1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cơ Chế Bảo Vệ Quyền Con Người Ở Các Quốc Gia Bắc Âu Và Một Số Kinh Nghiệm Có Thể Áp Dụng Ở Nước Ta 6827528.Pdf

100 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Chế Bảo Vệ Quyền Con Người Ở Các Quốc Gia Bắc Âu Và Một Số Kinh Nghiệm Có Thể Áp Dụng Ở Nước Ta
Tác giả Nguyễn Thị Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS Chu Hồng Thanh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THANH C¥ CHÕ B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë C¸C QuèC GIA B¾C ¢U Vµ MéT Sè KINH NGHIÖM Cã THÓ ¸P DôNG ë N¦íC TA LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2019 ĐẠI HỌC QUỐC[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH

C¥ CHÕ B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë C¸C QuèC GIA B¾C ¢U

Vµ MéT Sè KINH NGHIÖM Cã THÓ ¸P DôNG ë N¦íC TA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH

C¥ CHÕ B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë C¸C QuèC GIA B¾C ¢U

Vµ MéT Sè KINH NGHIÖM Cã THÓ ¸P DôNG ë N¦íC TA

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 9380101.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dẫn trình bày trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.NGƯT Chu Hồng Thanh, Khoa Luật, ĐHQGHN – Người Thầy đã định hướng nghiên cứu, tận tâm, sâu sát hướng dẫn và giúp tôi tháo gỡ những khó khăn trong suốt quá trình làm luận án

Trong suốt thời gian thực hiện luận án, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy giáo, Cô giáo, Nhà khoa học của Bộ môn Hiến pháp – Hành chính,

Bộ môn Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật thuộc Khoa Luật, ĐHQGHN Bên cạnh đó, tôi cũng nhận được sự động viên, chia sẻ và góp ý chuyên môn của các Nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp Bằng tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm, Phòng quản lý đào tạo và các Phòng, Ban khác của Khoa Luật, ĐHQGHN đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi học tập và tham gia nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới tất cả các thành viên trong gia đình của tôi, những người đã luôn bên cạnh, hết lòng yêu thương, động viên, khích lệ, ủng hộ tôi trong suốt thời gian vừa qua Tôi sẽ luôn ghi nhớ và trân trọng!

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền con người 9

1.2 Các công trình nghiên cứu về thể chế ảo vệ quyền con người 19

1.2.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 19

1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 22

1.3 Các công trình nghiên cứu về thiết chế bảo vệ quyền con người 24

1.3.1 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 24

1.3.2 Những nghiên cứu về thiết chế bảo vệ quyền con người ở trong nước 27

1.4 Nhận xét về các công trình khoa học liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 29

1.4.1 Những vấn đề đã được làm sáng tỏ, luận án có thể tiếp thu, kế thừa 29

1.4.2 Những vấn đề đã được nghiên cứu nhưng chưa được giải quyết thấu đáo 31

1.4.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền con người của các quốc gia Bắc Âu và một số kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam 32

1.5 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 33

Kết luận chương 1 34

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 35

2.1 Khái niệm ảo vệ quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người 35

2.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người 35

2.1.2 Khái niệm cơ chế bảo vệ quyền con người 39

Trang 6

2.2 Các thành tố trong cơ chế bảo vệ quyền con người 47

2.2.1 Thể chế bảo vệ quyền con người 47

2.2.2 Thiết chế c ng trình t , thủ tục bảo vệ quyền con người 48

2.2.3 Mối quan hệ giữa thể chế và thiết chế c ng trình t , thủ tục bảo vệ quyền con người 52

2.3 Những yếu tố tác động đến cơ chế bảo vệ quyền con người 54

2.3.1 S tác động của chính trị tới cơ chế bảo vệ quyền con người 54

2.3.2 S tác động của kinh tế tới cơ chế bảo vệ quyền con người 55

2.3.3 S tác động của văn hoá, truyền thống tới cơ chế bảo vệ quyền con người 55

2.4 Những ảo đảm cho cơ chế ảo vệ quyền con người 56

Kết luận chương 2 60

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở CÁC QUỐC GIA BẮC ÂU 61

3.1 Khái quát đặc trưng cơ ản của các quốc gia Bắc Âu gắn với việc bảo vệ quyền con người 61

3.1.1 Khái quát đặc trưng cơ bản và quan hệ giữa các quốc gia Bắc Âu 61

3.1.2 Khái quát việc bảo vệ quyền con người ở Bắc Âu trong mối quan hệ với các quốc gia thành viên châu Âu 63

3.2 Cơ chế bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu 65

3.2.1 Thể chế bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu 65

3.2.2 Thiết chế c ng trình t , thủ tục bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu 79

3.3 Những thành tựu, hạn chế và thách thức trong cơ chế ảo vệ quyền con người của các quốc gia Bắc Âu 105

3.4 Ảnh hưởng của cơ chế bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu tới các quốc gia khác và Việt Nam 110

Kết luận chương 3 113

CHƯƠNG 4: NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC QUỐC GIA BẮC ÂU CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐỂ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 114

4.1 Thực trạng cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 114

4.1.1 Thể chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 114

4.1.2 Thiết chế c ng trình t , thủ tục bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 119

Trang 7

4.2 Những kinh nghiệm trong cơ chế bảo vệ quyền con người ở các

quốc gia Bắc Âu có thể áp dụng ở nước ta 127

4.2.1 Một số điểm tương đồng giữa Việt Nam và các quốc gia Bắc Âu 127 4.2.2 Khả năng áp dụng kinh nghiệm từ các quốc gia Bắc Âu đối với cơ chế

bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 131

Kết luận chương 4 144 KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 148 PHỤ LỤC 171

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

ECHR: Công ước Châu Âu về quyền con người

ECtHR: Tòa án nhân quyền Châu Âu

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

ICCPR: Công ước LHQ về các quyền dân s , chính trị

ICESCR: Công ước LHQ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

NGOs: Các tổ chức xã hội dân s

NHRI: Cơ quan nhân quyền quốc gia

NHRIs: Mạng lưới (các) cơ quan nhân quyền quốc gia

Nxb: Nhà xuất bản

OHCHR: Văn phòng cao ủy nhân quyền LHQ

PGS.: Phó giáo sư

RWI: Viện Nhân quyền và Luật Nhân đạo Raoul Wallenberg

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Bảng 3.1 Điều luật quy định về mục tiêu bảo vệ QCN trong hiến

Bảng 3.2 Thời gian ban hành và sửa đổi của các bản hiến pháp ở

Bảng 3.3 Số lượng, vị trí điều luật quy định bảo vệ QCN trong

Bảng 3.4 Khái quát các QCN được ghi nhận, bảo vệ trong hiến

Bảng 3.5 Các quyền dân s , chính trị; kinh tế, văn hóa, xã hội &

hợp quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc gia, Điều ước quốc tế và chính sách đối ngoại của các quốc gia Bắc Âu 178 Bảng 3.6 Khái quát thiết chế c ng trình t thủ tục bảo vệ QCN

Hình 3.1 Số giờ làm việc trung bình/năm 2013 của các quốc gia

Hình 3.2 Phòng khám răng ở nhà t Halden, Na Uy 73 Hình 3.3 Cơ cấu tổ chức Viện nhân quyền Đan Mạch 82 Hình 4.4 Cơ cấu tổ chức Viện nhân quyền Na Uy 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ghi nhận và bảo vệ quyền con người là mối quan tâm to lớn của hầu hết các quốc gia đương đại, ở cả phạm vi quốc gia, khu v c và toàn cầu Trong bản thân mỗi quốc gia, ghi nhận và bảo vệ quyền con người là s t khẳng định tính văn minh, tiến bộ, dân chủ, niềm t hào, s bền vững và giá trị vì con người của dân tộc mình Trong quan hệ quốc tế, ghi nhận và bảo đảm quyền con người là trách nhiệm ràng buộc khi quốc gia là thành viên, cũng là để hướng tới khẳng định loài người đã bước vào một kỷ nguyên của s văn minh, tiến bộ vượt bậc trong hành trình phát triển của mình

Tại Việt Nam, trước năm 2013, Hiến pháp đã khẳng định bảo vệ quyền con người được thể hiện trong bảo vệ các quyền công dân, đến Hiến pháp năm 2013,

thuật ngữ quyền con người đặt cạnh quyền công dân chính thức được ghi nhận,

bảo vệ tại Chương II về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Điều này thể hiện thế chủ động và mối quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với QCN - biểu hiện s đổi mới to lớn trong quan điểm của Đảng, Nhà nước và dân tộc so với trước đây về vấn đề quyền con người [98, tr.12; 48, tr.55] Chính vì vậy, s kiện Hiến pháp năm 2013 với việc ghi nhận quyền con người đã xuất hiện kèm theo rất nhiều vấn đề được quan tâm, trăn trở từ nhiều phía: các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động th c tế, chính quyền, người dân, các tổ chức xã hội và cả quốc tế Một trong những vấn đề bao trùm lên mọi s quan tâm đối với vấn đề quyền con người ở Việt Nam hiện nay là: quyền con người gồm tổng thể những giá trị cao quý, tốt đẹp với mỗi con người, cộng đồng, dân tộc đã được ghi nhận rõ ràng trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia, thì nó sẽ được th c hiện, bảo đảm, bảo vệ như thế nào? Bằng cơ chế nào? Hiển nhiên rằng: Khi hiến pháp đã ghi nhận quyền con người thì quyền đó phải được bảo vệ Nếu không thì những quy định đó có nguy cơ chỉ là những tuyên bố hình thức, không có giá trị trong đời sống [14, tr.58] Đồng thời, trước quốc tế, Việt Nam cũng đã cam kết tăng cường và thúc đẩy bảo vệ QCN theo những chuẩn m c quốc tế, trong khi th c tế Việt Nam

Trang 11

chưa có cơ quan nhân quyền quốc gia; và một số chuẩn m c bảo vệ QCN ở Việt Nam theo thời gian cũng cần chỉnh sửa, bổ sung…

Th c hiện tinh thần của Hiến pháp, th c hiện cam kết với quốc tế về bảo vệ QCN, việc tập trung nghiên cứu để xác định rõ ràng về một cơ chế bảo vệ QCN của Việt Nam là cần thiết, cấp bách Tuy nhiên, Việt Nam cũng không thể th c hiện nhu cầu cấp bách này một cách biệt lập mà cần nhìn ra thế giới, nghiên cứu cơ chế bảo

vệ QCN của quốc tế, của một số quốc gia, châu lục để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm, hữu ích trong cơ chế bảo vệ QCN Việt Nam Theo nhận thức của nghiên cứu sinh, các nước ở khu v c Bắc Âu ngày nay được thế giới biết tới là các quốc gia có thành tích, kết quả bảo vệ QCN tốt bậc nhất thế giới Là địa chỉ xứng đáng để nhiều nước trên thế giới có thể nghiên cứu để tìm ra những bài học kinh nghiệm trong xây d ng, phát triển cơ chế bảo vệ QCN ở nước mình

Nhằm góp phần giải quyết vấn đề có ý nghĩa lớn và mang tính thời s nêu trên, trong khuôn khổ Luận án luật học, nghiên cứu sinh l a chọn tập trung vào

nghiên cứu đề tài: Cơ chế bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu và một

số kinh nghiệm có thể áp dụng ở nước ta Qua đó, kế thừa được những thành t u

trong cơ chế bảo vệ QCN ở một số quốc gia Bắc Âu gắn với bối cảnh quốc tế ngày nay, tìm ra được cơ chế tối ưu, hữu hiệu nhất để bảo vệ QCN ở Việt Nam đúng chuẩn m c quốc tế, đúng pháp luật quốc gia, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh

tế, văn hóa truyền thống và những đặc thù khác của con người Việt Nam

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.1 Mục tiêu

Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là tìm được những kinh nghiệm từ cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu có thể tham khảo, áp dụng ở Việt Nam, nhằm góp phần xây d ng, phát triển và hoàn thiện cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam hiện

nay, ph hợp với pháp luật quốc tế, với điều kiện, đặc th của Việt Nam; góp phần

giải quyết thách thức lớn đặt ra với Việt Nam là Hiến pháp đã ghi nhận bảo vệ QCN thì cần có s hiện diện đầy đủ, chỉnh thể, hiệu quả của cơ chế bảo vệ QCN của Việt Nam Luận án giải đáp một số vấn đề mới đặt ra về mặt khoa học trong nghiên cứu bảo vệ

Trang 12

QCN, làm tiền đề, gợi mở cho những hướng nghiên cứu mới về QCN nói chung, đáp ứng nhu cầu được tôn trọng, ghi nhận, th c thi và bảo vệ QCN ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ

Để th c hiện mục tiêu nêu trên, đề tài cần giải quyết nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo cứu tình hình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu

trong và ngoài nước liên quan đến đề tài cơ chế bảo vệ QCN ở Bắc Âu và ở Việt Nam Chỉ ra những điểm đã thống nhất có thể kế thừa và những điểm chưa rõ ràng, khoảng trống về mặt lý luận, khoa học để tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ mặt lý luận, th c tiễn về cơ chế bảo vệ QCN

Thứ hai, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền con

người như: Khái niệm, các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố đó trong cơ chế bảo vệ QCN, các yếu tố ảnh hưởng và bảo đảm cho cơ chế bảo vệ QCN hoạt động hiệu quả

Thứ ba, nghiên cứu th c trạng cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu,

chỉ ra được nội dung căn bản trong cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia nay, những đặc trưng của cơ chế bảo vệ QCN ở khu v c Scandinavia (tên gọi khu v c Bắc Âu trong lịch sử) so với châu Âu nói chung, tổng kết thành t u và một số hạn chế, thách thức cũng như mức độ ảnh hưởng của cơ chế bảo vệ QCN của các quốc gia Bắc Âu tới các quốc gia khác trên thế giới và Việt Nam

Thứ tư, nghiên cứu th c trạng cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam, chỉ ra s

tương đồng và khác biệt nhất định giữa cơ chế bảo vệ QCN của Việt Nam và cơ chế bảo vệ QCN của các quốc gia Bắc Âu Tìm ra một số kinh nghiệm từ cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu và khả năng áp dụng để hoàn thiện cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu đã nêu, đối tượng nghiên cứu của Luận án là:

Thứ nhất, quan điểm, tư tưởng, chính sách, hiến pháp, pháp luật, các cơ quan,

Trang 13

tổ chức xã hội, cá nhân c ng trình t , thủ tục, hoạt động th c tiễn bảo vệ QCN của quốc tế, của năm quốc gia Bắc Âu theo quan niệm truyền thống gồm: Đan Mạch,

Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Iceland

Thứ hai, quan điểm, tư tưởng, chính sách, hiến pháp, pháp luật, các cơ

quan, tổ chức xã hội, cá nhân c ng trình t , thủ tục, hoạt động th c tiễn bảo vệ QCN ở Việt Nam Kinh nghiệm của các quốc gia Bắc Âu về bảo vệ QCN có thể ứng dụng tại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Luận án nghiên cứu s hình thành và phát triển về nội dung các QCN; pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về trách nhiệm của các quốc gia trong việc tôn trọng, ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm th c hiện QCN; cơ chế bảo vệ QCN trên bình diện pháp lý quốc tế, khu v c và quốc gia; vai trò, s tham gia và sức ảnh hưởng của các tổ chức, cá nhân, của truyền thông, báo chí, chính trị, tính dân chủ, sức mạnh của kinh tế, tri thức khoa học, đạo đức, trong bảo vệ QCN

3.2.2 Phạm vi về không gian

Đối với những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ QCN, tác giả nghiên cứu trên

cơ sở quan điểm chung ở phạm vi quốc tế, khu v c Bắc Âu và liên hệ tới th c trạng vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam Đối với cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu, Luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu vào ba quốc gia: Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển Bởi theo truyền thống, lịch sử ở khu v c Bắc Âu thì Đan Mạch và Thụy Điển là hai quốc gia có sức ảnh hưởng lớn tới các quốc gia còn lại thời điểm hiện nay, Na Uy là một nước có thành tích nổi bật trong bảo vệ các QCN của người dân Luận án cũng nghiên cứu cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu trong phạm vi mối quan hệ với cơ chế bảo vệ QCN của khu v c châu Âu, với tư cách là các quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu; và tất yếu, Luận án cũng tập trung nghiên cứu cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam

3.2.3 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Luận án có nghiên cứu mở rộng về bảo vệ QCN cả trong lịch sử, theo đó

Trang 14

khảo cứu về lịch sử lập hiến, tư tưởng về chính trị, nhà nước ảnh hưởng tới cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu và ở Việt Nam Nghiên cứu các công trình liên quan đến Đề tài, tác giả lấy xuất phát điểm từ năm 1945, thời điểm LHQ ra đời Bởi sau năm 1945, một hệ thống các QCN được tôn trọng, ghi nhận, khẳng định rõ ràng hơn bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Tuy nhiên, luận án tập trung nghiên cứu thời k từ năm 1990 trở lại đây bởi đây là thời k phát triển mạnh mẽ của cơ chế bảo vệ QCN trên toàn thế giới, ở Việt Nam và cả đối với các quốc gia Bắc Âu Thời k này, các nghiên cứu về nội dung QCN đã cơ bản hoàn thành, nhân loại tập trung vào việc tổ chức th c hiện, bảo vệ các quyền, xác định nghĩa vụ của quốc gia và tổ chức bộ máy nhà nước, vị thế và s hiện diện toàn diện hơn trước của hệ thống các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ QCN Đây cũng là thời gian để nhân loại và các quốc gia có được những nghiên cứu, đánh giá về thành t u, ưu điểm cần phát huy, nhận thấy rõ những điểm thiếu hụt, hạn chế làm kinh nghiệm cho cơ chế bảo vệ QCN nói chung

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Tính mới khác biệt và những đóng góp mới của Luận án được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:

- Luận án nghiên cứu tổng quát về cơ chế bảo vệ QCN ở năm quốc gia khu

v c Bắc Âu, so với các công trình trước đây thường nghiên cứu ở phạm vi thế giới, khu v c châu Âu, ASEAN hoặc nghiên cứu riêng về Thanh tra Quốc hội hay cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam

- Luận án so sánh cơ chế bảo vệ quyền của các quốc gia Bắc Âu với nhau và

lý giải vấn đề từ các yếu tố chính trị, tư tưởng truyền thống, hợp tác quốc tế Chỉ ra một số điểm tương đồng nhất định giữa các quốc gia Bắc Âu với Việt Nam về quan điểm, tư tưởng, xuất phát điểm của việc bảo vệ QCN, từ đây chỉ ra được kinh nghiệm bảo vệ QCN của các quốc gia Bắc Âu có thể áp dụng ở nước ta

- Kết quả nghiên cứu của Luận án là tiền đề tiếp tục nghiên cứu những vấn đề QCN ở những lĩnh v c chuyên ngành, chuyên sâu hoặc gợi mở những hướng nghiên cứu mới về QCN

Trang 15

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

5.1 Ý nghĩa khoa học của luận án

Thứ nhất, Luận án hệ thống hoá quan điểm và quy định pháp luật cũng như

hệ thống cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ QCN ở năm quốc gia Bắc Âu, so sánh các quan điểm, hệ thống quy định pháp luật và lý giải vấn đề trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế

Thứ hai, Luận án hệ thống hoá s hình thành và phát triển của quan

điểm, tư tưởng và hệ thống quy định pháp luật, các cơ quan, tổ chức, cá nhân của Việt Nam tham gia bảo vệ QCN từ trước đến nay Làm rõ đặc thù của cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam, những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến cơ chế bảo

vệ QCN ở Việt Nam

Thứ ba, với hai mảng vấn đề khoa học lớn trên, Luận án bổ sung nhận thức

khoa học về cơ chế bảo vệ QCN ở khu v c Bắc Âu, khái quát về s hình thành, vận động và phát triển của cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam; chỉ ra kinh nghiệm bảo vệ QCN ở các quốc gia khu v c Bắc Âu có thể áp dụng tại Việt Nam

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Thứ nhất, đưa ra một số gợi ý, bài học kinh nghiệm về xây d ng, vận hành

của cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia khu v c Bắc Âu mà có thể áp dụng ở Việt Nam, hướng tới th c tiễn hoạt động bảo vệ QCN ở Việt Nam hiệu quả hơn mà ph hợp với đặc th điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, truyền thống của Việt Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trước quốc tế, góp phần nâng cao lượng giá trị thụ hưởng quyền của người dân

Thứ hai, Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà hoạt động chính sách,

pháp luật về quyền con người, góp phần ngày càng hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Thứ ba, Luận án bổ sung, làm đầy đủ hơn tư liệu nghiên cứu cho người học,

người giảng dạy, nhà nghiên cứu về các lĩnh v c QCN, cơ chế bảo vệ QCN nói chung và riêng ở Việt Nam

Trang 16

6 Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở pháp lý, nội dung Luận án cũng được nghiên cứu trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật của năm quốc gia Bắc Âu, của quốc tế và của Việt Nam về QCN, bảo vệ QCN; các thành t u khoa học pháp lý

về bảo vệ QCN thể hiện ở các công trình nghiên cứu, giáo trình, sách chuyên khảo,

đề tài nghiên cứu khoa học, bài viết tạp chí…

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu đặt ra, Luận án nghiên cứu trước nhất bằng phương pháp mô tả, phân tích các quan điểm, quy định pháp luật và cơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan, tổ chức bảo vệ QCN Tiếp theo đó, tác giả sử dụng pháp phương tổng hợp, so sánh để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về cơ chế bảo vệ quyền giữa các quốc gia Bắc Âu với Việt Nam ở các phương diện: quan điểm, quy định pháp luật về quyền; hệ thống cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền; và những yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm, quy định pháp luật cũng như hệ thống các chủ thể bảo vệ QCN

Để có thể đánh giá ưu, nhược điểm trong cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia khu v c Bắc Âu, tác giả Luận án th c hiện phân tích tư liệu, sử dụng phương pháp định tính để xác định đặc điểm, bản chất của vấn đề; sử dụng phương pháp định lượng nắm bắt các số liệu thống kê về hiệu quả bảo vệ QCN ở các quốc gia

Theo từng nội dung của Luận án, các phương pháp nghiên cứu được xác định như sau:

Chương 1: Sử dụng chủ yếu phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, phân tích, so sánh, đánh giá những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, những vấn đề

Trang 17

khoa học đã được bàn luận làm sáng tỏ, những khoảng trống khoa học cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài Đặt ra giả thuyết và các câu hỏi nghiên cứu

Chương 2: Trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu của Lý luận Nhà nước và Pháp luật, kết hợp với các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic học … làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ QCN

Chương 3: D a trên phương pháp phân tích, thống kê, chứng minh, trừu tượng hoá làm sáng tỏ th c trạng cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu Chỉ ra s khác biệt trong cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu, những ưu điểm, thành tích, khiếm khuyết, hạn chế, bất cập của cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu

Chương 4: Sử dụng phương pháp thống kê, logic, phân tích, đánh giá, chứng minh để khái quát những vấn đề có tính quy luật trong s hình thành, phát triển, th c trạng cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam Đối chiếu, so sánh, phân tích để chỉ ra một số kinh nghiệm trong cơ chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu có khả năng áp dụng ở Việt Nam Hướng tới góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ QCN hiện tại của Việt Nam

7 Bố cục của Luận án

Luận án bao gồm phần Mở đầu, 4 chương và kết luận:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền con người

Chương 3: Th c trạng cơ chế bảo vệ quyền con người ở các quốc gia Bắc Âu Chương 4: Những kinh nghiệm của các quốc gia Bắc Âu có thể áp dụng để

hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Ngày nay, trên cơ sở các quyền con người được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia công nhận, tôn trọng và bảo vệ, QCN cần có cơ chế thúc đẩy, bảo đảm

th c hiện và bảo vệ ngày càng hữu hiệu hơn trong đời sống [12, tr.327-328] Th c

tế này làm xuất hiện nhiều nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ QCN Song các công trình nghiên cứu cũng ở những mức độ, phạm vi và khía cạnh khác nhau, có những công trình chỉ nghiên cứu một khía cạnh của cơ chế bảo vệ QCN (quy định pháp luật bảo vệ QCN – vấn đề thuộc thể chế; hệ thống các cơ quan, tổ chức bảo vệ QCN – vấn đề thuộc thiết chế); có công trình nghiên cứu tổng thể về cơ chế; có công trình nghiên cứu ở phạm vi quốc gia, khu v c hoặc toàn cầu… D a vào đặc thù của các công trình mà tác giả chia thành ba nhóm chủ yếu: (1) các công trình nghiên cứu tổng thể liên quan tới cơ chế bảo vệ QCN; (2) các công trình nghiên cứu liên quan đến thể chế bảo vệ QCN; (3) các công trình nghiên cứu về thiết chế bảo

vệ QCN Luận án sẽ phân tích những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề cơ chế, thể chế và thiết chế bảo vệ QCN ở trong và ngoài nước, qua đó xác định các vấn đề đã được làm sáng tỏ trong cơ chế bảo vệ QCN và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, khẳng định s cần thiết của đề tài cả về mặt lý luận và th c tiễn

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền con người

Trước nhất, là các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ QCN của các tác giả nước ngoài:

Hội đồng châu Âu năm 1999, xuất bản Sách European Social Charter – The

charter, its protocols, the revised charter (Hiến chương xã hội châu Âu – Hiến

chương, những nghị định thư của nó, sửa đổi Hiến chương), đã giới thiệu ngắn gọn

về cơ chế bảo vệ các quyền kinh tế - xã hội của châu Âu, gồm nội dung các quyền kinh tế - xã hội và hệ thống giám sát báo cáo quốc gia (hoạt động của Ủy ban 9 chuyên gia độc lập; Ủy ban Chính phủ; Ủy ban Bộ trưởng) cùng thủ tục khiếu nại

Trang 19

tập thể nâng cao hiệu quả cho cơ chế giám sát của Hiến chương bằng việc cho phép khiếu nại tập thể cáo buộc vi phạm; đồng thời cuốn sách cũng chỉ ra rằng những kết luận của các chuyên gia độc lập có giá trị trong việc tổ chức các cuộc tranh luận về các chính sách xã hội định k ; việc sửa đổi và xây d ng những Nghị định thư bổ sung cho thấy s thay đổi tích c c, mức độ quan tâm kịp thời của đa số các quốc gia châu Âu trong bảo vệ và thúc đẩy QCN Tuy nhiên cuốn sách chỉ mang tính giới thiệu, tuyên truyền mà chưa chỉ ra những hạn chế, khó khăn của người dân và các tổ chức ở mỗi quốc gia khi th c hiện cơ chế bảo vệ QCN này

Tác giả Rhona K.M Smith, năm 2015 đã xuất bản Giáo trình Textbook on

International Human Rights (Giáo trình về Quyền con người quốc tế, NXB đại học

Oxford, tái bản lần thứ 5 năm 2015) Tài liệu phân tích cả lý luận và th c tiễn còn tranh cãi, để ngỏ của vấn đề QCN nói chung, chỉ dành một phần phân tích về bảo vệ QCN ở quốc tế, khu v c; đánh giá tính hiệu quả và hạn chế của hệ thống bảo vệ QCN

ở quốc tế và khu v c; thể hiện quan điểm bảo vệ QCN cần công cụ là các công ước ghi nhận quyền c ng các cơ quan – bộ máy th c thi, bảo vệ quyền Cuốn giáo trình

đã mở ra một phương pháp tư duy để tiếp tục nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN

Cuốn sách Human rights Monitoring a Field Mission Manual, của tác giả Anette Faye Jacobsen viết năm 2008 Cung cấp vấn đề lý luận và th c tiễn về giám

sát QCN, như khái niệm giám sát, phương pháp giám sát, kỹ thuật giám sát, phân tích những thuật ngữ thường d ng trong lĩnh v c QCN; sau đó là cung cấp những thông tin tổng quan về pháp luật nhân quyền và kỹ thuật giám sát cơ bản trong th c tiễn, tập trung ở một số lĩnh v c quan trọng nhất cho các chủ thể th c hiện giám sát QCN Mặc dù tài liệu không tr c diện bàn về cơ chế bảo vệ quyền nhưng vấn đề giám sát th c hiện QCN được bàn đến tương đối chuyên sâu, là cơ sở lý luận, tư duy cho tác giả tiếp cận vấn đề cơ chế bảo vệ QCN

Các tác giả Gudmundur Alfredsson - Jonas Grimheder- Bertrand G Ramcharan

and Alfred Zayas đã biên soạn Sách chuyên khảo International Human Rights

Monitoring Mechanisms, Essays in Honour of Jakob Th Möller (Cơ chế giám sát

nhân quyền quốc tế, bài viết tôn vinh Jakob Th Möller), NXB Martinus Nijhoff

Trang 20

Publishers, tái bản lần 2, năm 2009 Tập hợp những chuyên đề, bài viết về các tổ chức và thủ tục th c hiện QCN của quốc gia; việc giám sát quốc tế đối với nghĩa vụ

th c thi nhân quyền của quốc gia; theo đó đề cập tới hoạt động của các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ về khiếu nại, điều tra th c tế, nghĩa vụ báo cáo của nhà nước, hành động tích c c của các cơ quan phổ biến và giáo dục nhân quyền, hoạt

động hợp tác kỹ thuật trong bảo vệ QCN Có thể nói cuốn sách lấy t a đề là Cơ chế

giám sát quốc tế về nhân quyền nhưng chỉ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề về

chủ thể giám sát, thủ tục giám sát, bảo vệ các QCN, đó là các thủ tục xử lý, phòng ngừa các vi phạm, chứ không tập trung bàn về luật nội dung của các QCN; và do là tập hợp các bài viết, chuyên đề nên tính hệ thống về cơ chế giám sát QCN chưa cao Song tài liệu giúp tác giả tiếp tục phát triển nghiên cứu về thiết chế cũng như cơ chế bảo vệ QCN nói chung

Tác giả Anthony E Cassimatis đã viết Sách Human Rights Related Trade

Measures under International Law (Quyền con người quan hệ với các biện pháp

thương mại theo luật quốc tế), NXB Martinus Nijhoff, 2007 Cuốn sách gồm 8 chương với mục tiêu làm rõ mối quan hệ giữa phát triển thương mại với bảo vệ QCN, tại chương 2, việc bảo vệ QCN trong lĩnh v c thương mại được phân tích bao gồm các quy tắc pháp lý, thủ tục và các tổ chức có liên quan đến bảo vệ QCN, nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm nhân quyền của quốc gia trong quan hệ với cơ chế bảo đảm nhân quyền quốc tế thuộc lĩnh v c thương mại Mặc dù tác giả chỉ tập trung nghiên cứu bảo vệ nhân quyền ở khía cạnh phát triển thương mại, song lại làm cơ sở nhận thức về cơ chế bảo vệ QCN nói chung, cũng như khẳng định tính đa ngành của việc bảo vệ QCN

Tác giả Tom Campbell và Seumas Miller chủ biên cuốn Sách Human rights

and the moral responsibilities of corporate and public sector organization (Quyền

con người và trách nhiệm đạo đức của các tổ chức ở lĩnh v c công cộng và doanh nghiệp), NXB Kluwer Academic Publishers, năm 2004 cho rằng việc ghi nhận bằng pháp luật với trách nhiệm của nhà nước về QCN thôi chưa đủ để bảo đảm, bảo vệ QCN, mà cần đến cả trách nhiệm đạo đức đối với QCN của các tổ chức cả ở lĩnh

v c công và tư nhân – nghĩa là bên cạnh trách nhiệm pháp lý của các tổ chức về

Trang 21

QCN thì trách nhiệm đạo đức sẽ bảo đảm, bảo vệ hiệu quả và đầy đủ hơn cho các QCN Điều này gợi mở ra cái nhìn rộng hơn, cũng như hướng nghiên cứu rộng hơn, đầy đủ hơn, cụ thể hơn về cơ chế bảo vệ QCN

Các công trình nghiên cứu nêu trên của các tác giả nước ngoài hoặc tr c tiếp hoặc gián tiếp bàn luận về cơ chế bảo vệ QCN; hoặc chỉ là các khía cạnh liên quan tới cơ chế bảo vệ QCN, song đa số các tác giả không đi vào phân tích tính lý luận về cơ chế bảo vệ QCN mà tr c tiếp nghiên cứu các quy định pháp luật và hệ thống cơ quan công quyền, tổ chức, cá nhân c ng trình t thủ tục bảo đảm th c hiện và bảo vệ QCN phương diện khác, với kết cấu nội dung của các công trình, thì các nhà nghiên cứu tập trung nhiều hơn vào phân tích về việc bảo đảm

th c hiện QCN, hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân với quy trình, thủ tục bảo đảm hơn là vấn đề bảo vệ QCN

Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế bảo vệ QCN của các tác giả trong nước

Tại Việt Nam, bảo vệ QCN là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và toàn dân tộc, QCN được xác định gắn liền với quyền dân tộc, bảo vệ QCN Việt Nam trước nhất là phải bảo vệ quyền độc lập dân tộc Chính vì vậy, trong thời k chiến tranh, tiếp đó là thời k của nền kinh tế tập trung và ảnh hưởng của chiến tranh lạnh, Việt Nam luôn trong tâm thế phải nỗ l c đấu tranh, đề phòng, cảnh giác với s chống phá của các thế l c khác – th c hiện diễn biến hòa bình, lợi dụng vấn đề nhân quyền làm mũi nhọn tấn công vào cách mạng Việt Nam Vì vậy, vấn đề QCN với những giá trị tốt đẹp vốn có của nó (đã có sẵn trong mục tiêu và hành trình lịch sử của Việt Nam) mới được bắt đầu quan tâm nghiên cứu dưới góc độ pháp lý khoảng 30 năm gần đây Nhưng s quan tâm nhiều hơn ở phạm vi rộng, mức độ sâu, quy mô lớn hơn chỉ khoảng 20 năm về trước gắn với s ra đời của Hiến pháp

năm 1992 – mặc dù Hiến pháp chỉ ghi nhận rất khiêm tốn tại Điều 50: quyền con

người được thể hiện trong các quyền công dân; và với cường độ, số lượng đặc biệt

lớn các nghiên cứu xuất hiện ngay trước và liền sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua [48, tr.55-57]

Trang 22

Tuy nhiên, các công trình ban đầu tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ quan điểm, lịch sử phát triển tư tưởng về QCN, nội hàm của QCN, mối quan hệ, tương tác, tầm ảnh hưởng của QCN tới các vấn đề khác nhau trong xã hội [74; 70, tr.23]; tiếp đó, nhiều nghiên cứu QCN gắn với những lĩnh v c cụ thể, như môi trường, giáo dục, cải cách hành chính, quyền và lợi ích của người lao động, quyền của bị can, bị cáo , các công trình này thường dành một phần, một chương nghiên cứu về một khía cạnh nào đó của cơ chế bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy QCN Tiếp theo những nghiên cứu về nội dung QCN là những công trình nghiên cứu liên quan tới cơ chế bảo vệ QCN như: bảo vệ QCN bằng hệ thống quy định pháp luật, bằng hệ thống cơ quan, tổ chức với các trình t thủ tục luật định

Do có phạm vi rộng cũng như tính phức hợp các thành tố của cơ chế bảo vệ QCN, nên tổng quan các công trình nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN cũng đa dạng

về các khía cạnh và mức độ Có công trình đặt ra nghiên cứu tổng thể cả về cơ chế bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN, có nhiều công trình lại chỉ nghiên cứu ở những khía cạnh nhất định trong cơ chế bảo vệ QCN Vậy nên tác giả tập hợp, phân tích các công trình trong nước về cơ chế bảo vệ QCN như sau:

Trước nhất, nghiên cứu về “cơ chế” trong khoa học pháp lý cần kể tới Giáo

trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội đã

được xuất bản từ năm 1989, sau nhiều lần sửa đổi bổ sung và cuốn soạn mới gần

đây nhất năm 2016, có chương XXI bàn về cơ chế điều chỉnh pháp luật Giáo trình

Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

do GS.TS Hoàng Thị Kim Quế Chủ biên, năm 2005, chương XXIV cũng bàn về cơ

chế điều chỉnh pháp luật Hai cuốn giáo trình đều cho rằng cơ chế điều chỉnh pháp

luật được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau và là khái niệm phức tạp, gồm hệ thống nhiều thành tố: quy phạm pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật, các quan

hệ pháp luật, hành vi th c hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý, các chủ thể điều

chỉnh… Hai tài liệu này đưa ra nền tảng lý luận tư duy về cơ chế trong khoa học

pháp lý, song lại chưa quan tâm bàn luận nhiều về: quan điểm, chính sách làm gốc

rễ, nền tảng cho các quy phạm và các thiết chế hoạt động

Trang 23

Giáo trình, Sách chuyên khảo, Kỷ yếu hội thảo về QCN tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo cũng dành một phần hoặc một chương bàn về cơ chế bảo đảm, bảo

vệ và thúc đẩy QCN Cụ thể:

- Khởi đầu là Học viện Nguyễn i Quốc, năm 1989 – 1992 đã nghiên cứu

đề tài khoa học quốc tế “Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền”; năm 1993 đã th c hiện

Hội thảo khoa học về Nhân quyền, dân quyền phương Đông và phương Tây gắn với đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, mã số KX 07-16 “Quyền con người,

quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước”, trong đó tác giả Chu Hồng

Thanh đã viết bài “Các điều kiện bảo đảm quyền con người, quyền công dân” Sách “Quyền con người và Luật quốc tế về quyền con người, nhà xuất bản Chính

trị Quốc gia năm 1997, có dành 21 trang để bàn về cơ chế bảo vệ quyền con

người, nhưng chủ yếu là “Cơ chế bảo đảm quyền con người thông qua luật quốc

tế” Năm 2004, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh hợp tác cùng tác giả Gunther Doeker-Mach, năm 2004, biên soạn

cuốn Sách “Quyền con người, lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và Ôt-xtrây-lia”,

tập hợp các bài viết có liên quan đến cơ chế bảo vệ QCN, trong đó bài: “Cơ chế bảo vệ QCN ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, xác định cơ chế bảo

vệ QCN gồm hệ thống các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể và những nguyên tắc trong đường lối của Đảng, pháp luật về bảo vệ QCN ở Việt Nam Tài liệu này

đã khái quát tương đối đầy đủ về các thành tố của cơ chế bảo vệ quyền, song trong khuôn khổ một bài viết thì chưa đi sâu phân tích đủ các thành tố mà tập trung vào vấn đề thiết chế

- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, xuất bản Giáo trình Lý

luận và pháp luật về quyền con người, đồng tác giả Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công

Giao – Lã Khánh Tùng, tái bản lần thứ nhất năm 2012, các tác giả Chu Hồng Thanh

- Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng sửa đổi, bổ sung cho tái bản lần thứ hai năm

2015; 02 Sách tham khảo: Luật nhân quyền quốc tế - những vấn đề cơ bản của tác giả Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng, xuất bản năm 2010; Bảo vệ và thúc đẩy quyền

con người trong khu vực ASEAN, xuất bản năm 2012 của tác giả Nguyễn Đăng

Trang 24

Dung và Phạm Hồng Thái – đã dành một phần bàn luận về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN theo luật quốc tế, ở phạm vi quốc tế, khu v c, quốc gia nhưng chỉ với s tập trung xem xét đến các cơ quan nhân quyền, các tổ chức xã hội dân s (NGOs) cùng các nguyên tắc và quy trình thủ tục hoạt động của nó

- Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam năm 2003, tác giả Võ Khánh Vinh xuất

bản Sách Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta

hiện nay có đưa ra khái niệm cơ chế là tổng thể các đảm bảo vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó Đến năm 2011, tác giả Võ Khánh Vinh cũng Chủ biên Giáo trình

(giảng dạy sau đại học) Quyền con người có nghiên cứu về cơ chế pháp lý bảo vệ

QCN là hoạt động của hệ thống cơ quan, tổ chức cùng các trình t thủ tục bảo vệ

QCN; đặc biệt là cuốn Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, - cuốn sách đầu

tiên chuyên biệt nghiên cứu cơ chế bảo đảm và bảo vệ QCN, tập hợp các bài viết bàn luận về cơ chế bảo đảm và bảo vệ QCN, những yếu tố tác động đến cơ chế bảo đảm và bảo vệ QCN, cơ chế bảo vệ QCN ở quốc tế, khu v c, quốc gia và ở một số lĩnh v c nhất định Do tài liệu là s tập hợp của các bài viết nên tính hệ thống, kết cấu chỉnh thể về cơ chế bảo vệ QCN chưa cao, thời lượng dành cho nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền chưa nhiều, chưa có phân biệt giữa việc bảo đảm và bảo vệ QCN

- Viện Nghiên cứu QCN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đồng tác giả Đặng Dũng Chí, Hoàng Văn Nghĩa, Nguyễn Thanh Tuấn biên soạn Sách

Quyền con người, lý luận và thực tiễn, NXB Lý luận Chính trị, năm 2014, tập hợp

các bài viết về QCN, trong đó có nội dung bàn về lý luận và th c tiễn bảo đảm QCN ở Việt Nam Đến năm 2015, trong chương trình hợp tác với Quỹ hợp tác pháp luật quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức, Viện Nghiên cứu QCN cũng đã biên

soạn cuốn Cơ chế bảo hiến và quyền con người – kinh nghiệm Cộng hòa Liên

bang Đức và Việt Nam Cuốn sách cũng là tập hợp những bài viết của các tác giả

tập trung bàn luận vai trò của hiến pháp, pháp luật và hệ thống các thiết chế nhà nước trong bảo vệ QCN

Trang 25

Năm 2014 nhóm nghiên cứu của tác giả B i Đức Hiển, Viện Nhà nước và

Pháp luật đã th c hiện đề tài cấp Viện về Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền

được sống trong môi trường trong lành” có mục phân tích về lý luận “cơ chế, cơ

chế pháp lý” Cũng năm 2014, tác giả Chử Thị Nhuần của Viện Nghiên cứu châu

Âu thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu đề tài cấp Viện:

Quan niệm và lịch sử phát triển về quyền con người ở châu Âu Đề tài đã phân tích

lịch sử phát triển QCN ở châu Âu nói chung, trong đó dành một phần nghiên cứu về

cơ chế bảo đảm QCN, xác định cơ chế bảo đảm quyền gồm có hệ thống các quy định pháp luật và các thiết chế bảo đảm QCN

Năm 2015 Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”, nhà xuất bản Công an nhân dân, đã

có nhiều bài viết tiếp cận vấn đề cơ chế bảo vệ quyền con người, trong đó bài

viết của Chu Hồng Thanh “Hiến pháp năm 2013 với việc thực thi các điều ước

quốc tế về quyền con người ở Việt Nam” cũng đã tiếp cận vấn đề này, tuy nhiên

các bài viết trong cuốn sách đã xem xét vấn đề bảo vệ quyền dưới giác độ yêu cầu của Hiến pháp mới

Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015, trong chương trình hợp tác với Bộ

Ngoại giao Việt Nam và UNDP đã tiến hành Hội thảo khoa học với tiêu đề: Cơ

quan nhân quyền quốc gia, thực tiễn quốc tế và bài học kinh nghiệm với Việt Nam

Theo đó, tác giả Chu Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân và Lê Thị Anh Đào với tham luận “Cơ chế bảo đảm quyền con người – Vị trí, vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia”; “Cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam” đã

thống nhất quan điểm cơ chế bảo đảm quyền con người là hệ thống các nguyên tắc,

quy phạm pháp luật, các thiết chế và mối quan hệ giữa chúng và tập trung phân tích

về các thiết chế bảo vệ QCN, việc bảo đảm QCN của hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội, xã hội

Trong những năm qua, có khá nhiều bài viết tạp chí nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền, song do tính chất và khuôn khổ của một bài viết nên vấn đề thường dừng lại ở mức rất khái quát, hoặc chỉ tập trung ở một khía cạnh nào đó của cơ chế

Trang 26

bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN Cụ thể, năm 2000, tác giả Lê Minh Thông có bài

“Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta” Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật số tháng 8; tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân viết bài “Khái niệm và các

yếu tố cấu thành của cơ chế th c hiện điều ước quốc tế về quyền con người", Tạp

chí Luật học số 6/2010; cả hai tác giả đều xác định cơ chế là khái niệm hợp thành

của nhiều yếu tố pháp lý Trong lĩnh v c tố tụng dân s , tác giả Nguyễn Quang Hiền có bài viết “Th c hiện chế độ hai cấp xét xử - cơ chế bảo vệ quyền con người

trong tố tụng dân s ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8/2010, nghiên cứu s ảnh

hưởng của những quy định pháp lý tố tụng dân s tới bảo vệ QCN và những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp lý đó Các tác giả Đinh Thế Hùng và Trần Xuân Thái

có nghiên cứu “Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án”, Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật số 6/2011, nghiên cứu khái quát khái niệm cơ chế, cơ chế bảo vệ QCN

nói chung và cơ chế bảo vệ QCN bằng tòa án Tác giả Phạm Văn H ng, có bài

“Hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp – tiếp cận từ quyền

t do và an ninh cá nhân” cho rằng cơ chế bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN là việc đặt ra quy định pháp luật trao quyền và xử lý vi phạm QCN bằng pháp luật hình s ,

tố tụng hình s và pháp luật hành chính Tác giả Chử Thị Nhuần nghiên cứu khía cạnh “Cơ chế bảo đảm quyền con người ở châu Âu hiện nay và một số hàm ý chính

sách cho Việt Nam”, Tạp chí Viện Nghiên cứu châu Âu số 12/2014, xác định cơ chế

bảo đảm các quyền con người gồm hoàn thiện thể chế, xây d ng hệ thống văn bản pháp luật, thành lập các cơ quan độc lập với các cơ quan nhà nước để giám sát, th c thi quyền con người

Một số tác giả phân tích về cơ chế bảo vệ QCN tiếp cận trên cơ sở quan điểm

và những chuẩn m c của quốc tế: Tác giả Định Thị Mai viết bài “Cơ chế quốc tế,

khu v c và quốc gia về bảo vệ quyền của người bị hại”, Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật số 3 năm 2012 xác định khái niệm cơ chế bảo vệ QCN là bộ máy cơ quan

chuyên trách và hệ thống các quy định, thủ tục bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN, phân tích ở phạm vi quốc tế, khu v c châu Âu, châu Mỹ, châu Á Tác giả Trần Hữu Tráng có bài viết tiếp cận dưới góc độ “Bảo đảm và bảo vệ quyền con người của

Trang 27

nạn nhân của tội phạm”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 4,5/2012 Tác giả Ngô Thị

Bích Quyên với bài “ Các cơ chế của Liên hợp quốc về bảo vệ và thúc đẩy quyền

con người”, Tạp chí Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số 12/2012; tác giả Hoàng Văn

Nghĩa viết bài “Nguyên tắc Paris và các cơ chế bảo đảm nhân quyền quốc gia trên

thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4/2013 Tác giả Vũ Công Giao và

Nguyễn Minh Tâm có nghiên cứu về “quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền công

dân theo Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11, T6/2015

Năm 2013, Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hưng Bình về Bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có

xác định tổng thể quy định ghi nhận bảo vệ QCN, quá trình vật chất hóa, đưa các

quy định đó vào trong thực tiễn bằng các cách thức, các bảo đảm khác nhau như vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức chính là cơ chế bảo vệ QCN

cấp độ Luận văn Thạc sĩ Luật học, phát huy tinh thần Hiến pháp năm

2013, một số tác giả cũng đã l a chọn nghiên cứu về cơ chế pháp lý bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy QCN, song các phân tích vấn đề ở mức rất khái quát, ngắn gọn, chưa chỉ ra được s khác nhau giữa lý luận về bảo vệ và thúc đẩy, bảo đảm QCN

Có thể kể ra: tác giả Nguyễn Mạnh Tường năm 2013 đã nghiên cứu về “Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền khu v c ASEAN: Th c trạng, viễn cảnh và tác

động của nó đến Việt Nam”; tác giả Lê Thu Hằng năm 2013, nghiên cứu về

“Quyền con người và đảm bảo quyền con người ở Việt Nam” có bàn về cơ chế pháp lý bảo đảm QCN với hệ thống quy phạm pháp luật và cơ quan th c thi; tác giả Trần Quốc Thao năm 2014 có nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về d trữ quốc gia” đưa ra nhận thức lý luận về cơ chế; tác giả Bùi Minh

Th y năm 2014 nghiên cứu “Cơ chế giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển theo luật quốc tế và th c tiễn giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và các quốc gia”; tác giả Nguyễn Thị Yến năm 2015 nghiên cứu về “Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013”… Về cơ bản các tác giả nghiên cứu đều cho rằng cơ chế bảo vệ QCN gồm hệ thống quy định pháp luật

và cơ quan th c thi, bảo vệ các QCN

Trang 28

Như vậy, cho đến nay, chưa có các công trình là sách chuyên khảo, giáo trình,

đề tài tập trung chuyên sâu nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN Các công trình hiện có chỉ dành một phần nhỏ bàn về cơ chế bảo đảm QCN; hoặc tài liệu là s tập hợp các bài viết của các tác giả, chưa được nghiên cứu theo kết cấu chặt chẽ của các phần, chương, mục trong một cuốn sách Các đề tài chủ yếu tập trung bàn luận về hệ thống các cơ quan, tổ chức và các quy trình, thủ tục để các cơ quan tổ chức này tham gia bảo đảm QCN Các công trình nghiên cứu liên quan khác chủ yếu gắn tất cả các vấn

đề bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN; hoặc nghiên cứu đa dạng các khía cạnh khác nhau liên quan đến cơ chế bảo vệ QCN Quan điểm về cơ chế bảo vệ QCN chưa có

s thống nhất Với quốc tế, chủ yếu xác định cơ chế bảo vệ QCN gồm hệ thống cơ quan, tổ chức với các trình t thủ tục bảo vệ QCN; ở Việt Nam xuất hiện quan điểm với phạm vi rộng hơn, gồm cả các quy định pháp luật, các cơ quan, tổ chức và trình

t thủ tục của các cơ quan này về bảo vệ QCN

1.2 Các công trình nghiên cứu về thể chế bảo vệ quyền con người

1.2.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Luận án tập trung nghiên cứu một số công trình của các tác giả nước ngoài

tr c tiếp liên quan tới thể chế (quan điểm, tư tưởng, pháp luật) bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu như sau:

Tác giả Stig Handenius và Sweden Institute, năm 1990 đã tái bản lần thứ ba,

có sửa đổi cuốn Swedish Politics During the 20th Century, Printed in Sweden by

Centraltryckeriet (Chính trị ở Thụy Điển trong thế kỷ XX) Cuốn sách gồm 12 vấn

đề sắp xếp theo trật t lịch sử phát triển của Thụy Điển từ đầu thế kỷ XX đến đầu thập niên 1990, đã phân tích, bình luận dưới góc độ khoa học những thành t u và mặt trái của toàn bộ đời sống chính trị ở Thụy Điển trong suốt thế kỷ XX và chỉ ra

xu hướng vận động, phát triển của “mô hình Thụy Điển” trong tương lai Mặc d tài liệu tập trung về vấn đề chính trị song là cơ sở phản ánh chính sách, quan điểm về QCN, bảo vệ QCN ở Thụy Điển, cũng như việc đưa ra nhận xét về thành t u hoặc

hạn chế đối với chính sách và thành t u bảo vệ QCN của Thụy Điển

Giáo sư Ngô Giang (nguyên Viện trưởng Học viện Chủ nghĩa xã hội Trung

Trang 29

ương, thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc), viết bài “Khảo sát về Chủ

nghĩa xã hội kiểu Thụy Điển (P1)”, đăng trên Tạp chí Chủ nghĩa Mác và Hiện

thực số tháng 3/2002 của Trung Quốc, được tác giả Nguyễn Hải Hoành biên dịch và

chú thích lại trên trang http://nghiencuuquocte.org ngày 03 tháng 06 năm 2015 đã khảo cứu lý thuyết cũng như th c tiễn xây d ng và phát triển đất nước Thụy Điển theo hướng Nhà nước dân chủ, phục vụ nhân dân, bảo đảm và bảo vệ các QCN với những giá trị phúc lợi xã hội và hoạt động minh bạch, trong sạch của công quyền trước xã hội… Bài viết làm sáng tỏ về lý luận và th c tiễn quan điểm, tư tưởng, mục tiêu hoạt động th c tiễn của Nhà nước Thụy Điển trong s nghiệp tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ những giá trị QCN của người dân Thụy Điển

Tác giả Jaakko Husa của Khoa Luật, Đại học Helsinki, năm 2010 viết bài

“Nordic Constitutionalism and European Human Rights – Mixing Oil and Water”,

Tạp chí Scandinavian Studies In Law, Vol 55 (Chủ nghĩa lập hiến Bắc Âu và

Quyền con người châu Âu - s pha trộn giữa dầu và nước) đã phân tích điểm tương đồng, những mâu thu n, xung đột về tâm lý, quan điểm tới văn hóa pháp lý các quốc gia Bắc Âu so với châu Âu và Anh quốc trên cơ sở các bản Hiến pháp, hoạt động của Tòa án tư pháp các quốc gia trong mối quan hệ với Tòa án Nhân quyền châu Âu (ECtHR), qua một số vụ việc được giải quyết tại Tòa án các quốc gia Bắc Âu và ECtHR, đồng thời làm sáng tỏ đặc trưng pháp luật các quốc gia Bắc

Âu trong mối liên hệ với chính trị nói chung và nội tại các quốc gia phía đông, phía tây Bắc Âu

Báo cáo kiểm điểm định k theo cơ chế UPR của Hội đồng nhân quyền LHQ (UNHRC) và Văn phòng Cao ủy LHQ (OHCHR) là tài liệu có tính khách quan, đa chiều phản ánh th c trạng quan điểm, tư tưởng, nội dung pháp lý các QCN c ng hệ thống cơ quan tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ QCN, xu hướng vận động, phát triển, ưu điểm, hạn chế về QCN ở các quốc gia Bắc Âu cũng như Việt Nam Tài liệu

là căn cứ để khảo cứu th c tế và đưa ra những đánh giá, nhận định về hiện trạng cơ chế bảo chế bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu

Báo cáo quốc gia về th c tiễn nhân quyền của Ủy ban Quan hệ đối ngoại và

Trang 30

Ủy ban Ngoại giao Hoa K năm 1992 được th c hiện theo quy định tại mục 116 (d), mục 502(b) của Đạo luật Hỗ trợ nước ngoài năm 1961 đã sửa đổi và những yêu cầu về lập pháp tại mục 505 (c) của Đạo luật Thương mại năm 1974, đã sửa đổi Báo cáo nghiên cứu về th c tiễn nhân quyền của các quốc gia là thành viên LHQ và không là thành viên LHQ, trong phạm vi ở tất cả các châu lục, với độ dài

1193 trang Mục đích của báo cáo là hỗ trợ thành viên Quốc hội trong hoạt động xem xét, nghiên cứu lập pháp, đặc biệt là với Luật hỗ trợ nước ngoài Báo cáo đã phân tích khái quát, căn bản nhất những đặc trưng pháp luật về nhân quyền và kết quả quá trình th c thi các quyền này, trong báo cáo có đề cập tới trường hợp của Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Iceland Tương t , tác giả cũng tập hợp các báo cáo những năm gần đây (từ năm 2013 đến năm 2016) có nội dung về hệ thống pháp luật, hoạt động, thái độ của nhà chức trách, hiệu quả hoạt động bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu

PGS.TS Catherine Jacqueson của Đại học Copenhagen năm 2015 viết bài

“Accessing social rights in the EU, Report on Denmark” (Tiếp cận quyền xã hội của châu Âu, báo cáo về Đan Mạch) phân tích quan điểm cởi mở của Chính phủ Đan Mạch khi xem các công ước quốc tế về nhân quyền nói chung là nguồn luật có thể viện d n áp dụng tại các Tòa án Đan Mạch mà không cần phải quy định ở luật trong nước, song cũng có băn khoăn của các nhà chức trách Đan Mạch rằng việc này có thể làm ảnh hưởng tới giá trị vốn có trong xã hội của họ Bài viết đã gợi mở hướng mới cho nghiên cứu về hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về QCN

Tác giả Karin M Bruzelius (nguyên Thẩm phán Toà án tối cao Na Uy), năm

2015 đã có bài viết “The Nordic Constitutions and judicial review” (Các bản hiến pháp Bắc Âu và việc rà soát, giám sát của tư pháp) – bài viết d a trên cơ sở bài luận giảng của giáo sư Fredrik Sejersted tại Hội nghị lần thứ 40 của các Luật sư Bắc Âu ngày 21 tháng 8 năm 2014 Nội dung bài viết nghiên cứu kết cấu, s khác biệt về nội dung, số lượng điều luật của các bản Hiến pháp Bắc Âu và th c tiễn th c hiện các bản hiến pháp này qua hoạt động của toà án, theo đó khẳng định Hiến pháp Bắc

Âu chưa khi nào quy định thành lập Toà án bảo hiến nhưng Toà án ở thời k hiện

Trang 31

đại đã v n rà soát tính hợp hiến của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khẳng định vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ các giá trị QCN qua việc bảo vệ để hiến pháp không thể bị vi phạm

1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

Đi tiên phong trong nghiên cứu về quan điểm, tư tưởng bảo vệ QCN ở Việt Nam là Học viện Nguyễn i Quốc, Viện Nghiên cứu QCN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đây là cơ sở có nhiều tác giả đã nghiên cứu về quan điểm,

tư tưởng QCN và bảo vệ QCN, cụ thể: Học viện Nguyễn i Quốc, năm 1989-1992

đã th c hiện Đề tài khoa học quốc tế (liên quan đến các nước XHCN, Đảng Cộng

sản và công nhân quốc tế) Chủ nghĩa xã hội và Nhân quyền, thể hiện nhân quyền

chính là giá trị mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội Tác giả Hoàng Văn Hảo, năm 1993,

qua Đề tài nghiên cứu KX 07 – 16, “Quyền con người, quyền công dân trong sự

nghiệp đổi mới đất nước” đã tổ chức Hội thảo “Nhân quyền, dân quyền phương Đông và phương Tây” và biên dịch tài liệu “Những vấn đề bảo vệ quyền con người

ở châu Âu thống nhất” và “Bảo vệ quyền con người trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường” thể hiện quan điểm, th c tiễn cải cách việc bảo vệ QCN bằng tòa án ở châu Âu Tác giả Chu Hồng Thanh năm 1993 đã nghiên cứu Đề tài

cấp Viện: C.Mác Ph ngghen bàn về quyền con người; năm 1995 viết bài “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, Tạp chí Luật học tháng 9 &

10, số 5; năm 1997 viết bài “Công ước quốc tê về các quyền dân s và chính trị”,

Tạp chí Luật học tháng 7 & 8, số 4; đồng thời xuất bản sách Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người Tác giả Cao Đức Thái đã có những nghiên cứu chỉ

ra quan điểm nền tảng về QCN như: Tham luận “Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người” trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Hiến pháp, pháp luật và quyền con người, kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển”, năm 2000; bài “Tư tưởng quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trong

cuốn Tài liệu tham khảo Luật quốc tế về quyền con người, năm 2005; bài viết

“Những đóng góp có ý nghĩa thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con

người”, Tạp chí Đảng Cộng Sản online, ngày 6/5/2009 Cũng trong cuốn Luật quốc

Trang 32

tế về quyền con người, Bộ Ngoại giao Việt Nam có bài “Thành t u bảo vệ quyền

con người ở Việt Nam”; năm 2005, Bộ Ngoại giao đã xuất bản Sách trắng: Cuốn

sách thành tựu về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, khẳng định quan điểm,

chính sách, thành t u bảo đảm QCN ở các lĩnh v c khác nhau của Việt Nam

Năm 2007, tác giả Nguyễn Đức Thùy của Viện Nghiên cứu nhân quyền, đã

chủ trì Đề tài cấp bộ, Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền

con người và ý nghĩa với Việt Nam hiện nay, mã số B07-14, có phân tích cơ sở lý

luận và phương pháp luận về các quan điểm và chính sách nhân quyền XHCN ở Việt Nam và chỉ ra những thách thức trong bảo đảm QCN hiện nay

Tại Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, các tác giả: Mai Hồng Qu đã biên soạn

cuốn Hành trình của quyền con người (những quan điểm kinh điển và hiện đại), năm

2010, ở chương V đã tập hợp quan điểm bảo đảm QCN của rất nhiều các học giả trên

thế giới; tác giả Nguyễn Hu nh Bảo Khanh trong sách chuyên khảo Bảo đảm quyền

con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Chủ biên Võ Thị Kim Oanh, năm 2010,

có viết bài “Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học và vấn đề bảo vệ quyền con người” đã chỉ ra quan điểm bảo vệ QCN trong so sánh với quan điểm của Thụy Điển

Năm 2014, Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính Phủ và Tỉnh Quảng Ninh

có Tài liệu Hội nghị tập huấn Công tác nhân quyền năm 2014, đã phân tích rõ quan

điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về QCN, bảo đảm QCN, vấn đề thể chế và vấn đề nhân quyền trong tình hình mới

phạm vi các Tạp chí chuyên ngành luật có thể kể ra các công trình nghiên cứu như sau: tác giả Phạm Hồng Hải đã viết bài “Mấy ý kiến về vấn đề bảo vệ QCN

trong tố tụng hình s ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/1998, khẳng định bảo vệ quyền chính là phòng ngừa và chống lại s tấn công Tác giả Nguyễn

Quang Hiền của Đại học Luật TP Hồ Chí Minh có viết “Pháp luật – phương tiện

quan trọng bảo vệ quyền con người”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 1/2004 khẳng

định vai trò của pháp luật trong bảo vệ QCN cùng những điều kiện kinh tế, chính

trị, văn hóa bảo đảm QCN; tác giả Vũ Ngọc Dương và Mai Hải Đăng với bài “Bảo

vệ quyền của người phụ nữ qua so sánh Bộ luật hình s Trung Quốc và Việt Nam”,

Trang 33

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2011, cho rằng bảo vệ QCN là việc ghi nhận

quyền trong luật Tác giả Nguyễn Hồng Bắc với bài “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ

em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học – Đặc san phụ

nữ số 3/2014, xác định bảo vệ QCN gồm có tư tưởng và ghi nhận, nội luật hóa tư

tưởng bảo vệ quyền đó thành luật Tác giả Đặng Công Cường viết bài “Vai trò của

Tòa án quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số

1/2014 Tác giả Hoàng Hùng Hải viết bài “Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ

quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật số 2/2015, theo đó, tòa án bảo vệ QCN bằng: mục tiêu công bằng, công lý, quy

trình thủ tục, phòng, chống, ngăn ngừa, trừng phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp Tác giả Đoàn Thu Yến của Đoàn luật sư Hà Nội có nghiên cứu “Cần thiết của Luật

sư trong bảo vệ QCN trong pháp luật tố tụng” Tạp chí Quản lý nhà nước, số 224 (T9/2014), phân tích vai trò bảo vệ QCN của luật sư Tác giả Trần Thị Liên trong

luận văn Thạc sĩ Luật học 2014 nghiên cứu “Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em trong điều kiện hiện nay ở Việt nam”, bàn về bảo vệ QCN gắn với các quyền của trẻ em

Như vậy, các công trình nghiên cứu về quan điểm, tư tưởng và pháp luật bảo

vệ QCN của các học giả nước ngoài cơ bản đã phản ánh căn bản về tư tưởng, quan điểm, pháp luật bảo vệ QCN ở các quốc gia Bắc Âu với những nét đặc trưng của khu v c cũng như mối quan hệ quốc tế; các công trình nghiên cứu ở trong nước mới chỉ bắt đầu từ khoảng năm 1990, nhiều nhất khoảng từ năm 2010 lại đây Các nghiên cứu về quan điểm, tư tưởng, pháp luật bảo vệ QCN dưới những giác độ, mức

độ khác nhau, song luôn phản ánh quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách, pháp luật của Việt Nam

1.3 Các công trình nghiên cứu về thiết chế bảo vệ quyền con người

Trong nhóm này, luận án tập hợp các nghiên cứu về cơ quan, tổ chức th c thi, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN Cụ thể:

1.3.1 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Tác giả Linda C Reif với nghiên cứu “Building Democratic Institutions: The Role of National Human Rights Institutions in Good Governance and Human

Trang 34

Rights Protection” (Xây d ng các tổ chức dân chủ: Vai trò của cơ quan nhân quyền

trong quản trị tốt và bảo vệ quyền con người), Tạp chí Harvard Human Rights

Journal 13 1-69 Spr 2000 Phân tích tổng quan mô hình cơ quan nhân quyền quốc

gia (NHRI): Thanh tra Quốc hội, Ủy ban nhân quyền quốc gia, các mô hình hỗn hợp khác; việc hỗ trợ thành lập và quản trị tốt cơ quan nhân quyền

Năm 2010, Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã cùng tác giả Frauke Lisa Seidensticker Anna Wuerth nghiên cứu về “NHRI – Mô hình, chương trình, thách thức và giải pháp”, phân tích chung các mô hình NHRI ở cấp độ quốc gia, quốc tế, ví dụ ở 7 quốc gia, hướng d n và khuyến nghị Việt Nam về thành lập NHRI

Tác giả Thomas Pegram, 2010, có bài viết “Diffusion Across Political Systems: The Global Spread of National Human Rights Institutions” (Hệ thống chính trị truyền

bá: s lan tỏa toàn cầu của NHRI), Human Rights Quarterly, Volume 32, Number 3,

August 2010, pp 729-760, Johns Hopkins University Press, bàn về nguồn gốc Bắc Âu

của NHRI, s phát triển và thích ứng với các hình thức chế độ chính trị của cơ quan nhân quyền trên toàn thế giới

Với các nghiên cứu tập trung về mô hình Thanh tra Quốc hội trong bảo vệ QCN tác giả Bent Christensen, University of Copenhagen, năm 1961 có nghiên cứu

về “The Danish Ombudsman” (Thanh tra Quốc hội Đan Mạch); Bộ Ngoại giao, Quốc

hội và Quỹ dân chủ Đan Mạch đã xuất bản cuốn The Danish Ombudsman, năm 1995; năm 2001, Thanh tra Quốc hội Đan Mạch đã xuất bản cuốn The Ombudsnam and his

work 1995-1999 (Thanh tra Quốc hội và những hoạt động từ 1995-1999) Cũng năm

2001, Trung tâm nhân quyền Đan Mạch xuất bản cuốn Nation human rights

institutions, articles and working papers (Các NHRI, các bài viết và tài liệu làm

việc), tái bản năm 2005, bàn luận về thành lập, s phát triển chức năng, sức ảnh hưởng, đặc tính, năng l c của NHRI, quan điểm, kinh nghiệm về tổ chức bảo vệ nhân quyền của các khu v c khác trên thế giới

Tác giả Michael Gøtze, năm 2010, đã viết bài “The Danish ombudsman, A

national watchdog with selected preferences”, Tạp chí Utrechtlawreview, (Thanh tra Quốc hội Đan Mạch, một cơ quan giám sát quốc gia với những ưu tiên l a chọn)

Trang 35

Phân tích quá trình hình thành, phát triển, chức năng, thẩm quyền, th c tế hoạt động, kết quả đạt được trong bảo vệ QCN của Thanh tra Quốc hội Đan Mạch, bên cạnh Thanh tra Quốc hội ở các quốc gia Bắc Âu

Năm 2000, Trung tâm nghiên cứu QCN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo “Hiến pháp, pháp luật và QCN, kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển”, một số tác giả của Thụy Điển như: Nữ Nghị sĩ Quốc hội Thụy Điển Viola Furubjelke có hai Tham luận: 1/ “Các cơ chế giám sát của Quốc hội – kinh nghiệm của Thụy Điển” bàn về quyền l c của Quốc hội trong giám sát Chính phủ

và các cơ quan quản lý khác qua sáu khía cạnh để bảo đảm QCN; 2/ “Tiến bộ trong pháp luật và Hiến pháp về QCN – kinh nghiệm của Thụy Điển” bàn về quy định pháp luật Thụy Điển, châu Âu, LHQ và th c tiễn bảo vệ QCN của Thụy Điển; Nghị

sĩ Gustaf Von Essen cũng có hai Tham luận: 1/ “Th c tiễn về QCN cho các Nghị sĩ Quốc hội”, phân tích vai trò của các Nghị sĩ trong th c tiễn bảo đảm và thúc đẩy QCN Thụy Điển; 2/ “Bảo vệ các nhóm đặc biệt, phụ nữ, trẻ em và người thiểu số” của Thụy Điển thông qua việc ban hành luật, lập các Thanh tra Quốc hội, Ủy ban Quốc hội chuyên ngành đối với các nhóm đặc biệt Mặc dù tài liệu chỉ nói đến một khía cạnh nhất định trong giám sát, bảo vệ QCN, song đó là những mảnh ghép để kế thừa cho nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN ở Bắc Âu

Các tác giả Katerina Linos & Tom Pegram có nghiên cứu “Interrogating Form and Function: Designing effective national human rights Institutions”, (Chức năng, hình thức thẩm vấn: thiết kế NHRI hiệu quả), năm 2015, http://www.humanrights.dk/ trả lời cho câu hỏi làm thế nào để thiết kế một NHRI đạt hiệu quả như mục tiêu ban đầu đề ra, làm

cơ sở lý luận và th c tiễn để thiết kế một NHRI và d báo tính hiệu quả của nó

Các tác giả Nigel Thomas - Brian Gran -Karl Hanson viết bài “An independent voice for children‟s rights in Europe? The role of independent children‟s rights in stitutions in the EU” (Tiếng nói độc lập cho quyền trẻ em ở châu Âu? Vai trò của các

tổ chức quyền trẻ em độc lập ở EU), Tạp chí International Journal of Children’s

Rights 19 (2011) p 429-449, NXB Martinus Nijhoff, đã phân tích, đánh giá vị trí,

vai trò, tổ chức mạng lưới của Thanh tra Quốc hội trong bảo vệ trẻ em của các quốc

Trang 36

gia châu Âu và trên thế giới, cũng đồng thời băn khoăn việc để cơ quan bảo vệ trẻ

em độc lập hay gộp vào tổ chức nhân quyền nói chung ở các quốc gia châu Âu

Năm 2016, Viện Luật nhân quyền và nhân đạo Thụy Điển (RWI) đưa ra “Báo cáo của Hội nghị bàn tròn về NHRI của Thụy Điển: Khám phá các mô hình và l a chọn”, (Roundtable on Swedish NHRI: Exploring Models and Options), ở Lund, 02/6) Báo cáo nêu ra bối cảnh và mục tiêu xây d ng mô hình NHRI của Thụy Điển, trên cơ sở các mô hình NHRI ở khu v c Bắc Âu và trên thế giới; là tài liệu có hàm chứa cả tính lý luận và th c tiễn về NHRI

UN Office of the High Commissioner for Human Rights (OHCHR) với Tờ tin số 29 “Human Rights Defenders: Protecting the Right to Defend Human Rights, Fact Sheet No.29” năm 2004 chứa đ ng các thông tin về các nhà bảo vệ nhân quyền, như: vai trò, tình hình hoạt động và những tăng cường bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền trước những hậu quả từ công việc của họ

OHCHR, năm 2014, “Fact Sheet No.19 National Institutions for the Promotion and Protection of Human Rights”, là tài liệu chứa thông tin về các hoạt động của OHCHR trong thiết lập và hỗ trợ các NHRIs; hợp tác giữa các tổ chức của quốc gia

và hệ thống nhân quyền quốc tế; hoạt động hỗ trợ của OHCHR cho Ủy ban điều phối quốc tế của các NHRI, của các mạng lưới khu v c có liên quan

1.3.2 Những nghiên cứu về thiết chế bảo vệ quyền con người ở trong nước

Nghiên cứu về thiết chế bảo vệ QCN dường như là vấn đề được đặt ra ở giai đoạn nối tiếp sau khi đã có những nghiên cứu về nội hàm, nội dung các QCN Vì vậy khoảng 10 năm trở lại đây mới xuất hiện nhiều nghiên cứu ở lĩnh v c này Cụ thể:

Năm 2010, các tác giả của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội biên dịch sách

chuyên khảo Quyền con người (tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp Quốc), tại

Chuyên đề số 19 bàn luận về NHRI, các mô hình NHRI trên thế giới Năm 2011,

trong Sách chuyên khảo Hiến pháp – những vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả Vũ

Công Giao-Vũ Thu Quyên có viết bài “Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam” Năm 2015, tác giả Trịnh

Quốc Toản – Vũ Công Giao biên soạn Sách chuyên khảo Thực hiện các quyền hiến

Trang 37

định trong Hiến pháp năm 2013, có nội dung “Cơ quan nhân quyền quốc gia ở một

số nước Đông Nam và gợi mở cho việc thành lập NHRI của Việt Nam” của đồng tác giả Vũ Công Giao – Nguyễn Minh Tâm Cũng trong cuốn sách này, tác giả Mai Văn Thắng có bài viết “Mô hình Ombudman ở Liên Bang Nga và gợi mở cho hình thành thiết chế bảo vệ quyền con người hiến định ở Việt Nam hiện nay”

Năm 2011, TS Nguyễn Đức Thùy, Viện Nghiên cứu QCN của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã chủ trì nghiên cứu Đề tài cấp bộ,

mã số B.10 – 35A Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia một số

nước ASEAN và Trung Quốc – kinh nghiệm đối với Việt Nam, đã đề xuất kiến nghị

và phương án xây d ng cơ quan quốc gia bảo vệ và thúc đẩy QCN ở Việt Nam

Năm 2015, tác giả Nguyễn Văn Hiển của Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ

Tư pháp đã chủ trì nghiên cứu Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu mô hình thiết chế quốc

gia bảo vệ quyền con người của một số nước trên thế giới và đề xuất mô hình ở Việt Nam” phân tích mô hình thiết chế NHRI ở một số nước trên thế giới và đề xuất mô

hình Ủy bản Nhân quyền quốc gia cho Việt Nam

khía cạnh bài viết trên các Tạp chí, mới xuất hiện trong vài năm gần đây,

có thể kể đến: Tác giả Tường Duy Kiên đã nghiên cứu “Mô hình bộ máy quốc gia

về nhân quyền ở một số nước và suy nghĩ về cơ chế bảo đảm QCN ở nước ta”, Tạp

chí Nghiên cứu Lập pháp số 15/2009, phân tích về mô hình Thanh tra Quốc hội phổ

biến ở Bắc Âu và ở các châu lục khác nhau, coi các NHRI chính là thể chế quốc gia

về nhân quyền; gần đây nhất tác giả này cũng đã nghiên cứu mới về “Các yếu tố

quyết định đến s l a chọn mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia”, Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật số 2/2016, phân tích 3 mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia chủ

yếu, 3 vấn đề mà cơ quan nhân quyền phải có và bốn yếu tố tác động đến việc xây

d ng và l a chọn mô hình NHRI Tác giả Vũ Công Giao có viết “Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam”,

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 3, T2/2012, nghiên cứu khái quát về NHRI trên

thế giới, khẳng định thể chế pháp lý ghi nhận cơ quan này chính là hiến pháp; tác giả Đặng Dũng Chí, Hoàng Văn Nghĩa đã viết “Xây d ng và hoàn thiện các thiết

Trang 38

chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển”,

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 19/2013, phân tích thiết chế bảo vệ QCN là hệ

thống các cơ quan nhà nước và NHRI, phương án xây d ng mới và hoàn thiện thiết

chế bảo vệ QCN hiện có của Việt Nam Tác giả Chu Hồng Thanh, năm 2014 viết bài “Luật sư tham gia giám sát và phản biện xã hội”, Tạp chí Luật sư, số 8/10 Các

tác giả Vũ Thị Bích Hường, Trần Quang Trung của Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh viết bài “Nguyên tắc Paris 1993 và vấn đề thành lập NHRI ở Việt Nam

hiện nay”, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 5/2014 Tác giả Nguyễn Đăng Dung với bài

“Tòa án th c hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 3+4/T/2015 đã khẳng định tòa án là thể chế trong thiết chế nhà nước đảm nhận phân

xử các vụ việc bảo vệ QCN và bảo vệ công lý Năm 2016, tác giả Vũ Công Giao - Nguyễn Minh Tâm đăng bài “Cơ quan nhân quyền quốc gia ở một số nước Đông

Nam Á và những kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1

Kỷ yếu Hội thảo Cơ quan nhân quyền quốc gia, thực tiễn quốc tế và bài học

kinh nghiệm với Việt Nam, do Bộ Ngoại giao, UNDP, Trường Đại học Luật Hà Nội

kết hợp th c hiện năm 2015, Tham luận của các tác giả đã phân tích những khía cạnh khác nhau của cơ quan nhân quyền quốc tế, khu v c và quốc gia, là tài liệu để nhìn nhận đa chiều về cơ quan nhân quyền cũng như gợi mở cho Việt Nam về vấn

đề này Cũng năm 2015, Hội thảo khoa học quốc tế Cơ quan nhân quyền quốc gia -

kinh nghiệm của các quốc gia ASEAN do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ

chức đã có những Tham luận về mô hình NHRI ở các quốc gia ASEAN, đưa ra một

số mô hình cơ quan nhân quyền có thể áp dụng

1.4 Nhận xét về các công trình khoa học liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Những vấn đề đã được làm sáng tỏ, luận án có thể tiếp thu, kế thừa

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể nhận thấy một số nội dung về cơ chế bảo vệ QCN đã được giải quyết, đạt s thống nhất cao, nghiên cứu sinh có thể tiếp thu, kế thừa như sau:

Trang 39

Trên phương diện lý luận

- Quan điểm về QCN của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong một số công trình nghiên cứu về khía cạnh QCN trong chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng, Nhà nước về QCN Theo đó QCN là mục tiêu hướng tới của Nhà nước và cả dân tộc Việt Nam Việt Nam cần thiết lập hệ thống pháp luật, các thiết chế trong mối quan hệ với quốc tế để bảo vệ QCN

- Khái niệm cơ chế bảo vệ QCN có nhiều cách lý giải khác nhau, song t u trung lại, nội hàm của khái niệm gồm nhiều yếu tố có quan hệ ràng buộc, như: quan điểm, tư tưởng; hệ thống pháp luật; các thiết chế Khẳng định s cần thiết phải hoàn thiện cơ chế bảo vệ QCN, kiện toàn hơn nữa về quan điểm, các quy định pháp luật

và tăng cường năng l c của hệ thống thiết chế bảo vệ QCN

- Quan điểm về bảo vệ quyền được th c hiện trên hai phương diện là phòng chống, ngăn ngừa và xử lý vi phạm QCN

- Cơ quan nhân quyền quốc gia là thiết chế chuyên môn, công cụ căn bản,

tr c diện bảo vệ QCN, là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định thái độ và trách nhiệm bảo vệ QCN của mỗi quốc gia

Trên phương diện thực tiễn:

cả phạm vi quốc tế và quốc gia, quan điểm, hệ thống pháp luật bảo vệ QCN, cơ quan nhân quyền và các thiết chế khác đều chịu s tác động của nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống và hội nhập quốc tế Điều này làm lên s khác biệt trong th c tiễn về bảo đảm, bảo vệ QCN, kết quả, mức độ cũng như cách vận dụng pháp luật của cơ quan tài phán, cơ quan hành pháp, lập pháp, NHRI trên thế giới

Các phân tích, điều tra, khảo sát, thống kê, đánh giá qua những báo cáo, phán quyết, tài liệu tuyên truyền, tập huấn về công tác th c hiện, bảo đảm, bảo vệ QCN của Việt Nam và các quốc gia khác, các khu v c, quốc tế nói chung về bảo vệ QCN

là những thông tin quý giá để nghiên cứu sinh kế thừa và tiếp tục nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN trong luận án

Trang 40

Trên phương diện đề xuất, kiến nghị giải pháp:

Nhiều công trình đã đề xuất hướng hoàn thiện việc xây d ng, ban hành pháp luật, tăng cường năng l c bảo vệ QCN của hệ thống các cơ quan nhà nước,

hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội Xây d ng cơ quan nhân quyền trên cơ

sở nguyên tắc Paris 1993 nhưng ph hợp với đặc thù chính trị, xã hội, văn hóa Việt Nam… Đa số kiến nghị Việt Nam nên thành lập Ủy ban QCN tr c thuộc Quốc hội làm NHRI Việt Nam

1.4.2 Những vấn đề đã được nghiên cứu nhưng chưa được giải quyết thấu đáo

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy các vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo như sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận, có hai vấn đề căn bản sau:

- Nhiều công trình nghiên cứu bao quát cả về cơ chế bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN nhưng thời lượng dành cho phân tích cơ sở lý luận của vấn đề còn chưa nhiều, chưa đi sâu làm sáng tỏ khía cạnh lý luận của cơ chế bảo vệ QCN, s khác

nhau của các thuật ngữ bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN;

- Nội hàm của thuật ngữ cơ chế bảo vệ QCN có nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất Bởi một số công trình nghiên cứu tổng hợp các vấn đề cơ chế bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy QCN gồm các nguyên tắc, quy định, quy trình, thủ tục và các thiết chế bảo vệ QCN; nhưng lại có công trình nghiên cứu xác định cơ chế bảo

vệ QCN gồm yếu tố thể chế và thiết chế, yếu tố thể chế gồm quy định pháp luật về bảo vệ QCN, xong sau đó lại chủ yếu nghiên cứu về các thiết chế - hệ thống các cơ quan, tổ chức bảo vệ QCN; nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế bảo vệ QCN chỉ dừng lại tập trung vào một số khía cạnh nhất định, như về quy định pháp luật, vấn

đề nội luật hóa pháp luật quốc tế, giám sát việc th c hiện QCN, Thanh tra QCN, Viện nhân quyền, Trung tâm nhân quyền, bảo vệ QCN đối với các nhóm quyền của trẻ em, người đồng tính, người tị nạn…; một số công trình khác chỉ bàn về bảo vệ QCN, coi việc có tư tưởng về quyền, ghi nhận quyền trong hiến pháp và luật chính

là bảo vệ QCN… Như vậy, xét về tổng thể thì yếu tố thể chế - các quy định luật

Ngày đăng: 03/02/2023, 19:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w