ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TƢỜNG ANH ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH CỦA CÁC NHÀ THƠ CHIẾN SĨ THỜI CHỐNG MỸ CỨU NƢỚC (QUA NGUYỄN ĐỨC MẬU, ANH NGỌC, VƢƠNG TRỌNG[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TƯỜNG ANH
ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH CỦA CÁC NHÀ THƠ
CHIẾN SĨ THỜI CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (QUA NGUYỄN ĐỨC MẬU, ANH NGỌC, VƯƠNG TRỌNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TƯỜNG ANH
ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH CỦA CÁC NHÀ THƠ
CHIẾN SĨ THỜI CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (QUA NGUYỄN ĐỨC MẬU, ANH NGỌC, VƯƠNG TRỌNG)
Trang 3Mục lục!
Lời cảm ơn 3
Mở đầu 4
Ch-ơng 1: Bối cảnh thời đại và sự xuất hiện của các nhà thơ chiến sĩ 8
1.1 Bối cảnh thời đại 8
1.1.1.Bối cảnh lịch sử - xã hội 8
1.1.2 Đặc điểm thơ ca giai đoạn chống Mỹ 10
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của ba nhà thơ- chiến sĩ 21
1.2.1.Sự hình thành và phát triển đội ngũ sáng tác sáng tác 21
1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp ba nhà thơ - chiến sĩ 27
1.2.2.1 Nhà thơ Anh Ngọc 28
1.2.2.2 Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu 29
1.2.2.3.Nhà thơ V-ơng Trọng 31
Ch-ơng 2: Cái tôi công dân của ba nhà thơ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu 33
2.1 Hình ảnh ng-ời lính qua cảm nhận của ba nhà thơ-chiến sĩ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu 34
2.1.1 Hình ảnh ng-ời lính chiến đấu ở chiến tr-ờng 34
2.1.1.1 G-ơng mặt và tội ác của kẻ thù 34
2.1.1.2 Hình ảnh ng-ời lính trong chiến đấu 40
2.1.2.Những giây phút bình yên của ng-ời lính 51
2.1.2.1.Tình quân dân cá n-ớc 51
2.1.2.2 Tâm t- ng-ời lính 60
Trang 42.2 Tình yêu quê h-ơng đất n-ớc qua lăng kính của ba nhà thơ Anh Ngọc,
V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu 66
2.2.1 Sức sống mãnh liệt của quê h-ơng 66
2.2.2 Vẻ đẹp con ng-ời 75
Ch-ơng 3: Cái tôi thế sự - đời t- của ba nhà thơ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu 86
3.1 Anh Ngọc – cái tôi sâu lắng nhiều trăn trở 87
3.2 V-ơng Trọng – cái tôi đằm thắm ân tình 102
3.3 Nguyễn Đức Mậu-cái tôi nồng hậu, khỏe khoắn 112
Kết luận 124
Tài liệu tham khảo 127
Trang 5Lời cảm ơn!
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Đoàn Đức Ph-ơng đã tận
tình chỉ bảo, h-ớng dẫn tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bè bạn, đồng nghiệp đã động viên,
chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội ngày 29 tháng 9 năm2010
Ng-ời thực hiện
Nguyễn T-ờng Anh
Mở ĐầU
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Thơ là “vương quốc của chủ quan”, là “biểu hiện và cảm thụ của chủ thể” (Heghen) Sáng tạo thơ là một hành động chủ quan, cái chủ quan tồn tại và trở thành trung tâm quy tụ mọi yếu tố khác Cả ba nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, V-ơng Trọng trong cuộc đời cầm bút của mình đã thể hiện đ-ợc những cá tính sáng tạo nghệ thuật riêng
Lớn lên và tr-ởng thành trong giai đoạn đất n-ớc đang diễn ra cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, cả ba nhà thơ đều lên đ-ờng nhập ngũ theo tiếng gọi của quê h-ơng, đất n-ớc, cùng lăn lộn nhiều năm ở các chiến tr-ờng, các mặt trận nóng bỏng, “đôi tay cầm súng, bản thảo trên lưng” Thơ ca của họ phản ánh chân thực và sâu sắc hiện thực cuộc chiến tranh, đồng thời góp một “nốt cao” trong một dàn đồng ca cổ vũ tinh thần của toàn thể dân tộc chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm Bên cạnh đó, cả ba nhà thơ nói trên không chỉ là những ng-ời cầm bút mà còn là những ng-ời chiến sĩ trong chiến đấu khi đất n-ớc đang
ở thời kỳ bom lửa chiến tranh vô cùng ác liệt.Trực tiếp trải nghiệm mọi khốc liệt của chiến tr-ờng, đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, đồng thời có thể cảm nhận đ-ợc một cách toàn diện về cuộc sống nơi đạn bom - d-ới con mắt không chỉ của ng-ời lính mà còn d-ới lăng kính của một nhà thơ Chắc hẳn, sự hòa quyện chất lính, chất thơ của những tâm hồn tài hoa nghệ sĩ sẽ đem đến cho ng-ời đọc những cảm nhận chân thực, tinh tế, đa dạng, phong phú của ba nhà thơ mặc áo lính về âm h-ởng hào hùng của một thời đã ghi dấu ấn trong lịch sử n-ớc nhà
Cùng chiến đấu và cùng cầm bút sáng tác trong giai đoạn chống Mỹ cứu n-ớc, thơ của ba nhà thơ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu có những nét chung và có cả những nét riêng Đã có nhiều những công trình nghiên cứu về tác phẩm của ba nhà thơ này, nh-ng phần lớn các đề tài nghiên cứu đều đi sâu
Trang 7nghiên cứu từng tác giả riêng rẽ Do vậy, trong luận văn Đặc điểm cái tôi trữ tình
của các nhà thơ chiến sĩ thời chống Mỹ cứu n-ớc (qua Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, V-ơng Trọng), ng-ời viết muốn chỉ ra những nét chung của ba nhà thơ
trong thời kỳ đầy oanh liệt hào hùng đồng thời chỉ ra những nét khác biệt tạo nên cái riêng của mỗi ng-ời
2 Lịch sử vấn đề
Ch-a bao giờ lịch sử văn học Việt Nam lại có sự phát triển mạnh mẽ và
đồng đều của nhiều thể loại nh- trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc Truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài và tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút, bút
ký, thơ trữ tình, thơ chính luận, thơ ngắn, thơ dài, tr-ờng ca tất cả đều đ-ợc huy
động để phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu n-ớc Có thể nói rằng ở thời kỳ này, thơ đ-ợc coi là binh chủng mũi nhọn, có tính xung kích nhất, lên tiếng kịp thời phản ánh tr-ớc mọi biến cố dù lớn dù nhỏ của cuộc kháng chiến thần thánh Thơ bám sát tình hình thời sự nhanh gần nh- thể ký Phản ánh chân thực lịch sử - những bài thơ về Nguyễn Văn Trỗi đã xuất hiện trên mặt báo ngay sau hôm anh
bị hành hình (15- 10 – 1964), những bài thơ nh- Cuộc chia ly màu đỏ (Nguyễn Mỹ), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Nấm mộ và cây trầm (Nguyễn Đức
Mậu) đã tái hiện những chi tiết sống của thực tại, đã khắc sâu trong tâm hồn những con Việt Nam một sức mạnh, một ý chí kiên c-ờng cổ vũ con ng-ời chiến
đấu cho quê h-ơng, đất n-ớc, cho những ng-ời đã ngã xuống vì độc lập tự do Thơ không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh đầy gian khổ hi sinh mà còn phản
ánh những suy nghĩ và tình cảm con ng-ời trong cuộc sống Thơ trữ tình là tiếng nói trực tiếp của công chúng - là chất men để con ng-ời gửi gắm mọi niềm vui, nỗi buồn Khác với thơ chống Pháp, thơ giai đoạn chống Mỹ là một nền thơ xã hội chủ nghĩa đã tr-ởng thành sau hai m-ơi năm Dân chủ Cộng hòa Đội ngũ sáng tác thơ giờ đây ngoài những nhà cách mạng làm thơ và những nhà thơ đi
Trang 8theo cách mạng, còn có thêm các nhà thơ lớn lên trong kháng chiến chống Pháp
và những nhà thơ sinh ra và lớn lên d-ới mái tr-ờng xã hội chủ nghĩa Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này đội ngũ sáng tác ngày càng đông, số l-ợng thơ xuất bản ngày càng nhiều và tầm hoạt động cũng ngày càng mở rộng Kháng chiến chống Mỹ là giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam Tất cả những ng-ời con của Tổ Quốc đều cầm súng và ra trận theo tiếng gọi của con tim Trong những con ng-ời ấy, có những nhà thơ mà cuộc đời của họ, sự nghiệp của họ là cuộc đời và sự nghiệp của một thi nhân, nh-ng khi đất n-ớc cần, họ vẫn sẵn sàng lên đ-ờng chiến đấu Chất lính trong những năm tháng chiến tranh cùng với một tâm hồn nghệ sĩ đã tạo nên diện mạo của các nhà thơ chiến sĩ Trong số vô vàn những nhà thơ ấy, có những ng-ời đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng ng-ời đọc nh- Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, V-ơng Trọng Việc nghiên cứu thơ của ba nhà thơ ở “nhà số 4, phố nhà binh” là việc làm cần thiết để từ đó hình dung ra phần nào diện mạo, tâm hồn của ng-ời lính cụ Hồ và những đặc tr-ng thẩm mỹ thơ ca giai đoạn này
3 Mục đích, phạm vi, đối t-ợng nghiên cứu
Cả cuộc đời gắn bó với sự nghiệp văn ch-ơng ba nhà thơ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu đã cho ra đời rất nhiều các tác phẩm có giá trị trên các thể loại nh- thơ ca, tr-ờng ca Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, ng-ời viết chỉ tập trung chủ yếu vào thể loại thơ của ba nhà thơ nói trên và cụ thể hơn là thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Nh- chúng ta đã biết nghiên cứu, tìm hiểu thơ ca là một mảng đề tài khá rộng và đòi hỏi nhiều công phu.Tuy nhiên, thơ ca đ-ợc cất lên - tất cả đều thông qua một chủ thể nhất định nào đó và mỗi chủ thể đó là một thế giới riêng - là ng-ời duy nhất mang nội dung Qua đó để thấy rằng, cái Tôi của mỗi nhà thơ hay nói cách khác cái Tôi trữ tình là một nhân tố khởi sự và hoàn tất của sáng tạo
Trang 9Chính vì vậy, bản thân ng-ời viết muốn tiếp cận, đi sâu tìm hiểu đặc điểm cái Tôi trữ tình của ba nhà thơ để thấy đ-ợc những cảm nhận, những suy nghĩ của họ về cuộc sống, con ng-ời, đồng thời thấy đ-ợc đặc tr-ng cơ bản của thơ ca cách mạng trong một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu nh- phân tích, so sánh, tổng hợp để xác định các luận điểm, luận cứ Phân tích để khám phá những biểu hiện, so sánh để thấy đ-ợc điểm giống nhau và khác biệt giữa ba nhà thơ, áp dụng một số vấn đề lý luận mới về ph-ơng pháp nghiên cứu để có cái nhìn đa chiều, phong phú, tổng quát hơn về ba nhà thơ cũng nh- toàn bộ thơ ca của thời
kỳ chống Mỹ cứu n-ớc
5.Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Bối cảnh thời đại và sự xuất hiện của các nhà thơ chiến sĩ Ch-ơng 2: Cái tôi công dân của ba nhà thơ Anh Ngọc,V-ơng Trọng,
Nguyễn Đức Mậu
Ch-ơng 3: Cái ôi thế sự, đời t- của ba nhà thơ Anh Ngọc,V-ơng Trọng,
Nguyễn Đức Mậu
CHƯƠNG 1
Trang 10BốI CảNH THờI ĐạI Và
Sự XUấT HIệN CủA BA NHà THƠ CHIếN Sĩ
Đất n-ớc ta có truyền thống yêu n-ớc tự ngàn đời Khí thế hào hùng, ý chí
và lòng căm thù quân xâm lược là dòng chảy bất tận của những người “con Lạc cháu Rồng” Khi Tổ Quốc bị ngoại xâm, tất cả con dân đất Việt đều lên đ-ờng
đánh giặc, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã tạo nên những chiến công lừng lẫy khắp địa cầu Dân tộc Việt Nam bé nhỏ nh-ng kiên c-ờng, anh dũng chiến đấu trong suốt ba m-ơi năm để giành lại độc lập và thống nhất đất n-ớc Cuộc chiến
đấu chống thực dân Pháp vừa giành đ-ợc thắng lợi thì dân tộc ta lại tiếp tục
đ-ơng đầu trong cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ Và từ đó một ch-ơng mới trong lịch sử hào hùng của dân tộc lại mở ra
1.1.Bối cảnh thời đại
1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội
Ngày 5-8-1964, những quả bom đầu tiên của không quân Mỹ đã dội xuống miền Bắc Việt Nam Một thời kỳ lịch sử khốc liệt, dữ dội và oai hùng nhất của dân tộc Việt Nam bắt đầu Trên khắp dải đất hình chữ S này, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của đất n-ớc ta lại diễn ra Trong suốt hai m-ơi năm trời ròng rã, mấy chục triệu ng-ời Việt Nam đã sống d-ới m-a bom bão đạn Từ Bắc chí Nam, từ bầu trời đến mặt đất, từ biển khơi đến núi cao, không nơi nào không có khói lửa chiến tranh Âm thanh dữ dội của chiến tranh đã lan đến tận mọi thôn cùng ngõ vắng Mảnh đất miền Bắc vừa mới hồi sinh, cơ sở sản xuất còn giản đơn, nghèo nàn và lạc hậu Các ph-ơng tiện phục vụ cho sản xuất vẫn còn thô sơ Đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, của cải vật chất xã hội còn thấp, ch-a
đ-ợc phục hồi sau một thời gian dài Những vết th-ơng chiến tranh thời chống Pháp ch-a kịp hàn gắn - t-ởng chừng nh- tất cả rồi sẽ vỡ vụn d-ới hàng chục
Trang 11triệu tấn bom khiến cho Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá theo m-u đồ của Mỹ.Với một lực l-ợng hùng hậu, ph-ơng tiện vũ khí tối tân- đạn, sắt thép của một nền công nghiệp chiến tranh hiện đại nhất hành tinh, cùng với tham vọng của mình, lời đe dọa của chính phủ Mỹ không phải là không có căn cứ và cũng không
hề hão huyền!
Thế nh-ng lạ lùng thay, đó lại là m-ời năm mà nhân dân ta sống trong thời
kỳ ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa-một sự ổn định toàn diện cả về cơ sở hạ tầng và th-ợng tầng kiến trúc D-ới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp chống Mỹ cứu n-ớc đã
đ-a nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ những thắng lợi to lớn, thắng lợi vĩ đại, thắng lợi quyết định đến thắng lợi hoàn toàn, trọn vẹn, giải phóng đất n-ớc khỏi ách ngoại xâm, thống nhất Tổ Quốc, mở ra một thời đại mới-đất n-ớc đ-ợc độc lập tự do, nhân dân đ-ợc làm chủ vận mệnh của mình
Để có đ-ợc chiến thắng vẻ vang đó, quân và dân ta đã phải đổ biết bao x-ơng máu, bao mồ hôi n-ớc mắt, bao của cải vật chất Ngày 5-8-1964, chiến tích của quân dân miền Bắc bắn rơi hàng loạt máy bay hiện đại Mỹ đã làm nức lòng mọi ng-ời, những tin vui chiến thắng cứ nối tiếp nhau vang lên giòn giã: ở Vĩnh Linh, Hà Nội, Bình Giã, An Lão đã làm cả thế giới kinh ngạc, càng khẳng
định niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, cổ vũ khích lệ lòng tự hào, lòng quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta Mùa khô năm 1965-1966 cuộc chiến đấu trực tiếp của quân và dân ta ở miền Nam đã
ở vào thế tiến công Những con số thắng lợi cứ tăng dần lên nhanh chóng Xuân Mậu Thân 1968, cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân ta làm lung lay toàn bộ
hệ thống quân đội và chính quyền Mỹ - Ngụy Chiến thắng đ-ờng 9 Nam Lào
đập tan âm m-u chiến l-ợc của Mỹ đối với toàn bộ chiến tr-ờng Đông D-ơng Hơn hai năm sau Hiệp định Paris, chiến thắng tuyệt vời ở Buôn Ma Thuột báo
Trang 12hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam Sau đó là sự giải phóng ồ ạt các thành phố và thị xã từ Huế đến Nha Trang Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã nổi lên nh- một khúc khải hoàn ca tuyệt mỹ, kết thúc bản hùng ca giải phóng vĩ đại của nhân dân trong suốt ba m-ơi năm chiến đấu kiên c-ờng của dân tộc Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử Chiến thắng vang dội đó là kết quả của sức mạnh đoàn kết một lòng của quân và dân ta d-ới sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng D-ới sự chỉ đạo toàn diện về mọi mặt – kinh tế, chính trị, văn hóa theo con đ-ờng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chọn, toàn thể dân tộc ta đã tạo thành một khối thống nhất, hỗ trợ
bổ sung, “cộng hưởng” giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của đất n-ớc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất n-ớc
Trong chiến thắng vĩ đại đó, chúng ta không thể không nhắc đến sự đóng góp của mặt trận văn hóa, văn nghệ mà thơ kháng chiến chống Mỹ nói chung và thơ của các nhà thơ chiến sĩ nói riêng chiếm vai trò quan trọng góp phần cổ vũ, khẳng định niềm tin tất thắng vào cuộc chiến đấu, đồng thời phản ánh một giai
đoạn hào hùng oanh liệt, đáng tự hào của dân tộc
1.1.2 Đặc điểm thơ ca giai đoạn chống Mỹ
Nh- một điều tất yếu, dòng văn học của bất cứ n-ớc nào nói chung và văn học Việt Nam nói riêng chịu sự tác động trực tiếp của đời sống xã hội và lịch sử
mà nó đang tồn tại Mỗi một thời đại, một giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ chi phối toàn bộ nền văn học thời kỳ đó.Văn học Việt Nam cũng trải qua những b-ớc thăng trầm theo dòng lịch sử của đất n-ớc Khi đất n-ớc đang trong tình trạng rối ren, cách mạng ch-a giành đ-ợc thắng lợi, bất mãn với thực tại của cuộc sống, văn học lãng mạn thời kì 1932-1945 chủ động đòi tự do bộc lộ và khẳng định cái tôi cá nhân, cái tôi tìm tòi những lối thoát trong một môi tr-ờng bế tắc với những khuynh h-ớng quan điểm, những phong cách và lối sống khác nhau Con ng-ời
Trang 13cá nhân khao khát muốn phơi trải lòng mình, nói cho hết, nói cho nhiều, mong một sự cảm thông, bù đắp Bản thân các nhà thơ say trong ảo mộng, trong những
“ tháp ngà” của cảm xúc, trốn tránh cuộc đời thực để đi vào những giấc mộng
đẹp nh- mùa thu vĩnh cửu Không tìm đ-ợc sự đồng điệu trong cuộc sống, các nhà thơ mới nh- lạc giữa dòng đời vô định Họ chới với, hoang mang, loay hoay với cái tôi bản ngã đầy bất lực của mình Chính vì vậy mà giai đoạn này âm điệu buồn tràn ngập trong thơ Nếu nh- L-u Trọng L- với sầu, mộng, say và giang hồ phiêu lãng thì Huy Cận lại là cái sầu nhân thế, sầu vũ trụ, sầu vạn kỷ, thiên cổ sầu với những cảnh chiều tà, những bãi bờ sông n-ớc hoang vắng, đìu hiu Cuộc
sống lúc ấy đâu đâu cũng nhạt nhẽo đơn điệu và vô vị: Quanh quẩn mãi giữa vài
ba dáng dáng điệu/ Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt ng-ời (Quanh quẩn) Cuộc
sống không định h-ớng khiến các nhà thơ trở nên lẻ loi cô đơn, họ chỉ còn biết
đắm mình trong quằn quại đau đớn, chán nản gay gắt, cự tuyệt mạnh mẽ, đối lập quyết liệt đến h- vô chủ nghĩa Chế Lan Viên luôn “tin chắc vào chân lý của hạt
lệ”, đắm mình trong cùng thẳm hư vô Với tôi tất cả là vô nghĩa/Tất cả không
ngoài nghĩa khổ đau (Xuân) Có thể nói rằng giai đoạn văn học này phản ánh cái
tôi cá nhân cực đoan, bế tắc, chìm sâu vào đ-ờng cùng dày đặc tăm tối với âm
điệu trầm buồn, bi quan, ngổn ngang nhiều trăn trở, chất chứa nhiều tâm sự
Xã hội đổi thay thì nhận thức lịch sử của con ng-ời cũng sẽ phải thay đổi
Có thể là nhanh, chậm nh-ng tất cả đều phải hòa nhập với tiếng nói chung của cả cộng đồng và nhân loại Khi Cách mạng tháng Tám 1945 giải phóng dân tộc, không khí hồ hởi, phấn khởi của những con ng-ời sau bao năm chịu cảnh tù đày, nô lệ, nay đ-ợc tự do đã mở ra một chân trời mới cho con ng-ời và cho cả thơ ca T-ơng lai t-ơi sáng ấy đã thôi thúc, s-ởi ấm cho các nhà thơ có một cái nhìn mới
về cuộc sống, về con ng-ời Lớp nhà thơ tr-ớc Cách mạng, lớp nhà thơ mới xuất hiện kề vai sát cánh tạo nên một diện mạo, phẩm chất mới trong thơ: mới về nội
Trang 14dung t- t-ởng và nghệ thuật biểu hiện, mới về đề tài chất liệu, cảm xúc có những tìm tòi sáng tạo mà thơ ca tr-ớc kia ch-a thể nào có đ-ợc
Cách mạng tháng Tám là một cuộc đổi đời của dân tộc Cuộc đổi đời này
đ-a đất n-ớc sang một giai đoạn mới Trên cơ sở độc lập, tự do, những tiền đề chính trị và mỹ học của văn học mới hình thành Cách mạng xác định mối quan
hệ giữa văn học và công chúng Văn học h-ớng tới những tầng lớp nhân dân rộng rãi Tổ quốc độc lập, đất n-ớc giải phóng, nhân dân hạnh phúc là -ớc mơ, mục
đích, ph-ơng h-ớng mà dân tộc ta tiến hành cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp Lý t-ởng ấy đ-ợc biểu hiện tr-ớc hết ở những con ng-ời trực tiếp lao động, chiến đấu, dựng xây đất n-ớc, giải phóng quê h-ơng đất n-ớc, đi theo
lý t-ởng của Đảng, của hiện thực cách mạng Không còn những phiêu l-u mơ hồ, những lý t-ởng viển vông, những dáng dấp hiệp sĩ trên con đ-ờng mênh mang
mờ mịt Trong thơ ca giai đoạn này, chúng ta bắt gặp những con ng-ời mới - con ng-ời có lý t-ởng, có mục đích Đó là hình ảnh những anh bộ đội, bà mẹ chiến sĩ, ng-ời phụ nữ, những em thiếu niên yêu n-ớc có ý thức đóng góp sức mình vì nhiệm vụ chung của dân tộc Âm h-ởng chủ đạo trong thơ tràn đầy lạc quan, tin t-ởng, phấn khởi trong lao động sáng tạo và ý thức về cuộc sống của mình Thơ
đã đi vào cuộc sống thực, đầy khát vọng và niềm tin mà không lý t-ởng hóa cuộc sống Thơ miêu tả những con ng-ời chân đất, nhìn thấy ở họ những nét đẹp chân sơ, giản dị đáng trân trọng tự hào
Khắc họa những hình ảnh mộc mạc, đơn sơ từ hiện thực, hình t-ợng thơ vận động ngày càng gần với cuộc sống, bám sát cuộc sống trong cái đa dạng,
phong phú và cụ thể: Gửi lại quê h-ơng/ Mái lều gianh/ Tiếng mõ đêm tr-ờng/
Luống cày đất đỏ/ ít nhiều ng-ời vợ trẻ/Mòn chân bên cối gạo canh khuya (Nhớ
–Hồng Nguyên) Những tình cảm chân thật khó quên trên đ-ờng hành quân gian
khổ, nó hồn nhiên ngây thơ nh-ng đều xuất phát tự tận đáy lòng: Kỳ hộ l-ng
Trang 15nhau ngang bờ cát trắng/ Quờ chân tìm hơi ấm đêm m-a Có thể nói rằng thơ ca
sau Cách mạng tiếp tục đ-ợc nâng cao hơn về tính chiến đấu và chất thực của cuộc sống Các nhà thơ nhiệt tình biểu hiện ý thức và hành động công dân trong những sáng tác mới Thơ thiên về ca ngợi và thể hiện khát vọng tự do, cuộc sống mới trong không khí cách mạng Nếu nh- thời kỳ tr-ớc, thơ ca thể hiện khát vọng
chân trời của cái tôi thì ở giai đoạn này nó lại thể hiện niềm khát vọng chân trời của cái ta
Tuy nhiên để thay đổi nhận thức của cả một thế hệ không phải là điều một sớm một chiều, đó không phải là điều dễ dàng có thể làm ngay Vì vậy, không khó có thể nhận ra rằng thơ ca giai đoạn này còn có những hạn chế nhất định Cảm hứng sáng tạo ch-a gắn liền với thực tế mà gắn liền khát vọng h-ớng về t-ơng lai, với niềm vui tràn đầy khi đ-ợc tự do và nhất là gắn liền với chủ quan của nhà thơ Về mặt nghệ thuật, thơ ca có khuynh h-ớng đại chúng dễ hiểu nh-ng nhiều khi sa vào đơn giản, sơ l-ợc Thơ có lúc nặng cảm hứng anh hùng pha màu sắc tiểu t- sản và trở nên ồn ào Nhiều bài thơ mang dáng dấp cũ, từ ngữ
cũ, âm điệu, hình ảnh thậm chí cả tình cảm cũng hoàn toàn cũ
Tóm lại, Cách mạng tháng Tám đã tạo nên một không khí mới, phẩm chất mới trong thơ ca Tính chất lãng mạn cách mạng tràn đầy trong cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ Thơ là tiếng nói ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi tự do, ca ngợi cuộc
đời mới Mặc dù thiếu những hình ảnh cụ thể, sinh động của hiện thực cách mạng nh-ng thơ ca giai đoạn này chính là những b-ớc khởi đầu, là bản lề tạo nên một nền thơ rực rỡ hơn của giai đoạn chống Mỹ về sau
Trải qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện không mệt mỏi, đồng thời có
sự định h-ớng chính trị rõ ràng cùng với sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, văn học giai đoạn chống Mỹ nói chung và thơ ca chống Mỹ nói riêng đã có b-ớc tr-ởng thành nhanh chóng cả về số l-ợng và chất l-ợng, trở thành một mặt trận quan
Trang 16trọng trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ Có thể thấy rằng, văn học cách mạng là một nền văn học của Đảng, của giai cấp công nhân Do đó, nhiệm
vụ của văn học và thơ ca kháng chiến chống Mỹ phải phục vụ trực tiếp cho nhiệm
vụ cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ đã tạo ra một nền văn học cách mạng thống nhất về nhiều ph-ơng diện có sự tập trung cao độ về đề tài, chủ đề t- t-ởng, về nhiệm vụ và cả về ph-ơng pháp sáng tác, sự thống nhất về cảm hứng chủ đạo và âm h-ởng chung Văn học chống Mỹ cứu n-ớc là một nền văn học tự giác, phát triển theo những định h-ớng có tính chiến đấu, mang âm h-ởng lạc quan cách mạng, mang nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc Có thể nói rằng, văn học thời kỳ này đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu lớn, trong đó thơ chống Mỹ là một nền thơ phát triển ở trình độ cao – phản ánh đ-ợc t-ơng đối đầy
đủ bức tranh toàn cảnh của một thời kỳ vẻ vang của dân tộc, nó vừa là “ng-ời th-
ký trung thành của thời đại” vừa để lại những ấn t-ợng sâu lắng, những cảm xúc chan chứa mang tầm cao t- t-ởng, có giá trị và sức sống lâu bền với thời gian
Tiếp nối văn học kháng chiến chống Pháp, văn học chống Mỹ h-ớng vào
sự ngợi ca các chiến công, kỳ tích anh hùng của ng-ời dân lao động Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong văn học giai đoạn này nói chung và thơ ca nói riêng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm Chủ nghĩa anh hùng
đ-ợc phản ánh ngay ở chính những con ng-ời đang sống, chiến đấu cho một lý t-ởng xã hội cao cả, họ là những con ng-ời xuất phát từ quần chúng bình th-ờng,
đ-ợc quần chúng tin yêu, có tinh thần cách mạng tiến công, sẵn sàng hi sinh cho
đất n-ớc - nó đã trở thành một điểm tựa, một niềm tin thiêng liêng đem lại sức mạnh cho con ng-ời D-ới sự lãnh đạo chặt chẽ và thống nhất của Đảng, thơ ca kháng chiến chống Mỹ có những b-ớc chuyển mình phát triển tạo nên một diện mạo mới trong văn học n-ớc nhà
Trang 17Một đặc điểm đáng chú ý nhất của thơ ca thời chống Mỹ là sự mở rộng của hình ảnh cái Ta, thu nhỏ cái Tôi trữ tình Hình ảnh dân tộc, nhân dân, hình ảnh non sông đất n-ớc cùng với những tình cảm lớn h-ớng về quê h-ơng, Tổ quốc, h-ớng tới cộng đồng đã dần dần trở thành xu h-ớng khái quát của thơ ca Cái Ta
ở đây là cái tổng thể với ý nghĩa trọn vẹn nhằm đối lập với kẻ thù, tạo nên một mối đồng cảm chung của mọi tầng lớp nhân dân Cái Ta thật sự trở nên hoàn chỉnh, tròn đầy vừa có ý nghĩa bao quát, vừa có ý nghĩa cụ thể, nó vừa là một nhân vật, một con ng-ời, một biểu t-ợng:
Ta sẵn sàng xé trái tim ta
Cho Tổ quốc và cho tất cả
Lá cờ này là máu là da
Của ta của con ng-ời vô giá
(Tố Hữu)
Do xu h-ớng ngày càng mở rộng cái ta nên cái tôi trữ tình dần dần bị ẩn khuất Các nhà thơ nhân danh đất n-ớc mình, dân tộc mình để nói đến những tình cảm chung, khát vọng chung, ca ngợi những con ng-ời sống, chiến đấu, hi sinh cho lý t-ởng của Tổ quốc Tr-ớc đây, chúng ta bắt gặp hình ảnh cái tôi của các nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp - đấy là sự đồng cảm, sẻ chia với những số phận bất hạnh trong xã hội Cảm nhận về cuộc sống, con ng-ời, về mọi miền quê, ta vẫn thấy đ-ợc một cái tôi trữ tình mang ý nghĩa cái tôi nội dung Dù cái tôi đó đã
“mở hồn mình đón những vang vọng từ cuộc đời” nhưng dù nhiều hay ít cái tôi trữ tình vẫn mang hình ảnh của tác giả, mang những tâm t-, tình cảm của chính tác giả đó chứ không phải cái tôi nói hộ, cái tôi nhân danh nhân vật khác Cái tôi trong thơ giai đoạn này không còn là đối t-ợng nhận thức, cái tôi bị che lấp, bị
mờ nhạt để hòa cùng, để nói cùng, để nhân danh cho toàn thể quốc gia, dân tộc Mỗi một hình ảnh, một biểu t-ợng, một xúc cảm, khi đ-ợc viết ra phải mang
Trang 18trong mình cái chung của cả thời đại Tuy nhiên có thể thấy không phải mọi tác giả, mọi bài thơ đều nhằm phản ánh hiện thực khách quan Mỗi một tác giả, mỗi một bài thơ có khi h-ớng tới những biểu hiện riêng của cảm xúc nh-ng cái riêng
đó lại đạt đến cái chung, vận động đến cái chung một cách không cố ý Sự hòa quyện giữa nét chung và những nét riêng tạo đ-ợc sự cân xứng hài hòa, không xa lạ mà vô cùng gần gũi với cuộc sống, tình cảm con ng-ời Cái riêng ở trong cái chung, cái tôi ở trong cái ta, bởi tất cả những tâm t-, tình cảm của con ng-ời đều h-ớng về lý t-ởng chung Cái chung, cái riêng, cái bình th-ờng, cái vĩ đại đều
đ-ợc thể hiện theo nguyên tắc điển hình hóa T- t-ởng, hành động của con ng-ời Việt Nam đang chiến đấu và sản xuất đều đ-ợc chọn lọc khát quát để mang tính chất tiêu biểu cho dân tộc, thời đại đồng thời mang đ-ợc tính riêng biệt, sinh
động: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu n-ớc chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở một số ng-ời -u tú nhất mà đang trở thành nếp sống trong chiến đấu và lao động của hàng triệu quần chúng, không chỉ nảy nở ở những mặt trận đấu tranh quyết liệt với quân thù mà đang mở rộng toàn diện khắp mọi nơi Không chỉ bùng lên đột xuất trong những giờ phút thử thách gay go nhất mà
đang diễn ra th-ờng xuyên, hàng ngày hằng giờ trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, bền bỉ” (Phạm Văn Đồng - Nhân Dân 9/1/ 1967) Nh- một xu thế tất yếu, sự vận động của hình t-ợng thơ từ cái tôi sang cái ta có nghĩa là t- duy thơ chuyển từ h-ớng nội sang h-ớng ngoại - tạo nên một nền thơ mang tính sử thi, đậm chất anh hùng ca, đây là một đặc điểm quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Mỹ
Để phản ánh không khí hào hùng, kịp thời nắm bắt mọi sự kiện của đời sống, thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình - là một vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa, h-ớng về hiện thực khách quan, các nhà thơ luôn h-ớng tới
Trang 19hiện thực một cách chân thực, lịch sử và cụ thể Mọi sự việc, hiện t-ợng, mọi tâm
sự, trăn trở của con ng-ời trong thơ đều xuất phát từ hiện thực cách mạnh Cái ta trong giai đoạn này không còn trừu t-ợng, siêu hình, xã hội là xã hội lịch sử chứ không còn là cõi xa xăm, vô định Những lời thơ cất lên đều xuất phát từ hoạt
động thực tiễn của quần chúng cách mạng, phản ánh mau lẹ mọi tình hình của cuộc kháng chiến Chính vì vậy, thơ Việt Nam giai đoạn này mở rộng đề tài, bao quát mọi mặt chiến đấu, sản xuất của quân và dân ta Tổ quốc, đất n-ớc đ-ợc khắc họa nhiều trong thơ, mỗi một nhà thơ khi viết về quê h-ơng đất n-ớc đều
có những cảm xúc riêng nh-ng tựu chung đều chân thành, nồng cháy và suy nghĩ chín chắn, biểu hiện nh- là sự nhận thức lại Tổ quốc mình một cách sâu sắc, đầy
đủ về nhiều mặt Xét cho cùng thì Tổ quốc là những điều cụ thể: ngôi nhà nơi ta
ở, nơi ta đã sinh ra, mảnh v-ờn, thửa ruộng, dòng sông, những ng-ời hàng xóm tối lửa tắt đèn, những tình cảm gắn bó con ng-ời để lại nhiều d- âm kỷ niệm sẽ mãi là những ký ức khó quên và tất cả những điều này làm nên sức mạnh, là động lực thúc đẩy con ng-ời chiến đấu bảo vệ quê h-ơng, đất n-ớc đã có tự ngàn đời:
Ta sẵn sàng xé trái tim ta /Cho Tổ quốc và cho tất cả Hình ảnh Tổ quốc hiện lên
trong thơ lúc cụ thể, lúc khái quát nh-ng cảm hứng bao trùm mang âm h-ởng ngợi ca
Đề tài chiến đấu cũng đ-ợc triển khai hầu hết ở các nhà thơ Nhiều bài thơ viết về tiền tuyến lớn, phản ánh trực tiếp những trận đánh với kẻ thù, khắc họa những chiến công oanh liệt của quân ta Nhiều bài thơ viết về hậu ph-ơng vừa chiến đấu vừa sản xuất, về hạnh phúc gia đình, về tình yêu thủy chung son sắt và cả những
hi sinh tổn thất Hình ảnh ng-ời chiến sĩ thu hút nhiều bút lực trong thơ Ng-ời chiến sĩ trong thời kì chống đế quốc Mỹ xuất hiện ở một t- thế đẹp, tài hoa, dũng cảm, có trình độ, là một dấu nối giữa ng-ời chiến sĩ hôm qua và hôm nay, giữa
Trang 20ng-ời chiến sĩ chống thực dân Pháp và ng-ời chiến sĩ chống Mỹ có sự tr-ởng thành và sâu lắng hơn:
Anh đi xuôi ng-ợc tung hoành B-ớc dài nh- gió lay thành chuyển non Mái chèo một chiếc xuồng con
Mà sông n-ớc dậy sóng cồn đại d-ơng
(Tiếng hát sang xuân –Tố Hữu)
Bên cạnh hình ảnh ng-ời lính, thơ ca giai đoạn này cũng khắc họa đầy đủ hình ảnh con ng-ời âm thầm đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc – hình ảnh những cô giao liên, những ng-ời mẹ, ng-ời chị, ng-ời
vợ đang ngày đêm lao động, trở thành hậu ph-ơng vô cùng vững chắc cho những ng-ời lính ở chiến tr-ờng chiến đấu và chiến thắng quân xâm l-ợc Có thể nói rằng dù phản ánh ở hoàn cảnh nào, đối t-ợng nào thì thơ ca chống Mỹ vẫn đạt
đến cái lạc quan, tin t-ởng trong cái giọng điệu bình thản, vô t-:
Dù đạn bom man rợ thét gào
Dù thân thể mang nhiều th-ơng tích
Dù cách xa hai ngả đ-ờng chiến dịch
Ta vẫn th-ờng hái hoa tặng nhau
(Cuộc đời vẫn đẹp sao - D-ơng H-ơng Ly)
Dù có khó khăn, gian khổ, có hi sinh mất mát, hình ảnh của những con ng-ời ra đi và ở lại đều tràn ngập trong lòng niềm tin tất thắng vào sự nghiệp giải phóng đất n-ớc Niềm lạc quan, âm h-ởng khẳng định và ngợi ca, đồng thời tố cáo tội ác của giặc là dòng chảy xuyên suốt trong thơ ca giai đoạn này
Chất sống thực tế đ-ợc đ-a vào trong thơ cũng là một nét đặc tr-ng tiêu biểu của thơ ca giai đoạn này Cuộc sống ùa vào trong thơ, tăng thêm những chi tiết thực tế cho thơ để thơ gần với cuộc sống hàng ngày, có sức phản ánh, ôm
Trang 21chứa những điều thiết cốt của đời sống Tuy nhiên không có nghĩa là thơ ca chỉ mô tả, kể lể khô cứng Mọi chi tiết sống đều đ-ợc chọn lọc, bình giá, phải tạo
đ-ợc rung động cho ng-ời đọc và phải đ-ợc viết thông qua một trái tim nhiều xúc cảm và xuất phát tự đáy lòng Chính vì vậy, mà thơ ca giai đoạn này đã thể hiện đ-ợc năng lực khái quát hóa đ-a đến tầm cao t- t-ởng và chiều sâu ý nghĩa
triết học của vấn đề cần nói tới nh-: Qủa sấu non trên cao (Xuân Diệu), Ngọn
đèn đứng gác (Chính Hữu), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Nấm mộ và cây trầm (Nguyễn Đức Mậu) Hiện thực hòa lẫn xúc cảm, thơ ca giai đoạn
chống Mỹ là sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và hùng tráng, vừa mô tả vừa biểu hiện, vừa tự sự vừa trữ tình để lại nhiều dấu ấn trong lòng ng-ời đọc
Bên cạnh đó, t- duy chính trị có ảnh h-ởng trực tiếp đến t- duy thơ chống
Mỹ một đặc điểm quan trọng mà ta gọi là chất “chính luận” Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, thơ ca là một mặt trận, một dàn đại bác thơ tấn công kẻ thù, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến Thơ phải rõ ràng, mạch lạc, thơ phải đứng vững trên lập tr-ờng giai cấp công nhân, tuyên truyền và bảo vệ đ-ờng lối của
Đảng một cách công khai Việc tăng c-ờng chất chính luận, tính thời sự trong thơ tạo cho thơ một giọng điệu khỏe khoắn, vững vàng Tiếng thơ chính luận là tiếng thơ hùng biện đanh thép vạch rõ bản chất kẻ thù, khẳng định con đ-ờng chống
Mỹ là con đ-ờng duy nhất Tuy nhiên, việc lạm dụng quá chất chính luận trong thơ đã làm cho một số bài thơ mất đi vẻ trang nghiêm, đĩnh đạc và nét đẹp trong thơ ca
Những biến đổi về nội dung đòi hỏi sự biến đổi về hình thức, hình thức phải phù hợp nội dung.Thời kỳ đầu, các nhà thơ th-ờng bắt đầu bằng những bài thơ tám chữ, ý mới nh-ng cốt cách cũ Về sau những bài thơ viết theo thể tự do bắt đầu phát triển phù hợp với tình hình mới Hình thức thơ tự do nh-ng vẫn giữ
Trang 22đ-ợc cốt cách dân tộc Thơ tự do nh-ng vẫn có mức độ, giữ đ-ợc liều l-ợng nhất
định về vần điệu, âm điệu để thơ đạt đ-ợc yêu cầu đại chúng, thấm sâu và có tác dụng tích cực trong quần chúng nhân dân Thơ tự do càng về sau càng có những tìm tòi thể nghiệm mới trong cấu trúc, nó hoàn toàn không bị gò bó bởi những quy tắc, những luật lệ, có ng-ời kéo dài câu thơ bằng lối xuống dòng không viết hoa tạo ra những câu thơ dài theo chiều dọc, có những bài thơ lại xuất hiện hình thức câu thơ bậc thang, lại có tr-ờng hợp kéo dài câu thơ theo chiều ngang thành những câu thơ văn xuôi Mạch thơ mở rộng đến 20, 22 chữ nh-ng vẫn nhịp nhàng
và giàu nhạc điệu Câu thơ mang đầy đủ phẩm chất cơ bản của thơ: tính hình t-ợng, cách điệu hóa, rung động, liên t-ởng Thơ văn xuôi đ-ợc sáng tác nhiều trong những năm chống đế quốc Mỹ Để phản ánh kịp thời những sự kiện thời sự nóng hổi, những suy nghĩ, cảm xúc mạnh mẽ ào ạt vào thơ, các nhà thơ phải ghi nhanh, phải mô tả, ghi nhiều hình ảnh, sự việc, bao quát một hiện thực rộng lớn phong phú, bộn bề, sôi động Chính vì vậy mà xu h-ớng mở rộng dung l-ợng phản ánh trong thơ là một yêu cầu tất yếu- số l-ợng thơ dài và tr-ờng ca bắt đầu
phát triển mạnh mẽ: Ba m-ơi năm đời ta có Đảng, N-ớc non ngàn dặm (Tố Hữu), Mặt đ-ờng khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm)
Thơ chống Mỹ là một giai đoạn phát triển khá rực rỡ của nền thơ cách mạng hiện đại Bên cạnh những hạn chế, thơ ca đã đạt đ-ợc những thành công nhất định, đánh dấu b-ớc tr-ởng thành của văn học nói chung và của thơ kháng chiến chống Mỹ nói riêng Đó là một nền thơ có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng,
đồng thời là một nền thơ mang tính nhân dân, tính quần chúng, rộng rãi sâu sắc nhất từ tr-ớc cho tới nay Phản ánh đ-ợc hiện thực chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.Thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử mà Đảng
và Nhà n-ớc giao phó kêu gọi nhân dân hành động, đánh giặc, là tiếng nói tự hào, kiêu hãnh của ng-ời Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu n-ớc Với
Trang 23những thành tựu đã đạt đ-ợc, thơ ca giai đoạn chống Mỹ có thể sánh với bất kỳ một nền thơ phát triển nào của nhân loại, xứng đáng đứng ở vị trí tiên phong của nền văn học chống đế quốc
1.2.Cuộc đời và sự nghiệp của ba nhà thơ- chiến sĩ
1.2.1 Sự hình thành và phát triển đội ngũ sáng tác
Để văn học kháng chiến chống Mỹ trở thành một nền văn học cách mạng toàn diện và thống nhất, trở thành một mặt trận văn hóa, là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta tr-ớc những năm tháng chiến tranh nhiều khó khăn và thách thức này, đòi hỏi bức thiết cần một đội ngũ văn nghệ sĩ có lập tr-ờng t- t-ởng vững vàng, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ mà cách mạng và Đảng giao phó Làm đ-ợc điều này không phải là điều dễ dàng, bởi văn học nói chung và thơ ca nói riêng là một mặt trận, mặt trận chính trị, đấu tranh t- t-ởng hết sức tinh vi trong điều kiện thời chiến Trong mặt trận ấy, ng-ời cầm bút là những chiến sĩ đấu tranh cho lý t-ởng cộng sản, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, họ phải trải qua một quá trình rèn luyện và phấn đấu lâu dài không biết ngừng nghỉ Cùng với sự chỉ đạo, định h-ớng của
Đảng, đến giai đoạn chống Mỹ cứu n-ớc chúng ta đã có một đội ngũ sáng tác lớn mạnh cả về số l-ợng và chất l-ợng, không chỉ tr-ởng thành trong t- t-ởng mà còn tr-ởng thành trong sáng tạo nghệ thuật, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc đồng thời tạo nên một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn học và của thơ
ca
Trong mỗi thời kỳ lịch sử, đội ngũ sáng tác có những biến chuyển, thay
đổi, hình thành và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại Nếu nh- chúng ta tạm thời chia các lớp nhà thơ tr-ớc Cách mạng theo cách phân loại chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, ta có thể thấy đội ngũ sáng tác này đ-ợc chia thành hai nhóm khác nhau Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà thơ mà cuộc đời của
Trang 24họ là cuộc đời sự nghiệp của một thi nhân Những ng-ời này lấy sáng tạo nghệ thuật làm mục đích và lẽ sống Niềm đam mê trong cuộc đời của họ là sáng tác thơ ca, là yếu tố sống còn Mọi hoạt động khác, công việc khác chỉ là nghề phụ
để họ trau dồi nghề nghiệp thơ, củng cố và phát triển tài năng thi ca Ngoài sự nghiệp nghệ thuật, họ không còn một sự nghiệp nào khác Đối với những nhà thơ chuyên nghiệp mà cuộc sống của họ nếu phải từ bỏ thi ca cũng giống nh- ng-ời diễn viên phải từ bỏ sân khấu và ng-ời cầu thủ phải từ giã sân cỏ Thơ ca chính là mục đích, là cái để khẳng định họ đang tồn tại Trong không khí chung của cuộc kháng chiến chống Pháp, đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp này đã đi theo cách mạng, chúng ta tạm gọi họ là những nhà thơ làm cách mạng Nhóm thứ hai bao gồm các nhà thơ cuộc đời, sự nghiệp của họ không phải là thơ ca, không gắn bó với thơ ca với cả cuộc đời mà chủ yếu là hoạt động xã hội Công việc quan trọng nhất của họ là tổ chức và lãnh đạo T- duy của những ng-ời này là t- duy chính trị Họ làm thơ, coi thơ là một công cụ hữu hiệu với mục đích tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, vận động quần chúng đi theo cách mạng Tiếng thơ của họ là tiếng thơ phục vụ trực tiếp cho công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, tiếng thơ nhân danh thời đại, nhân danh giai cấp, nhân danh cộng đồng để nói lên khát vọng, tình cảm chung Nhóm thứ hai này tạm gọi là những nhà cách mạng làm thơ Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể phận định rạch ròi hai bộ phận tác giả này cũng nh- hai loại sáng tác trên nh-ng có thể thấy rõ ràng ph-ơng thức hoạt động
là khác nhau Một đằng nghệ thuật là toàn bộ cuộc đời Một đằng thì nghệ thuật
là một công cụ tạm thời khi cần thiết thì dùng đến Có thể thấy rằng, nhóm thứ
hai đóng vai trò quan trọng vì tiếng thơ của họ có tính chất lĩnh x-ớng, tính chất h-ớng đạo cho cả một nền thơ cách mạng
Sang giai đoạn chống Mỹ cứu n-ớc, dòng văn học hiện đại Việt Nam ngày càng phát triển rực rỡ hơn, trong đó có thơ ca Ch-a bao giờ trong lịch sử dân tộc,
Trang 25chúng ta lại có một nền thơ mang tính chất quần chúng sâu sắc và toàn diện nh- thơ ca chống Mỹ Tất cả mọi ng-ời dân trên đất n-ớc đều có thể làm thơ, viết thơ miễn sao những tác phẩm đó có ích góp tiếng nói chung phục vụ cho cách mạng, cho công cuộc giải phóng quê h-ơng Nếu chúng ta tạm thời chia đội ngũ sáng tác thành những ng-ời chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp nh- ở giai đoạn tr-ớc, thì ở giai đoạn này, hai nhóm tác giả này đã đ-ợc mở rộng hơn về lực l-ợng sáng tác Trong đội ngũ chuyên nghiệp sáng tạo nghệ thuật, vẫn có những nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp của họ là cuộc đời của một thi nhân Cuộc sống của họ gắn với thơ ca, làm việc, kiếm sống và đ-ợc trả l-ơng để làm công việc này
Bên cạnh đó, trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ các nhà thơ đi theo cách mạng, làm thơ phục vụ cho mục đích kháng chiến ngày một đông đảo, ngoài thơ ca họ còn là những ng-ời chỉ đạo, lãnh đạo trên mặt trận văn nghệ và ở cả mặt trận khác Một số các nhà thơ này giữ vị trí cốt cán trong hàng ngũ của
Đảng và nhà n-ớc ta lúc bấy giờ nh- Huy Cận đã từng giữ chức Bộ tr-ởng trong chính phủ mới, số còn lại có ng-ời lên đ-ờng nhập ngũ, một số theo bộ đội trên khắp các tiền tuyến để có thể cảm nhận đ-ợc cuộc sống khốc liệt của chiến tranh Ta có thể thấy trong số những nhà thơ chuyên nghiệp này, khi đất n-ớc chiến tranh và khi hòa bình lập lại, một số nhà thơ vẫn giữ những trọng trách lớn trong nhà n-ớc, số còn lại trở về với cuộc sống đời th-ờng, không còn khoác áo lính, họ trở về với tâm hồn của một thi nhân, khi không còn cái ồn ào khốc liệt của những năm tháng đạn lửa, đề tài chiến tranh và ng-ời lính trong đội ngũ này cũng th-a thớt dần Ng-ợc lại, cùng trong đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp này, một số các nhà thơ nhập ngũ trong chiến tranh trở thành những ng-ời sáng tạo nghệ thuật chuyên nghiệp trong môi tr-ờng quân đội ngay khi cả hòa bình đã lập lại Cuộc đời của họ song song cùng tồn tại chất thơ và chất lính Cuộc sống binh
Trang 26nghiệp nh- một điều ngầu nhiên, một định mệnh sắp đặt đưa họ “mặc áo lính” không chỉ trong những năm tháng chiến tranh mà còn cả những năm tháng về sau này Bản thân những ng-ời cầm bút này, chất thơ, chất nghệ sĩ, sự tài hoa của ng-ời nghệ sĩ cùng với chất lính trong họ hòa quyện đan cài vào nhau trong con ng-ời cũng nh- trong sáng tác thơ ca của họ Chiến tranh có thể đã đi qua, nh-ng những d- âm về nó vẫn ám ảnh trong trái tim họ, hình ảnh ng-ời lính, tâm hồn ng-ời lính khi trở về cuộc sống đời th-ờng vẫn là mảng đề tài đ-ợc đội ngũ sáng tác này quan tâm hơn cả
Bên cạnh đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp, giai đoạn văn học kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc đã bổ sung cho văn đàn một lực l-ợng sáng tác không chuyên vô cùng phong phú và đa dạng Những nhà cách mạng làm thơ tiếp tục
cổ vũ phong trào, khích lệ anh em chiến đấu để đi đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến Không chỉ có những nhà chính trị làm thơ mà một không khí sáng tác và sinh hoạt thơ ch-a bao giờ hào hứng và rầm rộ nh- lúc này Phong trào sáng tác thơ ca trong bộ đội, thanh niên xung phong, nhân dân tuyến lửa, cán
bộ cơ sở, thơ của cô pháo thủ, anh chiến sĩ công an, của những bà mẹ và những
em thiếu nhi tạo nên một đội ngũ sáng tác vô cùng hùng hậu, khắc họa trọn vẹn, sâu sắc mọi mặt của hiện thực kháng chiến, mọi tâm t- xúc cảm của con ng-ời,
của mọi lứa tuổi trong giai đoạn này qua các tập nh- Thơ đ-ờng 9 và Nhân dân
tuyến lửa xuất bản năm 1971, tập thơ Trời biển anh hùng (1964) của các địa
ph-ơng và đơn vị lập chiến công
Để có một nền thơ mang tính chất quần chúng, thống nhất t- t-ởng của giai cấp, đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp và nghiệp d- phải trải qua một quá trình dài rèn luyện phấn đấu, thâm nhập vào thực tế cuộc sống để có một cái nhìn chân thực nhất về hiện thực chiến tranh, thông suốt về t- t-ởng Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, những nhà thơ đi theo cách mạng không phải
Trang 27không có những băn khoăn do dự, còn nhiều ý kiến tranh luận dò đ-ờng: Viết cho ai, viết nh- thế nào, những mâu thuẫn giữa con ng-ời nghệ sĩ ch-a theo kịp con ng-ời công dân, giữa nghệ thuật và chính trị, giữa cách diễn đạt cũ và hiện thực mới Sự nhận biết cách mạng ban đầu còn khá mơ hồ, cách mạng là một sự
đổi thay đột biến lớn lao Vui s-ớng phấn khởi nh-ng cũng đầy bàng hoàng bỡ ngỡ – cách mạng làm tôi vui nh-ng cũng làm tôi lo lắng Tôi có còn đ-ợc tự do? Văn học cách mạng có phải là văn học Trong giai đoạn này các nhà thơ vẫn tiếp tục giải quyết những vấn đề lập tr-ờng t- t-ởng, về tình cảm cách mạng, về quan niệm nghệ thuật, về đối t-ợng của sáng tác văn học Tế Hanh đi vào thực tế gian khổ, tích lũy vốn sống mới nh-ng ông vẫn phải thừa nhận: “Sự mò mẫm của tôi
có thể nói kéo dài trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp” Huy Cận hầu như
im lặng trong một thời gian dài, sau này ông có nói: “Trong cái thế giới xúc cảm của tôi lúc bấy giờ ch-a thật nẩy nở những yếu tố xúc cảm mới mà trong việc sáng tác thơ thì t- t-ởng phải nhào nặn với xúc cảm thành một trạng thái tâm hồn duy nhất, thôi thúc thì mới sinh ra tác phẩm được” Có thể nói giai đoạn này là một giai đoạn nhiều khó khăn thử thách với các văn nghệ sĩ, nói nh- Nguyễn
Đình Thi: “Những thắc mắc nhiều khi đau xót của một cuộc lột vỏ, cái xác cũ
rụng xuống ch-a dứt hẳn, da non mới mọc ch-a lành một chút gì chạm phải cũng
rỏ máu” (Nhận đ-ờng)
Nh-ng một điều dễ thấy là thời kì bão táp cách mạng và kháng chiến là ngọn lửa kì diệu có khả năng cảm hóa tái tạo rất lớn, có khả năng tập hợp lực l-ợng đ-a các nhà thơ trở về với thực tế của những năm tháng gian khổ nh-ng anh hùng của dân tộc Các nhà thơ hăm hở đi xuống các địa ph-ơng, vào trận địa
để thâm nhập vào đời sống tâm t- tình cảm của quần chúng nhân dân lao động và chiến đấu.Những chuyến đi ấy đã có những thu hoạch lớn- trở về cuộc sống của nhân dân, nâng cao nhận thức t- t-ởng, từ đó là những kết quả về chất của sáng
Trang 28tác Nhà thơ Huy Cận từng tâm sự: “Cuộc đi tham gia lao động ở vùng mỏ là một
sự kiện quan trọng đối với tâm t- tôi, cho tôi tiếp xúc sâu với chất sống quần chúng công nhân và cũng là sự kiện nh- giọt n-ớc cuối cùng làm tràn một chiếc bình đầy Cuộc thâm nhập ấy đã đẩy mạnh quá trình xúc cảm tr-ớc đây và đ-a
đến ngày khai hoa kết quả” (Tạp chí văn học số 4, 1965)
Bên cạnh các nhà thơ giai đoạn chống Pháp, đội ngũ các nhà thơ hiện đại Việt Nam đến thời kỳ chống Mỹ đã tăng lên gấp bội nhờ sự khẳng định mạnh mẽ của một loạt các nhà thơ trẻ vào những năm 60, 70 Từ các chiến tr-ờng, các quân khu, quân đoàn, các công nông tr-ờng xí nghiệp, tr-ờng học, tiếng thơ của lớp trẻ vang lên đầy kiêu hãnh và tự tin.Những bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm, D-ơng H-ơng Ly, Lê Anh Xuân, Nguyễn Đức Mậu, V-ơng Trọng, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc, Hữu Thỉnh đã đem lại cho thơ chống Mỹ những tình cảm say s-a, những suy nghĩ độc đáo.Với lớp trẻ, hiện thực chiến tranh đã đi vào trong thơ với những dáng vẻ phong phú, cụ thể, chi tiết, sắc sảo, thơ có nhiều thuận lợi đến với những con ng-ời đang trực tiếp chiến đấu và sản xuất Lớp trẻ hầu hết ở những nơi căng thẳng quyết liệt, Lê Anh Xuân, Diệp Minh Tuyền, Thanh Thảo ở Nam Bộ, Thu Bồn ở khu IV, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh ở các đơn vị thông tin, bộ binh, xe tăng Thơ của họ là tấm lòng và cuộc
đời của cả một thế hệ đang ngày đêm lăn lộn với bom đạn và đất cát Nh-ng khác với các nhà thơ xuất hiện trong thời kháng chiến chống Pháp, thế hệ trẻ này đ-ợc sinh ra và lớn lên trong lòng nôi cách mạng Tuổi thơ của họ ít nhất cũng đ-ợc chục năm đào tạo d-ới mái truờng xã hội chủ nghĩa, đ-ợc học hành một cách chính quy, đ-ợc trang bị một hệ thống kiến thức mới có lý t-ởng sống, lý t-ởng thẩm mỹ, có lập tr-ờng giai cấp vững vàng đã đ-ợc định hình ngay từ đầu Hơn thế nữa, họ đ-ợc h-ởng một nền hòa bình, một bầu không khí trong sáng của thời
đại Bác Hồ và tinh thần độc lập tự do Tất cả những điều kiện đó đã tạo cho họ có
Trang 29đ-ợc một điểm xuất phát thuận lợi hơn, có nền tảng hơn nếu không nói là cao hơn so với lớp nhà thơ trong kháng chiến chống Pháp
Nhà thơ Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu là những nhà thơ lớn lên và tr-ởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ Bản thân họ là những ng-ời đ-ợc học tập bài bản và chính quy Tài năng văn ch-ơng nghệ thuật của ba nhà thơ đã đ-ợc bạn đọc, công chúng đón nhận và đ-ợc khẳng định trên văn đàn Những năm tháng chiến tranh, cả ba nhà thơ này đều lên đ-ờng nhập ngũ, môi tr-ờng quân đội đã gắn kết cuộc đời họ từ đó tới nay Tố chất văn ch-ơng, tâm hồn nghệ sĩ hòa quyện với chất lính trong thơ của họ đã tạo nên những “nhà thơ mặc áo lính” có những nét rất riêng đồng thời có những nét chung góp phần tạo nên tiếng nói thời đại của một giai đoạn hào hùng nhất lịch sử dân tộc trong thơ
ca cách mạng Việt Nam 1954-1975
1.2.2.Cuộc đời và sự nghiệp ba nhà thơ - chiến sĩ
Gắn bó với văn ch-ơng nghệ thuật và ng-ời lính, những sáng tác của cả ba nhà thơ không chỉ đ-ợc đón nhận ở những năm tháng chiến tranh mà còn đ-ợc
độc giả công nhận trên con đ-ờng sáng tạo nghệ thuật khi đất n-ớc hoàn toàn giải phóng cho đến nay Sáng tác của họ không chỉ dừng lại ở thơ ca mà còn v-ơn tới ở nhiều thể loại khác Mọi b-ớc đi trên con đ-ờng nghệ thuật của các nhà thơ vẫn đ-ợc quần chúng đón nhận và quan tâm sâu sắc với những nhà thơ mặc áo lính này
1.2.2.1 Nhà thơ Anh Ngọc
Nhà thơ Anh Ngọc tên khai sinh là Nguyễn Đức Ngọc Sinh ngày 1 tháng
8 năm 1943 Quê quán Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An Nhà thơ Anh Ngọc nhập ngũ ngày 6 tháng 9 năm 1971, từng là chiến sĩ thông tin Sau ông chuyển về
báo Quân đội Nhân dân rồi công tác tại ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội
Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Nhà thơ
Trang 30Anh Ngọc viết nhiều và giành nhiều giải th-ởng nh- giải nhì cuộc thi thơ của báo
Văn nghệ 1970-1972 với chùm thơ viết về Quảng Trị, giải th-ởng chính thức
cuộc thi thơ với tr-ờng ca Sóng Côn Đảo, tác phẩm thơ hay 1979 của Tạp chí
Văn nghệ Quân đội với ch-ơng Khúc ca d-ới bóng Ăng Co (trích tr-ờng ca)
Không chỉ sáng tác thơ ca, Anh Ngọc còn có những tác phẩm dịch thuật về tiểu
thuyết nh- Những kẻ tủi nhục (Tiểu thuyết dịch của Đôxtôiepxki), Đối thoại của
Harilyn (thơ dịch) Bên cạnh đó ông còn viết truyện ký (Ba cuộc đời một trái bóng), viết lý luận phê bình Tình yêu đối với thơ và ng-ời lính vẫn luôn là niềm
ấp ủ trong trái tim nhà thơ, cho ra đời hàng loạt các tr-ờng ca nh- Sông núi trên
vai, Sông Mê Công bốn mặt, Điệp khúc vô danh, Anh Ngọc vẫn luôn khẳng định
trên con đ-ờng nghệ thuật đầy khó khăn này Trong những lời tâm sự của mình,
ông từng nói: Yêu thật - Đau thật - Viết thật, một chút tài năng và nhiều tâm huyết lao động để sống chết với thơ, buồn vui với thơ Và những vần thơ của ông
là một tình yêu - một nỗi đau rất thật nh- tâm sự của ông - đó là tình yêu và nỗi
đau mang đậm chất lính Trong nhiều bài báo phỏng vấn nhà thơ, một tuyên
ngôn, một lời tự bạch cho chính cuộc đời và sự nghiệp của mình qua bài thơ Mùa
xuân đọng lại giữa mùa thu, cho ta hình dung phần nào con ng-ời ông:
Mùa xuân
Có một bận trong đời
Anh nhìn thấy Tr-ờng Sơn thật thấp
Tuổi hai m-ơi chân đi không bén đất
Đám mây trời bay d-ới ba lô
Xin câu thơ hay cũng nh- ng-ời bền bỉ
Nghe thời gian xao xác gọi nhau về
Những câu thơ vẫn hành quân không nghỉ
Trang 31Lá vàng rơi tóc trắng ở trên đầu
1.2.2.2 Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh ngày 14 tháng 1 năm 1948 Quê quán xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định Nhập ngũ ngày 26 tháng 1 năm
1966 Sau chiến tranh nhà thơ về công tác tại ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội
Sinh sống ở Hà Nội nhiều năm Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Hội viên hội nhà văn Nguyễn Đức Mậu giành đ-ợc nhiều giải th-ởng văn học nh- giải
th-ởng Bộ Quốc phòng với tác phẩm Bão và sau bão, giải th-ởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1999 với Cánh rừng nhiều đom đóm bay Các tác phẩm đã xuất bản nh- Thơ ng-ời ra trận (1971), Cây xanh đất lửa (1973), áo trận
(1973) Bên cạnh các tác phẩm thơ ca, Nguyễn Đức Mậu còn có những tác
phẩm ở địa hạt khác nh- tiểu thuyết (T-ớng và lính, Chí Phèo mất tích), truyện ngắn và truyện vừa (Con đ-ờng rừng không quên, ở phía rừng Lào) Con đ-ờng
đời của Nguyễn Đức Mậu gắn liền với binh nghiệp và văn nghiệp.Văn ch-ơng đã lựa chọn ông nh- số phận của ông không thể khác M-ời tám tuổi, Nguyễn Đức Mậu cầm súng ra trận, ông có mặt trong đội hình s- đoàn chủ lực trong chiến tranh, s- đoàn 312 anh hùng B-ớc chân của Nguyễn Đức Mậu từng lăn lộn ở hầu khắp các chiến tr-ờng đầy gian khổ, ác liệt: Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Lào), Quảng Trị, Khe Sanh, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Sài Gòn Tuổi trẻ của
ông đã thuộc về ký ức chiến tranh không thể nào quên
Tự nhận mình là “viên sỏi sót lại trên chiếc sàng tử thần” khi mình còn sống sót trở về sau cuộc chiến tranh đầy mất mát hi sinh của đồng đội, “viên sỏi” may mắn ấy đã đi qua những giây phút khủng khiếp nhất của chiến tranh để náu mình trong sự tĩnh lặng của đá Nh-ng tận cùng sự tĩnh lặng ấy, ông nh- không thể thoát khỏi những hồi ức của chiến tranh Những hồi ức nh- một cơn mơ dài,
và cơn mơ sâu thẳm trong cõi tâm linh ấy là những giai điệu thơ ạt ào tuôn chảy
Trang 32nh- không thể dứt Làm việc nhiều, viết nhiều với một nội lực ghê gớm, ông kiệm lời và không nói nhiều hơn về mình ngoài công việc của một ng-ời biên tập thơ mẫn cán và bận bịu Khối l-ợng công việc đồ sộ của một ng-ời làm thơ có tâm có tài đã nuốt chửng Nguyễn Đức Mậu trong những bận rộn th-ờng nhật ở một tòa soạn lớn, và ở Hội nhà văn Thành danh và từng trải, Nguyễn Đức Mậu chọn cho mình một lối sống lặng lẽ.Với Nguyễn Đức Mậu, khó nhất và đáng ngại nhất là khi nói về bản thân mình Ông sẽ không nói gì hơn khi đã lựa chọn thơ làm nơi ẩn náu của tâm hồn mình, những câu thơ sẽ nói hộ ông tất cả:
Thơ quả thật dễ dàng và nghiệt ngã
Từng thổi qua thành quách các v-ơng triều
Thơ quả thật dễ dàng và nghiệt ngã
Cuộc đời cho tôi mắc nợ thêm nhiều
Dòng sông chảy tâm tình ch-a cạn
Ngọn lửa bền, muối mặn hóa tình yêu
Tôi nghĩ gì viết gì giữa những trang giấy trắng
Bài thơ đầu tôi viết thuở yêu em
Hai m-ơi năm bạn bè xa lắc
Cánh chim chiều tan giữa chốn vô biên
Con đ-ờng dài đủ cho ng-ời bạc tóc
Vẫn một chùm hoa đời trẻ thêm
Khi mọi buồn vui trong lòng vơi cạn
Khi con tằm thiếu lá dâu xanh
Tôi lo ngại những hạt xoàn giả tạo
Những câu thơ trang điểm của mình
1.2.2.3.Nhà thơ V-ơng Trọng
Trang 33Nhà thơ V-ơng Trọng sinh ngày 1 tháng 8 năm 1943 Quê quán Trung Sơn, Đô L-ơng, Nghệ An Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Hội viên hội nhà văn Việt Nam, tốt nghiệp khoa Toán tr-ờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhập ngũ ngày 15 tháng 11 năm 1965 Từng ở Bộ tổng tham m-u, tr-ờng Văn hóa quân
đội Từ năm 1974 chuyển về công tác tại ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội
Nhà thơ V-ơng Trọng cũng đạt đ-ợc nhiều giải th-ởng nh- giải th-ởng cuộc thi
thơ của báo Văn nghệ 1969 Giải th-ởng Bộ Quốc phòng 1984-1989 với tác phẩm Những ngày xa Các tác phẩm đã đ-ợc xuất bản: Thơ ng-ời ra trận (1972),
Khoảng trời quê h-ơng (1979), Những ngày xa (1986)
Ông sinh ra ở một vùng quê nghèo thuộc làng Đông Bích, Đô Luơng, Nghệ An Nơi đó, những đứa trẻ lên cấp hai vẫn có thể mặc quần đùi đi chân đất 4-5 cây số để đến tr-ờng, nơi có lớp học là nhà tre, lợp gianh, vách nứa Kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Đông Bích đ-ợc chọn làm nơi đặt trụ sở của Hội Văn nghệ cứu quốc Liên Khu 4 May mắn đ-ợc biết đến những văn nghệ sĩ nổi tiếng của đất n-ớc: Thanh Tịnh, Hoài Thanh, Chế Lan Viên khiến niềm đam
mê và sáng tạo văn ch-ơng trỗi dậy trong tâm hồn của nhà thơ V-ơng Trọng lúc nào không hay Lên lớp sáu, V-ơng Trọng đã thuộc lòng cả tập thơ Truyện Kiều,
dù còn nhỏ nh-ng ông vẫn say s-a và thuộc từng lời có lẽ đó là một trong mạch thơ nuôi d-ỡng nguồn thơ cho đến tận bây giờ nh- nhà thơ từng tâm sự Cuộc đời của ông nh- có duyên nợ với văn ch-ơng Hồi tr-ớc ông học rất khá các môn tự nhiên, mặc dù đã từng đi thi văn Đến khi thi đại học ông đã chọn thi Đại học Tổng hợp, khoa Toán vì nghĩ rằng mình học khá môn toán thì sẽ dễ đỗ hơn, và cũng vì muốn học một ngành khác với ng-ời anh trai của mình - lúc đó đang là giáo viên dạy văn Nh-ng trong những ngày công tác thám mã của cục Quân báo, tại Ba Vì, V-ơng Trọng vẫn tranh thủ làm thơ, và thơ ông đ-ợc công chúng, bạn
Trang 34đọc công nhận, đ-ợc khẳng định trên văn đàn bằng những giải th-ởng văn học có giá trị
Những kí ức chiến tranh vẫn luôn chảy - một dòng chảy bất tận trong tâm hồn nghệ sĩ của V-ơng Trọng Năm 1972, V-ơng Trọng vinh dự có mặt trong trận B52 trên bầu trời Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không nh- một trang phóng
sự bằng thơ, mang tính chất sử biên niên.V-ơng Trọng đã viết nên tác phẩm của mình d-ới con mắt của một nhà thơ đồng thời cũng là của một ng-ời chiến sĩ chiến đấu hi sinh cho độc lập tự do của dân tộc Những năm tháng chiến tranh đã qua đi nh-ng vẫn còn vang dội trong sâu thẳm trái tim của nhà thơ đã thôi thúc
ông viết tr-ờng ca: Hà Nội của tôi Trái tim của nhà thơ là trái tim của một con
ng-ời nhạy cảm, là sự sẻ chia sâu sắc với những số phận con ng-ời.V-ơng Trọng
từng nói rằng: Tôi yêu Đỗ Phủ hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du gấp nhiều lần Hồ
Xuân H-ơng bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn biết đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh Thơ không phải là thứ sinh ra cho ng-ời
đời chơi chữ mà để chuyển tải nỗi lòng Bài thơ hay có khi không còn thấy thơ
đâu mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và số phận Yêu quê h-ơng, sống giản dị và
cống hiến hết mình cho thơ ca là con ng-ời của nhà thơ V-ơng Trọng:
Nếu đời tôi dừng lại chốn tha h-ơng
Tang lễ xin đừng làm với lễ nghi cấp tá
Đồng phục, súng, l-ỡi lê tôi không lạ
Màu cờ kia sẵn trong máu tim tôi
Thi hài tôi sẽ trở lại với làng
Trên sức lực bạn bè, xóm mạc
Những bàn tay lam nham cua cắp
Những bàn chân tập tễnh b-ớc gai đâm
Trang 35Ch-ơng 2 Cái tôi công dân của ba nhà thơ
Anh Ngọc, V-ơng Trọng, Nguyễn Đức Mậu
Có thể nói rằng thơ ca là những biểu hiện cảm xúc, suy t-, những khát vọng của con ng-ời nhằm đối diện và khám phá những trải nghiệm tinh thần của con ng-ời tr-ớc mọi hiện t-ợng xã hội và tự nhiên Cuộc trải nghiệm ấy diễn tiến trong suốt lịch sử nhân loại nh- một hiện t-ợng tinh thần đặc thù của con ng-ời, nh-ng cũng là cuộc trải nghiệm thông qua mỗi cá nhân và đ-ợc thể hiện bằng tiếng nói cá thể của mỗi nhà thơ - chủ thể trữ tình Cái tôi trữ tình nh- một nhân
tố khởi sự và hoàn tất của sáng tạo trữ tình - t- t-ởng này đ-ợc quán xuyến và khẳng định ở hầu hết các quan điểm lý luận Cái tôi trữ tình có thể đ-ợc coi là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc với thế giới và con ng-ời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các ph-ơng tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt tinh thần ấy đến ng-ời đọc Cái tôi trữ tình là hiện t-ợng tổng hợp các ph-ơng tiện cá nhân, xã hội, thẩm mỹ Bản thân những yếu tố cấu thành nó luôn trong trạng thái biến đổi, tác động và đặt cái tôi trữ tình trong một thế vận động th-ờng xuyên và liên tục Hiện thực đời sống, cùng những vấn đề chính trị-xã hội