1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nƣớc Trong Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu Và Tên Thƣơng Mại.pdf

56 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Trong Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại
Tác giả Huỳnh Minh Diệu
Người hướng dẫn TS Nguyễn Thị Qu Anh
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

D ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HUỲNH MINH DIỆU NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI TẠI ĐỊ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HUỲNH MINH DIỆU

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI TẠI ĐỊA BÀN

TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HUỲNH MINH DIỆU

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ TÊN

THƯƠNG MẠI TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12

Người hướng n ho họ : TS Ngu n Thị Qu Anh

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu của Luận văn 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN THƯƠNG MẠI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN THƯƠNG MẠI 11

1.1 Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại 11

1.1.1 Khái niệm quyền SHCN 11

1.1.2 Bảo hộ quyền SHCN 12

1.1.3 Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu 13

1.1.3.1 Khái quát Nhãn hiệu 13

1.1.3.2 Điều kiện bảo hộ Nhãn hiệu 16

1.1.3.3 Nội dun bảo hộ qu ền SHCN đối với Nhãn hiệu 17

1.1.4 Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Tên thươn mại 20

1.1.4.1 Khái niệm Tên thươn mại 20

1.1.4.2 Điều kiện bảo hộ Tên thươn mại 20

1.1.4.3 Nội dun bảo hộ qu ền SHCN đối với Tên thươn mại 20

1.1.5 Phân biệt Nhãn hiệu với Tên thươn mại 21

1.1.6 Tổ chức dịch vụ đại diện SHTT 23

1.1.7 Hệ thống bảo hộ quyền SHTT theo qu định của Hiệp định TRIPS 23

Trang 4

1.1.7.1 Bảo hộ qu ền SHTT theo Hiệp định TRIPS 24 1.1.7.2 Yêu cầu của Hiệp định TRIPS đối với các nước thành viên

tron việc xâ dựn hệ thốn bảo hộ qu ền SHTT 26

1.2 Tổng quan về hoạt động QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại 29

1.2.1 Mục tiêu QLNN về SHTT 29 1.2.2 Nội dung QLNN về SHTT 29 1.2.3 Hệ thốn các cơ quan QLNN về SHTT ở Trun ươn và địa

phươn 38

Kết luận Chương 1 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 412.1 Tổng quan về địa bàn tỉnh Bạc Liêu 412.2 Thực trạng xâm phạm và bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 41

2.2.1 Thực trạng xâm phạm quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên

thươn mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 41 2.2.2 Thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên

thươn mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 51

2.3 Kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn 52

2.3.1 Khảo sát, điều tra, phỏng vấn đối tượng là các chuyên gia làm

việc liên quan đến lĩnh vực SHTT 53 2.3.2 Khảo sát, điều tra đối tượng là các doanh nghiệp 56 2.3.3 Khảo sát, điều tra đối tượn là n ười dân 59

2.4 Thực trạng QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 612.5 Đánh giá thực trạng hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 69Kết luận Chương 2 71

Trang 5

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ TÊN

THƯƠNG MẠI TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 73

3.1 Xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về SHCN tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 73

3.2 Tăng cường năng lực các cơ quan QLNN trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu 79

3.3 Tăng cường công tác ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN 82

3.4 Nâng cao nhận thức về SHTT 83

3.5 Tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn về SHTT 85

3.6 Thành lập Ban chỉ đạo chống xâm phạm quyền SHCN cấp trung ương và cấp tỉnh 86

3.7 Giải pháp hoàn thiện về tổ chức và nâng cao năng lực của Tòa án 87

3.7.1 Hoàn thiện về tổ chức Tòa án dân sự 88

3.7.2 Nân cao năn lực của Toà án và tuyên truyền pháp luật bảo hộ quyền SHCN bằng biện pháp dân sự 88

3.8 Tra cứu thông tin về Nhãn hiệu và Tên thương mại trước khi đăng ký 89

3.9 Xây dựng hệ thống liên kết thông tin, dữ liệu Nhãn hiệu và Tên thương mại 90

Kết luận Chương 3 92

KẾT LUẬN 94

KHUYẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 99

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu trong suốt quá trình học tập, viết và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Thị Quế Anh, là giảng viên hướng dẫn khoa học đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại các sở, ban, ngành tỉnh Bạc Liêu đã hỗ trợ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc điều tra, thu thập tài liệu phục vụ cho việc viết và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Huỳnh Minh Diệu

Trang 7

TTM: Tên thương mại

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý o họn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, hiện nay chúng ta đang chứng kiến quá trình tự do hoá thương mại mạnh mẽ với việc phá bỏ các rào cản thương mại, tạo nên một sân chơi chung toàn cầu với luật lệ chung, bình đẳng SHTT có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế tri thức mà Việt Nam đang hướng tới; đây là một trong những điều kiện quan trọng giúp tạo ra, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ - một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của nền kinh tế hiện đại

Nhận thức được vai trò của hệ thống bảo hộ SHTT đối với việc khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, áp dụng và đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư, thương mại, Nhà nước Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề SHTT bằng việc thiết lập được một hệ thống SHTT có bộ máy tổ chức, quản lý, quy định pháp luật và những bộ phận hợp thành về cơ bản tương tự như mô hình phổ biến trên thế giới Hệ thống SHTT Việt Nam đã thiết lập chế độ bảo hộ đầy đủ các đối tượng SHTT liên quan đến hoạt động của danh nghiệp trong

đó có NH

NH có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến sự lựa chọn của người tiêu dùng NH giúp người tiêu dùng có thể mua nhiều lần một thứ hàng hoá, dịch vụ mà không cần phải xem xét tất cả mọi yếu tố liên quan đến hàng hoá, dịch vụ đó trong mỗi lần mua

NH là biểu tượng mang những thành quả đầu tư của nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Mọi nỗ lực của nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành đều được tích tụ trong

NH

Vấn đề bảo hộ NH đang nhận được sự quan tâm đặc biệt không chỉ ở góc độ QLNN mà còn là sự quan tâm của toàn xã hội Về phía lợi ích quốc gia, NH là một công cụ để khẳng định và nâng cao uy tín sản phẩm trong nước, mở đường ra thị trường nước ngoài, ở cấp doanh nghiệp, NH giữ vai trò tích tụ uy tín cho sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp từ đó xây đắp

Trang 9

nên uy tín của doanh nghiệp, còn với đông đảo công chúng, NH giúp cho họ

có được thông tin về sản phẩm, dịch vụ thông qua đó có sự lựa chọn đúng đắn

Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM còn nhiều bất cập, chồng chéo và vì vậy chưa đáp ứng được sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu; để khắc phục thực trạng này, cần phải có giải pháp mới để nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH

và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Luận văn: “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHCN bằng biện pháp hành chính”, bảo vệ năm 2004 của tác giả Trần Minh Dũng nghiên cứu về phương hướng hoàn thiện chính sách và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHCN bằng biện pháp hành chính Luận văn đã nêu ra các

Trang 10

nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính được cụ thể hoá cho phù hợp với xử lý vi phạm trong lĩnh vực SHCN Tránh “dân sự hoá” các quan hệ hành chính, đồng thời tránh “hành chính hoá” các quan hệ dân sự trong thực thi quyền SHTT Phân biệt rạch ròi phạm vi, điều kiện, trình tự thủ tục, thẩm quyền áp dụng các chế tài dân sự và chế tài

xử phạt hành chính trong xử lý vi phạm trong lĩnh vực SHTT Làm rõ sự khác biệt giữa biện pháp hành chính và biện pháp dân sự trong thực thi quyền SHTT, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò chủ động của cơ quan hành chính trong phát hiện và xử lý hành vi và hàng hoá xâm phạm quyền SHTT; trách nhiệm của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước và của các bên trong xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT Ngoài các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHCN bằng biện pháp hành chính luận văn còn nêu

ra giải pháp hoàn thiện văn bản pháp luật như một công cụ pháp lý cần thiết cho việc áp dụng các biện pháp hành chính trong xử lý xâm phạm quyền SHTT, các cơ quan quản lý về SHTT, cơ quan thông tin đại chúng và các cơ quan thực thi cần kết hợp để thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao nhận thức của công chúng, doanh nghiệp về thực thi quyền SHTT nói chung,

và áp dụng biện pháp hành chính trong xử lý xâm phạm quyền nói riêng

Luận văn: “Nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi quyền SHTT tại Thanh Hoá trên cơ sở liên kết các nguồn thông tin” của tác giả Trần Duy Bình, bảo vệ năm 2011, chuyên ngành Chính sách KH&CN nghiên cứu về xây dựng các tiêu chí để liên kết các nguồn thông tin KH&CN về quyền SHTT nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi quyền SHTT; đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi quyền SHTT trên cơ sở liên kết các nguồn thông tin KH&CN như: Xây dựng trang websites đảm bảo các tiêu chí để liên kết các nguồn thông tin KH&CN về SHTT, tăng cường sự phối hợp, nâng cao năng lực và phát triển hệ thống thông tin KH&CN về SHTT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

Các luận văn trên chưa có giải pháp hoàn thiện chính sách thanh tra, kiểm tra và sự phối hợp của các cơ quan QLNN để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

3 Mụ tiêu nghiên ứu

Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

4 Phạm vi nghiên ứu

- Thực trạng QLNN về bảo hộ quyền SHCN

- Thực trạng xâm phạm quyền và bảo hộ quyền SHCN đối với NH và

TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

- Thực trạng về:

+ Công tác thanh tra và kiểm tra, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu + Phương thức trao đổi thông tin, phối hợp giữa các đơn vị chức năng trên địa bàn tỉnh: Sở KH&CN, Sở Kế hoạch Đầu tư, Cơ quan QLTT, Cơ quan Công an, Tòa án nhân dân, Ủy ban Nhân dân huyện và thành phố trực thuộc tỉnh Bạc Liêu

- Giai đoạn nghiên cứu: Từ năm 2010-2014

5 M u hảo sát

- Khảo sát, điều tra:

+ Công tác QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

+ Nguồn nhân lực của các cơ quan QLNN trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

+ Phương thức trao đổi thông tin, phối hợp giữa các đơn vị chức năng thuộc phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát, điều tra một số doanh nghiệp và người dân tại địa bàn tỉnh

Bạc Liêu

6 Câu hỏi nghiên ứu

Trang 12

Sử dụng giải pháp nào để nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu?

7 Giả thu t nghiên ứu

Đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường thanh tra, kiểm soát, và sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM để đảm bảo thống nhất công tác bảo hộ, tránh làm hình thức, chồng chéo làm giảm hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM

8 Phương pháp nghiên ứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu, sử dụng các báo cáo,

tài liệu liên quan đến hoạt động QLNN trong bảo hộ quyền SHCN về NH và TTM, phân tích các vấn đề liên quan để phát hiện ra những hạn chế của chính sách bảo hộ quyền SHCN

- Phương pháp thống kê: thống kê, phân tích dữ liệu thu được

- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực tế tại: Sở

KH&CN, Sở Kế hoạch Đầu tư, Cơ quan QLTT, Cơ quan Công an, Tòa án nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp, một số doanh nghiệp và người dân trong tỉnh Bạc Liêu

9 K t ấu ủ Luận văn

Luận văn bao gồm những nội dung sau:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần khuyến nghị, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương

Chương 1: Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với NH, TTM và QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH, TTM

Chương 2: Thực trạng hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN THƯƠNG MẠI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN

THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng qu n về bảo hộ qu ền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thương mại

1.1.1 Khái niệm quyền SHCN

Quyền SHCN là một bộ phận cấu thành một khái niệm có nội hàm rộng hơn, đó là quyền SHTT Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu nội dung quyền SHCN, cần hiểu quyền SHTT là gì

SHTT là một thuật ngữ được cấu tạo bởi hai cụm từ là cụm từ “sở hữu”

và cụm từ “trí tuệ”

“Sở hữu” là khái niệm dùng để chỉ sự chiếm hữu của con người đối với tài sản Sự chiếm hữu như vậy xuất hiện trong quá trình con người lao động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội

“Trí tuệ” là thuật ngữ chỉ “khả năn nhận thức lý tính của con n ười

đạt đến một trình độ nhất định” [24; 1280], về một sự vật hay hiện tượng nào

đó Tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu thông qua hoạt động lao động sáng tạo của con người và đem lại cho người sáng tạo những lợi ích thiết thực Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình Chúng bộc lộ ra bên ngoài dưới một hình thức khách quan nhất định nhưng bản thân chúng không phải là vật chất mà là sản phẩm của sáng tạo

Từ phân tích ở trên có thể kết luận SHTT là sở hữu tri thức, sở hữu những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con người hay SHTT là việc chiếm hữu,

sử dụng và hưởng thụ lợi ích có được từ các sản phẩm sáng tạo đó

Quyền SHTT là tập hợp các quy phạm pháp luật được ban hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ SHTT trong xã hội Theo từ

điển tiếng Việt năm 2008, khái niệm quyền SHTT được hiểu là “qu ền của tổ

chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [24; 1076]

Trang 14

Quyền SHTT dễ bị xâm phạm hơn bất kỳ quyền sở hữu tài sản nào Những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ một khi đã được bộc lộ công khai sẽ dễ dàng được phổ biến và bị khai thác giá trị kinh tế thông qua hệ thống thông tin của một quốc gia, của một khu vực, của các tổ chức quốc tế Việc xâm phạm quyền SHTT ngày càng phát triển và đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, ngoài khả năng kiểm soát của chủ sở hữu và quan trọng hơn cả là khó có thể ngăn chặn nếu không có những cơ chế bảo hộ hữu hiệu Quyền SHTT được ghi nhận và bảo hộ ở một quốc gia thì không có nghĩa là sẽ được bảo hộ

ở các quốc gia khác Việc xâm phạm có thể diễn ra ngay trước mắt chủ sở hữu

tại quốc gia khác mà không hề bị coi là phạm pháp

1.1.2 Bảo hộ quyền SHCN

Bảo hộ quyền SHCN là việc Nhà nước ban hành các quy định pháp luật

về quyền SHCN nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHCN như chủ văn bằng bảo hộ và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng quyền SHCN Nhà nước tổ chức cơ quan xác lập quyền, quy định thủ tục, trình tự để xác lập quyền SHCN cho các đối tượng SHCN phải đăng ký Muốn được bảo hộ quyền SHCN, chủ thể phải nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tại Cục SHTT

Đối tượng bảo hộ quyền SHCN bao gồm quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NH, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, TTM, chỉ dẫn địa lý

Người nào sử dụng các đối tượng SHCN của người khác đang trong thời gian bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu các đối tượng này thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN (trừ các trường hợp có quy định riêng) và tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật

Bảo vệ quyền SHCN là để bảo vệ pháp chế, là bảo đảm sự chấp hành các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực SHCN Hoạt động bảo vệ quyền SHCN nhằm đảm bảo cho các nội dung của quy phạm pháp luật về SHCN được thi hành nghiêm chỉnh, có hiệu lực, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của xã hội và của chủ văn bằng

Trang 15

Các đối tượng SHCN đang được bảo hộ là tài sản của doanh nghiệp, của cá nhân được pháp luật thừa nhận

1.1.3 Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu

1.1.3.1 Khái quát Nhãn hiệu

NH đã xuất hiện từ thời cổ đại, phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Nhờ sự hưng thịnh của hoạt động giao thương mà việc sử dụng các dấu hiệu đó trên hàng hóa tương đối phát triển Ban đầu, NH không hoàn toàn thực hiện chức năng phân biệt mà việc sử dụng chúng chỉ để chỉ ra mối liên

hệ giữa hàng hóa với nhà sản xuất ra hàng hóa, giữa tài sản với chủ sở hữu của tài sản mà thôi Cũng chính bởi lẽ đó, ở thời kỳ đầu tầm quan trọng về mặt kinh tế của NH vẫn còn hạn chế

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho NH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế Việc một hàng hóa có thể được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho người tiêu dùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóa của từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh NH chính là dấu hiệu giúp

họ phân biệt được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Xã hội hiện đại với sự phát triển như vũ bão của KH&CN trong nền kinh tế thị trường đem lại cho con người cơ hội được sử dụng rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau Ngoài việc nhận biết qua hình thức, giá cả, chất lượng của sản phẩm thì một dấu hiệu đặc trưng riêng của nhà sản xuất hoặc kinh doanh sẽ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm cạnh tranh phù hợp với mình

Luật SHTT 2005 có phân ra nhiều loại NH khác nhau dựa trên những tiêu chí khác như đối tượng mang NH, chức năng phân biệt chủ thể sở hữu

NH, mức độ nổi tiếng…

Dựa vào đối tượng mang NH, NH được chia thành NH dùng cho hàng hóa và NH dùng cho dịch vụ:

Trang 16

- NH dùng cho hàng hóa là các NH được sử dụng gắn trên các hàng hóa nhất định dùng để phân biệt hàng hóa của các chủ thể kinh doanh khác nhau Hàng hóa ở đây là những sản phẩm của tự nhiên hay là kết quả quá trình lao động của con người thể hiện dưới dạng tài sản hữu hình

- NH dùng cho dịch vụ là dấu hiệu giúp người sử dụng dịch vụ nhận biết được các nhà cung cấp dịch vụ NH dịch vụ thông thường được gắn trên bảng hiệu, giấy tờ giao dịch, quảng cáo…

Dựa vào chức năng phân biệt chủ thể sở hữu NH, NH được chia thành

NH tập thể và NH thuộc sở hữu riêng:

“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùn để phân biệt hàn hoá, dịch vụ

của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàn hoá, dịch

vụ của tổ chức, cá nhân khôn phải là thành viên của tổ chức đó” [19; điều

4], chủ sở hữu NH tập thể không phải là đối tượng trực tiếp sử dụng NH mà các thành viên của tập thể không phải là chủ sở hữu NH – là đối tượng sử dụng NH NH nói chung thực hiện chức năng chỉ dẫn về nguồn gốc riêng rẽ của người sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang NH đó

Trái lại, NH tập thể không thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc riêng rẽ đó mà chỉ dẫn tư cách thành viên của người sử NH thuộc về tổ chức

là chủ sở hữu NH tập thể Việc định nghĩa NH tập thể theo chức năng phân biệt tư cách thành viên của một tổ chức tập thể với các đối tượng không phải

là thành viên của tổ chức tập thể đó đã thể hiện được đúng bản chất của NH tập thể, khắc phục được nhầm lẫn về quan niệm đồng sở hữu NH

- NH thuộc sở hữu riêng: hầu hết các loại NH được sử dụng phổ biến hiện nay là NH thuộc sở hữu riêng của một cá nhân hoặc một tổ chức, dùng

để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức đó với hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác Các NH loại này có đặc điểm là do một chủ thể làm chủ sở hữu

Dựa vào mức độ nổi tiếng thì có NH nổi tiếng và NH được sử dụng và thừa nhận rộng rãi:

Trang 17

- NH nổi tiếng là “Nhãn hiệu được n ười tiêu dùn biết đến rộn rãi

trên toàn lãnh thổ Việt Nam” [19; điều 4], các điều ước quốc tế mà Việt Nam

tham gia như Hiệp định TRIPS, Công ước Paris, chỉ quy định các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo hộ NH nổi tiếng còn dành lại cho các nước này quyền đưa ra bộ tiêu chí đánh giá NH nổi tiếng Tổ chức SHTT thế giới có ban hành Khuyến nghị chung về bảo hộ NH nổi tiếng và nội dung quy định này trong Luật SHTT 2005 về cơ bản phù hợp với nội dung tương ứng trong Khuyến nghị chung đó Việc đưa giới hạn lãnh thổ mà người tiêu dùng nhận biết một NH nổi tiếng vào trong luật là một điều hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bảo hộ SHTT và thể hiện tinh thần bảo vệ quyền lợi quốc gia khi xây dựng luật Quyền SHTT là một loại quyền có tính chất lãnh thổ tuyệt đối

vì thế một NH để được một quốc gia công nhận là nổi tiếng thì trước tiên ở chính quốc gia đó NH đó phải được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, việc quy định NH phải được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho chúng ta công nhận nhiều NH có xuất xứ từ Việt Nam là nổi tiếng và ở một khía cạnh nào đó thì những NH có xuất xứ từ nước ngoài sẽ phải được chủ sở hữu nỗ lực làm cho nhiều người Việt Nam biết đến mới có thể được công nhận là NH nổi tiếng NH nổi tiếng là NH hàng hóa được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho NH đó được biết đến một cách rộng rãi

“Các tiêu chí sau đâ được xem xét khi đánh iá một nhãn hiệu là nổi tiến :

- Số lượn n ười tiêu dùn liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụn hàn hoá, dịch vụ man nhãn hiệu hoặc thôn qua quản cáo;

- Phạm vi lãnh thổ mà hàn hoá, dịch vụ man nhãn hiệu đã được lưu hành;

- Doanh số từ việc bán hàn hoá hoặc cun cấp dịch vụ man nhãn hiệu hoặc số lượn hàn hoá đã được bán ra, lượn dịch vụ đã được cun cấp;

Trang 18

- Thời ian sử dụn liên tục nhãn hiệu;

- U tín rộn rãi của hàn hoá, dịch vụ man nhãn hiệu;

- Số lượn quốc ia bảo hộ nhãn hiệu;

- Số lượn quốc ia côn nhận nhãn hiệu là nổi tiến ;

- Giá chu ển nhượn , iá chu ển iao qu ền sử dụn , iá trị óp vốn đầu tư của nhãn hiệu” [19; điều 19]

Dựa vào chủ thể sở hữu NH và mục đích sử dụng NH có NH tập thể và

NH chứng nhận:

- NH tập thể : Chủ sở hữu NH tập thể không phải là đối tượng trực tiếp

sử dụng NH mà các thành viên của tập thể (không phải là chủ sở hữu NH) là đối tượng sử dụng NH

“ Nhãn hiệu chứn nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụn trên hàn hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứn nhận các đặc tính về xuất xứ, n u ên liệu, vật liệt, cách thức sản xuất hàn hóa, cách thức cun cấp dịch vụ, chất lượn , độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàn hóa, dịch vụ man nhãn hiệu” [19; điều 4], NH chứng nhận thực hiện chức năng phân biệt ở chỗ phân

biệt sản phẩm, dịch vụ được chứng nhận và sản phẩn, dịch vụ không được chứng nhận Trong cả hai NH nêu trên, chủ sở hữu NH đều không phải là chủ thể trực tiếp sử dụng NH

1.1.3.2 Điều kiện bảo hộ Nhãn hiệu

NH được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện: “Là dấu hiệu nhìn thấ được

dưới dạn chữ cái, từ n ữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các ếu tố đó, được thể hiện bằn một hoặc nhiều màu sắc” [19; điều

72] Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA) thì NH có thể là

từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh, khẩu hiệu hoặc hình dạng của bao gói hoặc kết hợp của các yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt một sản phẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trường hoặc trong kinh

doanh NH phải “có khả năn phân biệt hàn hoá, dịch vụ của chủ sở hữu

nhãn hiệu với hàn hoá, dịch vụ của chủ thể khác” [19; điều 72]

Trang 19

Cã thÓ lÊy vÝ dô vÒ c¸c NH næi tiÕng ®-îc cÊu thµnh tõ c¸c dÊu hiÖu kh¸c nhau nh- sau:

NH kÕt hîp h×nh ¶nh vµ tõ ng÷:

NH d¹ng tõ ng÷: CHANEL, Trung Nguyªn

1.1.3.3 Nội dung bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu

Chủ sở hữu NH đang được bảo hộ có quyền sử dụng độc quyền NH, quyền định đoạt NH (bao gồm quyền chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng (lixăng), góp vốn bằng quyền SHCN đối với NH, để lại thừa kế, tặng, cho), quyền ngăn cấm người khác sử dụng NH thuộc quyền sở hữu của mình

Quyền sử dụng NH:

Quyền sử dụng NH theo luật quy định bao gồm việc chủ sở hữu NH tự mình thực hiện việc sử dụng và việc cho phép chủ thể khác thực hiện việc sử dụng

Nội dung của quyền sử dụng NH được quy định trong Luật SHTT theo

đó, sử dụng NH là việc thực hiện những hành vi:

“Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàn hóa, bao bì hàn hóa, phươn tiện kinh doanh, phươn tiện dịch vụ, iấ tờ iao dịch tron hoạt độn kinh doanh;

Lưu thôn , chào bán, quản cáo để bán, tàn trữ để bán hàn hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;

Nhập khẩu hàn hóa, dịch vụ man nhãn hiệu được bảo hộ” [19; điều

124]

Quy định về những hành vi được coi là sử dụng NH quan trọng không chỉ trong việc xác định phạm vi quyền của chủ sở hữu NH mà còn có ý nghĩa trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền đồng thời là cơ sở để xác định căn cứ chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ NH

Trang 20

Một vấn đề đặt ra liên quan đến quyền sử dụng NH đó là việc sử dụng

NH là phải sử dụng chính NH trong văn bằng bảo hộ hoặc đăng ký quốc tế hay sử dụng những NH tương tự với NH này (vẫn nằm trong phạm vi bảo hộ) cũng coi là sử dụng NH Trên thực tế, chủ sở hữu NH không phải lúc nào cũng sử dụng NH đúng như mẫu nhãn trong văn bằng bảo hộ hoặc đăng ký quốc tế, họ thường thêm, bớt một vài chi tiết nhỏ, thay đổi màu sắc (không làm thay đổi bản chất của NH) Nếu thực tế này không được công nhận là hành vi sử dụng thì NH có nguy cơ bị bên thứ ba đề nghị chấm dứt hiệu lực nếu chủ sở hữu NH không sử dụng chính NH trong văn bằng bảo hộ liên tục trong thời gian 5 năm mặc dù trên thực tế họ vẫn sử dụng một NH tương tự

Để giải quyết thực tế này có lẽ nên coi việc sử dụng một NH tương tự với NH đang được bảo hộ cũng là sử dụng NH

Để NH thực hiện đúng chức năng phân biệt thì luật cũng quy định việc chuyển nhượng quyền đối với NH phải không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang NH Thực tế cho thấy, có những trường hợp NH được chuyển nhượng đối với một phần hàng hóa đăng ký sử dụng NH, phần hàng hóa tương tự còn lại vẫn được bên chuyển nhượng sử dụng với NH đó hoặc chủ sở hữu NH sở hữu một loạt các NH tương tự nhau nhưng chỉ chuyển nhượng một NH trong số đó Như vậy, công chúng có thể nhầm lẫn về xuất xứ, chất lượng của hàng hóa sử dụng NH bởi vì họ không thể phân biệt hàng hóa nào trong số hàng hóa tương tự sản xuất bởi bên

Trang 21

chuyển nhượng hay bên nhận chuyển nhượng Do vậy, các bên sẽ phải thỏa thuận cụ thể các điều kiện chuyển nhượng để tránh nhầm lẫn cho người tiêu dùng hoặc Cục SHTT sẽ yêu cầu chuyển nhượng toàn bộ danh mục hoặc toàn

bộ các NH tương tự Đối với trường hợp chuyển giao quyền sử dụng thì bên nhận chuyển giao luôn phải chỉ dẫn cho người tiêu dùng biết rõ hàng hóa gắn

NH đó là được sản xuất trên cơ sở hợp đồng sử dụng NH

Việc định đoạt quyền đối với NH cũng phải đảm bảo yêu cầu về mặt chủ thể như đối với trường hợp đăng ký NH Theo đó, quyền đối với NH chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký NH đó, quyền đối với NH tập thể không được chuyển giao cho người không phải là thành viên của tổ chức tập thể đó

Chủ sở hữu NH có thể để thừa kế, tặng, cho, dùng NH làm tài sản góp vốn… Quá trình phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế đã làm xuất hiện một số hoạt động thương mại mới có liên quan đến NH như góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu NH, nhượng quyền thương mại đối với NH

Vì lẽ đó, việc tạo lập một hành lang pháp lý đầy đủ cho việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với NH là rất quan trọng

Quyền ngăn cấm người khác sử dụng NH:

Quyền này được xác lập dựa vào chức năng cơ bản của NH – chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu NH với hàng hóa, dịch vụ của người khác Do vậy, việc bảo hộ NH không những chỉ cấm việc sử dụng

NH được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà còn cấm việc

sử dụng NH tương tự cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự hoặc có liên quan… nếu việc sử dụng đó làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

Quyền ngăn cấm chủ thể khác sử dụng NH luôn đi liền với quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những người có hành vi xâm phạm Không chỉ chủ sở hữu NH có quyền ngăn cấm người khác sử dụng NH thuộc

sở hữu của mình mà người được chuyển giao quyền sử dụng cũng có quyền

Trang 22

này đối với NH mình được chuyển giao căn cứ vào phạm vi sử dụng NH xác định trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng

1.1.4 Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Tên thương mại

1.1.4.1 Khái niệm Tên thương mại

“Tên thươn mại là tên ọi của tổ chức, cá nhân dùn tron hoạt độn kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh man tên ọi đó với chủ thể kinh doanh khác tron cùn lĩnh vực và khu vực kinh doanh” [19; điều 4]

Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng

“Qu ền SHCN đối với được xác lập trên cơ sở sử dụn hợp pháp tên thươn mại đó” [19; điều 6]

“Chủ sở hữu tên thươn mại là tổ chức, cá nhân sử dụn hợp pháp tên thươn mại đó tron hoạt độn kinh doanh” [19; điều 121]

1.1.4.2 Điều kiện bảo hộ Tên thương mại

“Tên thươn mại được bảo hộ nếu có khả năn phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thươn mại đó với chủ thể kinh doanh khác tron cùn lĩnh vực và khu vực kinh doanh” [19; điều 76]

1.1.4.3 Nội dung bảo hộ quyền SHCN đối với Tên thương mại

Quyền của chủ sở hữu đối với TTM gồm:

Quyền sử dụng TTM:

Sử dụng TTM là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng TTM để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện TTM trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo

Quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM:

Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với TTM của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở

Trang 23

kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với TTM

1.1.5 Phân biệt Nhãn hiệu với Tên thương mại

TTM là nhằm phân biệt, cá thể

hoá chủ thể kinh doanh này với chủ

thể kinh doanh khác

NH để phân biệt hàng hoá, dịch

vụ cho các chủ thể khác nhau cung cấp

đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

TTM được bảo hộ nếu có khả

năng phân biệt chủ thể kinh doanh

mang TTM đó với chủ thể kinh

NH thì bắt buộc phải trải qua thủ tục nộp đơn đăng ký (trừ trường hợp

NH nổi tiếng) và thẩm định

Trang 24

Quyền sở hữu được xác lập trên

cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào

thủ tục đăng ký

Quyền SHCN đối với NH được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Tuy nhiên, quy định của luật SHTT đã có những định nghĩa cụ thể nhưng việc phân biệt cũng chỉ mang tính chất tương đối nhất định Trong một

số trường hợp TTM và NH có thể là một, do doanh nghiệp dùng tên gọi của mình làm dấu hiệu chính để phân biệt hàng hóa, dịch vụ với chủ thể khác

TTM là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh

và được tự động bảo hộ khi có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang TTM đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh TTM và NH là hai đối tượng SHTT khác nhau nhưng trong một số tình huống cụ thể hai đối tượng này có sự nhầm lẫn với nhau TTM thông thường bao gồm thành phần tên riêng và thành phần chỉ hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể Thành phần tên riêng trong TTM thường được chủ thể kinh doanh sử dụng làm NH cho hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp Ví dụ Công ty cổ phần sữa VINAMILK có TTM là “Công ty cổ phần sữa VINAMILK” và họ sử dụng phần tên riêng “VINAMILK” làm NH cho các sản phẩm của mình Trên thực thế, khi giao dịch, các chủ thể cũng như khách hàng thường có xu hướng chỉ sử dụng phần tên riêng trong TTM

để gọi tên chủ thể kinh doanh, do vậy, nếu NH của một chủ thể trùng hoặc tương tự với phần tên riêng trong TTM của chủ thể khác kinh doanh trong cùng địa bàn, có sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự nhau thì chắc chắn sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc sản phẩm, dịch vụ Quy định

về việc NH cần phải có khả năng phân biệt với TTM là hoàn toàn cần thiết, tương đồng với pháp luật của các nước khác, tuy nhiên, việc áp dụng trên

Trang 25

thực tế quy định này hoàn toàn không dễ dàng Việc quản lý các NH đang được bảo hộ được thực hiện tại một đầu mối thống nhất là Cục SHTT nhưng việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp lại do rất nhiều cơ quan khác nhau từ trung ương đến địa phương cùng tham gia, giữa các cơ quan này cũng như với Cục SHTT không có sự liên kết trao đổi thông tin, vì vậy, việc nhầm lẫn trên thực tế đã và đang xảy ra gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý

1.1.6 Tổ chức dịch vụ đại diện SHTT

Tổ chức dịch vụ đại diện SHTT là các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động hỗ trợ xác lập, phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ của các tổ chức, cá nhân Với kinh nghiệm hành nghề và có trình độ chuyên môn cao tổ chức này góp phần không nhỏ cho sự phát triển và nâng cao hiệu quả bảo hộ, quản lý

và phát triển tài sản trí tuệ cho các tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, “các tổ chức

dịch vụ đại diện SHTT, các văn phòn luật sư là các tổ chức dịch vụ hoạt độn với mục tiêu là lợi nhuận do đó phí dịch vụ triển khai các hoạt độn tư vấn, hỗ trợ xác lập, phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ thườn khôn nhỏ Tron khi đó, phần lớn doanh n hiệp Việt Nam hiện là doanh n hiệp vừa và nhỏ, khả năn kinh phí hạn chế nên khôn phải doanh n hiệp nào cũn có thể

sử dụn dịch vụ của các tổ chức nà

Bên cạnh đó, chất lượn của các tổ chức đại diện SHTT khôn đồn đều Nhiều hiện tượn lợi dụn n ười có nhu cầu xác lập, bảo vệ qu ền SHTT

để trục lợi Nhiều đơn vị có cun cấp dịch vụ tư vấn SHTT nhưn khôn đăn

ký với Cục SHTT mà hoạt độn dưới các hình thức "ẩn danh" Điều nà là một tron nhữn khó khăn cho côn tác quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm qu ền” [10; 108]

Theo thống kê của Cục SHTT tính đến tháng 12 năm 2014 cả nước có

179 tổ chức dịch vụ đại diện SHTT đủ điều kiện hoạt động đã được đăng ký tại Cục SHTT

1.1.7 Hệ thống bảo hộ quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS

Trang 26

Ngày 15 tháng 12 năm 1993, các cuộc đàm phán thương mại đa phương tại vòng đàm phán Urugoay trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT đã được ký kết Thoả thuận ghi nhận kết quả của những cuộc đàm phán trên là Thoả thuận thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã được thông qua vào ngày 15 tháng 4 năm 1994 tại Marrakesh Lần đầu tiên trong khuôn khổ Hiệp định GATT diễn ra những cuộc đàm phán về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại quốc tế Kết quả của những cuộc đàm phán đó được nêu trong Phần Phụ lục của Thoả thuận Marrakesh là Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS) Thoả thuận Marrakesh bao gồm

cả Hiệp định TRIPS có giá trị ràng buộc đối với tất cả các thành viên WTO và

có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995

1.1.7.1 Bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS ra đời để đảm bảo cho việc bảo hộ và thực thi các quyền SHTT, góp phần thúc đẩy việc cải tiến và chuyển giao công nghệ; đem lại lợi ích chung cho người tạo ra công nghệ và người sử dụng kiến thức công nghệ, tạo sự công bằng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan

Xuất phát từ hai mục tiêu đó, nội dung bảo hộ quyền SHTT trong Hiệp định TRIPS được thể hiện rất rõ theo hai khía cạnh

Một là, Hiệp định TRIPS định ra những tiêu chuẩn mang tính tối thiểu

về bảo hộ và thực thi quyền SHTT trong hệ thống pháp luật của các quốc gia thành viên Các tiêu chuẩn này bao gồm cả những tiêu chuẩn được dẫn chiếu tới các tiêu chuẩn có sẵn trong các công ước Paris, Công ước Berne, Hiệp ước Washington Các tiêu chuẩn tối thiểu có nghĩa là các nước thành viên có thể thực hiện một sự bảo hộ lớn hơn mức tối thiểu trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS

Hai là, Hiệp định TRIPS quy định các thủ tục thực thi cụ thể nhằm ngăn ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT tại các nước thành viên Theo đó:

Trang 27

Hiệp định đưa ra các thủ tục và các biện pháp chế tài dân sự, hành chính Những thủ tục này bao gồm các quy định về các thủ tục công bằng và hợp lý (điều 42), về chứng cứ (điều 43), các lệnh cấm (điều 44), thiệt hại (điều 45) và các biện pháp khác như thẩm quyền ra lệnh xử lý các hàng hoá xâm phạm hay các vật liệu hoặc dụng cụ được sử dụng trong việc tạo ra các hàng hoá xâm phạm Các biện pháp mạnh hơn là gỡ bỏ NH gắn trên hàng hoá một cách bất hợp pháp nhằm không cho phép hàng hoá mang NH giả mạo vào lưu thông trong các kênh thương mại Mục đích của những biện pháp trên là (i) quy định việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, (ii) huỷ bỏ những bản sao vi phạm tương ứng, (iii) huỷ bỏ một cách thích hợp những phương tiện được sử dụng cho các hành vi vi phạm và (iv) trao lệnh cấm cho những hành

vi vi phạm sau này

- Hiệp định yêu cầu các nước thành viên quy định áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt ít nhất là trong các trường hợp cố ý làm giả NH, các hình phạt có thể áp dụng là phạt tù, phạt tiền, tịch thu, trưng thu, và tiêu huỷ hàng hoá xâm phạm cũng như bất kỳ vật liệu và phương tiện chủ yếu được sử dụng để thực hiện xâm phạm Các chế tài hình sự luôn là biện pháp ngăn chặn hữu hiệu hơn nhiều so với các biện pháp hành chính và dân sự Bởi lẽ khi việc xâm phạm đã trở thành một công việc kinh doanh thì việc đóng cửa một nhà máy chỉ có nghĩa là nhà máy đó sẽ mở cửa ở một nơi nào khác Trong những trường hợp như vậy thì chỉ có các chế tài hình sự mới đủ sức ngăn ngừa việc tái diễn các hành vi xâm phạm

- Hiệp định TRIPS cũng thiết lập các nguyên tắc về các biện pháp tạm thời tại mục 3 để ngăn chặn việc xảy ra các hành vi xâm phạm quyền SHTT,

và đặc biệt để ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hoá vào các kênh thương mại trong lãnh thổ Những biện pháp này cũng nhằm mục đích lưu giữ chứng cứ liên quan đến hàng vi bị coi là xâm phạm

- Hiệp định TRIPS cũng quy định một số thủ tục thực thi liên quan tới các biện pháp kiểm soát biên giới, cho phép các chủ thể quyền, người có lý do xác đáng nghi ngờ việc nhập khẩu hàng hoá mang NH giả đưa đơn yêu cầu

Trang 28

các cơ quan hải quan đình chỉ việc lưu thông tự do những hàng hoá đó Những biện pháp này vô cùng cần thiết vì nạn chiếm đoạt không còn là một hoạt động mang tính quốc gia riêng biệt mà mang tính quốc tế Hàng hoá xâm phạm quyền SHTT được sản xuất ở một nước và được chuyển đến các nước khác với số lượng lớn Hậu quả là làm cho các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp phải điêu đứng và làm cạn kiệt khả năng cũng như động lực sáng tạo tại những quốc gia nhập khẩu này

Ba là, Hiệp định tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ các quốc gia thành viên khi bị các quốc gia thành viên khác xâm phạm các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TRIPS và gây thiệt hại cho các quốc gia này

Hệ thống giải quyết tranh chấp được thiết lập theo Thoả thuận WTO (Hiệp định TRIPS viện dẫn những quy định tại các điều XXII và XXIII của Thoả thuận)

1.1.7.2 Yêu cầu của Hiệp định TRIPS đối với các nước thành viên trong

việc xây dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT

Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo tính “đầy đủ” và tính “hiệu quả” khi xây dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT

 Yêu cầu về tính đầy đủ

Tính đầy đủ của hệ thống bảo hộ quyền SHTT phải thể hiện ở cả ba bộ phận của hệ thống

Tính đầy đủ trong các hoạt động bảo hộ quyền SHTT của Nhà nước với

ý nghĩa là một bộ phận cấu thành hệ thống bảo hộ quyền SHTT, theo Hiệp định TRIPS thể hiện ở việc phải ban hành đầy đủ các văn bản pháp luật về bảo hộ quyền SHTT và phải xây dựng được đầy đủ các cơ quan thực thi quyền SHTT Các văn bản pháp luật bảo hộ quyền SHTT phải tuân thủ những tiêu chuẩn mang tính tối thiểu của Hiệp định TRIPS Các nước thành viên có thể thực hiện một sự bảo hộ rộng hơn mức tối thiểu, song không được trái với các nguyên tắc của Hiệp định (như đối xử quốc gia, tối huệ quốc, v.v.)

Về vấn đề quyền SHCN, Hiệp định đòi hỏi các thành viên phải tuân theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 12 và Điều 19 Công ước Paris Ngoài

Ngày đăng: 03/02/2023, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w