1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Di Tích Chùa Châu Lâm Phường Thụy Khuê Quận Tây Hồ Thành Phố Hà Nội 8543743.Pdf

60 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di Tích Chùa Châu Lâm Phường Thụy Khuê Quận Tây Hồ Thành Phố Hà Nội
Tác giả Đỗ Thu Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Tiến
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Di sản Văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 691,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA DI SẢN VĂN HÓA ĐỖ THU THẢO DI TÍCH CHÙA CHÂU LÂM (PHƯỜNG THỤY KHUÊ QUẬN TÂY HỒ HÀ NỘI) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC Mã số 52320305 Người hướng dẫn PGS TS[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

ĐỖ THU THẢO

DI TÍCH CHÙA CHÂU LÂM

(PHƯỜNG THỤY KHUÊ - QUẬN TÂY HỒ - HÀ NỘI)

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa Di sản văn hóa, em đã hoàn thiện

bài khóa luận này

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến Em xin gửi đến thầy niềm biết ơn sâu sắc Khóa luận này cũng đánh dấu sự hoàn thành quá trình học tập tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội của em Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trong khoa Di sản văn hóa đã ủng hộ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực hiện khóa luận này

Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn đến Phòng Văn hóa quận Tây

Hồ, Ban Quản lý di tích chùa Châu Lâm và đền Voi Phục, Cán bộ Ban Quản

lý di tích danh thắng Hà Nội đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để

em tiếp cận, khảo sát di tích chùa Châu Lâm

Là một sinh viên năm thứ tư, chưa có thời gian được tiếp xúc nhiều với thực tế, kiến thức còn hạn chế, do vậy khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo kiến thức của các thầy cô

giáo và bạn bè để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn nữa

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Đỗ Thu Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CHÙA CHÂU LÂM TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 4

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại 4

1.1.1 Tổng quan và lịch sử vùng đất Thụy Khuê 4

1.1.2 Không gian văn hóa Hồ Tây 7

1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của chùa Châu Lâm 9

1.2.1 Những vấn đề lịch sử 9

1.2.2 Lịch sử xây dựng 12

1.2.3 Quá trình tồn tại và phát triển 14

1.2.4 Khái quát quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT CHÙA CHÂU LÂM 21

2.1 Giá trị kiến trúc 21

2.1.1 Không gian cảnh quan 21

2.1.2 Bố cục mặt bằng 24

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc 25

2.1.3.1 Tam quan 25

2.1.3.2 Tiền đường 26

2.1.3.3 Thượng điện 28

2.1.3.4 Nhà mẫu 29

2.1.3.5 Nhà khách 30

2.2 Giá trị điêu khắc 31

2.2.1 Nghệ thuật trang trí kiến trúc 31

2.2.2 Nghệ thuật điêu khắc 38

2.2.2.1 Hệ thống tượng thờ ở Thượng Điện 38

2.2.2.2 Hệ thống tượng ở Tiền đường 54

2.2.2.3 Tượng Mẫu 58

Trang 4

2.2.2.4 Tượng Tổ 60

2.2.3 Các di vật tiêu biểu 60

2.2.4 Các ngày lễ trong năm của chùa Châu Lâm 64

CHƯƠNG 3: BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA CHÂU LÂM 66

3.1 Thực trạng các đơn nguyên kiến trúc, di vật 66

3.1.1 Thực trạng về các đơn nguyên kiến trúc 66

3.1.2 Thực trạng về di vật 68

3.1.3 Thực trạng về quản lý di tích 69

3.1.4 Thực trạng sử dụng diện tích đất của chùa 70

3.2 Một số giải pháp bảo tồn di tích chùa Châu Lâm 70

3.2.1 Cơ sở pháp lý 70

3.2.2 Các nguyên tắc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích 72

3.2.3 Các hoạt động bảo tồn 73

3.2.3.1 Bảo tồn khu vực bảo vệ 73

3.2.3.2 Bảo tồn cấu kiện kiến trúc 74

3.2.3.3 Bảo tồn hệ thống di vật 76

3.3 Khai thác và phát huy giá trị di tích chùa Châu Lâm 78

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 91

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã lập nên một quốc gia độc lập với nền văn hiến lâu đời Quá trình lịch sử đó đã

để lại một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc Thông qua

hệ thống di sản văn hóa chúng ta có thể tìm hiểu nắm bắt và tiếp nối những giá trị tinh hoa mà ông cha ta để lại Di tích lịch sử văn hóa là hình thức biểu hiện vật chất của di sản văn hóa, nó luôn có dấu ấn sâu sắc trong mọi thế hệ người dân Việt Nam bởi trải qua sự thăng trầm của lịch sử các di tích của mọi thời đại, ghi nhận chặng đường lao động sáng tạo của thế hệ đi trước Đó không chỉ là những giá trị vật chất cụ thể mà còn bao hàm những giá trị tinh thần phong phú Di tích lịch sử văn hóa là những trang sử có sức thuyết phục lớn đối với mọi thế hệ chúng ta Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu để từ đó bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời đại mới

Trong suốt chặng đường dài của lịch sử, với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc thì đạo Phật luôn luôn hòa mình với nhịp sống của dân tộc góp phần tô đẹp lên những trang sử vẻ vang của đất nước Những ngôi chùa ở Việt Nam là biểu tượng cho chân lý thánh thiện, là nơi trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tu học của Tăng Ni và các tín đồ Phật tử, là nơi giáo dục đạo đức hướng thiện cho tất cả mọi người Đồng thời ngôi chùa cũng là một công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật vô giá của cha ông ta đã để lại

Chùa Châu Lâm - Phường Thụy Khuê - Quận Tây Hồ -Thành phố Hà Nội cũng nằm trong lịch sử hình thành và phát triển của Chùa Việt, trong nó cũng chứa đựng nhiều nét độc đáo của riêng mình để phản ánh một thời đại đã qua Nó chứa đựng những giá trị nghệ thuật trang trí, kiến trúc điêu khắc có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tâm linh của cư dân địa phương cũng như mọi

du khách khi tới thăm quan và lễ Phật

Sau quá trình học tập và nghiên cứu vận dụng những kiến thức đã học

Trang 6

về chuyên ngành Bảo tồn - bảo tàng đi vào tìm hiểu về ngôi chùa để thấy được những giá trị và ý nghĩa tốt đẹp và nắm bắt được thực trạng đưa ra các giải pháp cho vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm giữ gìn các di sản văn hóa của địa phương cũng như của đất nước

Với lý do trên em xin chọn đề tài: Di tích chùa Châu Lâm-Phường Thụy Khuê - Quận Tây Hồ -Thành phố Hà Nội làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình

+ Giá trị văn hóa vật thể: kiến trúc, di vật

+ Giá trị văn hóa phi vật thể: tín ngưỡng, thờ cúng

- Nghiên cứu thực trạng di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị vốn có của di tích trong bối cảnh hiện nay

- Cung cấp thông tin cho những người quan tâm muốn học tập nghiên cứu, tìm hiểu về di tích chùa Châu Lâm

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích chùa Châu Lâm thuộc Phường Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội

Trang 7

5.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa: quan sát, miêu tả, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm

- Tập hợp, hệ thống hóa các tư liệu liên quan đến di tích để phân tích, đánh giá…

- Phương pháp liên ngành: Bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, Bảo tàng học, Sử học, Mỹ thuật học, Dân tộc học, Văn hóa học, Khảo cổ học, Xã hội học, Du lịch học…

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Chùa Châu Lâm trong diễn trình lịch sử

Chương 2: Giá trị kiến trúc – Điêu khắc chùa Châu Lâm

Chương 3: Vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị chùa Châu Lâm

Trang 8

CHƯƠNG 1 CHÙA CHÂU LÂM TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Tổng quan và lịch sử vùng đất Thụy Khuê

Chùa Châu Lâm hiện nay tọa lạc tại ngõ 199 phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Thụy Khuê là một trong tám phường của quận Tây Hồ, phía bắc giáp phường Quảng An, phía nam giáp phường Ngọc Hà, Cống Vị (quận Ba Đình), phía đông giáp phường Trúc Bạch, phía tây giáp phường Bưởi

Thụy Khuê là một vùng đất cổ có bề dày tạo dựng và phát triển từ rất lâu đời, mảnh đất gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh thành Thăng Long thời Lý Trần Phường Thụy Khuê xưa có tên là Thụy Chương, cái tên Thụy Chương này do trên mảnh đất tại đây thời Trần có xây dựng cung điện Thụy Chương, nơi triều đình tổ chức lễ khánh hạ Tấm bản đồ Hà Nội in năm

1831 có ghi cửa ô tên là “Thụy Chương ô môn” (nay là công viên Lý Tự Trọng) cho chúng ta biết cái tên Thụy Chương từng tồn tại từ thời gian đó

Trải qua một thời gian dài hơn 300 năm dưới triều Lê (1428-1788), Thụy Khuê là một trong 36 phường hợp thành Kinh thành Thăng Long Qua các đời Tây Sơn và Nguyễn, kinh đô chuyển vào Huế, Thụy Chương là làng thuộc huyện Thọ Xương tỉnh Hà Nội Đến đời Tự Đức mới đổi Thụy Chương thành Thụy Khuê Sau khi chiếm đóng và đặt được ách bảo hộ lên Việt Nam, năm 1889 thực dân Pháp qui hoạch thành phố Hà Nội, Thụy Khuê cùng các làng ven Hồ Tây là khu ngoại thành Hà Nội Năm 1915, vùng đất này thuộc

về huyện Hoàn Long, Hà Nội Sau cách mạng tháng Tám, các làng ven hồ lại thành 120 xã ngoại thành Hà Nội Kháng chiến chống Pháp, Thụy Khuê thuộc

về quận V ngoại thành Hà Nội

Năm 1961, Hà Nội tổ chức lại địa giới 4 quận ngoại thành đổi thành huyện, 4 quận nội thành đổi thành 4 khu phố, Thụy Khuê thuộc về khu phố

Trang 9

Ba Đình Năm 1981 khu phố Ba Đình lại đổi thành quận, Thụy Khuê là một phường thuộc quận Ba Đình Năm 1995 Hà Nội lập thêm quận Tây Hồ bao gồm một số xã thuộc huyện Từ Liêm và một số phường thuộc quận Ba Đình nằm ven Hồ Tây, Thụy Khuê lại là phường thuộc về quận mới này

Nằm trải dài trên một đoạn bờ nam Hồ Tây, phường Thụy Khuê bao gồm có hai con đường chính là đường Thụy Khuê và đường Hoàng Hoa Thám chạy song song với nhau từ Đông sang Tây Phố Thụy Khuê dài 3,2km; từ phố Quán Thánh- đường Thanh Niên (cạnh vườn hoa Tây Hồ), chạy vòng lượn theo bờ Bắc sông Tô Lịch và bờ Nam Hồ Tây, cho đến chợ Bưởi, gặp đường Lạc Long Quân Đất các phường Thụy Chương, Hồ Khẩu, Yên Thái thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận cũ Vùng làm giầy nổi tiếng Kinh Thành Thụy Chương sau đổi tên thành Thụy Khuê, dân thường gọi chệch là Thụy Khê Nay đường Thụy Khuê thuộc phường Thụy Khuê và phường Bưởi- quận Tây Hồ Khi Hà Nội còn tồn tại loại hình là xe điện thì có một tuyến xe là Bờ Hồ- Bưởi cũng chạy qua Thụy Khuê và song song với hai tuyến phố Quán Thánh và đường Thanh Niên Giữa hai tuyến phố trên xưa kia là sông Tô Lịch, khúc sông

ấy ngày nay đã bị lấp đi trở thành các xóm dân cư

Các xóm dân cư xưa tập trung ở phần giữa làng, hai đầu làng là đồng ruộng Là mảnh đất nhỏ hẹp ven Hồ Tây, đồng ruộng rất ít, người dân Thụy Khuê và các làng ven hồ đều phát triển nghề phụ Nếu như làng Bưởi có nghề làm giấy, Yên Thái có nghề dệt vải thì Thụy Khuê nổi tiếng với nghề nấu rượu ướp hương sen Nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn từng ca ngợi rượu Thụy

Khuê như trong bài “Thụy phường liên tửu” (Rượu sen phường Thụy Khuê):

Địa tiếp Tây Hồ cộng tửu thiên Nhai tai Thụy tửu tửu trung tiên

Trang 10

kinh tế như sở xe điện (lập năm 1899), nhà máy giặt (năm 1908), nhà máy thuộc da (năm 1913) Cơ sở kinh tế lớn nhất trên đất Thụy Khuê là nhà in Schneider xây dựng năm 1893 Xí nghiệp có xưởng in, xưởng làm giấy, biệt thự của chủ xí nghiệp Nhà in sau này có tên là nhà in Trung Bắc Tân Văn (nay

là công ty in Thống Nhất) nhà in tồn tại đến năm 1907 thì chuyển đi nơi khác

Nằm ở ngoại vi kinh thành Thăng Long xưa – trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước thời phong kiến (về sau chính trên mảnh đất này lại tồn tại trường Bưởi), người Thụy Khuê được được tiếp xúc với các tao nhân mặc khách, các trí thức trong xã hội Điều này kích thích tinh thần học tập, thi cử của nhân dân Thụy Khuê tự hào là làng quê nhỏ nhưng là quê hương của Nguyễn Đoan (Tiến sĩ năm 1502) Đầu thế kỉ XX, Thụy Khuê lại là mảnh đất quê hương của một con người nổi tiếng khác , đó là học giả, nhà văn hóa Phan

Kế Bính (1875-1921)

Vùng đất Thụy Khuê là vùng đất cao ráo, bằng phẳng nơi đây nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử Tại vùng đất trời phú này đời Trần có điện Thụy Chương Năm 1397, Hồ Quý Ly cho dỡ điện đưa về Thanh Hóa xây dựng kinh đô mới, trên nền điện cũ người dân xây dựng lên một ngôi đền thờ Uy Linh Lang, ngày nay là đền Voi Phục ở 251 phố Thụy Khuê Thụy Khuê cũng

có hai ngôi đình của hai giáp dân cư Đình giáp Đông ở 130 Thụy Khuê, đình giáp Đoài ở 146 Thụy Khuê

Cũng trên mảnh đất Thụy Khuê, đời Lê Thánh Tông cũng cho xây dựng một khu nhà dành cho người Chiêm Thành có tên là viện Châu Lâm Cạnh viện là ngôi chùa để người Chiêm thực hiện các nghi lễ theo tín ngưỡng của họ, chùa có tên là chùa Châu Lâm (theo tiếng Nôm là chùa Bà Đanh) Dấu tích cho ta biết việc này là tấm bia niên đại Chính Hòa thứ 20 (1699) Một thời gian về sau, viện Châu Lâm chuyển đi nơi khác, cảnh chùa vắng vẻ, tấm bia đá cùng một số đồ thờ được đưa về chùa của làng là chùa Phúc Châu

Sang thời Pháp thuộc, cùng với việc xây dựng các cơ sở kinh tế, Thụy Khuê cũng có nhiều cơ sở văn hóa-khoa học, kĩ thuật như viện nghiên cứu và

Trang 11

vườn ươm các giống cây nhập ngoại, viện có tên gọi khác là “Vườn ươm Lapho” (Lafort) nơi đây ngày nay là làng văn hóa Việt -Nhật (số 14 Thụy Khuê)

1.1.2 Không gian văn hóa Hồ Tây

Xét về lịch sử hình thành, hồ Tây là món quà mà sông Hồng tặng cho

Hà Nội Nhiều tài liệu địa lý, địa chất đã cho thấy sông Hồng sau khi đổi dòng

đã lưu lại một khúc cong hình vành tai để rồi trở thành vạt hồ Tây ngày nay

Có lẽ qua cơn dâu bể, sông sống động hóa thành hồ tĩnh tại mà đã ra đời các huyền thoại để lý giải nguồn gốc hồ một cách suy nguyên như Lạc Long Quân đánh Hồ Tinh, Khổng Minh Không đúc chuông đồng… và sự ra đời của những tên gọi Đầm Xác Cáo, Hồ Trâu Vàng…

Tây Hồ là vùng đất còn lưu giữ một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa với số lượng lớn của thủ đô Hà Nội, trong đó có 18 ngôi chùa, 16 ngôi đình, 7 miếu, 8 đền, 6 nhà thờ họ, 2 di tích cách mạng, 1 phủ, 1 am, 1 nhà hội đồng, 1

di tích mộ tang Có những đình chùa có niên từ một nghìn năm như đền Đồng

Cổ có từ năm 1028, chùa Bà Già chưa rõ năm ra đời nhưng từ thời Trần Nhật Duật đã là một danh lam Chỉ với lịch sử, cảnh quan và kiến trúc cổ tất cả đều đáng cho khách tới thăm và nghiên cứu Không những vậy, tại các di tích còn lưu giữ nhiều di vật như: bia, chuông, khánh, thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối… Theo thống kê tại 61 di tích còn 12 thần tích, 175 đạo sắc phong, 59 bài văn khắc trên chuông, 213 tấm bia đá, 370 câu đối, 203 hoành phi Có những tấm bia trên năm trăm tuổi như bia chùa Kim Liên có niên đại 1443

Có những pho tượng là kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam như tượng Phật nhập niết bàn ở chùa Trấn Quốc, tượng Quan Âm ở chùa Phổ Linh…Mỗi di tích lại mang trong mình hơi thở của thần thoại, truyền thuyết,

cổ tích cùng với không gian cảnh quan tĩnh lặng, êm đềm như đưa con người trở về với cội nguồn

Song hành với hệ thống di tích là các lễ hội, vùng hồ Tây có những lễ hội dân gian độc đáo làm nên bề dày của văn hóa kinh kỳ Có những lễ hội mang dấu ấn của tín ngưỡng nguyên thủy như tục cầu mưa cầu nước Ở hội

Trang 12

làng Hồ Khẩu có trò “bơi cạn” ở sân đình Đó chính là hình ảnh tái hiện lại một thời dân cư sống bằng nghề chài lưới trên bờ sông Hồng, sông Tô trước khi tiếp cận nghề làm giấy Có lễ hội lại tôn vinh lòng trung hiếu như hội thề ở đền Đồng Cổ Lễ hội này có từ đầu đời Lý Thái Tông (1028) và kéo dài sang tận đời Trần Sử sách còn ghi chép lại là cả triều đình bách quan văn võ đúng ngày

4 tháng 4 phải ra đây thề “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, thần minh tru

diệt” Dân kinh thành đi xem hội thề đứng chật cả hai bên đường

Hồ Tây còn là nguồn cảm hứng để hình thành một vùng văn học riêng

Có thể nói hồ Tây là một tấm gương phản chiếu một phần tâm tư tình cảm của người Hà Nội, là nguồn cảm hứng, nguồn thơ, nguồn rung động của bao thế

hệ thi nhân khuyết danh và hữu danh Văn học dân gian với thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, hò, vè… là những sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật đầu tiên và sớm nhất đến với hồ Tây Nó trở thành một vốn liếng sáng giá không chỉ trong kho tàng văn học dân gian Hà Nội mà là của cả Việt Nam Văn học thành văn cũng vậy, đã có rất nhiều tập ký, truyện, thơ phú viết bằng chữ Hán, chữ Nôm thời cổ với các tác giả Nguyễn Mộng Tuân, Thái Thuận, Ngô Thi Sĩ, Bùi Huy Bích, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Siêu, Cao

Bá Quát… Thời cận đại với các tác phẩm quốc ngữ của các nhà văn nhà thơ Trần Tuấn Khải, Tản Đà, nhóm Tự lực văn đoàn, nhóm Tiểu thuyết thứ Bảy Thời hiện đại có những ngôi sao sáng đã đóng góp các tác phẩm hay, giàu triết lý nhân văn và nhân đạo cho bầu trời văn học Việt Nam phải kể đến những cái tên như Tố Hữu, Trần Lê Văn, Tô Hoài, Đoàn Văn Cừ, Phạm Tiến Duật…Như vậy, cùng với các giá trị khác như không gian cảnh quan, kiến trúc, lịch sử văn học về vùng hồ Tây cũng là một giá trị đặc biệt nâng tầm hồ Tây thành một chủ đề văn học lớn của nền văn học Việt Nam

Vùng ven hồ Tây còn là cái nôi của những làng nghề cổ truyền: làng dệt lĩnh, dệt lụa Bái Ân, Trích Sài; các làng trồng hoa Nghi Tàm, Nhật Tân; các làng làm giấy Yên Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu; làng đúc đồng Ngũ Xá Tương truyền nghề dệt lĩnh lụa là do bà phi Chiêm Thành còn có tên là Phan

Trang 13

Thị Ngọc Đô truyền cho dân làng để phục vụ cho nhu cầu của các tầng lớp trung thượng lưu Nghề làm giấy là gốc bản địa Giao Chỉ sau này có tiếp thu

kĩ thuật Trung Hoa nên ngoài việc làm giấy dân dụng còn là nơi chuyên sản xuất giấy phục vụ nhu cầu của các vương triều như giấy sắc, giấy lệnh… Nghề trồng hoa đã hình thành từ rất lâu cùng với sự hình của Kinh đô, phố phường đô thị đáp ứng nhu cầu của tầng lớp thị dân Nghề đúc đồng vốn do 5

xã bên trấn Kinh Bắc được điều về Thăng Long để đảm nhận khu vực hồ Tây với nguồn nước tốt cùng với chất đất tốt thích hợp cho việc cung ứng cho kỹ nghệ nấu luyện đồng và đắp lò cùng khuôn đúc Thêm vào đó do nhu cầu của triều đình phải sử dụng nhiều đồ đồng để dùng trong các nghi lễ, sinh hoạt của vua chúa và các đại thần Nhất là khi triều đình cho phép đúc tiền, dân chúng tham gia đúc đồng rất đông Nghề đúc đồng truyền thống từ 5 xã thuộc tổng Đề Cầu trấn Kinh Bắc tới bán đảo Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, lập ra Ngũ

Xã Tràng hành nghề từ thế kỷ 17 Kỹ thuật đúc đồng ở đây đã đạt đến trình độ tinh xảo mà thành tựu tiêu biểu là pho tượng đồng khổng lồ tạc tượng Huyền Thiên Trấn Vũ nặng hơn 4 tấn, đúc năm 1677 đặt ở đền Quán Thánh – Một trong tứ trấn thăng long nổi tiếng đất kinh kỳ

1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của chùa Châu Lâm

1.2.1 Những vấn đề lịch sử

Phật giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên Trong khoảng thời gian đó, các ngôi chùa được xây dựng để phục vụ cho nghiên cứu sinh hoạt Phật giáo ở nhiều thời điểm khác nhau Trải qua các thời kỳ khác nhau, ngôi chùa vẫn có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tôn giáo của người Việt Nam Người Việt xưa có câu tục ngữ “Đất vua, chùa làng”, điều này có nghĩa là ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước phương Đông, trong thời kỳ trung đại, toàn bộ đất đai trong cả nước thuộc quyền sở hữu của nhà vua, còn ngôi chùa thuộc về cộng đồng làng xã

Chùa Châu Lâm (Bà Đanh) là công trình kiến trúc tín ngưỡng, ban đầu, với mục đích để phục vụ nhu cầu tâm linh cho các sứ thần người Chiêm

Trang 14

Thành đến làm việc ở Thăng Long Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhiều người Chăm có mặt ở Thăng Long thường xuyên tới đây để lễ Phật Trong triều đại nhà Lý, tổng cộng có khoảng 10 lần vào các năm 1020, 1043, 1044, 1069,

1075, 1104, 1132, 1167, 1216, 1218 các vị vua hay các danh tướng, quan lại như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành… đã đem quân đi đánh Chiêm Thành Sau mỗi lần đánh, vua Chiêm Thành lại cầu hòa, cử người sang cống nhưng sau đó lại chống đối

Sự kiện lớn nhất là vào năm 1069, Chiêm Thành đem quân ra cướp phá vùng Nghệ An - Hà Tĩnh Vua Lý Thánh Tông thân chinh dẫn 10 vạn quân nam chinh vào tận kinh đô Chiêm Thành đánh bại và bắt được vua Chiêm đưa

về Thăng Long Để được tha, vua Chiêm và triều đình Chiêm Thành đã cắt phần đất phía Bắc dâng cho Đại Việt là vùng đất Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay, sau sự kiện này biên giới phía nam của Đại Việt lần đầu tiên tiến đến sông Thạch Hãn (Quảng Trị) Qua đó, ta có thể hình dung ra bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ khi quân đội nhà Lý chiến thắng Chiêm Thành đã bắt nhiều tù binh Chăm đem về kinh đô Thăng Long, trong đó có nhiều tù binh là các nghệ nhân Với bàn tay tài hoa của mình, các nghệ nhân Chăm đã để lại

nhiều dấu ấn trên các công trình kiến trúc do họ xây dựng Theo cuốn “Tây

Hồ chí” có ghi: vua Lê Thánh Tông đã cho làm một thiền viện (vừa là chùa,

vừa là một trung tâm nghiên cứu) ở gò Phượng Chuỷ bên bờ Nam Hồ Tây cho người Chăm hành đạo, gọi là thiền viện Châu Lâm Gò Phượng Chuỷ nay là

khu vực trường Chu Văn An, quận Ba Đình, nhưng dân thường gọi là chùa

Bà Đanh Sau đó người Chăm chuyển sang khu vực khác sinh sống, thiền

viện hoang phế nên có câu ngạn ngữ “Vắng như chùa Bà Đanh” Nhiều nhà

nghiên cứu về địa phương này cho rằng tên chùa là chùa Bà Đanh với suy luận rằng chùa vốn của người Chăm, tất có tượng các vũ nữ ở tư thế múa, tay dang, chân khuỳnh Do vậy mà có tên Bà Banh, đọc trại thành Bà Đanh Khảo sát trên địa bàn Hà Nội, cùng với chùa Bà Đanh còn phát hiện ba ngôi chùa với tên gọi là: Bà Đá, Bà Ngô, Bà Nành Đây là bốn ngôi chùa cổ

Trang 15

của kinh thành Thăng Long xưa gợi cho chúng ta nhận thức được rằng có một

sự dung hợp giữa Phật giáo và các nữ thần của người Việt Chùa Chùa Bà Ngô hiện nay ở số 128 Nguyễn Khuyến, quận Đống Đa Tên chữ Hán là

"Ngọc Hồ tự" Tương truyền chính ở chùa này vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đă gặp tiên, cùng tiên ngâm vịnh Gọi là chùa Bà Ngô bởi có tích chuyện kể rằng chùa do một bà họ Ngô xây dựng nên, nhưng cũng có tích kể

là người xây chùa là một bà có chồng là người nước Ngô (Trung Quốc), nên gọi là bà Ngô Chùa Bà Nành ở số 154 phố Nguyễn Khuyến, quận Đống Đa Tương truyền vốn là nhà của một bà bán bánh, bán chè đậu nành Bà là người phúc hậu, hay giúp đỡ người nghèo Khi về già, bà đã bỏ tất cả tiền tích góp

ra xây ngay trên đất nhà mình một ngôi chùa và xuất gia tu hành Sau khi bà mất, dân làng đắp tượng bà và đặt trên tấm đá mà bà vẫn dùng làm bàn bán hàng Nay tượng và bàn đá đó vẫn còn Dân làng gọi đó là chùa Bà Nành Tên chữ là “Tiên Phúc tự” Chùa Bà Đá, hiện nay ở số 3 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Lịch sử chùa được kể như sau: đời Lê Thánh Tông (1460 - 1697) ở làng Báo Thiên (khu vực Nhà thờ Lớn ngày nay) có người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá Người ấy bèn dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ ngay tại nơi đào được tượng Sau dân làng thấy linh thiêng mới góp công, góp của xây thành chùa lớn, đón sư về trụ trì Vì vậy chùa có tên là chùa Bà

Đá, tên chữ là "Linh Quang tự" Vị trí của các ngôi chùa này không giống như

vị trí của các công trình kiến trúc trấn 4 phía của kinh thành Thăng Long xưa

mà vị trí hiện tồn của các ngôi chùa này cho phép chúng ta liên tưởng đến tín thờ Tứ pháp, Tứ phủ Phật và thần được phối thờ trong một ngôi chùa, hơn nữa lại là nữ thần, ta thấy tín ngưỡng thờ các Bà có ngọn nguồn dân gian xưa: Thờ Tứ pháp: Pháp Vân (Mây), Pháp Vũ (Mưa), Pháp Lôi (Sấm), Pháp Điện (Sét) đó là những hiện tượng của tự nhiên được cư dân nông nghiệp xưa tôn thờ từ rất sớm Hay tín ngưỡng thờ Tứ phủ gồm: Tứ phủ bao gồm: Mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp; Mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng

Trang 16

núi, ban phát của cải cho chúng sinh; Mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp; Mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống Đây là bốn ngôi chùa đặc biệt của buổi đầu xây dựng tín ngưỡng thờ nữ thần và thờ Phật của người bản địa

Qua đó, phần nào có thể thấy được tín ngưỡng thờ các bà: Đá, Đanh, Nành, Ngô có từ rất sớm và chùa Châu Lâm có thể gắn với các cuộc chinh phạt Chiêm Thành Đây vừa là chùa, vừa là thiền viện của người Chăm sinh sống tại Thăng Long Khi nhà Lê lên ngôi, hệ tư tưởng Nho giáo gần như thống trị độc tôn thì ngôi chùa này cũng ít được lui tới Bởi lẽ, văn hóa Chăm pa ảnh hưởng nhiều từ Văn hóa Ấn Độ, đề tài thể hiện của nó mang nhiều yếu tố phồn thực: mảng chạm vũ nữ Apsara với những điệu múa làm say đắm lòng người, mang đậm yếu tố phồn thực thì không phù hợp với tư tưởng Nho giáo khi ấy, nên chùa Châu Lâm ít người lui tới, về sau khi người Chăm chuyển về các vùng ngoại vi Thăng Long sinh sống, ngôi chùa hầu như vắng vẻ

Những vết tích của nghệ thuật điêu khắc tượng Chăm không còn hiện hữu tại chùa Châu Lâm, song nhìn rộng ra và toàn diện về quá trình lịch sử của dân tộc và những tư liệu có liên quan đến quá trình hình thành chùa Châu Lâm ta có thể tạm khẳng định: Chùa có niên đại sớm, có thể từ thời Lê và được mở mang, tu sửa dưới thời vua Lê Thánh Tông gắn với ngọn nguồn tín ngưỡng dân gian xưa của người Việt

Trang 17

muôn đời sau, trăm hoa đua nở ngày đêm an thường Kiếp kiếp sinh sinh thường gặp quan cao lộc vị, năm năm đời đời, tăng thêm thọ vinh hoa vô cùng, tăng thêm quả phúc”

Căn cứ theo tấm bia: “ Phúc Châu tự bi” (bia chùa Phúc Châu) có niên đại Thành Thái thứ 5 (1893) khắc nội dung:

“Làng ta từ trước tới nay có hai chùa thờ Phật, một chùa tên là Châu Lâm, một chùa tên là Phúc Châu đều được xây dựng từ thời Lê đều ở một xóm, ngày tháng nhân dân chiêm bái Trải qua loạn lạc ngày tháng gần trôi, vách tường sụt nở, mái chùa mục nát, bản phường liền tụ họp nhân dân bàn việc trùng tu sửa chữa Mùa thu năm Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái (1892), nhà tiền đường xuống cấp hơn cả, mái chùa nghiêng lệch đổ nát Bấy giờ thôn dân chúng ta chọn ngày lành tháng tốt để tu bổ lại chùa Lúc đó người già nói rằng: Chùa mới chưa hoàn thành, chùa cũ sắp hỏng nát, nơi này sửa, nơi kia tạo tác đất gỗ không đầy đủ, thời thì thiếu mà hành động thì đến bao giờ mà xong xuôi được, huống chi chùa đều là thờ Phật, dân cũng là dân

ta, một mặt thì chuyên tâm, một mặt thì phân tán, nếu thu về một nơi cùng hòa hợp lại thì có gì là không nên; dân nghe lời này vui vẻ đồng thuận, tình người như thế Thần đạo có thể thấu; người chứng kiến thì yên tâm, người nghe thì vui mừng Kế đó dân làng bèn làm công hai việc trải qua thời gian thu rồi sang đông thầy thợ cáo việc đã xong, lầu gác nguy nga, song cửa, bệ cửa khéo léo, tiền đường, hậu cung uốn lượn quanh co, tả vu hữu vu thông suốt, nhật loạt thiền phòng thâm u, thụ tháp vườn cao, tường gạch bao quanh, cửa nhà sáng sủa Ôi thật đẹp lắm thay, chùa chiền mới mẻ, danh lam thắng tích, tuy một mà là hai, tuy hai mà một, biến mà bất biến vậy, nhân thế đặt tên

là chùa Phúc Châu, bèn lập bia để truyền lại sự việc lâu dài”

Phường Thụy Chương tổng Trung huyện Vĩnh Thuận, Phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội cùng toàn phường di dời hai chùa Châu Lâm và Phúc Lâm thành Châu Lâm cùng dựng ở đất Hoàng Lũng Mặt sai bia ghi tên những người đóng góp công đức để tu sửa chùa

Trang 18

Theo ý kiến của Biệt Lam Trần Huy Bá:

“… Chùa Châu Lâm được xây dựng từ thời Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497) Lúc đó nhà vua cho dựng viện Châu Lâm và chùa

để cho người dân Chiêm Thành cùng lễ thờ Phật đặt tên là chùa Bà Đanh”

Như vậy dựa theo hệ thống bia đá cổ và ý kiến của các nhà sử học chùa Châu Lâm được xây dựng vào thời Lê

Qua quá trình khảo sát tại di tích, ta có thể khẳng định rằng chùa Châu Lâm hiện nay được hợp nhất với chùa Phúc Lâm năm 1893, tồn tại từ đó cho đến ngày nay Trong chùa còn lưu giữ được tấm văn bia niên hiệu Chính Hòa thứ 20 (1699) cho thấy trước đó chùa Châu Lâm vẫn được giữ gìn, tu bổ Trải qua những thăng trầm của lịch sử, chiến tranh loạn lạc, ngôi chùa xưa không còn được nguyên sơ và không còn giữ được những dấu vết của nghệ thuật điêu khắc Chăm pa Chùa Châu Lâm hiện nay mang nét kiến trúc thời Nguyễn với bố cục mặt bằng và trang trí trên các mảng chạm, bức cốn Mới đây, ngôi chùa đã được trùng tu, sửa chữa, thay thế một số cột tại tòa Tiền đường, mở rộng không gian nhà thờ Mẫu và xây hệ thống tường bao bảo vệ, tránh sự xâm lấn đất của di tích Ngôi chùa Châu Lâm là trung tâm tín ngưỡng, có giá trị về lịch sử - văn hóa Là không gian linh thiêng gắn kết cộng đồng cư dân tới hành lễ, là nét đẹp cổ kính của Thăng Long xưa trong suốt chiều dài lịch sử

1.2.3 Quá trình tồn tại và phát triển

Chùa Châu Lâm hiện nay tọa lạc tại ngõ 199 phố Thụy Khuê, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Theo lời kể của các cụ cao niên tại vùng đất này diện tích của ngôi chùa này trước kia rộng tới 3.175m2 gồm

cả ruộng nương để cấy cầy Từ thời kỳ chống đế quốc Mỹ, xí nghiệp giầy Thụy Khuê mượn một phần đất nhà chùa để làm kho sau đó dân cư vào sinh sống một số đã chuyển đi, còn một số hộ dân hiện vẫn ở trên diện tích 135m2 đất chùa

Chùa Châu Lâm được xây dựng từ đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu

Hồng Đức (1470 – 1497) Theo sách Tây Hồ chí, vua Lê Thánh Tông đã cho

Trang 19

xây dựng một thiền viện_nơi vừa là chùa thờ Phật, vừa là trung tâm nghiên cứu tín ngưỡng-tôn giáo ở gò Phượng Chủy bên bờ nam hồ Tây để cho người Chăm hành đạo gọi là chùa Bà Đanh Nói đến chùa Bà Đanh hầu hết mọi người đều nghĩ ngay đến ngôi chùa ở Hà Nam nhưng qua thời gian ít ai biết rằng Hà Nội cũng có một ngôi chùa mang tên Bà Đanh, theo các cụ truyền lại

ngôi chùa Bà Đanh ở Thụy Khuê chính là nơi phát tích của câu nói “Vắng như

chùa Bà Đanh”.Chùa trước kia được xây dựng ở vị trí trường Chu Văn An

ngày nay, nhân dân trong vùng quen gọi là chùa Bà Đanh vì gắn liền với tên của nữ thần người Chăm Vì chùa xây dựng theo quy mô kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng của người Chăm, phục vụ nhu cầu hành đạo của người Chăm nên

từ khi xây dựng xong chùa chỉ có bộ phận người Chăm lui tới lễ phật Khi những người Chăm di chuyển đến nhiều khu vực khác sinh sống và không lui tới chùa lễ bái nữa thì chùa trở nên hoang sơ, vắng vẻ do đó dân gian mới có

câu ví von : “Vắng như chùa Bà Đanh”

Năm 1893 thực dân Pháp xâm lược đã chiếm khu đất chùa để mở nhà

in Schneider Sau 14 năm vào năm 1907 các nhà yêu nước mở trường Đông Kinh nghĩa thục, bọn Pháp thấy nhân dân ta sục sôi đòi học, chúng vội vàng dời nhà in đi nơi khác lập ra trường Trung học Bảo hộ (Trường Trung học Chu Văn An ngày nay) Do đó, chùa Châu Lâm bị dỡ bỏ hoàn toàn, dân làng Thụy Khuê bấy giờ mới góp sức dời tượng Phật của chùa tới chùa Phúc Lâm

ở cuối làng về phía Tây Nam( nay là Thụy Khuê) hợp lại là chùa Châu Lâm Khi xây dựng có lập bia ghi lại: “ Hai chùa được xây dựng đã trên 300 năm nay hợp làm một, có lầu gác nguy nga, trước sau nhà tòa ngang dãy dọc quanh co liên tiếp, tả vu, hữu vu đi lại thông suốt, phòng tăng kín đáo, cột tháp ngất cao, tường xây bao quanh, cổng sân quang đãng Ôi đẹp thay tòa chùa mới chốn thắng tích danh lam này: một mà là hai, hai mà là một; có biến đổi mà chẳng hề có biến đổi Nhân đó đổi tên là chùa Châu Lâm”

Có thể khẳng định rằng, chùa Châu Lâm là ngôi chùa cổ có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa, chùa mang dáng vẻ cổ kính và lưu giữ được hầu hết hệ

Trang 20

thống tượng cổ qua nhiều đời Tổ Chùa trước đây nổi tiếng với bức tượng

“say”, mô phỏng một người ở tư thế đứng nghiêng ngả như say Pho tượng thể hiện sự linh thiêng, vẻ đẹp như “tiên cảnh” của ngôi chùa khiến khách thập phương đến lễ như mê say ngây ngất Tương truyền bức tượng được chạm khắc tinh tế, sống động, có thần đến mức bất kỳ ai mới nhìn qua cũng phải lặng người vì vẻ đẹp tinh tế, bắt mắt người xem Tiếc rằng sau nhiều lần chuyển đổi di dời, pho tượng “say” mang dáng dấp của văn hóa Chăm đã bị thất lạc trong dân gian

1.2.4 Khái quát quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam

Từng nghe: Phật là tâm vậy, cái mà cổ nhân từng cho rằng: “Chân kinh không sách ghi, chân Phật không hình dáng” Lời nói đó có nghĩa là: Chân Tính tức Tâm, Tâm tức Phật vậy Vì thế sách Kinh thư viết: “Kẻ đại nhân không bao giờ làm mất lòng tin của con trẻ Phàm cái tâm của trẻ con chính là cái chân tâm, Chân Tính bất sinh bất diệt vậy” Thương thay, đời nay loạn thế ngũ uẩn của chúng sinh đã thành tính, sáu cõi mê hoặc ư, tham phú quí mà mắc đại tội lừa trời, phản đất sa đọa nên bị trừng trị vì phạm vào đạo Thánh hiền Vì thế cái gọi là chân tâm đã mất từ lâu Chân tâm đã mất, chân Phật cũng quên Vạn kiếp trầm luân biết không trở ngại chính là vì không có Phật vậy Vì thế các đời đế vương đều cho xây dựng chùa chiền, tôn thờ tam bảo, dựng tượng Nho giáo, mừng thánh đạo trường để thọ quốc mạch, để thuần phong hóa khiến mọi người chiêm ngưỡng Phật mà hiểu thấu được tâm Phật, đi lễ cầu Phật để tìm chân Phật, sửa ác theo thiện, cải tà qui chính Thế là đã hiểu được nghiệp sinh tử luân hồi, biết được nghiệp quả báo trên thiên đường, dưới địa ngục Vì vậy kinh Phật dạy rằng: Con người sống trên đời thì việc làm phúc là việc làm trước tiên, công đức nhiều như rừng, việc bố thí là việc làm quan trọng hàng đầu Đó chính là uy của Phật, là sự ham chuộng đạo Phật

Để làm nên tinh thần của ngôi chùa cần phải điểm lại đôi nét bước đi của đạo Phật trên đất Việt Đạo Phật đã hình thành từ khoảng 600 năm trước Công nguyên trên tiểu lục địa của một cư dân có nhiều nhà tư tưởng lớn trong

Trang 21

môi trường tâm linh siêu việt Đạo Phật là một sự kiện tất yếu lịch sử của nhân loại nhằm dung hòa những nỗi bất công của con người trước một xã hội

đã phân hóa làm nhiều đẳng cấp Với đạo Phật thì mọi thành phần, tầng lớp trong bất kể xã hội nào cũng đều tìm được “chỗ đứng” cho mình Bởi trước hết đó là hệ triết học mở, không cực đoan, áp đặt-đấu tranh để cướp đoạt một cương vị nào đó trong thế giới nhân sinh Đạo Phật đã đi sâu vào nhiều mặt của thế giới quan và nhân sinh quan để làm cứu cánh, giải thoát đặc biệt là ở mặt tư tưởng, hướng tới cái tâm như như tự tại ( Tâm: cái cốt lõi, cái thần thức ẩn tàng trong mỗi chúng sinh…, như như: là lý thể và pháp tính đều như nhau, không sai không khác, là trung đạo, là tướng của Niết bàn , tự tại: là rời khỏi sự trói buộc của phiền não) Trong ứng xử với cuộc đời thế tục, tín đồ Phật giáo nương theo lời dạy của đấng Như Lai mà gắng thực hiện tứ đại vô lượng tâm (đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả) coi mọi trở ngại trên cõi đời suy cho cùng chỉ do cái nghiệp… Trên thực tế chưa có một hệ triết học hoặc tôn giáo nào có thể dễ thích nghi một cách mềm dẻo để nhập mình vào mọi xã hội có hoàn cảnh khác nhau như đạo Phật Một đặc điểm đáng tôn trọng khác là đạo Phật tùy duyên mà hóa độ, tự dung hội với các dòng tư tưởng và tín ngưỡng nơi nó tiếp cận, không làm biến dạng truyền thống nền văn hóa ở nơi Phật pháp được hoàng dương Nó chỉ vì nỗi khổ đau của mọi chúng sinh, gạt bỏ ý

đồ thống trị xã hội, vì thế đạo Phật khác rất xa các tôn giáo cũng mang tính thế giới như Gia Tô giáo hoặc đạo Islam Bởi vậy, đã hàng ngàn năm tu sĩ Phật giáo không phải là đối tượng gạt bỏ của các chính thể, họ dễ dàng len lõi được vào quần chúng một cách ôn hòa để rồi đẩy nhanh hơn sự phát triển của nền văn hóa bản địa Tất nhiên sự đan xen văn hóa là điều không thể tránh khỏi song chưa ở đâu đạo Phật bị chối bỏ một cách tàn bạo Ở châu Á, nhiều dân tộc đã theo Phật giáo nhưng tùy theo điều kiện địa lý, lịch sử xã hội riêng mỗi nước tiếp thu theo cách riêng Có thể khẳng định rằng ngay từ những năm đầu Công nguyên, người Việt đã được tiếp xúc với đạo Phật Từ

đó tới nay, lúc thăng lúc trầm nhiều dấu ấn của đạo Phật đã để lại trên đất

Trang 22

Việt, mặt nào tôn giáo này đã tác động tới cả phong tục tập quán, tình cảm, tư tưởng của mọi tầng lớp xã hội

Đất Việt nằm giữa hai nền văn minh cổ xưa nhất của hai nước lớn trên thế giới, đó là Ấn Độ và Trung Hoa Điều kiện tự nhiên như vậy, Việt Nam đã phát triển văn hóa của mình cùng với sự ảnh hưởng trên các phương diện giao lưu ở cả hai cường quốc này Vào giai đoạn đầu, khó có thể xác định được cụ thể các tông phái nào đã chi phối tới Phật giáo vào Việt Nam mà cư dân Việt chỉ xác nhận một con đường đi của Phật giáo đại thừa đã theo các nhà sư Ấn

Độ từ biển trực tiếp vào vùng đất này để góp phần tạo nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh) Với đường biển, đạo Phật và Bà la môn từ đất Ấn lan tràn xuống hầu khắp các nước Đông Nam Á trong những biểu hiện về tạo hình không thể tránh khỏi sự pha trộn với yếu tố bản địa khiến cho Phật giáo mất đi tính nguyên sơ vốn có Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đạo Phật du nhập vào miền Bắc Việt Nam còn sớm hơn đến các trung tâm Phật giáo Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa Theo dòng lịch sử, sách Thủy Kinh Chú (sách thế kỷ thứ 6) đã cho biết: Sau một thời với những chiến tích oanh liệt, vua Asoka hối hận trước các cuộc chinh chiến đẫm máu nên đã hồi hướng đạo Phật Nhà vua chuyên tâm làm việc thiện, hoằng dương Phật pháp và một trong những ngôi tháp đã được nhà vua cho dựng là ở đất Việt (thế kỷ III trước Công nguyên) Vào thời Sĩ Nhiếp (cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III) đạo Phật đã có chân đứng vững chắc ở Luy Lâu nhiều cao tăng người Ấn và Trung Á đã từng tới đây truyền đạo Cũng thời này, nhiều nhà sư nổi tiếng đã

tu ở các chùa có nhiều đặc tính Việt tại Luy Lâu như Khâu Đà La (Ksucha) hay Kỳ Vực (Jivaka) Câu chuyện về Ma Nương trong mối quan hệ với Khâu

Đà La nếu được coi như một cứ liệu lịch sử thì ngày từ buổi đầu đó Phật giáo

đã sớm kết hợp với tín ngưỡng bản địa để cho thần linh nông nghiệp hóa thân thành Phật như ở chùa bà Đậu (Pháp Vũ-thần mưa), chùa bà Giàn (Pháp Lôi-thần sấm) Sự tích còn gắn với nhiều phép lạ chi tiết này được bổ sung dần về sau song ít nhiều vẫn nói lên đặc tính của tâm hồn Việt là tin vào sự linh dị

Trang 23

Vào thế kỷ thứ V và thứ VI đạo Phật ở đất Việt đã phát triển khá mạnh Dưới bóng áo cà sa, một người con Phật đã từng làm vua nước Vạn Xuân (Lý Phật Tử) Vai trò của đạo Phật đã tác động mạnh vào xã hội để như là một nhân tố để tập hợp lực lượng Cuối thế kỷ VI với sự xuất hiện của Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitarusi) đã khẳng định một hướng đi của Phật giáo Việt: Tông phái này tồn tại truyền thừa nhiều thế hệ Chắc rằng do đã tiếp cận sâu vào quần chúng nên phái này đã có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng ý thức độc lập của dân tộc Một số nhà sư của dòng Tỳ Ni là những trí thức lớn

có vai trò góp phần quyết định tới bộ mặt xã hội Có thể thấy rõ vai trò của sư Vạn Hạnh và Lý Khánh Văn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý Từ Đạo Hạnh và vài nhà sư khác đã đi vào huyền thoại dân dã một cách sâu đậm Chính Từ Đạo Hạnh là nguồn để các nhà nghiên cứu nhận định

về một dòng Phật giáo du nhập vào đất Việt theo đường sông Hồng, từ phía Tây Bắc của đồng bằng Bắc Bộ

Vào thế kỷ XV, ở nước ta, Nho giáo đã đạt tới đỉnh cao, chính quyền chuyên chế đã chủ trương hạn chế Phật và Đạo khiến cho dấu vết kiến trúc dân dã khó tìm được Nhưng sang thế kỷ XVI, thời Mạc, chúng ta gặp khá nhiều chùa và tượng Phật, Bồ Tát…Hiện tượng này như một sự phục hưng của Phật giáo Đạo Phật được phục hồi dưới thời Mạc, kéo nền nghệ thuật tạo hình tương ứng chuyển sang một bước phát triển khác tạo tiền đề cho sự đa dạng hóa của Phật điện từ thế kỷ XVII về sau

Cuối thế kỷ XVII, đạo Phật cũng không đủ sức cứu vớt được sự khủng hoảng xã hội, người dân ít quan tâm đến chùa mà dồn sức tập trung những ngôi đình trở thành địa vị trung tâm của làng xã Sang thế kỷ XVIII, một số ngôi chùa được xây dựng nhưng phải tới cuối thế kỷ, dưới thời Tây Sơn đạo Phật mới được phục hồi trong sự ủng hộ của nhiều trí thức Nho học và một số quan lại tân triều từ đó tạo điều kiện cho một số chùa đặc biệt ra đời

Sang thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam đầy biến động, đạo Phật với nhiều tông phái nhưng không phân định rõ ràng bởi nhiều yếu tố khác nhau Vua Gia

Trang 24

Long đã bắt ghi tên tất cả những người tu hành từ hòa thượng tới đại đồng…bắt nhà sư dưới 50 tuổi đều phải lao dịch như dân Đời Minh Mệnh và Thiệu Trị, đạo Phật giành được nhiều sự quan tâm hơn nhưng không phát triển mạnh mẽ nữa Nhưng tinh thần Phật giáo đã thấm đượm vào tâm hồn Việt để góp phần giữ cân bằng cho xã hội Tóm lại, bước đi của Phật giáo trên đất Việt và hoàn cảnh lịch sử chung đã chi phối tới bước đi của ngôi chùa Việt

Trang 25

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT CHÙA CHÂU LÂM

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Với các công trình kiến trúc truyền thống đặc biệt là các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng thì việc lựa chọn thế đất đẹp để làm nơi xây dựng là một điều rất quan trọng Mỗi di tích khi ra đời thường gắn với một không gian cảnh quan thoáng đãng, cây cối xum xuê, tươi tốt không uế tạp Thế đất thường phải cao ráo, thoáng mát nghĩa là đất lành chim đậu, nơi muôn vật hội

tụ về Điều này được chi phối bởi quan niệm về thuyết phong thủy của con người, mảnh đất được chọn làm nơi xây dựng phải có vị trí “linh địa” bởi người ta tin rằng ở đó con người có thể giao tiếp với thần linh

Từ xưa các bậc tiền nhân đã quan niệm rằng, mảnh đất tụ linh, tụ phúc thì phải là một mảnh đất cao và thoáng hơn xung quanh Theo thuyết phong

thủy, để dựng nên di tích thì mảnh đất để xây dựng di tích phải có thế nhìn

sông tựa núi, hai bên tả hữu có núi trùng trùng điệp điệp hoặc có một dải đất

như hai tay ngai tạo thế tì Dân gian xưa tin rằng, những công trình kiến trúc tôn giáo mà được dựng ở thế đất tốt đạt được qui chuẩn âm dương thì con người mới tiệm cận được với thế lực tầng trên, được ban phúc để phát triển thịnh vượng

Chùa Châu Lâm được người xưa xây dựng ở một địa thế đẹp trên một khu đất rộng, thoáng đãng, riêng biệt Chùa nhìn về hướng Tây- Nam, bốn mùa gió lộng Hướng Nam là hướng của đế vương, là phương của trí tuệ, là hướng đầy dương tính, sáng sủa, lí tưởng của xứ sở nhiệt đới gió mùa Trước hết thì hướng Nam là một hướng rất phù hợp với khí hậu của đất nước ta Xây nhà quay hướng Nam vào mùa hè thì đón được gió Nam mang hơi nước từ biển thổi vào và tránh được gió Tây-Nam khô nóng nên dù vào mùa hè thì vẫn mát mẻ; còn mùa đông lại tránh được những cơn gió đông bắc giá rét từ

Trang 26

phương Bắc thổi xuống nên ấm áp Theo suy nghĩ của dân gian xưa nếu ngôi nhà được làm theo hướng Nam thì khí hậu trong lành, con người khỏe mạnh tránh được bệnh tật Vì thế mà từ xưa đến nay trong tâm thức của người Việt, hướng Nam là hướng của sự tốt lành, sự may mắn Phù hợp với quan niệm

của nước ta là: “Nam giao thuộc cõi ly minh” có màu đỏ của lửa, của cuộc sống độc lập Mặt khác đây là hướng của sức mạnh thần thánh: “Thánh nhân

Nam diện, nhi thích thiên hạ chi thanh” (Bậc thánh nhân quay về hướng Nam

để nghe lời tâu bày của thiên hạ) Hướng Nam còn là hướng của sự sinh sôi

phát triển Người Việt thường nói rằng: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng

Nam” để thể hiện sự hài hòa mang phong cách phương Đông Theo triết lý

nhà Phật, hướng Nam là hướng trong sáng là hướng của trí tuệ (hướng của Bát Nhã) mà đạo Phật lấy trí tuệ để diệt trừ vô minh (sự ngu tối), tức là diệt

trừ mầm mống sinh ra tội ác “Hướng Nam là sự thể hiện của chư Phật, chư

Bồ Tát quay về hướng Nam để nghe những lời thỉnh cầu của chúng sinh trong kiếp bể khổ, trầm luân mà dùng pháp lực vô biên của mình để cứu vớt” Theo

thuật âm dương ngũ hành hướng Nam mang dương tính, hành hỏa, màu đỏ Chính vì đặc điểm này hướng Nam là hướng gắn với hạnh phúc, điều thiện Hướng này còn là hướng của các bậc Đế Vương, là hướng của thần linh và thánh nhân trong tâm thức của người dân

Để đến di tích chùa Châu Lâm thuận lợi nhất từ lăng chủ tịch Hồ Chí Minh đi qua đường Hùng Vương rẽ trái theo phố Thụy Khuê đi tiếp đến ngõ

199 rẽ vào ngõ khoảng 200m là tới chùa Châu Lâm Chúng ta có thể đi từ trung tâm hồ Hoàn Kiếm- Phố Đinh Tiên Hoàng rẽ phải vào vòng xoay Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục- Phố Lê Thái Tổ- Hàng Đào- Hàng Ngang- Hàng Đường- Đồng Xuân- Hàng Giấy- Phố Hàng Than- Phố Quán Thánh- Thụy Khuê đi tiếp đến ngõ 199 rẽ vào ngõ khoảng 200m là tới di tích

Chùa Châu Lâm là một ngôi chùa cổ với tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh nằm ở gần hồ Tây nằm trong địa phận phường Thụy Khuê mà từ xa xưa đã đi vào văn thơ của người đương thời Chùa nằm trên dải đất Tây Hồ nơi đây có

Trang 27

tới hơn 20 ngôi đình, đền, phủ, miếu và hơn 20 ngôi chùa cổ như chùa Trấn Quốc, chùa Tĩnh Lâu, phủ Tây Hồ, đền Quán Thánh… Đây là một vùng đất danh thắng của Thăng Long xưa đã in đậm trong tâm trí của người dân Hà Nội

Di tích chùa Châu Lâm còn tồn tại một cái ao khá rộng ở bên ngoài chùa chính, đây là một mảnh đất đẹp, gần yếu tố nước, phù hợp với tư duy của cư dân nông nghiệp Yếu tố nước chính là lưu thủy với dòng Hồ Tây chảy trước mặt từ phía xa Người xưa cho rằng có nước là có sự “tụ thủy” đồng nhất với tụ linh, tụ phúc Để thỏa mãn yếu tố này nếu không có nguồn nước tự nhiên người ta phải đào hồ, đào ao bán nguyệt Những sẽ có ý nghĩa hơn nhiều nếu lựa chọn được thế đất mà có dòng chảy tự nhiên phía trước Điều này xuất phát từ quy luật tự nhiên, cư dân luôn hướng tới nguồn nước bởi sự sống của vũ trụ bắt nguồn từ nước, nơi đâu có sự sống là nơi đó có sự hiện diện của nước Về sau, các nền văn minh lớn của nhân loại đều bắt nguồn từ những con sông lớn Đối với người Việt, cư dân trồng lúa nước thì nước chính

là yếu tố hàng đầu để sản xuất Dân gian có câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Chính vì tầm quan trọng như vậy nên nước được đồng nhất với yếu tố tụ linh, tụ phúc

Nói tới không gian của ngôi chùa ngoài một số điểm trên người ta còn chú ý đến cây cối xung quanh chùa làm tăng thêm vẻ đẹp cho di tích đồng thời nhiều loại cây được trồng mang ý nghĩa Phật triết Cây cỏ tốt tươi còn ứng với việc xác nhận mảnh đất nơi di tích tồn tại là mảnh đất linh thiêng, mảnh đất lành cho muôn loài, trên mảnh đất ấy vạn vật sinh sôi phát triển Đến với cảnh chùa, cây cối tươi tốt, con người hòa mình vào thiên nhiên, nghe tiếng chuông chùa được thỉnh lên, mọi phiền muộn như được trút bỏ, con người tạm xa lánh cõi trần tục Trong chùa Châu Lâm hiện này trồng rất nhiều loại cây, trong đó có nhiều cây mang ý nghĩa Phật giáo

Trước toà Tiền đường chùa Châu Lâm có một cây bồ đề, cây bồ đề cũng gọi là giác thụ, đại thụ, hiện thân của sự giác ngộ, sáng suốt và tượng trưng cho Phật đạo vì theo tư tưởng của đạo Phật nhờ trí tuệ mà giác ngộ Cây

Trang 28

đề tượng trưng cho Tri, Trí, Đạo và Giác gắn với tích đức Thích Ca Mâu Ni ngồi tham thiền dưới gốc cây mà giác ngộ, tức chứng quả bồ đề Vì vậy, cây

bồ đề trồng nhiều ở chùa còn là biểu tượng cho nguồn gốc của các kiếp tu

Trong vườn tháp của chùa Châu Lâm trồng nhiều cây mít Cây mít

tiếng Phạn là Paramita, phiên âm theo tiếng Hán là “Cứu cánh đáo bỉ ngạn”

nghĩa là giáo hóa chúng sinh đưa tới bến bờ giác ngộ Vì thế, cây mít tượng trưng cho sự giác ngộ, giải thoát Thời kỳ mà đạo Phật phát triển, các kiến trúc truyền thống, đồ thờ trong đình, chùa, đền, miếu… thường được làm bằng gỗ mít Ngày nay cây mít là loại gỗ chính để phục vụ công tác tu bổ di tích Và vì cây mít tượng trưng cho sự giác ngộ nên người ta còn lấy gỗ mít

để tạc tượng Trồng cây mít còn ngầm nhắc nhở những người tu luyện gắng tĩnh tâm trên con đường tu hành thì sẽ sớm giác ngộ cửa Phật

Ngoài ra, trong vườn còn có trồng các loại cây ăn quả như: nhãn, hồng xiêm, chanh và nhiều loại rau xanh như rau bí, su hào, bắp cải, cà chua để phục vụ cuộc sống chay tịnh cho những người tu hành trong chùa Trong chùa bốn mùa đều có hoa thơm trái ngọt, cây cối tốt tươi vừa tạo bóng mát vừa góp phần làm không gian chùa thêm thoáng đãng, không khí trong lành làm tĩnh lại lòng người đi hành hương lễ Phật

Thêm vào đó trong di tích, còn trồng nhiều cây muỗm, cây này cao, um tùm, người ta thường trồng để lấy bóng mát, người Việt tin rằng trong những tán cây đó có những linh hồn bơ vơ ngự trên đó để hưởng chút lộc của chúng sinh và nghe kinh Phật tìm đường siêu thoát

2.1.2 Bố cục mặt bằng

Chùa Châu Lâm cũng giống như các ngôi chùa Việt khác, chùa có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ “Đinh”(hay còn gọi là chuôi vồ) gồm tòa Tiền đường nằm ngang, nối liền với đơn nguyên này là tòa Thượng điện – nơi bài trí các lớp Tượng thờ và là trung tâm của ngôi chùa Bên cạnh đó còn có các đơn nguyên khác: nhà thờ Tổ, nhà bia thờ Hậu, nhà khách nối liền nhau trong tổng thể kiến trúc không tách rời tạo nên bố cục hài hòa, hoàn chỉnh cho công

Trang 29

trình kiến trúc Ngoài ra, chùa Châu Lâm còn có hệ thống tháp mộ nằm phía bên trái theo hướng của di tích, thờ các vị Tổ sư đã từng tu hành ở chùa Không gian tháp mộ tọa lạc hài hòa với cảnh quan tạo cho ngôi chùa vẻ cổ kính và trang nghiêm gắn với lịch sử của ngôi chùa cổ kính này Chùa được đặt ở vị trí trung tâm, xung quanh được bao bọc bởi hệ thống tường nhằm tạo không gian tâm linh nơi di tích tồn tại và tách biệt với thế giới trần tục bên ngoài

Nhìn chung, về bố cục mặt bằng tổng thể chùa Châu Lâm cũng như các ngôi chùa khác của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đều không có xu hướng vươn lên cao mà lại trải đều theo mặt bằng, nó mang dáng vẻ giản dị, không cao sang, diêm dúa như các loại hình di tích khác Vì vậy, người Việt luôn có

ý thức đưa các công trình kiến trúc hoà hợp với không gian cảnh quan tự nhiên của đất trời, đó là cầu nối tâm linh giữa những khát vọng, ước mơ của cộng đồng dân cư gửi gắm tới miền đất Phật

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc

Chùa Châu Lâm bao gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc như: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu, Nhà khách, khu mộ tháp và nhiều đơn nguyên kiến trúc khác hợp thành

2.1.3.1 Tam quan

Tam quan là một loại cổng có ba lối đi thường thấy ở chùa theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam Tam quan mang ý niệm "ba cách nhìn" của Phật giáo gồm có "hữu quan", "không quan" và "trung quan", thể hiện cái sắc (giả), cái không (vô thường) và trung dung của cả hai Tam quan hay cổng chùa theo vị sư trụ trì hiện nay kể lại thì trước kia Tam quan chùa Châu Lâm làm kiểu gác chuông, cổng chính kết cấu ba tầng, hai cổng phụ làm kiểu mái chồng diêm hai tầng Phía ngoài giáp cổng phụ được xây hai trụ cao, đỉnh trụ đắp hình 4 con chim phượng chụm đuôi vào nhau thành hình trái giành, thân trụ được đắp nổi các câu đối bằng chữ Hán Nhưng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp do bom đạn tàn phá nên Tam quan không còn nữa Cổng chùa hiện nay là do nhân dân và du khách thập phương mỗi khi đến đây

Trang 30

lễ bái đóng góp tiền của để xây dựng Cổng chùa hiện tại có quy mô nhỏ với kiểu thức mái vòm đơn giản dùng làm lối đi dẫn vào chùa vừa làm nơi khoanh vùng cho di tích

2.1.3.2 Tiền đường

Đây là tòa nhà có hình chữ Nhất, được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc mang đậm phong cách kiến trúc thế kỷ XIX, đặt tại vị trí trung tâm của không gian cảnh quan chùa Châu Lâm được bài trí hài hòa với các đơn nguyên kiến trúc khác

+ Kết cấu nền: Toà Tiền đường có chiều dài là 21,5m và rộng 7m được

xây dựng trên một nền cao 60cm so với mặt sân, từ sân chùa bước qua bậc tam cấp cao 20cm là vào tới Tiền đường Bậc thềm này được xây và trát vữa chạy dọc theo dải hiên và hai đầu hồi của toà Tiền đường Nền của tòa Tiền đường được sửa chữa lại, tôn cao hơn nền cũ và lát gạch hoa đỏ kích thước

40cm x 40cm

+ Kết cấu khung: Đối với toà Tiền đường chùa Châu Lâm hiện đã được

tu sửa lại nên không còn thấy vết tích của các tảng kê chân cột Có thể trong quá trình thi công đã tôn nền cao và che lấp đi những chân tảng này Tiền đường có 4 hàng chân cột và 2 hàng chân gồm 2 cột cái chạy dọc suốt theo chiều dài Tiền đường Các cột cái của Tiền đường cao 5m, đường kính 30cm trong đó có nhiều cột được thay thế bằng gỗ lim, cột quân gắn liền với hệ thống cửa bức bàn cao 3,8m, đường kính 23cm, khoảng cách giữa cột cái với cột cái là 2,2m, giữa cột cái với cột con là 1,6m Hai cột cái được nối với nhau bằng câu đầu, câu đầu đặt thẳng lên đầu hai cột cái thông qua hai mộng én nông, ngoài cùng là kẻ hiên có chức năng đỡ hệ mái trước, cột hiên được xây bằng gạch, trát vữa cao 2,6m, trên các kẻ này có trang trí hoa văn, soi gờ kẻ chỉ Khoảng hiên đua ra 1,7m nhằm mở rộng diện tích bên trong nhà Tiền đường, chúng được nối liền thông qua các kẻ chuyền tỳ lực lên hệ thống cột quân và hệ thống cửa Cửa ra vào là hệ thống cửa “Thượng song hạ bản” nhằm tạo sự thông thoáng cho đơn nguyên kiến trúc Cửa ra vào của tòa Tiền

Ngày đăng: 03/02/2023, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w