ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đƣờng Dũng Huy(Tang Yong Hui) Đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng thƣơng mại tiếng Trung (có đối chiếu với các hợp đồng thƣơng mại tiếng[.]
Trang 1-
Đường Dũng Huy(Tang Yong Hui)
Đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung
(có đối chiếu với các hợp đồng thương mại tiếng Việt)
Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Ngọc Bình
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá đều có trích dẫn
và chú thích nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
ĐƯỜNG DŨNG HUY
(TANG YONG HUI)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vì đã cho tôi cơ hội học tập và nghiên cứu trong những năm vừa qua Tôi xin cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi tới TS Nguyễn Ngọc Bình lời cảm
ơn chân thành nhất Thầy đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Trong suốt thời gian qua, những lời khuyên và góp ý chân thành của thầy, sự tận tâm hướng dẫn của thầy đã trở thành nguồn động lực để tôi vượt qua khó khăn và hoàn thành luận văn như ngày hôm nay Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè của tôi, những người đã nhiệt tình cung cấp các loại mẫu hợp đồng cho tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu nghiên cứu Cảm ơn những người bạn đã luôn sát cánh bên tôi và sự đồng hành của họ trong nhiều năm xa nhà là nguồn động lực để tôi vượt qua nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như trong học tập Lời cảm ơn lớn lao nhất tôi xin được gửi đến những người tôi yêu thương nhất: Ba mẹ và em trai- những người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng tôi Tình yêu thương và sự động viên chia sẻ rất lớn của họ đã giúp tôi vững bước trước mọi gian lao
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015
ĐƯỜNG DŨNG HUY (TANG YONG HUI)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1.1 Lý do chọn đề tài 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
1.4 Phạm vi nghiên cứu 7
1.5 Phương pháp/Thủ pháp nghiên cứu 8
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung mà đặc biệt là: 8
1.5.1 Phân tích: 8
1.5.2 So sánh-đối chiếu: 8
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 9
1.1 Khái niệm hợp đồng thường mại 9
1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại. 9
1.3 Quy trình của hợp đồng thương mại 12
1.3.1 Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán: 12
1.3.2 Thông tin xác định tư cách chủ thể của các bên: 13
1.3.3 Tên gọi của hợp đồng: 14
1.3.4 Căn cứ ký kết hợp đồng: 14
1.3.5 Hiệu lực hợp đồng: 14
1.3.6 Kỹ năng soạn thảo một số điều khoản quan trọng của hợp đồng thương mại 15
1.4 Phân loại hợp đồng thương mại 20
1.4.1 Hợp đồng mua bán: 20
1.4.2 Hợp đồng dịch vụ: 21
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG HỢP ĐỒNG 22
THƯƠNG MẠI TIẾNG TRUNG 22
2.1 Tính chính xác của ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung: 22
2.1.1 Dùng từ một cách chính xác 23
2.1.2 Sử dụng một cách chính xác các khái niệm 23
2.1.3 Sử dụng các con số và đơn vị đo lường một cách chính xác 27
2.1.4 Sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 29
2.2 Tính giản tiện và rõ ràng của ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung: 33
2.2.1 Sử dụng những từ viết tắt trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 33
2.3 Tính kịp thời của ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 37
2.3.1 Sử dụng những từ ngữ về thời gian trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 37
2.3.2 Việc xuất hiện của những từ mới và sự biến mất của những từ cũ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 39
2.4 Tính ứng dụng của ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung 40
2.4.1 Vận dụng những từ ngữ chính thống sử dụng trong văn viết 40
2.4.2 Hợp đồng thương mại tiếng Trung là công cụ để thực hiện một lợi ích kinh tế nhất định 41
2.5 Tóm lược các đặc trưng ngôn ngữ của hợp đồng thương mại tiếng Trung: 43
Trang 52.5.1 Tính chuẩn xác: 44
2.5.2 Tính thực dụng trực tiếp của hợp đồng: 46
2.5.3 Hiệu lực pháp luật của hợp đồng thương mại 47
2.6 Ngôn ngữ trong hợp đồng miệng: 48
CHƯƠNG 3: SO SÁNH CÁC ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG 51
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TIẾNG TRUNG VÀ TIẾNG VIỆT 51
3.1 Đặc điểm tương đồng: 52
3.1.1 Sự tương đồng trong cách sử dụng từ ngữ: 52
3.1.2 Sự tương đồng về mặt ngữ pháp: 53
3.1.3Sự tương đồng về tính chất 55
3.2 Đặc điểm dị biệt: 58
3.2.1 Dị biệt về mặt từ ngữ 58
3.2.2 Dị biệt về mặt ngữ pháp: 62
3.2.3 Dị biệt về tính chất 62
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động kinh tế thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, trong đó mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc càng được đẩy mạnh trên mọi phương diện Các doanh nghiệp hai nước hoạt động trong lĩnh vực thương mại xuất nhập khẩu sẽ có cơ hội hợp tác với nhau, đồng nghĩa với việc nhu cầu nắm bắt thông tin về hợp đồng thương mại quốc tế cũng gia tăng Song nhiều người có nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc về hợp đồng, đặc biệt là không nắm bắt hết đặc điểm ngôn ngữ của hợp đồng, kèm thêm sự khác biệt về văn hóa giữa các nước, nên gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt và soạn thảo hợp đồng
Theo những điều khoản mà doanh nghiệp hai bên đã ký kết trong hợp đồng, hai bên phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm và thực hiện hợp đồng Vì vậy hợp đồng là loại văn bản ứng dụng vừa có tính pháp lí, vừa có phong cách ngôn ngữ đặc biệt Ngôn ngữ hợp đồng thương mại cần chính xác, chặt chẽ đồng thời mang tính quy phạm, chọn lọn trong cách dùng từ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại giữa hai nước, bảo vệ quyền lợi trước pháp luật của doanh nghiệp và cá nhân trong lĩnh vực thương mại, cá nhân những người làm công tác xuất nhập khẩu Việt Trung, Trung Việt cần nắm bắt và hiểu rõ về hợp đồng bằng tiếng Trung và tiếng Việt Luận văn chủ yếu giới thiệu những đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung, có so sánh đối chiếu với văn bản tiếng Việt tương ứng để làm rõ mối tương quan ngôn ngữ trong các văn bản hợp đồng thương mại giữa hai nước Qua đó có thể giúp cho các cá nhân và các doanh nghiệp hiểu rõ hơn cũng như có cái nhìn hoàn thiện hơn về các văn bản hợp đồng thương mại tiếng Trung
Trang 71.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là nêu ra những khái niệm và lý thuyết có liên quan đến để tài, phân tích những đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung và so sánh những đặc điểm ngôn ngữ giữa hợp đồng thương mại tiếng Trung và tiếng Việt
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu về những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các văn bản hợp đồng thương mại tiếng Trung.Ngoài ra,thông qua việc nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng tiếng Trung để từ đó so sánh,tìm ra điểm giống nhau
và khác nhau về đặc điểm ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc Để thực hiện nhiệm vụ của luận văn, luận văn chấp nhận các lí thuyết liên quan về Phân tích diễn ngôn và Ngôn ngữ học văn bản
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “trong cách hiểu ngắn gọn nhất, Phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu Hiểu một cách
cụ thể hơn thì Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng” [1]
Nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản (hay còn gọi là ngôn vực) Các yếu tố này bao gồm trường (field) (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (mode) (vai trò của ngôn ngữ trong tình huống), không khí chung (tennor) (các vai xã hội trong giao tiếp)
Tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi yếu tố trong hệ thống chỉ có ý nghĩa khi nó được đặt
Trang 8trong một cấu trúc tổng thể Nói cách khác, các cấu trúc tổng thể sẽ qui định ý nghĩa
và chức năng của những yếu tố cấu thành nên nó Và diễn ngôn cũng là một cấu trúc khép kín, nội tại, được cấu thành từ những yếu tố bất biến là các phạm trù ngữ pháp như thời, thức, thể, giọng, ngôi… [42]
1.5 Phương pháp/Thủ pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung mà đặc biệt là:
Trang 9CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm hợp đồng thường mại
Khi nhắc đến hợp đồng, tức là nói tới sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên.[12; Điều 388]
“Có thể nói hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ Nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp Nói cách khác hiệu lực của hợp đồng là tạo lập, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ”.[12; Điều 388]
Trong Luật Thương mại Việt Nam không có khái niệm hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại,
là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại
Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo Luật Thương mại 2005, cụ thể tại Điều 1 Luật Thương mại 2005 bao gồm: hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó áp dụng luật này
1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại mang những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó nổi bật là 2 yếu tố cơ bản :
- Nội dung là các hoạt động thương mại
Trang 10- Được kí kết giữa các bên là thương nhân hoặc một bên là thương nhân (được thể hiện ở yếu tố chủ thể )
-Về chủ thể của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại được kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân Đây là một điểm đặc trưng của hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng dân sự Như vậy,chủ thể trong Hợpđồngthươngmại gồm thương nhân (bao gồm
tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại.[12;Điều 2]
Nội dung của Hợp đồng thương mại
Nội dung của hợp đồng thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của hợp đồng thương mại là nội dung của hợp đồng thương mại bao gồm hoạt động thương mại Mỗi loại hợp đồng có những quy định nhất định về các điều khoản cơ bản Ví dụ : Đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản
cơ bản bao gồm đối tượng và giá cả
Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung, được quy định tại Bộ Luật Dân sự 2005 Loại trừ những điều khoản của pháp luật có nội dung mang tính bắt buộc, các bên có thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quy định trong pháp luật Điều 402,Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây :
1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm
2 Số lượng, chất lượng
3 Giá, phương thức thanh toán
4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
Trang 115 Quyền, nghĩa vụ của các bên
Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụ lục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng , nhưng nội dung của phụ lục không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không cóhiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi
Nguồn của pháp luật hợp đồng
Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế, đơn giản hơn nguồn là nơi chứa những quy định về pháp luật hợp đồng [13; tr 25] Ở Việt Nam, nguồn của pháp luật hợp đồng nói chung gồm các loại sau :
- Các văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng
Hai văn bản pháp luật quan trọng nhất hiện nay là Bộ Luật Dân sự và Luật thương mại, và là luật căn bản đối với kinh doanh Đối với mỗi loại hợp đồng ở một lĩnh vực
cụ thể lại có các văn bản pháp luật chuyên ngành cụ thể Ví dụ: các quy định về hợp đồng trong tổ chức kinh doanh có trong Luật Đầu tư 2005
- Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao
Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán là một nguồn của pháp luật Hợp đồng, tương tự như án lệ
- Thói quen và tập quán thương mại
Trang 12Việc áp dụng thói quen và tập quán thương mại chỉ xảy ra khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Khi đó, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó
mà họ đã biết hoặc buộc phải biết Trường hợp không có luật, tiền lệ, thói quen thì áp dụng tập quán thương mại, tức là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại
Kết cấu của hợp đồng thương mại
Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến vấn
đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa sợ…đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại
1.3 Quy trình của hợp đồng thương mại
1.3.1 Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:
Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hoàn thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dự liệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán Nó giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán
và khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sách viết về hợp đồng và thường kèm theo nhiều mẫu hợp đồng các loại Ví dụ như cuốn “Pháp luật về hợp đồng trong thương
Trang 13mại và đầu tư”, do TS Nguyễn Thị Dung chủ biên Doanh nghiệp nên dựa vào các mẫu hợp đồng đó để xem như là những gợi ý cho việc soạn dự thảo hợp đồng Tuy nhiên hợp đồng được ký kết trên nguyên tắc tự do và bình đẳng, do đó nội dung của mỗi hợp đồng cụ thể luôn có sự khác nhau Nó phụ thuộc vào ý chí của các bên và đòi hỏi thực tiễn của việc mua bán mỗi loại hàng hoá, dịch vụ là khác nhau, trong các điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác nhau Đặc biệt phải xác định (dự liệu) những rủi
ro kinh doanh nào có thể hiện diện trong các giao dịch của doanh nghiệp và loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng các điều khoản hợp đồng; điều này các hợp đồng mẫu thường ít khi đề cập
Ví dụ: khi mua hàng hóa, phải dự liệu đến cả những tình huống hiếm khi xảy ra: hàng giả, hàng nhái; gặp bão, lụt trong quá trình vận chuyển, giao hàng; khi tranh chấp kiện tụng thì tiền phí luật sư bên nào chịu; những thiệt hại gián tiếp bên vi phạm
có phải chịu không…? Do vậy không thể có một mẫu hợp đồng nào là chuẩn mực, nó thường thừa hoặc thiếu đối với một thương vụ cụ thể Doanh nghiệp phải phải sửa cho phù hợp theo ý muốn của hai bên, đừng lạm dụng mẫu – chỉ điền một vài thông số và hoàn tất bản dự thảo hợp đồng
1.3.2 Thông tin xác định tư cách chủ thể của các bên:
Doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác có quyền tham gia ký kết hợp đồng thương mại, nhưng để xác định được quyền hợp pháp đó và tư cách chủ thể của các bên thì cần phải có tối thiểu các thông tin sau:
- Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Tên, Trụ sở, Giấy phép thành lập và người đại diện.Các nội dung trên phải ghi chính xác theo Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp Các bên nên xuất trình, kiểm tra các văn bản, thông tin này trước khi đàm phán, ký kết để đảm bảo hợp đồng ký kết đúng thẩm quyền
- Đối với cá nhân: Tên, số chứng minh thư và địa chỉ thường trú Nội dung này ghi chính xác theo chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu và cũng nên kiểm tra trước khi ký kết
Trang 141.3.3 Tên gọi của hợp đồng:
Tên gọi của hợp đồng thường được sử dụng theo tên loại hợp đồng kết hợp với tên hàng hóa, dịch vụ Ví dụ: tên loại là hợp đồng mua bán, còn tên của hàng hoá là xi măng, ta có Hợp đồng mua bán + xi măng hoặc Hợp đồng dịch vụ + khuyến mại Hiện nhiều doanh nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng tên gọi “hợp động kinh tế” theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989) nhưng nay Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực, nên việc đặt tên này không còn phù hợp Bộ luật Dân sự năm 2005 đã dành riêng Chương 18 để quy định về 12 loại hợp đồng thông dụng Luật thương mại năm 2005 cũng quy định về một số loại hợp đồng, nên chúng ta cần kết hợp hai bộ luật này để đặt tên hợp đồng trong thương mại cho phù hợp
1.3.4 Căn cứ ký kết hợp đồng:
Phần này các bên thường đưa ra các căn cứ làm cơ sở cho việc thương lượng, ký kết và thực hiện hợp đồng; có thể là văn bản pháp luật điều chỉnh, văn bản uỷ quyền, nhu cầu và khả năng của các bên Trong một số trường hợp, khi các bên lựa chọn một văn bản pháp luật cụ thể để làm căn cứ ký kết hợp đồng thì được xem như đó là sự lựa chọn luật điều chỉnh Ví dụ: một doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng mua bán hàng hoá với một doanh nghiệp nước ngoài mà có thoả thuận là: Căn cứ vào Bộ luật Dân
sự 2005 và Luật Thương mại 2005 của Việt Nam để ký kết, thực hiện hợp đồng thì hai luật này sẽ là luật điều chỉnh đối với các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp (nếu có) Do đó cũng phải hết sức lưu ý khi đưa các văn bản pháp luật vào phần căn cứ của hợp đồng, chỉ sử dụng khi biết văn bản đó có điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng và còn hiệu lực
1.3.5 Hiệu lực hợp đồng:
Nguyên tắc hợp đồng bằng văn bản mặc nhiên có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận hiệu lực vào thời điểm khác Một số loại hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng dự án bất động sản, hợp đồng chuyển giao công nghệ… Các bên phải hết sức lưu ý điều này bởi vì
Trang 15hợp đồng phải có hiệu lực mới phát sinh trách nhiệm pháp lý, ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng
Liên quan đến hiệu lực thi hành của hợp đồng thương mại thì vấn đề người đại diện
ký kết (người ký tên vào bản hợp đồng) cũng phải hết sức lưu ý và người đó phải có thẩm quyền ký hoặc người được người có thẩm quyền ủy quyền Thông thường đối với doanh nghiệp thì người đại diện được xác định rõ trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư Cùng với chữ ký của người đại diện còn phải có đóng dấu (pháp nhân) của tổ chức, doanh nghiệp đó
1.3.6 Kỹ năng soạn thảo một số điều khoản quan trọng của hợp đồng thương mại
Thông thường để một văn bản hợp đồng được rõ ràng, dễ hiểu thì người ta chia các vấn đề ra thành các điều khoản hay các mục, theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn Trong phần này, tác giả đưa ra những lưu ý, kỹ năng khi soạn thảo một số vấn đề (điều khoản) quan trọng thường gặp trong hợp đồng thương mại
1.3.6.1 Điều khoản định nghĩa:
Điều khoản định nghĩa được sử dụng với mục đích định nghĩa (giải thích) các từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần hoặc cần có cách hiểu thống nhất giữa các bên hoặc các ký hiệu viết tắt Điều này thường không cần thiết với những hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ thông thường phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Nhưng nó rất quan trọng đối với hợp đồng thương mại quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng tư vấn giám sát xây dựng; bởi trong các hợp đồng này có nhiều từ, cụm từ
có thể hiểu nhiều cách khác nhau hoặc từ, cụm từ chuyên môn chỉ những người có hiểu biết trong lĩnh vực đó mới hiểu như “pháp luật”, “hạng mục công trình”, “quy chuẩn xây dựng” Do vậy để việc thực hiện hợp đồng được dễ dàng, hạn chế phát sinh tranh chấp, các bên phải làm rõ (định nghĩa) ngay từ khi ký kết hợp đồng chứ không phải đợi đến khi thực hiện rồi mới cùng nhau bàn bạc, thống nhất cách hiểu Mặt khác khi có tranh chấp, kiện tụng xảy ra thì điều khỏan này giúp cho những người xét xử hiểu rõ những nội dung các bên đã thỏa thuận và ra phán quyết chính xác
Trang 161.3.6.2Điều khoản công việc:
Trong hợp đồng dịch vụ thì điều khoản công việc (dịch vụ) mà bên làm dịch vụ phải thực hiện là không thể thiếu Những công việc này không những cần xác định một cách rõ ràng mà còn phải xác định rõcách thức thực hiện, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của người trực tiếp thực hiện công việc, kết quả sau khi thực hiện dịch
vụ Ví dụ như trong Hợp đồng tư vấn và quản lý dự án, không những cần xác định rõ công việc tư vấn, mà còn phải xác định rõ cách thức tư vấn bằng văn bản, tư vấn theo quy chuẩn xây dựng của Việt Nam; người trực tiếp tư vấn phải có chứng chỉ tư vấn thiết kế xây dựng, số năm kinh nghiệm tối thiểu là 5 năm, đã từng tham gia tư vấn cho
dự án có quy mô tương ứng Có như vậy thì chất lượng của dịch vụ, kết quả của việc thực hiện dịch vụ mới đáp ứng được mong muốn của bên thuê dịch vụ Nếu không làm được điều này bên thuê dịch vụ thường thua thiệt và tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng là khó tránh khỏi
1.3.6.3 Điều khoản tên hàng:
Tên hàng là nội dung không thể thiếu được trong tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa Để thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng và hạn chế tranh chấp phát sinh, tên hàng cần được xác định một cách rõ ràng Hàng hoá thường có tên chung và tên riêng[29; tr43] Ví dụ: đối với hàng hoá là “gạo” thì đây sẽ là tên chung còn “gạo tẻ, gạo nếp”là tên riêng Do vậy, khi xác định tên hàng phải là tên riêng, đặc biệt với các hàng hoá là sản phẩm máy móc thiết bị Tuỳ từng loại hàng hoá mà các bên có thể lựa chọn một hoặc nhiều cách xác định tên hàng sau đây cho phù hợp: Tên + xuất xứ; tên + nhà sản xuất; tên + phụ lục hoặc Catalogue; tên thương mại; tên khoa học; tên kèm theo công dụng và đặc điểm; tên theo nhãn hàng hoá hoặc bao bì đóng gói
Không phải tất cả các loại hàng hoá đều được phép mua bán trong thương mại mà chỉ có những loại hàng hoá không bị cấm kinh doanh mới được phép mua bán Ngoài
ra đối với những hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hoá đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Vấn đề này hiện nay được quy định
Trang 17tại một số văn bản sau: Nghị định số: 59/NĐ-CP ngày 12/06/2006 về hàng hoá, dịch
vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; Nghị định số:12/NĐ – CP ngày 23/01/2006 về mua bán, gia công, đại lý hàng hoá quốc tế và Thông tư số 04/TT-BTM ngày 06/04/2006[12; Điều 25, Điều 32]
1.3.6.4 Điều khoản chất lượng hàng hoá:
Chất lượng hàng hoá kết hợp cùng với tên hàng sẽ giúp các bên xác định được hàng hoá một cách rõ ràng, chi tiết Trên thực tế, nếu điều khoản này không rõ ràng thì rất khó thực hiện hợp đồng và rất dễ phát sinh tranh chấp Dưới góc độ pháp lý “chất lượng sản phẩm, hàng hoá” là tổng thể những thuộc tính, những chỉ tiêu kỹ thuật, những đặc trưng của chúng, được xác định bằng các thông số có thể đo được, so sánh được phù hợp với các điều kiện hiện có, thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội
và của cá nhân trong những điều kiện sản xuất, tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm hàng hoá”[15; Điều 3]
Nói chung chất lượng sản phẩm, hàng hoá được thể hiện thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật và những đặc trưng của chúng Muốn xác định được chất lượng hàng hoá thì tuỳ theo từng loại hàng hoá cụ thể để xác định, dựa vào các chỉ tiêu về cơ lý, các chỉ tiêu
về hoá học hoặc các đặc tính khác của hàng hoá đó
1.3.6.5 Điều khoản số lượng (trọng lượng):
Điều khoản này thể hiện mặt lượng của hàng hoá trong hợp đồng, nội dung cần làm
rõ là: đơn vị tính, tổng số lượng hoặc phương pháp xác định số lượng Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán đá xây dựng để xác định số lượng các bên có thể lựa chọn một trong các cách sau: theo trọng lượng tịnh (kilôgam, tạ, tấn), theo mét khối, theo toa xe, toa tàu, hay theo khoang thuyền
Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì cần phải quy định cụ thể cách xác định số lượng và đơn vị đo lường bởi hệ thống đo lường của các nước có sự khác biệt Đối với những hàng hoá có số lượng lớn hoặc do đặc trưng của hàng hoá có thể tự thay đổi tăng, giảm số lượng theo thời tiết thì cũng cần quy định một độ dung sai (tỷ
lệ sai lệch) trong tổng số lượng cho phù hợp
Trang 181.3.6.6 Điều khoản giá cả:
Các bên khi thoả thuận về giá cả cần đề cập các nội dung sau: đơn giá, tổng giá trị
và đồng tiền thanh toán Về đơn giá có thể xác định giá cố định hoặc đưa ra cách xác định giá (giá di động) Giá cố định thường áp dụng với hợp đồng mua bán loại hàng hoá có tính ổn định cao về giá và thời hạn giao hàng ngắn Giá di động thường được
áp dụng với những hợp đồng mua bán loại hàng giá nhạy cảm (dễ biến động) và được thực hiện trong thời gian dài Trong trường hợp này người ta thường quy định giá sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường hoặc theo sự thay đổi của các yếu tố tác động đến giá sản phẩm
Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán sắt xây dựng (sắt cây phi 16), hai bên đã xác định giá là: 200.000 đồng/cây nhưng loại sắt xây dựng này được sản xuất từ nguyên liệu thép nhập khẩu và giá thép nhập khẩu bên bán không làm chủ được nên đã bảo lưu điều khoản này là: “Bên bán có quyền điều chỉnh giá tăng theo tỷ lệ % tăng tương ứng của giá thép nguyên liệu nhập khẩu.”
1.3.6.7 Điều khoản thanh toán:
Phương thức thanh toán là cách thức mà các bên thực hiện nghĩa vụ giao, nhận tiền khi mua bán hàng hoá Căn cứ vào đặc điểm riêng của hợp đồng, mối quan hệ, các điều kiện khác mà các bên có thể lựa chọn một trong ba phương thức thanh toán sau đây cho phù hợp:
Phương thức thanh toán trực tiếp:
Khi thực hiện phương thức này các bên trực tiếp thanh toán với nhau, có thể dùng tiền mặt, séc hoặc hối phiếu Các bên có thể trực tiếp giao nhận hoặc thông qua dịch
vụ chuyển tiền của bưu điện hoặc ngân hàng Phương thức này thường được sử dụng khi các bên đã có quan hệ buôn bán lâu dài và tin tưởng lẫn nhau, với những hợp đồng
có giá trị không lớn
Phương thức nhờ thu và tín dụng chứng từ (L/C)
Là hai phương thức được áp dụng phổ biến đối với việc mua bán hàng hoá quốc tế, thực hiện phương thức này rất thuận tiện cho cả bên mua và bên bán trong việc thanh
Trang 19toán, đặc biệt là đảm bảo được cho bên mua lấy được tiền khi đã giao hàng Về thủ tục cụ thể thì ngân hàng sẽ có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn các bên khi lựa chọn phương thức thanh toán này
Việc thanh toán trực tiếp trong các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các thương nhân Việt Nam với nhau hoặc với cá nhân, tổ chức khác trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được sử dụng đồng tiền Việt Nam chứ không được sử dụng các đồng tiền của quốc gia khác, đồng tiền chung châu Âu (ngoại tệ), theo Điều 4, Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối
2005
1.3.6.8 Điều khoản phạt vi phạm:
Phạt vi phạm là một loại chế tài do các bên tự lựa chọn, nó có ý nghĩa như một biện pháp trừng phạt, răn đe, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, nhằm nâng cao ý thức tôn trọng hợp đồng của các bên[32; tr53] Khi thoả thuận các bên cần dựa trên mối quan
hệ, độ tin tưởng lẫn nhau mà quy định hoặc không quy định về vấn đề phạt vi phạm Thông thường, với những bạn hàng có mối quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, uy tín của các bên đã được khẳng định trong một thời gian dài thì họ không quy định (thoả thuận) điều khoản này Còn trong các trường hợp khác thì nên có thoả thuận về phạt
vi phạm
1.3.6.9 Điều khoản bất khả kháng:
Bất khả kháng là sự kiện pháp lý nảy sinh ngoài ý muốn chủ quan của các bên, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng đã ký Đó là các sự kiện thiên nhiên hay chính trị xã hội như: bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, chiến tranh, bạo động, đình công, khủng hoảng kinh tế Đây là các trường hợp thường gặp làm cho một hoặc
cả hai bên không thể thực hiện được hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình Khi một bên vi phạm hợp đồng do gặp sự kiện bất khả kháng thì pháp luật không buộc phải chịu trách nhiệm về tài sản (không bị phạt vi phạm, không phải bồi thường thiệt hại)
1.3.6.10 Điều khoản giải quyết tranh chấp
Đối với việc lựa chọn giải quyết tại Trọng tài hay tại Toà án thì thoả thuận phải phù
Trang 20hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:
Trường hợp thứ nhất:
Hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các thương nhân với các tổ chức, cá nhân khác không phải là thương nhân khi có tranh chấp thì do Toà án có thẩm quyền giải quyết Các bên không thể lựa chọn Trọng tài để giải quyết theo Điều 1, Điều 7, Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài ngày 25/02/2003 và Điều 2 Nghị định số 25/NĐ-CP ngày 15/01/2004 Trường hợp thứ hai:
Hợp đồng mua bán hàng hoá giữa thương nhân với thương nhân khi có tranh chấp thì các bên có quyền lựa chọn hình thức giải quyết tại Trọng tài hoặc tại Toà án; nếu
có sự tham gia của thương nhân nước ngoài thì các bên còn có thể lựa chọn một tổ chức Trọng tài của Việt Nam hoặc lựa chọn một tổ chức Trọng tài của nước ngoài để giải quyết
1.4 Phân loại hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại được chia ra làm 2 loại chủ yếu:
1.4.1 Hợp đồng mua bán:
Là một loại hợp đồng trong đó một bên được gọi là bên bán, chuyểnquyền sở hữu cho bên mua một loại hàng hoá hoặc dịch vụ và được nhận một số tiềntương đương với giá trị của hàng hoá hoặc dịch vụ đó.[11; Điều 428]
Đặc trưng của hợp đồng mua bán
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh – thương mại là một dạng của cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Theo Điều 428 – Bộ luật Dân sự “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bênmua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” Hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm những hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam và những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế áp dụng cho các phương thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập khẩu, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu Những hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa có một số quy địnhriêng trong
Trang 21Luật Thương mại Hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm 2 loại là Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Hợp đồng ngoại thương)
Trang 22CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TIẾNG TRUNG
Trong những năm trở lại đây, giao dịch thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày một gia tăng Hợp đồng thương mại đóng vai trò là một văn bản giao dịch kinh
tế cực kỳ quan trọng, yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ của hợp đồng thương mại đòi hỏi những từ ngữ có tính chính xác, nghiêm túc, cùng với cách biểu đạt ngôn ngữ phải chuyên nghiệp, có tính quy phạm và tư duy tinh tế Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng thương mại có những đặc điểm như: dùng từ một cách chính xác, sử dụng những từ ngữ đơn giản nhưng mang ý nghĩa rõ ràng và những từ ngữ được sử dụng có tính kịp thời và tính ứng dụng cao
2.1 Tính chính xác của ngôn ngữ trong hợp đồng thương mại tiếng Trung:
Hợp đồng sau khi ký kết ngay lập tức bắt đầu có hiệu lực, vậy nên không thể tùy tiện chỉnh sửa hay thay đổi nội dung trong hợp đồng, đồng thời các bên liên quan phải chịu trách nhiệm pháp lý sau khi cùng nhau ký kết vào bản hợp đồng Chính vì vậy, trong hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng thương mại tiếng Trung nói riêng, yêu cầu về ngôn ngữ khi soạn thảo hợp đồng rất cao, yêu cầu quan trọng nhất là ngôn ngữ phải được sử dụng một cách chính xác, không được phép mơ hồ, khó hiểu Để đáp ứng được yêu cầu này, mỗi từ của hợp đồng, thậm chí từng chữ, từng dấu câu đều được xem xét một cách kỹ lưỡng, nếu không chỉ cần có bất kỳ một sai sót nhỏ nào trong hợp đồng đều có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên liên quan Ngôn ngữ chính
là linh hồn của hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương mại, nó đóng vai trò quan trọng nhất trong mỗi bản hợp đồng Vậy nên, sử dụng ngôn ngữ không chính xác khi soạn thảo một bản hợp đồng là nguyên nhân chính dẫn đến các tranh chấp cũng như vi phạm các điều khoản của các bên Đặc biệt, hợp đồng thương mại tiếng Trung là văn bản giao dịch giữa một bên là các doanh nghiệp của Trung Quốc với một bên là các doanh nghiệp nước ngoài Để hạn chế tối đa việc tranh chấp hay vi phạm của đôi bên
Trang 23thì việc sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác khi soạn thảo hợp đồng là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất
vị cơ bản nhất )
Do tính chất đặc biệt của ngôn ngữ hợp đồng thương mại tiếng Trung, đôi khi chỉ vì một từ sử dụng sai mà nó sẽ gây cho các bên tham gia hợp đồng thiệt hại về kinh tế rất lớn Sử dụng từ một cách chính xác trong hợp đồng thương mại tiếng Trung có nghĩa là trong quá trình soạn thảo hợp đồng, mỗi từ được dùng đều phải biểu đạt một cách rõ ràng, chính xác phạm vi cũng như mức độ dùng từ đều phải được cân nhắc một cách hết sức kỹ lưỡng Dùng từ chính xác là một trong những điều quan trọng để quyết định việc bản hợp đồng đó có được tiến hành một cách thuận lợi hay không
疤痕等。到货拆箱一看,不仅小而且疤痕多,品质又不好。收货方欲诉无据,只好哑巴吃黄莲,有苦说不出。[39,tr 11](Một bản hợp đồng mua bán Táo chỉ viết là
Táo “Phú Sĩ Đỏ” mà không có ghi kích thước to hay nhỏ, độ chín của táo hay có bị sứt sẹo gì không Sau khi hàng đến, phía nhận hàng mở ra kiểm tra mới phát hiện ra loại táo mình nhập về không những bé mà còn bị sứt sẹo rất nhiều, chất lượng cũng rất kém, phía nhận hàng vì không có chững cứ gì để đối chiếu với bên bán nên chỉ còn cách chấp nhận sự sai sót này.)
2.1.2 Sử dụng một cách chính xác các khái niệm
Các khái niệm trong hợp đồng thương mại tiếng Trung cần phải được biểu đạt một
Trang 24cách chính xác
Trong các hợp đồng thương mại tiếng Trung thì thường sử dụng đến rất nhiều các khái niệm, các khái niệm này không phải chỉ riêng ở một lĩnh vực cụ thể nào mà trong các trường hợp khác nhau thì nó cũng được sử dụng một cách khác nhau Trong cùng một lĩnh vực hoặc chuyên ngành thì một khái niệm nào đó cũng có thể sử dụng không đồng nhất, điều này có thể do thói quen sử dụng ngôn ngữ của mỗi người hoặc mỗi vùng khác nhau nên nó có sự biến hóa Trong quá trình giao dịch thương mại thường xuất hiện việc cùng một khái niệm nhưng lại được hiểu theo nhiều ý khác nhau Nếu các khái niệm không được sử dụng một cách chính xác thì việc tranh chấp giữa các bên sẽ rất dễ xảy ra Dưới đây là một số khái niệm quan trọng thường được sử dụng trong hợp đồng thương mại tiếng Trung:
名称: Tên gọi
Các hợp đồng thương mại không chỉ bằng tiếng Trung hay bất kỳ thứ tiếng nào khác đều yêu cầu bắt buộc phải có tên gọi của loại hợp đồng đó cũng như biểu thị rõ tính chất của hợp đồng đó Ví dụ hợp đồng mua bán hay là hợp đồng bồi thường, hợp đồng kinh doanh đa quốc gia…
包装: Đóng gói
Được dùng đối với hợp đồng thương mại mà đa phần là hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp Các sản phẩm phải yêu cầu được đóng gói cẩn thận, ghi rõ chi tiết sản phẩm được mua bán, thành phần, khối lượng, kích thước…
保险:Bảo hiểm
Trong hợp đồng thương mại tiếng Trung, bảo hiểm là từ khóa luôn cần phải chú ý khi sử dụng Nếu thiếu điều kiện bảo hiểm trong hợp đồng, khi xảy ra tổn thất sẽ không thể đưa ra các điều kiện bồi thường, không biết bên nào sẽ là bên thanh toán bảo hiểm khi sản phẩm bị tổn hại…
违约: Vi phạm hợp đồng
Trang 25Đây là từ khóa cũng thường được sử dụng khi soạn thảo một hợp đồng thương mại Đối với những người soạn thảo hợp đồng hay các doanh nghiệp nói chung, vi phạm hợp đồng là một điều rất nguy hiểm, do đó từ ngữ này rất hay xuất hiện khi làm hợp đồng Bên mua hay bên bán khi vi phạm hợp đồng sẽ phải bồi thường như thế nào? 保密:Bảo mật
Là sự hạn chế khả năng lạm dụng tài nguyên và tài sản Bảo mật trở nên đặc biệt phức tạp trong quản lý, vận hành những hệ thống thông tin có sử dụng các công cụ tin học, nơi có thể xảy ra và lan tràn nhanh chóng việc lạm dụng tài nguyên (các thông tin
di chuyển vô hình trên mạng hoặc lưu trữ hữu hình trong các vật liệu) và lạm dụng tài sản (các máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi, các phần mềm của cơ quan hoặc người sở hữu hệ thống)
Ví dụ :付款的条件( điều kiện thanh toán )、付款的数量(số lượng thanh toán )、付款的具体方式和日期( hình thức và thời gian thanh toán) v.v Trong một bản hợp đồng thương mại tiếng Trung, nếu như khái niệm “Thanh toán” này không được viết một cách chính xác thì bản hợp đồng đó rất khó có thể tiến hành một cách thuận lợi
定金 - 订金:Đây là hai từ có ý nghĩa biểu đạt hoàn toàn khác nhau
Ở từ thứ nhất “定金” ( đặt cọc ), thì nó là một hình thức đảm bảo, là điều khoản mà trong quá trình đàm phán hợp đồng hai bên đã thống nhất trước với nhau để đảm bảo cho hợp đồng được tiến hành một cách thuận lợi, có nghĩa là một bên đặt trước cho đối phương một số tiền nhất định hoặc một tài sản cố định nào đó chỉ để cho đối