1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khảo Sát Kiến Thức Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Về Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ Của Bà Mẹ Sau Sinh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ Năm 2017.Pdf

37 39 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Kiến Thức Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Về Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ Của Bà Mẹ Sau Sinh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ Năm 2017
Tác giả Phạm Thị Diễm My
Người hướng dẫn Ths. Nghị Ngô Lan Vi
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Tiểu luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU (10)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 2.1. GIẢI PHẪU VÚ VÀ SINH LÝ TIẾT SỮA (12)
    • 2.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỮA MẸ (14)
    • 2.3. PHƯƠNG PHÁP NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ (18)
    • 2.4. TÌNH HÌNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HIỆN NAY (21)
    • 2.5. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH (23)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.3. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU (32)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (34)
    • 4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (34)
    • 4.2. THẢO LUẬN (0)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT (0)
    • 5.1. KẾT LUẬN (0)
    • 5.2. ĐỀ XUẤT (0)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG MÃ SỐ 51720501 KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA BÀ MẸ SAU SIN[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

MÃ SỐ: 51720501

KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ MỘT SỐ YẾU

TỐ LIÊN QUAN VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA

MẸ CỦA BÀ MẸ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

NĂM 2017

Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

MSSV: 13D720501025 LỚP: Đại học Điều Dưỡng 8

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

MÃ SỐ: 51720501

KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ MỘT SỐ YẾU

TỐ LIÊN QUAN VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA

MẸ CỦA BÀ MẸ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

NĂM 2017

Cân bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

MSSV: 13D720501025 LỚP: Đại học Điều Dưỡng 8

Cần Thơ, 2017

Trang 3

Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc đến cô Nghị Ngô Lan Vi, người đã trực tiếp hướng dẫn cho em tận tình và sâu sắc trong suốt quá trình học tập và làm tiểu luận Được làm việc với Cô, được Cô hướng dẫn là món quà quý giá mà em

sẽ rất trân trọng

Và cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cha Mẹ, gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh động viên giúp em có động lực phấn đấu để học tập và hoàn thành tốt tiểu luận này

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Diễm My

Trang 4

CAM KẾT KẾT QUẢ

Em cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, kết quả nêu trong tiểu luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ngày 25 tháng 05 năm 2017 Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Diễm My

Trang 5

TÓM TẮT

Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ chính là tiền đề để bà mẹ đưa

ra các quyết định chọn lựa phương pháp nuôi dưỡng trẻ tốt nhất và phù hợp nhất cho con mình Việc đánh giá kiến thức và một số yếu tố liên quan về nuôi con bằng sữa mẹ

là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đồng thời đề ra các biện pháp thích hợp nhằm gia tăng tỷ lệ hiểu biết về nuôi con bằng sữa mẹ Chính vì thế, đề tài “Khảo sát kiến thức và một số yếu tố liên quan về nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm

2017” được thực hiện với 2 mục tiêu cụ thể như sau:

1 Xác định tỷ lệ bà mẹ sau sinh có kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ tại

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm 2017

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của

bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm 2017

Khảo sát trên 100 đối tượng nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang Số liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền được soạn sẵn

Qua khảo sát, có 45% bà mẹ có kiến thức đúng chung về nuôi con bằng sữa mẹ

Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về lợi ích của sữa non và lợi ích đối với mẹ đều chiếm 55% Có 54% bà mẹ biết không nên cho trẻ uống nước trong 4–6 tháng đầu Tỷ lệ bà

mẹ hiểu biết đúng về cách bảo vệ nguồn sữa mẹ là 65% Tỷ lệ bà mẹ có hiểu biết đúng

về những dấu hiệu chứng tỏ trẻ ngậm bắt vú tốt là 58% Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng

về thời gian cai sữa cho trẻ chỉ chiếm 39% Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa

kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với tuổi, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề

nghiệp của các đối tượng nghiên cứu

Khảo sát góp phần nâng cao kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ cho các bà mẹ sau sinh

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

CAM KẾT KẾT QUẢ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 GIẢI PHẪU VÚ VÀ SINH LÝ TIẾT SỮA 3

2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỮA MẸ 5

2.3 PHƯƠNG PHÁP NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ 9

2.4 TÌNH HÌNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HIỆN NAY 12

2.5 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH 14

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 16

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 23

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.2 THẢO LUẬN 37

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 49

5.1 KẾT LUẬN 49

5.2 ĐỀ XUẤT 50

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 25

Bảng 4.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi cư trú 25

Bảng 4.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 26

Bảng 4.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 4.5 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 4.6 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lần sinh con 27

Bảng 4.7 Phân bố đối tượng theo hình thức sinh của lần sinh hiện tại 28

Bảng 4.8 Kiến thức đúng về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh 28

Bảng 4.9 Kiến thức đúng về nuôi dưỡng trẻ trong 4-6 tháng đầu của các bà mẹ sau sinh 29

Bảng 4.10 Kiến thức đúng về bảo vệ nguồn sữa mẹ 30

Bảng 4.11 Kiến thức đúng về cách cho trẻ bú 30

Bảng 4.12 Kiến thức đúng về việc cai sữa cho trẻ 31

Bảng 4.13 Kiến thức đúng về một số trường hợp đặc biệt liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ 31

Bảng 4.14 Tỷ lệ bà mẹ được tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ 32

Bảng 4.15 Nguồn cung cấp thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ 32

Bảng 4.16 Kiến thức đúng chung về nuôi con bằng sữa mẹ 32

Bảng 4.17 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với tuổi của các bà mẹ 33

Bảng 4.18 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với nơi cư trú của các bà mẹ 33

Bảng 4.19 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với nghề nghiệp của các bà mẹ 34

Bảng 4.20 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với dân tộc của các bà mẹ 34

Bảng 4.21 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với trình độ học vấn của các bà mẹ 35

Bảng 4.22 Liên quan giữa kiến thưc đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với số lần sinh con của các bà mẹ 35

Bảng 4.23 Liên quan giữa kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ với hình thức sinh con của các bà mẹ 36

Bảng 4.24 Liên quan giữa kiến thức đúng với việc tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ 36

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1 Đặc điểm giải phẩu vú 3

Hình 2.2 Phản xạ Prolactin 4

Hình 2.3 Phản xạ oxytocin 5

Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu 23

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ

UNICEF The United Nations Children’s Fund (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) VDD Viện Dinh Dưỡng

WHO World Health Orgnization (Tổ chức Y tế Thế Giới)

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, thế giới đã lấy việc bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ là một nội dung quan trọng trong công tác y tế bà mẹ và trẻ sơ sinh Đã có không ít hoạt động trong và ngoài nước dành riêng cho chương trình này Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú kết hợp với chế độ ăn hợp lý đến năm thứ hai trong đời sống của trẻ và xa hơn nữa [39].Hiện nay, mặc dù đã có nhiều người ý thức được tầm quan trọng của sữa mẹ nhưng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu vẫn còn khá thấp ở nhiều quốc gia Tại Việt Nam, qua kết quả điều tra của dự án Alive and Thrive tại 11 tỉnh thành trong cả nước cho thấy, có sự thiếu hụt trong kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ, mặc dù có đến 83,9% bà mẹ biết trong 6 tháng đầu chỉ cho trẻ bú sữa mẹ tốt hơn là cho trẻ bú kết hợp cả sữa mẹ và sữa bột nhưng tỷ lệ bà mẹ tin rằng cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn ở độ tuổi này là tốt nhất chỉ chiếm 52,5% và số bà mẹ biết chỉ nên cho trẻ uống nước khi trẻ từ 6 đến 8,9 tháng tuổi lại chiếm tỷ lệ rất thấp (23,2%) [1]

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là cách tốt nhất phòng tránh

tử vong cho trẻ Việc mở rộng quy mô nuôi con bằng sữa mẹ có thể ngăn chặn 823.000 trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [42] Theo Bà Nemat Hajeebhoy, Giám đốc Quốc gia của dự án Alive and Thrive chia sẻ: “Cho con bú là một trong những đầu tư quan trọng nhất mà cha mẹ có thể dành cho con trong 2 năm đầu đời của trẻ Nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy trẻ được bú mẹ khỏe mạnh và thông minh hơn những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ Do vậy, chúng ta cần đảm bảo rằng mọi trẻ em khi sinh ra đều được hưởng một khởi đầu tốt nhất có thể trong đời các em và khởi đầu đó

là được bú mẹ” [35] Nuôi con bằng sữa mẹ luôn được UNICEF, WHO, Bộ y tế và các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo vì có nhiều lợi ích không những tốt cho sự phát triển của con mà còn bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ Việc thực hiện chăm sóc dinh dưỡng hợp lý như: cho trẻ bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và một chế độ ăn hợp lý sẽ mang lại cho trẻ bước khởi đầu khỏe

mạnh Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ trong suốt 6 tháng đầu tiên của cuộc đời [4]

Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ, vì trong sữa mẹ không chỉ có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng mà tỷ lệ các chất dinh dưỡng rất hợp lí, phù hợp với sự hấp thu và phát triển cơ thể trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ đảm bảo

vệ sinh mà còn tiết kiệm thời gian lại kinh tế, giúp người mẹ khỏe mạnh, ngăn ngừa tình trạng ung thư vú, lấy lại vóc dáng sau sinh và tránh thai hiệu quả [4] Thêm vào

đó, nuôi con bằng sữa mẹ giúp người mẹ có thời gian gần gũi tự nhiên với con, tăng

Trang 11

mẹ do nhiều nguyên nhân khác nhau như: mẹ không đủ sữa để thỏa mãn nhu cầu của trẻ, mẹ phải đi làm trở lại sau thời gian nghỉ hậu sản… Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng hơn hết là bà mẹ thiếu hiểu biết trong cách nuôi con bằng chính dòng sữa của mình Bên cạnh đó, trước những chương trình quảng cáo, tiếp thị về sữa nhân tạo đang được đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay đã gây ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của các bà mẹ Tình trạng trên cho thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ đã không còn được các bà mẹ quan tâm, chú trọng như trước

Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ chính là tiền đề để bà mẹ đưa

ra các quyết định chọn lựa phương pháp nuôi dưỡng trẻ tốt nhất và phù hợp nhất cho con mình Việc đánh giá kiến thức và một số yếu tố liên quan về nuôi con bằng sữa mẹ

là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đồng thời đề ra các biện pháp thích hợp nhằm gia tăng tỷ lệ hiểu biết về nuôi con bằng sữa mẹ

Từ những yếu tố trên đề tài: “Khảo sát kiến thức và một số yếu tố liên quan về nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm 2017” được thực hiện với hai mục tiêu cụ thể như sau:

1 Xác định tỷ lệ bà mẹ sau sinh có kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm 2017

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, năm 2017

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIẢI PHẪU VÚ VÀ SINH LÝ TIẾT SỮA

2.1.1 Giải phẫu vú

Vú có chức năng tạo sữa và cho con bú [16] Vú được xem là cơ quan sinh dục

thứ hai của người phụ nữ và là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh [11] Vú phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, trong những tháng cuối của thời kì mang thai, đặc biệt

là sau khi sinh và thoái triển sau tuổi mãn kinh [32], [8]

Hình thể ngoài của vú

Vú là cơ quan nằm ở thành ngực trước, từ xương sườn thứ hai đến xương sườn thứ sáu,hai phần ba nằm ở cơ ngực lớn và một phần ba nằm ở cơ răng trước, từ đường nách giữa đến bờ bên xương ức [32], [11]

Kích thước của vú thay đổi theo tuổi, tình trạng sinh lý (có thai, sau sinh) và theo từng cá nhân khác nhau [8]

Hình thể của vú rất thay đổi, thông thường nhất là hình bán cầu, đôi khi vú có hình quả lê, hình đĩa hoặc hình trụ [8] Đỉnh của vú là một nhú niêm mạc lồi có các ống tiết sữa gọi là nhú vú hay đầu vú Quanh nhú là một vòng niêm mạc nhiễm sắc tố gọi là quầng vú [16] Vùng quầng vú có các tuyến nhỏ gọi là tuyến Montgomery, tuyến này tiết ra một chất nhờn cá tác dụng bảo vệ da vú [34]

Cấu tạo của vú

Cấu tạo của vú từ nông vào sâu là da, các hốc mỡ dưới da, rồi đến các tuyến sữa dạng chùm hợp thành các tiểu thùy và thùy (có khoảng 15–20 thùy, mỗi thùy đổ ra đầu

vú bởi một ống tiết sữa, trước khi đổ ra đầu vú, ống tiết sữa phình ra tạo thành xoang sữa, là nơi sữa được gom vào để chuẩn bị cho một bữa bú), sâu nhất là lớp mỡ sau vú nằm nông ngay trước cơ ngực lớn [11], [16]

Hình 2.1 Đặc điểm giải phẩu vú (Nuôi dưỡng trẻ nhỏ, 2015 [34])

Trang 13

Bên trong tuyến vú có nhiều nang sữa, đó là những túi rất nhỏ được cấu tạo bởi các tế bào tiết sữa Có hàng triệu nang sữa trong bầu vú Xung quanh các nang sữa là các tế bào cơ có tác dụng co bóp và tống sữa ra ngoài Xung quanh các nang sữa và ống dẫn sữa có các mô nâng đỡ và mô mỡ Mô nâng đỡ, mô mỡ và các tổ chức khác tạo nên hình dạng của vú, từ đó tạo nên sự khác biệt giữa các bà mẹ về kích thước, hình dáng vú Vú có kích thước, hình dáng như thế nào đều chứa số lượng nang sữa như nhau, vì vậy không ảnh hưởng đến việc bài tiết sữa và đều có thể tạo ra nhiều sữa [34]

2.1.2 Sinh lý tiết sữa

Khi trẻ mút vú, xung động cảm giác thần kinh từ núm vú lên não, kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra prolactin Chất này vào máu đến vú làm các tế bào tiết ra sữa

Vì vậy, cho trẻ bú càng nhiều, vú càng sản xuất ra nhiều sữa Nồng độ prolactin trong máu đạt tối đa vào khoảng 30 phút sau bữa bú, giúp tạo sữa cho bữa bú tiếp theo Bữa

bú hiện tại là trẻ bú sữa đã được dự trữ sẵn trong vú.Ngoài chức năng quan trọng là hormon tạo sữa, prolactin còn có tác dụng ức chế sự rụng trứng, prolactin được tiết ra nhiều vào ban đêm nên khi bà mẹ cho con bú vào ban đêm không những tạo nhiều sữa

mà còn giúp mẹ chậm có thai lại [3], [34]

Hình 2.2 Phản xạ Prolactin (Nuôi dưỡng trẻ nhỏ, 2015 [34])

Từ động tác ngậm vú của trẻ, một xung động thần kinh khác tác động lên vùng dưới đồi và thùy sau tuyến yên, kích thích tiết ra oxytocin Oxytocin vào máu đến vú làm các tế bào cơ xung quanh nang sữa co thắt, đẩy sữa theo các ống dẫn sữa đến các xoang sữa, đôi khi còn làm sữa tự chảy ra ngoài [3] Oxytocin còn có tác dụng làm co hồi tử cung, giúp bà mẹ giảm chảy máu sau sinh nhưng đôi khi gây đau tử cung nhiều

Trang 14

về vùng dưới đồi làm tăng bài xuất sữa Trái lại những kích thích giao cảm mạnh, căng thẳng kéo dài sẽ ức chế bài xuất sữa [24]

Hình 2.3 Phản xạ oxytocin (Nuôi dưỡng trẻ nhỏ, 2015 [34]) Trong sữa còn có một chất có thể ức chế hoặc giảm tiết sữa Nếu có nhiều sữa được tiết ra thì chất ức chế này sẽ ngăn chặn các tế bào tiết sữa hạn chế tiết sữa Vì vậy, để vú tiếp tục tạo sữa thì sữa mẹ phải được chảy ra khỏi vú Nếu trẻ không bú được hoặc bú không hết thì sữa mẹ cần được vắt ra để sự sản xuất sữa có thể được tiếp tục [3]

2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỮA MẸ

2.2.1 Đặc điểm của sữa mẹ

Sữa non

Sữa non được hình thành từ tuần thứ 14–16 của thai kỳ và được tiết ra trong 1–3 ngày đầu sau sinh Sữa non sánh đặc, màu vàng nhạt hoặc trong [34]

Lợi ích của sữa non:

Sữa non là nguồn kháng thể dồi dào, giúp cho cơ thể non trẻ chống lại môi trường mới lạ

Sữa non tiết ra tuy ít nhưng chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của trẻ mới sinh [15]

Giàu kháng thể, nhiều protein kháng khuẩn và nhiều tế bào bạch cầu hơn sữa trưởng thành, giúp trẻ phòng chống nhiễm khuẩn, dị ứng và có khả năng miễn dịch nhiều bệnh mà trẻ có thể mắc phải [3], [34]

Có tác dụng xổ nhẹ, đào thải phân su, thải bilirubin ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da của trẻ [34]

Có yếu tố tăng trưởng biểu bì giúp cho ruột phát triển hoàn thiện chức năng, phòng tránh dị ứng và không dung nạp thức ăn khác [34]

Giàu vitamin đặc biệt là vitamin A có tác dụng cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ Sữa non giàu natri, kali và kẽm [34]

Trang 15

2.2.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ

2.2.2.1 Các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ

Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa và dễ hấp thu

Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất trong những tháng năm đầu tiên của trẻ vì sữa

mẹ có đủ năng lượng, chất dinh dưỡng và dễ hấp thu [31]

Có thể nói sữa mẹ đã được chế tạo theo công thức định sẵn, trong 1 lít sữa mẹ có khoảng 700 Kcal [31] Tỷ lệ các chất dinh dưỡng như đạm, đường, mỡ, vitamin, và muối khoáng thích hợp nên làm cho trẻ dễ tiêu hóa, dễ hấp thu giúp cho cơ thể trẻ phát triển bình thường tránh được suy dinh dưỡng [4]

Protein: sữa mẹ có lượng protein (đạm) ít hơn sữa bò nhưng có đủ các acid amin cần thiết và tỷ lệ cân đối Protein sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi

là protein sữa giúp trẻ dễ tiêu hóa [4]

Lipid (chất béo): chất béo trong sữa mẹ cung cấp 50% năng lượng cho bé Sữa

mẹ có những acid béo cần thiết như acid linoleic, acid linolenic hỗ trợ cho sự phát triển của não, mắt và sức bền thành mạch Hơn nữa, thành phần lipid trong sữa mẹ chủ yếu là acid béo không no và có men lipase giúp cho quá trình tiêu hóa của trẻ dễ dàng hơn [4], [34]

Carbonhydrat (glucid và đường): trong sữa mẹ có lượng carbonhydrat nhiều hơn trong sữa bò, do đó cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể, với 85% là latose sẽ làm tăng cường hấp thu calci, muối khoáng cho cơ thể và 15% là oligosaccharide sẽ hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ [4], [34]

Vitamin: các loại vitamin (B1, B2, C,… ) đều có đủ trong sữa mẹ và giúp ích cho trẻ [34] Đặc biệt, sữa mẹ là nguồn cung cấp vitamin A dồi dào cho trẻ, vì vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ phòng được bệnh khô mắt do thiếu vitamin A [15] Ngoài ra sữa mẹ còn có nhiều vitamin D cần cho sự phát triển xương của trẻ, giúp trẻ chống được suy dinh dưỡng và còi xương

Trang 16

như E.Coli và virus [15]

Tế bào, lympho bào sản xuất IgA tiết và Interferon, có tác dụng ức chế hoạt động của một số virus [15]

Lactoferin (protein gắn sắt): có tác dụng kìm khuẩn không cho các vi khuẩn cần sắt để phát triển [15]

Lysozym: có hàm lượng cao gấp hàng ngàn lần so với sữa bò, có tác dụng diệt vi khuẩn và virus [4]

Các đại thực bào trong sữa mẹ có tính chất thực bào và bài tiết lysozyme,

lactoferin và thực bào nấm Candida và các loại vi khuẩn, nhất là các vi khuẩn Gram

âm gây viêm ruột hoại tử cho trẻ sơ sinh (Clostridium, Klebsiella) [15]

Trong sữa mẹ có các yếu tố kích thích sự phát triển vi khuẩn Lactobacillus Bifidus Vi khuẩn này phát triển sẽ lấn át và ngăn cản sự phát triển của các loại vi

khuẩn gây bệnh Do sữa mẹ có đặc tính kháng khuẩn, nên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của trẻ bú mẹ thấp hơn trẻ nuôi nhân tạo [15]

Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng

Trẻ bú mẹ thường không bị dị ứng, bị eczema như một số trẻ ăn nhân tạo vì IgA tiết cùng với đại thực bào có tác dụng chống dị ứng [15]

2.2.2.2 Lợi ích của sữa mẹ đối với trẻ

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của trẻ trong 4–6 tháng đầu Sữa mẹ kích thích sự phát triển tối ưu của não và thúc đẩy sự tăng trưởng của trẻ Một số kháng thể từ người mẹ truyền qua rau đến bào thai đã giúp cho trẻ có sức đề kháng và miễn dịch một số bệnh đặc biệt trong 4–6 tháng đầu, giúp trẻ không

dễ mắc các bệnh như sởi, cúm, ho gà Hơn nữa, sữa mẹ vô khuẩn, sạch sẽ, trẻ bú trực tiếp ngay làm cho vi khuẩn không có điều kiện phát triển nên trẻ ít bị tiêu chảy Vì hệ thống miễn dịch của bé chưa hoàn thiện nên các kháng thể có trong sữa mẹ sẽ là liều thuốc quý giá giúp trẻ phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp Sữa mẹ đảm bảo dinh dưỡng, cung cấp đủ nước cho trẻ Khi trẻ được bú

Trang 17

mẹ, được tiếp xúc gần gũi mẹ, được âu yếm trẻ sẽ ít khóc, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ phát triển tốt hơn [15], [31], [36]

2.2.2.3 Lợi ích của sữa mẹ đối với bà mẹ

Cho trẻ bú sớm ngay sau sinh giúp xổ rau và tránh mất máu cho mẹ [3] Với động tác mút vú sẽ khích thích tuyến yên tiết oxytocin giúp tử cung của mẹ co hồi tốt hơn, tránh được tình trạng băng huyết sau sinh và tiết prolactin có tác dụng ức chế rụng trứng nên làm chậm quá trình có thai đồng thời làm giảm nguy cơ ung thư tử cung và ung thư vú [31] Khi thực hiện cho trẻ bú ngay và thường xuyên có tác dụng kích thích tăng cường sản xuất sữa [36]

Nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi đơn giản nhất Bà mẹ có thể cho trẻ bú bất cứ

ở đâu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm Không mất thời gian, phương tiện và dụng cụ pha sữa phiền phức Không tốn kém tiền để mua sữa nhân tạo và các dụng cụ cần thiết để pha sữa cho con Tạo điều kiện cho mẹ có thời gian nghỉ ngơi, ăn uống bồi dưỡng, chăm sóc gia đình và tham gia công tác xã hội Đặc biệt, cho trẻ bú mẹ sẽ tạo điều kiện cho mẹ thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với con giúp gắn bó tình cảm mẹ con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yêu tâm và giảm được lo âu, trầm cảm sau sinh

2.2.2.4 Những bất lợi khi nuôi con bằng sữa nhân tạo

Thức ăn thay thế sữa mẹ được chế biến từ nhiều loại sữa khác nhau, tuy đã được điều chỉnh, chế biến để giống với thành phần sữa mẹ nhưng không thể hoàn hảo như sữa mẹ Vì vậy, khi nuôi con bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ sẽ có nhiều bất lợi cho cả

có thể bị tiêu chảy, kém hấp thu dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng Trẻ ăn quá nhiều sữa nhân tạo sẽ gây thừa cân, béo phì [3]

Bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ dễ có thai sớm, có nguy cơ bị thiếu máu sau sinh và tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng sau này [34]

2.2.2.5 Các chính sách, khuyến nghị về nuôi con bằng sữa mẹ của quốc tế

Trang 18

Nhận thức nuôi con bằng sữa mẹ là cách tối ưu nhằm cung cấp thức ăn lý tưởng cho sự tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, giúp hình thành

cơ sở thể chất và tinh thần tốt nhất cho cả bà mẹ và trẻ em

Công nhận việc khuyến khích và bảo vệ việc nuôi con bằng sữa mẹ là một phần quan trọng của y tế

Có nhiều yếu tố xã hội và kinh tế ảnh hưởng tới việc nuôi con bằng sữa mẹ Do

đó, chính phủ cần xây dựng các hệ thống hỗ trợ xã hội nhằm bảo vệ, tạo điều kiện, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung phù hợp

Khẳng định các hệ thống y tế, các chuyên gia y tế và các cán bộ y tế khác phục

vụ trong các hệ thống đó đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn nuôi con, khuyến khích, tạo điều kiện cho bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ, tư vấn khách quan, nhất quán cho các bà mẹ và gia đình về giá trị ưu việt của nuôi con bằng sữa mẹ

Khẳng định các hệ thống giáo dục và các dịch vụ xã hội khác cần phải tham gia vào việc bảo vệ và khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ và sử dụng thích hợp các thực phẩm bổ sung

Các gia đình, cộng đồng, tổ chức của phụ nữ và các tổ chức phi chính phủ khác đóng vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ và bảo đảm sự hỗ trợ cần thiết cho các phụ nữ mang thai và bà mẹ của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Các nhà sản xuất và phân phối các sản phẩm thay thế sữa mẹ đóng một vai trò quan trọng và có trách nhiệm với việc thúc đẩy và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ [7]

2.3 PHƯƠNG PHÁP NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

2.3.1 Thời gian cho trẻ bú

Cho trẻ bú sớm sau sinh

Trẻ được bú mẹ càng sớm càng tốt, bú ngay sau sinh trong vòng nửa giờ đầu, việc chờ đến khi mẹ xuống sữa mới cho trẻ bú sẽ càng làm sữa xuống chậm và mẹ dễ

bị mất sữa [31] Cho trẻ bú sớm sẽ tận dụng được nguồn sữa non giúp trẻ có khả năng chống lại bệnh tật tốt, kích thích bài tiết sữa sớm, động tác mút vú của trẻ giúp tử cung

bà mẹ co hồi nhanh có tác dụng cầm máu sau sinh Bên cạnh đó, bú sớm tạo cho trẻ sự hoạt động khởi động đường tiêu hóa sớm, bài tiết hết phân su [30]

Trẻ mới sinh không nên cho trẻ uống các loại nước uống hoặc sữa nhân tạo trước bữa bú đầu tiên của trẻ

Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 4–6 tháng đầu

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất

cứ thức ăn, nước uống nào khác kể cả nước trắng, trừ các trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc [34]

Ngày đăng: 03/02/2023, 18:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w