông Thái Bình, đất xám bạc màu trên phù sa cổ,

Về tài nguyên nước: Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dày đặc Sông Cầu bắt nguồn từ Bắc Kạn đã tạo ra giao thông đường thủy thuận lợi, sông Đuống nối sông

Trang 24

Hồng với sông Thái Bình là sông rộng và sâu, nước chảy xiết Tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3 Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/ 1845 là 9,64m cao hơn so với mặt ruộng là 3-4m Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao Sông Thái Bình là sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, có đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 16km Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống sông nhỏ, sông nội đồng phân bố khá dày đặc đảm bảo tưới tiêu cho vùng một rộng lớn như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đông Khởi, sông Đại Quảng Bình Tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3, được đánh giá là khá dồi dào Trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình từ 3-5m và có

bề dày khoảng 40m, chất lượng tốt

Như vậy, một mặt tài nguyên đất và tài nguyên nước ở Bắc Ninh là điều kiện thuận lợi cho KTTN trong lĩnh vực nông nghiệp, cung cấp nguồn nước cho nhu cầu sản xuất, hệ thống sông ngòi dày đặc thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa trong tỉnh cũng như với các tỉnh khác trong vùng mặt khác tài nguyên đất cũng như tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Bắc Ninh rất hạn chế dẫn tới diện tích mặt bằng sản xuất hẹp, manh mún, một số diện tích còn bị ngập úng vào mùa mưa sẽ gây khó khăn cho KTTN trong việc mở rộng quy mô sản xuất Ngoài ra, diện tích đất hẹp gây khó khăn trong phát triển vùng nguyên liệu cho ngành nghề thủ công sử dụng nguyên liệu và kinh tế trang trại

* Điều kiện kinh tế - xã hội:

Như đã đề cập ở trên, Hà Bắc là một tỉnh cũ ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ Việt Nam, thành lập ngày 27/10/1962 sau sự hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 06/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết “Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh”, tỉnh Hà Bắc được tách ra thành hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang Bộ máy hành chính tỉnh Bắc Ninh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997 đến nay

Về truyền thống lịch sử

Bắc Ninh nổi tiếng là vùng quê văn hiến có truyền thống lịch sử và cách

Trang 25

thay đổi của đất nước Nơi đây từ lâu đã được xem là vùng “địa linh” một trong những cái nôi của nền văn minh sông Hồng đã sinh thành, nuôi dưỡng và quy tụ nhiều “nhân kiệt” những anh hùng, những danh nhân tiêu biểu cho truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc qua các thời đại như Lý Thái Tổ, Hoàng hậu Ỷ Lan, Vạn Hạnh, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Cao Bá Quát, Nguyễn Từ Giản, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự…

Bắc Ninh còn là đất học, đất khoa bảng Trong gần 1000 năm đào tạo, tuyển chọn nhân tài từ khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng của giáo dục Nho, Bắc Ninh có 700 người đỗ đại khoa Nhiều tiến sĩ Nho học của Bắc Ninh là những học giả nổi tiếng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa… Truyền thống hiếu học là hành trang, là niềm tự hào, là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt, sức bật mạnh mẽ để mảnh đất này không ngừng phát triển KTXH

Bắc Ninh - Kinh Bắc xưa là vùng đất phía Bắc của kinh thành Thăng Long - Đông Đô (vị trí được xem là phên dậu của chốn Thượng Kinh), cũng là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thủy, bộ, tạo cho xứ Bắc sớm trở thành trung tâm kinh tế Văn hóa có một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và văn hóa Việt Nam

Từ xa xưa, Bắc Ninh được biết đến là “vùng đất trăm nghề” Cho đến nay, Bắc Ninh vẫn là tỉnh có nhiều ngành nghề và các làng nghề truyền thống với hơn 100 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề truyền thống, tiêu biểu là: làng tranh dân gian Đông Hồ (Thuận Thành), làng gốm Phù Lãng (Quế Võ), làng đúc đồng Đại Bái, làng nghề tre trúc Xuân Lai (Gia Bình), làng rèn Đa Hội, làng dệt Hồi Quan, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc gỗ Kim Thiều, Phù Khê, đồ gỗ Đồng Kỵ (Từ Sơn), làng giấy Phong Khê (Yên Phong)… Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống là cơ sở để phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, đây cũng

là cản trở khi KTTN tham gia sản xuất lớn Vì tại các làng nghề thì tư duy nhỏ lẻ manh mún vẫn còn khá nặng nề

Bên cạnh đó Bắc Ninh có mật độ di tích lịch sử văn hóa dày đặc, là quê hương của hai di sản thế giới: Dân ca Quan họ và Ca trù… Còn được mệnh danh là “xứ sở hội hè”, Bắc Ninh cũng được đánh giá là địa phương giàu tiềm năng về du lịch Đây

là lợi thế không nhỏ để khu vực KTTN phát triển ngành dịch vụ du lịch bởi hiện tại,

Trang 26

so với các hoạt động khác, du lịch văn hóa, tâm linh vẫn được coi là tiềm năng lớn và

có sức hút nhất đối với du khách, nhất là du khách quốc tế Hoạt động này thường gắn với các lễ hội, do đó thịnh hành hơn vào mùa xuân khi tiếng trống hội rộn rã ở khắp các làng quê Tuy vậy, chiều sâu tiềm ẩn trong nét đặc sắc văn hóa những làng quê này mới thực sự là thế mạnh của Bắc Ninh, với sự thuận tiện về giao thông, còn gìn giữ khá đậm nét văn hóa Á Đông Đây cũng là lợi thế thông qua giao lưu văn hóa

sẽ thúc đấy giao lưu kinh tế tạo điều kiện cho khu vực KTTN phát triển

Về dân số, nguồn nhân lực

Bắc Ninh là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 61 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực chưa được cao và đồng đều Theo số liệu điều tra đến năm 2010, dân số toàn tỉnh có 1.034.691 người, trong đó nam giới là 510.866 người chiếm 49,37 người, nữ giới là 523.825 nười chiếm 50,63% Dân số thành thị

là 247.174 người chiếm 23,89%, nông thôn là 787.517 người chiếm 76,11% Dân số nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số toàn tỉnh; thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần dân số nông thôn Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh hiện nay là 1.257 người/km2 Toàn tỉnh có 638.523 lao động trong độ tuổi lao động, chiếm 6,71% tổng số dân [4, tr.158]

Mặc dù Bắc Ninh có mật độ dân số cao và nguồn nhân lực khá dồi dào, trong

đó là lực lượng lao động trẻ, nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, trình độ học vấn của nguồn nhân lực Bắc Ninh cao hơn so với mức trung bình cả nước, nhưng thấp hơn so với mức trung bình của đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tỷ lệ lao động qua đào tạo tính đến năm 2009 chiếm 37,8% trong tổng số lao động trong độ tuổi Trong đó lao động nông nghiệp qua đào tạo chỉ có 19,2% Lao động trong lĩnh vực công nghiệp đã qua đào tạo nghề là 41,5% Lao động trong lĩnh vực dịch vụ đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao nhất 72,7% [4,158] Như vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt tỉ lệ thấp trong tổng số lao động, tại các khu công nghiệp (KCN) tập trung của Bắc Ninh đang sử dụng hơn 3 vạn lao động Song các doanh nghiệp ở Bắc Ninh đang đứng trước tình trạng thừa lao động

Trang 27

nghiệp điện, điện tử, cơ khí chính xác… được biết tại các KCN tập trung hiện nay chỉ có hơn 20% lao động có trình độ chuyên môn cao về kỹ thuật, quản lý Nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đã phải trả chi phí cao cho các vị trí quản lý nhân sự, điều hành, tài chính,… tình trạng thiếu lao động chất lượng cao không chỉ

là nỗi lo của ngành tin học, điện tử… mà còn là tình trạng chung của nhiều ngành công nghiệp khác, nhất là ở các chức danh giám đốc, quản đốc, quản lý chất lượng, thiết kế… trong khi các doanh nghiệp đang thiếu lao động có tay nghề cao, có kỹ thuật và được đào tạo hệ thống, thì lực lượng lao động trong tỉnh lại quá yếu và thiều về trình độ tay nghề đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp Hiện tại đang mất cân đối cung - cầu thị trường lao động kỹ thuật có chất lượng, đây là yếu tố làm hạn chế sự phát triển KTTN trong thời gian tới

Về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

Bắc Ninh có đầy đủ các loại hình giao thông đường sắt, đường bộ, đường sông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế trong tỉnh cũng như sang các vùng lân cận trên địa bàn tỉnh có 375 km đường quốc lộ trải nhựa; 290 km đường tỉnh phần lớn được trải nhựa và hơn 3000 km đường huyện, xã, đường thôn xóm trong đó có gần 2000km được trải bê tông và lát gạch, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã

Bắc Ninh có mạng lưới cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tương đối tốt sẽ là điều kiện cho khu vực KTTN Bắc Ninh phát

triển và giao thương với nhiều địa phương trong nước và quốc tế

trước năm 1997

Sau khi tái lập tỉnh năm 1997, tỉnh Bắc Ninh đã tập trung chỉ đạo các nhiệm

vụ trọng tâm nhằm sớm ổn định các hoạt động của một tỉnh mới được chia tách, đồng thời chuẩn bị những tiền đề cần thiết để bước vào thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Quá trình phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh được thể hiện rõ nét trong sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh nhằm khai thác có hiệu quả các thế mạnh của tỉnh

Với chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam và sự quán triệt triệt để tinh thần của Trung ương Đảng, từ năm 1975 đến trước năm 1986 KTTN nói chung và

Trang 28

KTTN Bắc Ninh nói riêng bị cấm Nhưng vì khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể không đủ thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của đời sống KTXH của đất nước nên khu vực KTTN còn cần thiết cho nền kinh tế, vì vậy vẫn âm thầm tồn tại dưới dạng kinh tế phụ gia đình (của các hộ cán bộ công nhân viên nhà nước và các hộ xã viên hợp tác xã) Các tổ hợp tác, tổ hợp sản xuất núp bóng doanh nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã (thực chất là những loại hình kinh tế tư nhân khác nhau) để hoạt động vì lợi ích dân sinh Tuy mức độ và phạm hoạt động còn hạn chế nhưng các hình thức KTTN cũng đã thực sự góp phần tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho một

bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên, xã viên các hợp tác xã, giảm bớt căng thẳng cho nền kinh tế thời bấy giờ

Trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã nhận thức

rõ ràng những đặc điểm KTXH, những thuận lợi và khó khăn của tỉnh để trên cơ sở

đó vận dụng năng động, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng và hoàn cảnh cụ thể của địa phương nhằm phát huy các nguồn lực tạo nhân tố tích cực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển KTTN

Khi được tái lập tỉnh vào năm 1997, kinh tế Bắc Ninh (thuộc Hà Bắc) lúc đó chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể Giai đoạn 1991 - 1995, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cùng sự vào cuộc của các ban, ngành cùng toàn thể nhân dân tỉnh, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 8,06%, năm 1996 tăng 8,3% (mức tăng tương ứng của cả nước là 8,2% và 9%) GDP bình quân 254 USD/người/năm, bằng 75% mức bình quân chung của cả nước [4, tr.124]

Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng - dịch vụ - nông nghiệp tương ứng là 24,1% - 29,5% - 46,6% [4, tr.520] Công nghiệp quốc doanh địa phương còn nhỏ bé (giá trị sản xuất công nghiệp quốc doanh năm 1996 chỉ chiếm 1,8% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương), kim ngạch xuất khẩu mới đạt bình quân 13,54USD/ người (bình quân cả nước là 100USD/người) [4, tr.127]

Trang 29

1.1.2 Thực trạng KTTN của Bắc Ninh trước ngày 01/01/1997 (trước khi tái lập tỉnh)

Trước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung - bao cấp, khu vực KTTN là đối tượng cải tạo XHCN, không được luật pháp bảo vệ và khuyến khích phát triển

Từ năm 1959, miền Bắc đã cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, khu vực KTTN được chuyển dần sang hình thức doanh nghiệp công

tư hợp doanh và hợp tác xã Mục tiêu đã định là xóa bỏ tận gốc chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của thành phần kinh tế này

Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng chỉ chấp nhận sở hữu toàn dân (nhà nước) và sở hữu tập thể, không thừa nhận KTTN, xem nó là đối tượng cải tạo

và xóa bỏ, Tỉnh ủy Hà Bắc đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, bổ sung vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTXH

Theo đó, các cuộc vận động tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh được chỉ đạo chặt chẽ và triển khai đồng loạt, mạnh mẽ, đưa hợp tác xã nhỏ lên quy mô toàn xã theo phương châm từng bước đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Những tư liệu sản xuất chủ yếu như: ruộng đất, ao hồ, trâu bò, nhà kho, sân phơi được đưa vào sở hữu tập thể ở mức cao, toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của hợp tác xã Thực hiện chủ trương của tỉnh Bắc Ninh, các làng nghề, các cơ sở sản xuất hàng thủ công xuất khẩu như mây tre đan, thảm đay… , nhiều hợp tác xã kinh doanh làm hàng đồ gỗ, giường tử, bàn ghế ở Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ (Tiên Sơn), hợp tác xã sản xuất vật liệu xây dựng (vôi Quyết Tiến - Thị xã Bắc Ninh) được khôi phục và phát triển, thương nghiệp và mậu dịch, hợp tác xã mua bán được mở rộng

Trước khi tái lập tỉnh, trong định hướng phát triển KT - XH tỉnh Hà Bắc, Bắc Ninh là vùng kinh tế nông nghiệp (chủ yếu là trồng lúa, thủy sản và chăn nuôi) Việc đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu tập trung xung quanh thị xã Bắc Giang Vì thế, sau khi tái lập tỉnh, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh rất nhỏ, yếu Ngoài các nhà máy kính Đáp Cầu, may Đáp Cầu, thuốc lá Bắc Sơn là cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh TW, các cơ sở sản xuất của tỉnh:

Trang 30

Cơ khí Đáp Cầu, các xí nghiệp vôi Đáp Cầu đã rơi vào tình trạng ngừng sản xuất; các làng nghề sắt Đa Hội, giấy Phong Khê, đồng nhôm Đại Bái có dấu hiệu phục hồi do tác động của cơ chế, chính sách mới

Dù chưa thực sự phát triển song, so với giai đoạn trước năm 1986, khu vực KTTN Bắc Ninh từ sau tháng 12/1986 đến trước ngày 01/01/1997 cũng có những đổi khác đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trên nhiều phương diện

Từ nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số nơi ở Bắc Ninh đã bắt đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa Đó chủ yếu là sự xuất hiện và phát triển của các

hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ Một thời gian dài duy trì cơ chế quản lý kinh

tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp nền kinh tế bị khủng hoảng nghiêm trọng Nền sản xuất nông nghiệp của Bắc Ninh manh mún, lạc hậu, thâm canh thấp, phân tán, chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, năng suất lao động kém, thu nhập của người lao động thấp, từ đó xã viên chán nản không gắn bó với đồng ruộng, một số người bỏ sản xuất

đi chạy chợ Sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (04/1988) về đổi mới công tác quản

lý nông nghiệp, các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp chuyển sang làm chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ, ruộng đất được giao lâu dài cho nông dân, hộ trở thành đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn nói chung, Bắc Ninh nói riêng Họ có quyền

sử dụng ruộng đất, sử dụng lao động của gia đình và một phần lao động làm thuê, sử dụng vốn, vật tư kỹ thuật, chủ động thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

tự chịu lỗ lãi, có tư cách pháp nhân Khi hộ xã viên được thừa nhận là đơn vị kinh tế

tự chủ thì trong lòng các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp ở Bắc Ninh đã xuất hiện nhiều mô hình tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại gia đình, gắn với các tổ hợp kinh tế hợp tác giản đơn theo phạm vi gia tộc, dòng họ hoặc bà con làng xóm có cùng mục đích Các huyện Gia Lương, Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, thị xã Bắc Ninh, … phát triển mạnh kinh tế hộ gia đình, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi thành nghành sản xuất chính (nhất là chăn nuôi gia đình) Kinh tế cá thể, tiểu chủ ngày càng chiếm ưu thế về tư liệu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn ở Bắc Ninh

Tháng 05/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16NQ/TW về đổi mới chính

Trang 31

quốc doanh Bên cạnh thế mạnh về nông nghiệp, Bắc Ninh cũng là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Bắc Ninh chủ yếu gắn với làng nghề truyền thống song lại là khu vực hạn chế nhiều về năng lực và khả năng đổi mới công nghệ Năm 1986 - 1987 ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống đạt 60 - 70% tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Quán triệt chủ trương của Đảng, các đơn vị sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN trong lĩnh vực này cũng được thành lập mới nhiều, còn lại do chuyển đổi hình thức sở hữu

từ các doanh nghiệp nhà nước, tập thể sang hình thức sở hữu tư nhân Huyện Quế Võ xây dựng hợp tác xã cơ khí 19/08, phát triển thêm 20 tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp Huyện Yên Phong khuyến khích các thành phần kinh tế, đẩy mạnh sản xuất Đến cuối năm 1990, toàn huyện có 3 hợp tác xã, 12 tổ hợp tác và 2156 hộ tư nhân chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp với tổng số 4109 lao động Huyện Tiên Sơn là đơn vị có nhiều nghề truyền thống, Huyện ủy đã có chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, làng nghề phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, hàng tiêu dùng Sản xuất sắt ở Đa Hội (Châu Khê) phát triển mạnh, dệt Tân Tiến, mỹ nghệ Tân Hồng là những đơn vị đứng đầu trong nghành thủ công của tỉnh, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Đồng Quang), Phù Khê, Hương Mạc không ngừng mở rộng và phát triển…

Như vậy, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, hầu hết các hợp tác

xã nông nghiệp đã chuyển sang làm dịch vụ, kinh tế hộ khá phát triển

Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có bước phát triển Năm 1995, 87 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập Năm 1996, tỷ trọng sản xuất công nghiệp - xây dựng chiếm 24%, dịch vụ 29,1%, nông nghiệp 46,4%, sản lượng lương thực quy thóc đạt 322 ngàn tấn, bình quân 351 kg/người/năm [13, tr.40]

Sự phát triển theo ngành nghề sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN Bắc Ninh ngày càng phong phú Năm 1995 có 7657 hộ cá thể sản xuất công nghiệp,

5685 hộ kinh doanh thương nghiệp, khách sạn, dịch vụ; năm 1996 tăng lên 8069 hộ

cá thể sản xuất công nghiệp và 6139 hộ kinh doanh thương nghiệp, khách sạn, dịch

vụ [13, tr.92,119]

Trang 32

Đó là những thuận lợi cơ bản, là tiền đề quan trọng đẩy nhanh nhịp độ phát triển, đưa KTTN Bắc Ninh cùng với cả nước bước vào thời kì mới - thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KTTN Bắc Ninh còn bộc lộ những hạn chế và tiêu cực: sản xuất manh mún, lạc hậu, mang tính tự cung tự cấp, thiếu cơ sở vật chất dẫn đến sản xuất không ổn định, giá thành cao, chất lượng sản phẩm kém, buôn lậu, trốn thuế, mua chuộc cán bộ nhà nước thường xuyên xảy ra, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư… Song những tồn tại đó của KTTN là khó tránh khỏi Có cái là khách quan, có cái là hệ quả xa của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần,

có cái do sơ hở trong khâu quản lý đối với KTTN, một khu vực kinh tế vô cùng linh hoạt Đó cũng là nhiệm vụ khó khăn của Đảng bộ Bắc Ninh khi tái lập tỉnh

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển kinh tế

tư nhân từ năm 1997 đến năm 2000

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

Quan điểm lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần từ Đại hội VI trở đi là nhất quán Đại hội VII cũng như Hội nghị giữa nhiệm kỳ đều khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống Chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy được nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo thêm việc làm và sản phẩm xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa, tạo ra sức cạnh tranh sống động trên thị trường… Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo và qua thực tiễn phát triển của KTTN, vẫn cần phải khắc phục trên cả lĩnh vực lý luận và thực tế

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp từ ngày 22/6 đến ngày 1/7/1996 tại Hà Nội đã đánh dấu bước ngoặt chuyển Việt Nam sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

Trang 33

giới Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai của đất nước, vào thời điểm sắp bước vào thế kỷ XXI

Ở Đại hội VIII, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở tầm cao hơn, đặt

cơ sở cho những quyết sách đúng đắn với tính khả thi cao đối với việc phát triển KTTN, một khu vực kinh tế có vị trí trong nền kinh tế của đất nước

Đại hội nhấn mạnh: “Nếu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ mới, thì việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp” [25, tr.24]

Cùng với việc chăm lo cho các thành phần kinh tế nhà nước, tập thể, thành phần KTTN cũng nhận được sự quan tâm lớn của Đại hội: “Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường và kinh nghiệm quản

lý để mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất, kinh doanh Hướng dẫn và có chính sách thích hợp khuyến khích họ thự tổ chức hoặc tham gia vào các tổ chức kinh tế hợp tác và các hình thức liên doanh, liên kết với kinh tế nhà nước

Thực hiện các biện pháp chính sách để khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất trong các nghành, các lĩnh vực phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển của đất nước Bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” [22, tr.602,603]

Tỉnh Bắc Ninh được thành lập từ năm 1831, bao gồm cả huyện Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội) và Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay Sau năm 1963, do yêu cầu phát triển kinh tế và đấu tranh giải phóng miền Nam, tỉnh Bắc Ninh được hợp nhất với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Sau gần 34 năm hợp nhất, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX (10/1996) đã ra nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó chia tách tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Tỉnh Bắc Ninh được tái lập, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ phát triển KTXH và nguyện vọng thiết tha của đảng viên, cán bộ và nhân dân trong tỉnh

Trước khi được tái lập, tình hình kinh tế xã hội của Bắc Ninh đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Nhịp độ phát triển kinh tế còn chậm, điểm xuất phát

Trang 34

thấp, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân thấp Sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, năng suất lao động và tỉ suất hàng hóa thấp Công nghiệp quốc doanh địa phương còn nhỏ bé

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp: Hầu hết các công trình giao thông, thủy lợi đều xuống cấp nghiêm trọng, một số công trình mới đầu tư không đồng bộ, hiệu quả thấp Mạng lưới cung ứng điện chưa đảm bảo kĩ thuật, nguồn điện năng chưa đáp ứng nhu cầu của sản xuất, nhất là khi xảy ra úng, lụt

Kết cấu hạ tầng của thị xã Bắc Ninh chưa tương xứng với vị trí là thị xã tỉnh

lỵ Đường giao thông, hệ thống cấp nước, thoát nước, lưới điện, bệnh viện trường học, nhà văn hóa, công trình thể thao…đều thiếu Một số công trình xây dựng đã trên 3 thập kỷ đã xuống cấp nghiêm trọng

Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng thuần nông có nhiều khó khăn Số lao động không có việc làm và thiếu việc làm còn nhiều Mức sống giữa thành thị và nông thôn còn chênh lệch lớn Tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc và hủ tục mê tín dị đoan ngày càng phát triển

Trong hoàn cảnh ấy, ngày 04/01/1997, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã thảo luận và quyết định 5 nhiệm vụ trước mắt là:

thủ công nghiệp và mở mang dịch vụ

và hoàn thành một số công trình quan trọng

phát triển giáo dục đào tạo

lậu, các tệ nạn xã hội

đảm gọn nhẹ, có hiệu lực, phù hợp với yêu cầu cải cách một bước nền hành chính Nhà nước

Ngày 10/01/1997, tại Hội trường Nhà nghỉ Suối Hoa (thị xã Bắc Ninh),

Trang 35

HĐND tỉnh, quyết định niên hiệu HĐND tỉnh nhiệm kì 1994 - 1999 là khóa XIV HĐND tỉnh đã thông qua báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT - XH năm 1997 và quyết định các mục tiêu chủ yếu đến năm 2000

Phương hướng, nhiệm vụ chung đến năm 2000 mà Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đề

ra là: “Phát huy truyền thống cách mạng và văn hóa, tinh thần làm chủ của nhân dân, khai thác mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn thử thách tiếp tục sự nghiệp đổi mới, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để từng bước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp và xuất khẩu; phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giải quyết những vấn đề bức xức về xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo đảm an ninh, quốc phòng; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển tiếp theo” [18, tr 7]

Ngày 17/04/1997, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh

đã thảo luận, bổ sung dự thảo báo cáo của Ban chấp hành lâm thời tại Đại hội Đảng

Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XV là Đại hội đầu tiên sau khi tái lập tỉnh Đại hội lần thứ XV đã thảo luận thông qua báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị từ ngày tái lập tỉnh; quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu đến năm 2000:

Một là, khai thác các nguồn lực của các thành phần kinh tế, vận dụng các chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; xây dựng cơ sở hạ tầng tạo tiền đề hình thành các khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp và xây dựng tỉnh lỵ theo quy hoạch

1)

- Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh tháng 11 năm 1945 được coi là Đại hội lần thứ I;

- Đại hội lần thứ II họp ngày 16 và 17 tháng 6 năm 1948;

- Đại hội lần thứ III họp từ 14/04/1951 đến 23/04/195;

Ngày đăng: 03/02/2023, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w