1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng gây rụng chứng 35 ngày/lần đến số phôi/bò/năm trên đàn bò sữa potx

6 300 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 197,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rút ngắn thời gian GRTN lặp lại từ 2-3 tháng xuống 35 ngày/lần/bò có thể tăng số phôi thu được/bò/năm góp phần nâng cao hiệu quả trong công nghệ cấy truyền phôi CTP bò.. Vì vậy, chúng tô

Trang 1

ẢNH HƯỞNG GÂY RỤNG TRỨNG 35 NGÀY/LẦN ĐẾN SỐ PHÔI /BÒ/NĂM

TRÊN ĐÀN BÒ SỮA

Nguyễn Văn Lý 1 , Lưu Công Khánh 3 , Nguyễn Thị Thoa 2* , Đỗ Văn Hương 2 , Trần Sơn Hà 2 , Nguyễn Thị Hương 2 , Lưu Ngọc Anh 2 và Phan Lê Sơn 3

1 Vụ Khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT

2 Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào động vật

3 Bộ môn sinh sản và thụ tinh nhân tạo Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội

* Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thoa – Phòng TN Trọng điểm tế bào động vật Tel: (04) 2.166.165 / 0977 249.755; Fax: (04) 38.389.775; Email: methoa2002@yahoo.com

ABSTRACT Effect of superovulation interval 35 days/time on embryo number/cow/year of dairy cow

Bovine embryo transfer has been studied and applied widely around the world Superovulation and embryo recovery were the first important basic steps of embryo transfer technology The objective of our study was to compare 35 day-reapeated to 2-3 months repeated superovulation and embryo recovery Two high genetic value dairy cows were used as donors in this experiment Cows received a standard Ovsync protocol plus a Prid for 12 days (starting on Day 0) From Day 10 to Day 13, cows were administered i.m, twice daily Prid was removed and then donors received PGF2ỏ on Day12 On Day 14 and 15, donors showed oestrous were inseminated articificially twice The number of copus lutea was counted and embryos were collected on Day 21 Donors received PGF2ỏ on the day of embryo collection On Day 35 cows were given Prid, and subsequent steps were carried out repeately In 8 experimental sessions, two cows reponsed well to the administration of hormone We collected a total of 109 embryos and ova (including 88 transferable embryos) from 2 donors The average number of embryo and ova/cow/ collection was 6.8 The average number of transferable embryo/cow/time was 5.5 Our results indicated that repeatability of 35 days- superovulation and embryo recovery increased the number of embryo collected per donor a year Although the results of superovultion depend on many factors such as response of donors to the kinds of hormone using, abitity of AI, flushing… we can apply the 35-day repeated superovulation schedule to increase the embryo number per valuable donor per year in Vietnam conditions.

Key words: superovulation, repeated, bovine, embryo transfer, FSH, PGF2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước đây sau mỗi lần gây rụng trứng nhiều (GRTN) phải để bò cho phôi nghỉ 2 - 3 tháng rồi mới tiếp tục GRTN lặp lại Như vậy, một năm chỉ tiến hành thu phôi 3 - 4 lần và số phôi bình quân/bò/năm chỉ đạt 15 phôi Hiện nay công nghệ cấy truyền phôi và kỹ thuật gây rụng trứng nhiều lặp lại đã có nhiều cải tiến Rút ngắn thời gian GRTN lặp lại từ 2-3 tháng xuống 35 ngày/lần/bò có thể tăng số phôi thu được/bò/năm góp phần nâng cao hiệu quả trong công nghệ cấy truyền phôi (CTP) bò

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng rút ngắn gây rụng trứng nhiều và thu phôi lặp lại từ 2-3 tháng xuống 35 ngày trên bò sữa”.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bò cái lai F2 hướng sữa, năng suất 4000-6000 lit/chu kỳ

Các hormone sinh sản: FSH, PGF2α, Progesterone (PRID, CIDR)

Trang 2

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều theo quy trình 35 ngày/lần

Đánh giá phản ứng của buồng trứng bò qua các lần gây rụng trứng nhiều

Đánh giá kết quả thu hoạch phôi và chất lượng phôi thu được

Phương pháp nghiên cứu

Chọn bò cho phôi

Bò cho phôi là những con bò cái lai hướng sữa khỏe mạnh, được chọn từ đàn hạt nhân, năng suất sữa bình quân 4000-6000l/chu kỳ, có chu kỳ sinh dục bình thường, sinh đẻ bình thường, không có dị tật ở cơ quan sinh dục, buồng trứng mềm, không mắc các bệnh truyền nhiễm, có độ tuổi từ 2-6 năm Tiến hành kiểm tra hoạt động của buồng trứng bằng phương pháp khám qua trực tràng

Tiêu chuẩn bò đực phối tinh

Bò GRTN khi động dục được thụ tinh nhân tạo bằng tinh đông lạnh Tinh dịch phối giống phải lấy từ những đực giống tốt nhất, đặc trưng cho giống về tính trạng mong muốn như: sản lượng sữa, sản lượng thịt, tính trạng cao sản ở đực giống phải được di truyền cho thế hệ sau

Phương pháp GRTN

Chúng tôi tiến hành GRTN lặp lại trên bò sử dụng hormone FSH và PGF2ỏ

Bò sau khi được kiểm tra qua trực tràng thấy có thể vàng của chu kỳ trước, được đặt PRID vào xoang âm đạo Ngày đặt là ngày 0 của quy trình

Tiêm FSH từ ngày thứ 10 kể từ khi đặt PRID trong vòng 4 ngày theo liều giảm dần (3,5ml; 2,5ml; 2,0ml; 1,5ml lần lượt cho 4 ngày) tiêm bắp FSH cho bò cho phôi vào buổi sáng và buổi chiều với khoảng cách 12 giờ

Ngày thứ 12 tiêm 5ml PGF2ỏ (đồng thời rút PRID vào buổi sáng)

Bò động dục vào ngày thứ 14 sau khi tiêm Được thụ tinh nhân tạo bằng tinh đông lạnh đã được giải đông

Đến ngày thứ 7 sau khi phối giống tiến hành thu phôi bằng phương pháp không phẫu thuật Sau khi thu phôi, tiêm prostaglandin – F2ỏ cho bò thu phôi Sau đó 14 ngày tiến hành đặt PRID lặp lại quy trình như trên lần thứ hai,

Phương pháp thu hoạch và phân loại loại phôi

Phôi được thu hoạch bằng phương pháp không phẫu thuật vào ngày thứ 7 sau khi động dục và phối giống, ngày thứ 7 ứng với giai đoạn phôi dâu và phôi nang Đây là giai đoạn thích hợp cho bảo quản và cấy truyền Những phôi chất lượng tốt và phát triển đúng giai đoạn được sử dụng trong công nghệ cấy phôi

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Chúng tôi tiến hành GRTN trên 2 bò bằng dụng cụ chứa hormone sinh dục Progesterone, FSH

và PGF2trung bình khoảng cách lặp lại là 35 ngày Kết quả thu được như sau:

Kết quả kiểm tra phản ứng của buồng trứng bò khi GRTN

Trang 3

Bò sau khi GRTN sẽ được thụ tinh nhân tạo bằng tinh cọng rạ Đến ngày thứ 7 kể từ khi thụ tinh nhân tạo thì tiến hành thu phôi bằng phương pháp không phẫu thuật Trước khi giội rửa thu hoạch phôi, chúng tôi tiến hành khám qua trực tràng để kiểm tra phản ứng của buồng trứng bò cho phôi Kết quả thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Kết quả theo dõi phản ứng của buồng trứng bò khi GRTN

Số thể vàng kiểm tra thấy Lần GRTN

Qua Bảng 1 cho thấy, sau 8 lần GRTN số thể vàng bình quân của hai bò cho phôi là tương đối cao bò số hiệu 552 là 10  1,69 dao động trong khoảng 8 đến 13, còn bò số hiệu 789 là

9 1,56 dao động khoảng từ 7 đến 12 Kết quả cho thấy, phản ứng của buồng trứng có sự dao động giữa các lần thu phôi

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của một số tác giả khác đã công bố: Theo Sacher và cs (1987) nghiên cứu GRTN bằng PMSG và FSH lặp lại từ 4- 23 lần với khoảng cách lặp lại là 85 ngày, số thể vàng bình quân biến động từ 8,7-10,2 cho một lần lấy phôi So với kết quả nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả của tác giả Đỗ Kim Tuyên, (1995) thí nghiệm GRTN với khoảng cách lặp lại là 85 ngày trên bò lai F1 và F2 giữa bò sữa Hà Lan và bò Laisind cho kết quả số thể vàng thu được trung bình là 6,3 0,5

Tuy nhiên, so với nghiên cứu của một số tác giả khác, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn Tác giả Kim và cs (1987) GRTN bằng FSH và PMSG cho biết số thể vàng khi GRTN bằng FSH là 12,3 và sử dụng PMSG thì kết quả là 11,9

Như vậy, xét về mặt số lượng, phản ứng buồng trứng của 2 bò được GRTN trong thí nghiệm này là khá tốt; số lượng thể vàng thu được khá cao và trong giới hạn đảm bảo chất lượng tốt

Về mặt thời gian, trong vòng 9 tháng, chúng tôi tiến hành 8 lần GRTN trên 2 bò, với khoảng cách lặp lại trung bình là 35 ngày So với nghiên cứu trước đây với khoảng cách lặp lại là 85 ngày thì khoảng cách lặp lại giữa các lần GRTN đã giảm khá nhiều

Kết quả thu hoạch phôi từ bò thí nghiệm GRTN

Bò động dục sau khi GRTN được thụ tinh nhân tạo, ngày thứ 7 sau khi thụ tinh, chúng tôi tiến hành thu hoạch phôi Số lượng phôi và tế bào trứng thu được từ 2 bò thí nghiệm qua 8 lần GRTN được thể hiện trong Bảng 2

Trang 4

Qua Bảng 2 cho thấy, sau 8 lần GRTN trung bình số phôi và số tế bào trứng thu được của bò

số hiệu 552 cao hơn so với bò số hiệu 789 Bò số 552 tổng số phôi và tế bào trứng thu được qua các lần GRTN là 57; Số lượng này dao động từ 5 đến 8; trung bình mỗi lần thu là 7,13

1,13 Ở bò số 789, tổng số phôi và tế bào trứng thu được là 52, dao động từ 5 đến 10 và trung bình mỗi lần thu là 6,501,69 Tuy vậy, nếu tính riêng số phôi thu hoạch được thì kết quả của

2 bò không có sự chênh lệch đáng kể Ở bò số 552 thu được trung bình số phôi là 5,631,41

so với bò số 789 là 5,381,69 phôi

Bảng 2 Kết quả thu hoạch phôi qua các lần gây rụng trứng nhiều

Số lượng phôi và tế bào trứng thu được

Lần GRTN

MeanSE 5,63 1,41 1,50 0,93 7,13 1,13 5,381,69 1,13 1,13 6,501,69 Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của một số tác giả khác đã công bố Theo tác giả Lamberson và cs (1986) tiến hành GRTN lặp lại 3 lần số phôi bình quân của các lần GRTN tương ứng là 5,2; 4,6; 5,2 phôi Kết quả của chúng tôi cao hơn khá nhiều so với kết quả nghiên cứu của bộ môn cấy truyền phôi Viện Chăn nuôi năm, (1995) Nhóm tác giả đã nghiên cứu GRTN trên bò lai F1 và F2 giữa bò sữa Hà Lan và bò Laisind cho biết số phôi thu được trung bình là 3,360,04 với khoảng cách lặp lại là 85-90 ngày

Bảng 3 Tỷ lệ số phôi thu được so với số thể vàng kiểm tra

vàng Số phôi Tỷ lệ phôi/thể vàng

(%)

Số thể vàng Số phôi Tỷ lệ phôi/thể vàng

(%)

Trang 5

Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi lại thấp hơn so với nghiên cứu của một số tác giả khác Theo Kim và cs (1987) khi GRTN trên bò bằng FSH và PMSG cho kết quả, số phôi thu được trong mỗi lần là 8,2 và 7,3 phôi Năm 1986, Sergeev NI và cs (1986) nghiên cứu GRTN lặp lại 3 lần bằng PMSG và anti- PMSG cũng thu được số phôi tương ứng là 6,7; 6,7; 5,8 ở mỗi lần GRTN

Để đánh giá hiệu quả của việc GRTN, chúng tôi đã tính tỷ lệ tạo phôi so với số trứng rụng Kết quả thể hiện ở Bảng 3

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ số phôi trên số trứng rụng thu được của 2 bò thí nghiệm đạt tỷ lệ khá cao bò số 552 đạt tỷ lệ 55,56% dao động trong các lần thu phôi từ 40 đến 77,78%, còn bò số

789 đạt tỷ lệ là 61,63% dao động trong khoảng từ 37,5 đến 87,5%

Kết quả của chúng tôi cao hơn khá nhiều so với kết quả của Đỗ Kim Tuyên (1995) GRTN trên

bò lai F1 và F2 giữa bò Hà Lan và bò Laisind tỷ lệ thu phôi trên số trứng rụng là 42,08% Như vậy, tỷ lệ phôi và trứng thu được của 2 bò đều có sự biến động qua các lần thu phôi và số phôi thu được thấp hơn so với số trứng rụng Điều này có thể là do kỹ thuật thụ tinh và quá trình thu phôi chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: thao tác của kỹ thuật viên trong quỏ trỡnh giội rửa, soi tìm phôi… Kết quả thu phôi trong nghiên cứu này của chúng tôi không thấp hơn nhiều so với kết quả GRTN của nhiều tác giả trên thế giới Vì vậy, có thể nói quy trình chúng tôi đã sử dụng khá đảm bảo về mặt kỹ thuật và phù hợp với điều kiện ở Việt Nam

Kết quả phân loại phôi thu được

Để đạt được kết quả tốt khi sử dụng hay bảo quản phôi nhất là đạt tỷ lệ có chửa cao của bò cái nhận phôi sau khi cấy, một việc làm rất cần thiết là phải đánh giá phân loại phôi trước khi quyết định sử dụng như thế nào Trong công nghệ cấy truyền phôi, phôi loại A và B có thể cấy ngay cho bò nhận hoặc đem đông lạnh để bảo quản Phôi loại C không đông lạnh được mà chỉ

có thể cấy ngay cho con nhận đồng pha, mặc dù kết quả có chửa thấp hơn so với khi cấy phôi loại A, B Kết quả đánh giá phân loại phôi để sử dụng hợp lý được trình bày trong Bảng 4

Bảng 4 Kết quả phân loại phôi Lần GRTN

(n = 2 bò) TổngSố Phôi đủ tiêu chuẩncho cấy truyền

(A + B + C)

Phôi đủ tiêu chuẩn đông lạnh (A+ B)

Phôi kém chất lượng, chậm phát triển không

sử dụng (D)

Qua bảng 5 ta thấy, sau 8 lần GRTN thu được 88 phôi đủ tiêu chuẩn dùng cấy truyền trung bình là 11,88  2,51 với tỷ lệ 80,37%, 76 phôi đủ tiêu chuẩn đông lạnh trung bình là 9,50

 2,56 tỷ lệ 69,72% và 21 phôi kém chất lượng, chậm phát triển không sử dụng bình quân

là 2,631,19 với tỷ lệ 19,27% Như vậy, phôi đủ tiêu chuẩn dùng cho cấy truyền và đông

Trang 6

lạnh chiếm tỷ lệ khá cao Tỷ lệ số phôi đủ tiêu chuẩn cấy và đông lạnh trung bình của chúng tôi tương ứng với kết quả của tác giả Nguyễn Thị Ước và cs (1996) tỷ lệ phôi đủ tiêu chuẩn cấy và phôi đủ tiêu chuẩn đông lạnh lần lượt là 80,25%; 73,50% với khoảng cách lặp là 2,5 tháng.Tỷ lệ phần trăm số phôi đủ tiêu chuẩn đông lạnh của chúng tôi cao hơn tỷ lệ phần trăm

số phôi đông lạnh của các tác giả Hoàng Kim Giao và cs (2004) 69,72% so với 62,82% Tỷ lệ phôi đủ tiêu chuẩn cấy của chúng tôi thấp hơn so với các tác giả trên 80,37% so với 95,29% Tuy vậy, số phôi chất lượng tốt, loại A và B của chúng tôi cao hơn 69,72% so với 65,93% Như vậy, với 8 lần GRTN trên 2 bò thí nghiệm chúng tôi thu được 109 phôi và tế bào trứng trung bình mỗi lần thu là 13,63  0,03 trong đó số phôi sử dụng được chiếm tỷ lệ khá cao 80,73% so với tổng số phôi và tế bào trứng thu được

KẾT LUẬN

Mặc dù, kết quả gây rụng trứng nhiều còn phụ thuộc vào các yếu tố như: sự phản ứng với hormone của bò cho phôi, dinh dưỡng, kỹ thuật phối giống, quá trình dội rửa vv… Bước đầu

có thể kết luận rằng trong điều kiện Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách GRTN từ 2-3 tháng xuống 35 ngày, tăng số phôi thu được/bò/ năm so với trước đây

Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chăn nuôi Rút ngắn khoảng cách giữa các lần khai thác mà vẫn thu được kết quả phôi nhiều và tốt đồng nghĩa với việc giảm chi phí chăn nuôi, tăng hiệu quả kinh tế Không những thế, nó còn cho phép khai thác tận dụng nhiều hơn tiềm năng di truyền của những bò cái tốt để đưa vào sản xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đỗ Kim Tuyên, (1995) Nghiên cứu gây siêu bài noãn ở bò bằng sử dụng FSH và prostaglandin F2α Luận án PTS KHNN- Hà Nội, 1995.

Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, Đỗ Kim Tuyên, (1996) Kết quả nghiên cứu cấy truyền phôi bò tại Viện Chăn nuôi (1990-1996)

Hoàng Kim Giao, Lưu Công Khánh, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Thị Thoa, Phan Lê Sơn, Đặng Vũ Hoà, Chu Thị Yến (2004) Gây rụng trứng nhiều ở bò cho phôi.Thông tin Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi - Số 6 năm 2004.

Kim, H.N, Rovie, R,W (1987) The use of PMSG antibodies with PMSG for superovulation beef cattle Theriogenology Volume 27.

Lamberson W.R and Lambeth,V.A (1986) Repeatability of respone to superovulation in Brangus cows Theriogenology Volume 26, Issue 5, November 1986.

Nguyễn Thị Ước, (1996) Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trong cấy truyền phôi trâu

bò Luận án PTS KHNN- Hà Nội.

Sacher, B., H Niemann, Schilling, E (1987) Effects of repeated superovulation and embryos recovery and fertility Animal Breeding- Abstract 55.

Segeeve, N.I (1986) The improvement of hormone induction superovulation in donor cows for embryo transfer.Animal Breeding- Abstract 35.

Người phản biện : TS Lê Văn Tý ; TS Đào Đức Thà

Ngày đăng: 25/03/2014, 14:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Tỷ lệ số phôi thu được so với số thể vàng kiểm tra - Ảnh hưởng gây rụng chứng 35 ngày/lần đến số phôi/bò/năm trên đàn bò sữa potx
Bảng 3. Tỷ lệ số phôi thu được so với số thể vàng kiểm tra (Trang 4)
Bảng 2.  Kết quả thu hoạch phôi qua các lần gây rụng trứng nhiều - Ảnh hưởng gây rụng chứng 35 ngày/lần đến số phôi/bò/năm trên đàn bò sữa potx
Bảng 2. Kết quả thu hoạch phôi qua các lần gây rụng trứng nhiều (Trang 4)
Bảng 4. Kết quả phân loại phôi Lần GRTN - Ảnh hưởng gây rụng chứng 35 ngày/lần đến số phôi/bò/năm trên đàn bò sữa potx
Bảng 4. Kết quả phân loại phôi Lần GRTN (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w