MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ QUYÊN KHU ỦY TRỊ THIÊN VỚI CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN NĂM 1968 TẠI THÀNH PHỐ HUẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ QUYÊN
KHU ỦY TRỊ - THIÊN VỚI CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN
NĂM 1968 TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Ngọc Long
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Trần Ngọc Long Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứuv nào trước đây Những số liệu trong bài nghiên cứu phục vụ cho phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu nhập từ các nguồn tài liệu khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dậy, trang bị những kiến thức rất bổ ích cho tôi Các cán bộ, nhân viên Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội, Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi khai thác tư liệu Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Long đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tôi cảm ơn gia đình, bạn bè cùng cơ quan làm việc đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của Luận văn 7
7 Bố cục của Luận văn 7
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ HUẾ TRƯỚC KHI NỔ RA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TRƯỚC TẾT MẬU THÂN NĂM 1968 8
1.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và truyền thống cách mạng 8
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội 8
1.1.2 Truyền thống cách mạng 11
1.2 Tình hình chiến trường Trị Thiên trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 14
1.2.1 Hoạt động và hình thái bố trí chiến lược của địch 14
1.2.2 Hoạt động tác chiến và quá trình chuẩn bị của ta 16
1.3 Chủ trương của Trung ương Đảng 18
Tiểu kết chương I 30
CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG CỦA KHU ỦY TRỊ THIÊN, TỈNH ỦY THỪA THIÊN HUẾ VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 31
2.1 Chủ trương của Khu ủy Trị Thiên và Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế 31
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng tại Thành phố Huế 41
2.2.1 Quá trình chuẩn bị về mọi mặt 41
Trang 62.2.2 Diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân tại Thành
phố Huế 50
Tiểu kết chương II 60
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 63
3.1 Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tại Thành phố Huế 63
3.1.1 Kết quả, ý nghĩa 63
3.1.2 Nguyên nhân thắng lợi 69
3.2 Hạn chế 71
3.3 Một số kinh nghiệm 74
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 cùng một lúc quân
và dân miền Nam đánh mạnh vào các cơ quan đầu não địch tại hơn 40 thành phố, thị xã trên khắp miền Nam Thắng lợi rất oanh liệt của đòn Tổng tiến công Mậu Thân 1968 đã làm chấn động nước Mỹ và thế giới đương thời, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch trên chiến trường, nó đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngừng ném bom đánh phá miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari Sự kiện lịch sử này, ngay từ nước dồn dập đưa tin, bình luận Từ sau khi cuộc chiến kết thúc cho đến nay, cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 đã thu hút sự tìm hiểu, nghiên cứu của giới chính trị, quân sự, học giả ở cả trong nước và ngoài nước, đặc biệt là ở Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường Trị Thiên luôn là nơi đọ sức hết sức quyết liệt và phức tạp giữa ta và địch, là chiến trường trọng điểm có ý nghĩa chiến lược đối với cả hai phía Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, quân và dân Thành phố Huế đã kiên cường chiến đấu, làm lên chiến thắng lịch sử, chiếm giữ được Thành phố Huế
25 ngày đêm Huế trở thành địa bàn mà quân giải phóng chiếm giữ được lâu nhất so với các thành phố thị xã ở miền Nam Chính phía Mỹ cũng phải khẳng định: “Cố đô Huế là một thành phố duy nhất mà người Cộng sản đã chiếm giữ tương đối lâu dài, đủ để bắt đầu thay đổi hệ thống chính trị đối với người Việt Nam, giống như Tô-ki-ô trái tim của Nhật Bản” [61; 38] Hay trong cuốn
“Nước Mỹ ở Việt Nam” hai sử gia người Mỹ G.Kahin và J.Lewis cũng đã viết: “Chúng ta đã tổn thất rất nhiều ở Huế Cuộc chiến đấu ở Huế là mạnh nhất”[61; 18]
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 ở miền Nam nói chung, ở Huế nói riêng đến nay vẫn là đề tài không ngừng gây ra nhiều ý kiến tranh
Trang 8luận PGS.TS Hồ Khang, người có nhiều năm nghiên cứu tìm hiểu về sự kiện này đã nhận xét: như một khối thủy tinh nhiều chiều cạnh “Tết Mậu Thân” thâu nạp nhiều nguồn ánh sáng để tự phản quang thành nhiều diện, nhiều hình Người đứng ở góc độ này tưởng mình đã thấy được toàn thể Người đứng ở góc độ kia lại như chưa thấy chưa biết nhận diện ra sao Có người
tự nhận mới biết tới sự kiện này ở một chiều một khía cạnh nhất định Nhưng có một điều dường như dễ thấy là ngay từ khi “Tết Mậu Thân” bùng
nổ cho đến nay giới quân sự và nhiều nhà lãnh đạo nước Mỹ vẫn không thừa nhận là quân đội Mỹ đã bị thất bại về quân sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam ngày đó…
Chính vì thế việc tìm hiểu tường tận “sự kiện Tết Mậu Thân”, đánh giá những thắng lợi mà ta giành được, cũng như nhìn nhận khách quan hơn về vai trò chỉ đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong cuộc tiến công chiến lược này
là một việc cần thiết vừa có giá trị khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn Vì
những lý do trên nên tôi chọn vấn đề: “Khu ủy Trị Thiên với cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Thành phố Huế” làm đề tài cho luận
văn thạc sỹ lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công năm 1968 đã tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Ngay từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ còn đang tiếp diễn, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có những đánh giá đầu tiên, khẳng định thắng lợi rất to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 Tháng 12 năm 1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phân tích sâu sắc nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm trong đó có đề cập đến thắng lợi Xuân Mậu Thân 1968 Trong những năm gần đây đã có thêm nhiều công trình tổng kết chiến tranh và lịch sử quân
sự của các cơ quan nghiên cứu Trung ương cũng như các địa phương phản
Trang 9ánh và khảo cứu về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, trong số
đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”, Nxb Quân đội nhân dân, 2008 của Viện Lịch sử quân sự Luận án Tiến sỹ Lịch sử “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại miền Nam Việt Nam”, năm 1995 của PGS.TS Hồ Khang, cuốn
“Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968”, Nxb Quân đội nhân dân năm 2008 của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế…
Ngoài ra đã có rất nhiều Hội thảo khoa học bàn về vấn đề này, trong
đó có thể kể đến các Hội thảo năm 1988, 1998 và mới đây nhất là năm 2008,
kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 Đã có rất nhiều bài tham luận được in trong các kỷ yếu các kỳ Hội thảo của các tướng lĩnh trực tiếp tham gia hoặc chỉ đạo cuộc Tổng tiến công nổi dậy này như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Thượng tướng Trần Văn Quang, Đại tá Nguyễn Văn Giáo… các nhà nghiên cứu như PGS.TS Hồ Khang, PGS.TS Vũ Quang Hiển… Các bài viết đã làm rõ được tình hình chính trị quân sự ở miền Nam lúc bấy giờ, cũng như chủ trương của Đảng trong cuộc Tổng tiến công năm 1968 và đã đúc rút ra được nhiều kinh nghiệm có giá trị
Ngoài các Hội thảo còn có rất nhiều công trình viết về Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968
Đầu tiên phải nói tới PGS.TS Hồ Khang với Luận án Tiến sỹ năm
1995, “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968”công trình khoa học đầu tiên, với 150 trang đã thể hiện rõ được chủ trương của Đảng trong việc chỉ đạo Tổng tiến công năm 1968 trên các mặt trận, đúc rút ra các kinh nghiệm lịch sử Trong công trình này, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Thành phố Huế được trình bày một cách khái lược và ngắn gọn Công trình này sau đó được phát triển và mở rộng bổ sung thêm một số tư liệu và đã được NXB Quân Đội Nhân Dân tái bản năm 1998, 2005, 2008
Trang 10Ngoài ra còn có nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí: Lịch sử quân
sự, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử Đặc biệt là nhân kỷ niệm các năm chiến thắng như 1988, 1998, 2008, Thư viện Quân đội cũng đã tập hợp một số bài viết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, trong đó có một số bài viết riêng về Huế in thành chuyên khảo
Gần đây nhân dịp kỷ niệm 40 năm thắng lợi Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968 Nxb Quân đội nhân dân phát hành cuốn “Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968”, năm 2008 với hơn 650 trang Cuốn sách đã tái hiện lại những ngày tháng hào hùng của cuộc tổng Tấn công
và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam trong đó có trọng điểm Thành phố Huế
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cũng xuất bản cuốn “Hướng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên – Huế” Đây là cuốn sách đầu tiên viết riêng về Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968
Vì được viết đã lâu lên một số nhận xét đánh giá chưa mang tính khách quan Cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước” Tập 5 tuy cũng đã có đề cập được quá trình xây dựng kế hoạch cũng như diễn biến cuộc Tổng tiến công và cung cấp các số liệu về cuộc chiến đấu tại Huế Tuy nhiên chưa có những nhận xét đánh giá hạn chế trong cuộc Tiến công tại Thành phố Huế năm 1968
Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Tết Mậu Thân 1968, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế có xuất bản cuốn “Thừa Thiên Huế tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường Xuân 1968”, cuốn sách viết khá chi tiết về quá trình thực hiện tổng tiến công và có các bài học kinh nghiệm Nhân dịp kỷ niệm 40 năm có cuốn sách
“Thừa Thiên Huế tấn công, nổi dậy anh dũng, kiên cường” Cuốn sách tóm tắt các bài hội thảo trong dịp kỷ niệm, có nói về quá trình chuẩn bị, cũng như diễn biến ở trong thành phố cũng như các huyện vùng ven
Ngoài ra còn có các cuốn Lịch sử Đảng bộ thành phố, các huyện, xã của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có đề cập đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, trong đó có phân tích vai trò lãnh đạo của Khu ủy Trị Thiên
Trang 11Mặc dù vậy cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy Trị Thiên đối với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ở Thành phố Huế, cũng như nhận xét những ưu điểm và hạn chế trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Huế
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Khu ủy Trị Thiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 tại Thành phố Huế và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ địa phương
Tìm hiểu quá trình thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 tại Thành phố Huế và qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm
Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở địa bàn Thành phố Huế trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ngoài ra luận văn còn mở rộng phạm vi nghiên cứu khi đề cập đến các hướng tấn công ngoại thành, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968
+ Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu giới hạn mốc thời gian năm 1968; thời điểm mở đầu (đợt Tết) cho đến hết Đợt 3 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 Tuy nhiên để làm rõ hơn bối cảnh lịch sử diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy thời gian đề cập của luận văn có thể lùi về trước năm
1968, thời điểm ta xây dựng kế hoạch và chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc Tổng tiến công
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Phục dựng quá trình Khu ủy Trị Thiên lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ở Thành phố Huế Qua đó làm rõ vai trò cấp ủy Đảng địa phương trong quá trình chỉ đạo quân và dân Thành phố Huế tiến hành đòn tiến công chiến lược này
Trang 12Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau Khái quát bối cảnh lịch sử diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Thành phố Huế
Phân tích làm rõ chủ trương chiến lược của Đảng về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy Trị Thiên
Đánh giá ưu điểm, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy Trị Thiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 tại Thành phố Huế Qua đó tổng kết đúc rút ra những bài học kinh nghiệm
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
Để hoàn thành nội dung đề tài luận văn, tác giả đã sử dụng nhiều nguồn
tư liệu khác nhau
- Đầu tiên phải kể đến là các văn kiện, nghị quyết của Đảng – Nhà nước Việt Nam về kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là các văn kiện chỉ đạo trực tiếp về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968
- Sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước về kháng chiến chống Mỹ nói chung và về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế, lực lượng vũ trang nhân dân Có thể nói đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả trong việc hoàn thành luận văn
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic nhằm tìm ra các đặc điểm, các vấn đề có tính chất căn bản của sự kiện lịch sử
Ngoài ra còn dùng các phương pháp bổ trợ như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, bản đồ nhằm làm rõ hơn nội dung của đề tài
Trang 136 Đóng góp của Luận văn
Góp phần làm rõ sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương của Đảng
về mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 của Khu ủy Trị Thiên và Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Làm rõ những ưu điểm và hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc Tổng Tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ở Thành phố Huế
Bổ sung tư liệu về sự lãnh đạo chỉ đạo cuộc kháng chiến cách mạng nói chung, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 nói riêng
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo Phần nội dung chính của luận văn có cấu trúc gồm 3 chương
CHƯƠNG 1: Tình hình Thành phố Huế trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968
CHƯƠNG 2: Chủ trương của Khu ủy Trị Thiên, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và
quá trình chỉ đạo thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 tại Thành phố Huế
CHƯƠNG 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 14CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ HUẾ TRƯỚC KHI NỔ RA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TRƯỚC TẾT MẬU THÂN
NĂM 1968 1.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và truyền thống cách mạng 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội
Trị Thiên có phía Đông giáp biển, Tây dựa vào Trường Sơn giáp vùng giải phóng Trung Hạ Lào, có đường vận tải chiến lược 559 từ Bắc vào Nam, Nam giáp Quảng Nam – Đà Nẵng, nơi có căn cứ quân sự liên hợp lớn của Mỹ
và cơ quan quân sự đầu não của Quân khu 1 Việt Nam Cộng Hòa Trị Thiên
có thể tiếp nhận nhanh nhất nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc, một đặc điểm thuận lợi hết sức quan trọng của chiến trường Huế là thành phố lớn thứ 3 ở miền Nam, là hậu cứ, là trung tâm đầu não quân sự, chính trị đối với toàn bộ chiến trường Trị Thiên trong thế chiến lược phòng ngự của địch ở Phân khu I – Vùng I chiến thuật
Từ biên giới Việt – Lào đến bờ biển chỉ khoảng 100 km, và từ sông Bến Hải đến đèo Hải Vân chỉ chừng 160 km, vì vậy Trị Thiên là một giải đất hẹp, vùng rừng núi, đồng bằng và thành phố Huế cũng như các thị xã, thị trấn khác nối liền với các huyện nông thôn và vùng giáp ranh Từ các vùng căn cứ tiến vào Thành phố Huế với cự ly không xa Lực lượng vũ trang từ căn cứ tiến vào thành phố chỉ cần 5 giờ hành quân
Vùng rừng núi chiếm 2/3 diện tích toàn khu Trị Thiên Phần lớn là căn
cứ địa, hậu phương trực tiếp và cũng là bàn đạp tiến công địch ở nông thôn đồng bằng và thành phố Vùng giáp ranh chạy dọc hai tỉnh, nằm giữa vùng đồng bằng thành phố và vùng rừng núi, song song và sát với Quốc lộ 1, là vùng có nhiều đồi trọc xen kẽ làng mạc tương đối trống trải Đây là một thuận lợi để triển khai lực lượng tiến xuống đồng bằng và vào thành phố, thị xã
Tuyến giáp ranh chạy dọc từ Bắc Nam giữa đồng bằng và rừng núi, gần trục giao thông Quốc lộ số 1, là vùng đồi trọc, xen kẽ đồi sim và mua,
Trang 15địa hình mấp mô trung bình, tiện cho cơ giới, pháo binh địch hoạt động ngăn chặn
Vùng đồng bằng làng mạc mỏng, chia là 3 tuyến chữ nhật chạy từ Bắc vào Nam: tuyến ven biển thưa thớt và phải qua 3 đến 4 km bãi cát trắng, tuyến ven ruộng giáp cắt từ Thụy Khê đến cầu Hai; tuyến dọc các sông và 2 bên triền sông chạy dọc giữa ruộng đồng bằng, tuyến ven 2 bên đường Quốc
lộ 1 Đồng bằng có nhiều sông ngòi, mương lạch chia cắt ngang dọc, khó cho hoạt động lực lượng lớn Vùng đồng bằng các làng mạc ven biển và dọc tuyến ven ruộng giáp cắt bị địch đánh phá đi lại nhiều lần, nhưng lại là những nơi có phong trào du kích chiến tranh mạnh và đều khắp
Ngoài Quốc lộ 1 là đường bộ duy nhất nối liền Trị Thiên với các tỉnh phía Bắc và phía Nam còn có nhiều đường cắt ngang từ đồng bằng lên giáp ranh rừng núi: Đường số 9 nối liền Đông Hà với Trung Lào, Đường số 12, Đường số 14 từ Huế, Phú Bài lên Tây Thừa Thiên và nhiều đường có thể cơ động bằng cơ giới từ các căn cứ của địch trên vùng giáp ranh nối xuống quốc
lộ 1 Riêng đường số 14 là con đường được xây dựng để nối liền miền Tây Thừa Thiên với miền Tây Quảng Nam đổ xuống đèo Hải Vân đi Đà Nẵng
Nhiều sông ngòi từ Trường Sơn đổ xuống đồng bằng, trong đó đáng chú ý là sông Cửa Việt địch dùng làm đường vận chuyển từ biển vào Đông
Hà, phục vụ cho tuyến Đường số 9, và sông Hương từ biển qua cảng Cửa Thuận vào Huế
Phá Tam Giang và đầm Cầu Hai với diện tích hàng chục ngàn héc ta mặt nước, chạy suốt gần hết tỉnh Thừa Thiên cùng với hệ thống sông ngòi chia cắt vùng đồng bằng, hạn chế nhiều đến việc cơ động lực lượng chiến đấu
Có thể nói đối với địch, vùng giáp ranh và một phần đồng bằng tiện cho việc chúng cơ động nhanh bằng cơ giới, tiện cho hoạt động của máy bay và pháo binh, nhưng do mạng lưới giao thông ít, địa hình dài và hẹp nên rất dễ bị chia cắt, dễ bị bao vây và chặt ra từng khúc, tiếp tế vận chuyển khó khăn Đối
Trang 16với ta, vùng rừng núi là địa bàn thuận lợi nhất, vùng đồng bằng có dân và chiến tranh du kích phát triển mạnh, nên ta có thể áp đảo địch từ trên rừng xuống, và dưới đồng bằng lên, đồng thời vùng giải phóng ta rộng lớn sát liền với các đô thị, thành phố là địa bàn thuận lợi cho việc đánh chiếm thành phố Nhưng khó khăn của ta là đồng bằng mỏng, hẹp nên sử dụng binh lực có bị hạn chế, đường Quốc lộ 1 chia cắt đồng bằng và rừng núi , nếu khi địch tập trung đông chiếm tuyến giao thông đó thì việc đi lại giữa hai vùng gặp nhiều khó khăn
Thành phố Huế chia làm 2 khu vực Bắc – Nam, chia cắt bởi con sông Hương rộng từ 250 – 400 m chạy từ núi đến Thuận An và nối liền giữa 2 khu vực là 2 cầu lớn: cầu Tràng Tiền cho ô tô chạy cầu Bạch Hổ cho xe lửa chạy
Khu vực Bắc Huế là một thành cổ lâu đời của các triều nhà Nguyễn, kiến trúc theo kiểu thành cao, hào sâu kiên cố Xung quanh là tường thành đắp bằng đất, xây gạch mỗi bề trên 2m, cao 6 – 8m rộng từ 10 -20m, có 8 cổng lớn ra vào xây theo kiểu tò vò trên có chòi gác Thành phố chia làm 4 khu vực chính: khu I là nội thành, khu 2 gồm đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, khu 3 gồm đường Thống Nhất và phố Lê Văn Duyệt, khu 4 ở vùng Gia Hội Trong thành có con sông Nhị Hà chạy giữa khu nội thành từ Đông sang Tây, qua 2 cống, có đoạn lội được có đoạn chỉ còn bùn nhão Trong thành khu vực Đại Nội, Mang Cá có tường bao bọc xung quanh cao từ 5 – 6 m
Khu vực phía Nam Huế là thành phố kiến thiết theo kiểu châu Âu, đường sá rộng, nhà cửa to, phần lớn là nhà gạch do cơ quan ngụy quyền và bọn Mỹ đóng Hệ thống đường sá về phía Tây – Nam nhiều, tiện cho cơ giới hoạt động Khu Nam gọi là khu tam giác
Nhìn chung địa hình chung quanh thành phố Huế, phía Tây là rừng núi, cách thành phố chỉ có 3 -5 giờ hành quân Phía Bắc và phía Nam có vùng giải phóng, là cơ sở tốt để làm bàn đạp tiếp cận thành phố Huế bằng nhiều hướng
Trang 17Trong thành phố có thành cao, hào sâu, sông ngòi nhiều, nhà cửa kiên cố, đường sá dày đặc có lợi cho phòng ngự nhưng trong thành phố chiến đấu có hạn chế một phần trong chiến đấu pháo binh cơ giới đối với phía Mỹ
Dân số Trị Thiên thời gian đó có khoảng 800.000 người (Quảng Trị có 300.000 và Thừa Thiên 500.000), vùng nông thôn đồng bằng gần 55.000, các
đô thị khoảng 20.000, riêng Thành phố Huế có gần 150.000 người, vùng rừng núi chỉ có 50.000, phần lớn là đồng bào dân tộc ít người
1.1.2 Truyền thống cách mạng
Thừa Thiên Huế là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời và truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng vẻ vang Trong lịch sử, Thừa Thiên Huế từng là “Phên dậu thứ tư về phương Nam” của nước Đại Việt, nơi
“Đô hội lớn của phương” Thừa Thiên Huế từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, là kinh đô của cả nước…Nơi đây luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng trong các phong trào yêu nước của dân tộc Một vùng đất đóng vai trò cầu nối giữa hai miền Bắc-Nam Từ cuộc đấu tranh chống giặc Minh đầu thế kỷ thứ
XV, đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
đã để lại biết bao sự kiện, địa danh, con người với những chiến thắng vĩ đại và hào hùng trong lịch sử dân tộc Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm sôi động của các cuộc vận động yêu nước và cách mạng…là cái nôi hoạt động của nhiều chiến sĩ, đảng viên cộng sản, là nơi ghi dấu sự ra đời của một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngay từ những năm 1927 nhân dân đã có Đảng Việt nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội – tiền thân của Đảng Cộng sản, và đã thành lập được nhiều chi bộ Tháng 4-1930, Tổ chức Đông dương Cộng sản Đảng và Đông dương Cộng sản liên đoàn hợp nhất thành tỉnh Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông dương Thừa Thiên Huế Lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng quê hương của nhân dân Thừa Thiên Huế bước sang thời kỳ mới mà đỉnh cao là cuộc vận động giải phóng
Trang 18dân tộc (1940 – 1945) và phát động cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng thắng lợi Với khí thế “Cách mạng Tháng Tám” nhân dân Thừa Thiên Huế đã vùng dậy lật đổ ngai vàng của chế độ phong kiến và ách thống trị hàng nghìn năm của thực dân đế quốc, mở ra kỷ nguyên phát triển mới trong lịch sử dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những địa danh: Dương Hòa, Hòa Mỹ, Hói Mít, Thanh Hương – Mỹ Xuyên, Thanh Lam Bồ ghi dấu bao chiến công oanh liệt, là vùng đất từng chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh, chịu đựng nhiều hy sinh mất mát: nhiều di tích, địa điểm
di tích: nhà ở, đình, đền đã trở thành các trụ sở liên lạc, hội họp.Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, truyền thống đấy tiếp tục được phát huy Đến năm 1965 phong trào chiến tranh du kích đã phát triển đều và có những vùng khá mạnh Quần chúng cách mạng bất khuất, kiên cường được tôi luyện dày dạn trong chiến tranh
Nhân dân vùng đồng bằng giải phóng trải qua 22 năm đấu tranh vô cùng gian khổ, quyết liệt Đặc biệt là 3 năm đánh Mỹ gần đây, đã bị địch tàn sát, đốt phá, giết chóc, triệt hạ làng mạc, nhưng nhân dân vẫn không khuất phục, mà ngày càng tôi luyện, dầy dạn và chiến đấu ngày càng mạnh Bom đạn, chém, giết của quân thù không làm cho nhân dân nao núng, địch đốt phá, triệt hạ làng mạc, có nơi ruộng thành hố bom, mỗi lối đi, mỗi xóm, mỗi nhà, mỗi cửa ngõ đều có bom, đạn Mỹ ngụy, đều có máu của nhân dân đổ xuống Nhưng nhân dân không chút sờn lòng, 32 vạn đồng bào vùng giải phóng từ
em nhỏ đến cụ già, tất cả đều là những chiến sĩ tham gia vào cuộc chiến chống lại đế quốc Mỹ Nhiều hoạt động đã diễn ra: nuôi dưỡng quân đội, cán
bộ, du kích, thu mua lương thực cho kháng chiến, cất dấu vũ khí, chạy chữa thương binh
Là một trong ba thành phố lớn ở miền Nam, Huế có một vị trí chính trị, quân sự hết sức quan trọng Vốn là một cố đô của triều Nguyễn cũ, trong kháng chiến chống Mỹ, Huế thuộc quyền kiểm soát của Mỹ và Việt Nam
Trang 19Cộng Hòa, là trung tâm chỉ đạo chiến lược của địch trên khu vực tiếp giáp đối đầu với miền Bắc Ở đây có trên 45 cơ quan hành chính ngụy quyền, đồng thời là nơi địch bố trí một bộ máy chiến tranh khá mạnh (có khoảng từ 2,5 đến
3 vạn quân) với nhiều vũ khí trang thiết bị tương đối hiện đại của Mỹ Thành phần xã hội của thành phố Huế đa dạng và phức tạp Số dân đi đạo Thiên chúa và Phật giáo chiếm một tỷ lệ khá lớn Số dân thuộc thành phần công chức và gia đình sĩ ngụy có khoảng 3 vạn, số học sinh, sinh viên có khoảng 2,5 vạn, nhân dân lao động có khoảng 6 đến 7 vạn, phần đông là gia đình tiểu thương, thợ thủ công, dịch vụ Nhân dân vùng nông thôn và thành phố có quan hệ chặt chẽ với nhau, nên mỗi biến chuyển về chính trị và quân sự ở nông thôn đều mau chóng ảnh hưởng trực tiếp vào thành phố
Giữa những năm 60, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Trị Thiên, đặc biệt là ở Huế ngày càng phát triển mạnh Liên tục có những cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai như cuộc xuống đường chống Diệm - Nhu năm
1963, chống Khánh – Hương năm 1964, phong trào xuống đường đấu tranh của học sinh – sinh viên đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ thì hầu như tháng nào cũng xảy ra Những cuộc đấu tranh này của quần chúng nhân dân đã nhiều phen làm cho Mỹ ngụy hoảng sợ và tìm cách đối phó vất vả
Ở nội thành Huế, lực lượng chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự chỉ đạo của 8 chi bộ Đảng ta đã xây dựng được khoảng 100 cơ
sở bí mật và nửa công khai Số quần chúng hướng về cách mạng và sẵn sang tham gia các cuộc đấu tranh, chiến đấu và phục vụ chiến đấu , ta có thể huy động từ 4.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm Ngoài ra một số khá đông nhân dân lao động, viên chức, tiểu thương tuy không nằm trong các tổ chức cách mạng, nhưng có lòng yêu nước và cảm tình với cách mạng, ta có thể tranh thủ lôi kéo họ khi cách mạng nổ ra
Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ba huyện giáp với thành phố Huế là Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy có nhiều thôn xã đã
Trang 20được ta giải phóng và làm chủ, tạo thành vùng đệm quan trọng để chủ lực ta đứng chân và làm bàn đạp tiến vào thành phố
1.2 Tình hình chiến trường Trị Thiên trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy
1.2.1 Hoạt động và hình thái bố trí chiến lược của địch
Thành phố Huế có vị trí chính trị, quân sự khá quan trọng Ở đây có đến 46 cơ quan hành chính ngụy quyền, là nơi tập trung bọn cầm đầu các đảng phái phản động như Quốc dân đảng, Đại Việt, Cần Lao Nhân Vĩ, nên địch đã thiết lập ở đây một hệ thống phòng ngự vững chắc, có hệ thống căn cứ
và đồn bốt dày đặc, có lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng kìm kẹp gồm
cơ quan hành chính, bọn chỉ điểm, đảng phái phản động nhằm:
Hướng ra phía Bắc chặn đòn tiến công của chủ lực ta
Chốt chặn ta từ rừng núi giáp ranh tiến công xuống, đồng thời bảo vệ giao thông và căn cứ lớn của chúng
Kết hợp lực lượng chủ lực cơ động cả Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa nhằm kìm kẹp và càn quét “bình định” chống phong trào quần chúng và chiến tranh du kích
Tại mặt trận Huế, địch có khoảng 25.000 đến 30.000 quân kể cả bọn cầm súng công khai và bọn cầm súng bí mật, nòng cốt là lực lượng thuộc sư đoàn 1 bộ binh Cả Mỹ và ngụy cộng là 13 tiểu đoàn bộ binh (8 tiểu đoàn ngụy, 5 tiểu đoàn Mỹ), 4 chi đoàn thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo, 2 tiểu đoàn cảnh sát, 2 tiểu đoàn công binh cùng các đơn vị thông tin, vận tải, quân y, sửa chữa quân cụ, 23 đại đội bảo an, 100 trung đội dân vệ, 18 tiểu đoàn bình định Không quân chỉ có các đơn vị máy bay lên thẳng, trinh sát với 100 chiếc Với lực lượng trên địch bố trí:
Ở phía Bắc thành phố: đồn Mang Cá có lực lượng Sư đoàn 1 bộ binh, (khoảng 700 quân) trong đây có cơ quan tham mưu, cơ quan hậu cần, đại đội chiến tranh tâm lý, đại đội quân y Sân bay Tây Lộc có 1 đại đội vận tải với
Trang 21khoảng 40 máy bay lên thẳng, 100 xe các loại, một bộ phận nhân viên kỹ thuật và lính bảo vệ, lực lượng chúng có khoảng từ 250 tên đến 300 tên Khu Đại Nội có 1 đại đội thám báo ngụy, khoảng 120 tên Địch còn bố trí quân ở kho quân cụ: xưởng sửa chữa phương tiện, khu Tàng thơ…Ngoài lực lượng trên, còn có 8 trung đội cảnh sát đóng rải rác trên các khu phố, có trang bị phương tiện đàn áp quần chúng nhân dân [60; 35-37]
Tính chất bố phòng các vị trí quanh thành đều dựa vào thành quách, vị trí của Pháp, có dây thép gai 2, 3 lớp có mìn xung quanh, trên các góc thành, tường có ụ sung bằng bao cát hoặc lô cốt, các cổng ra vào trên dưới có ụ súng, ngày đêm đều có người tuần tra, canh gác Nhưng do dựa vào kiến trúc cũ nên
về mặt phòng ngự có rất nhiều sơ hở, binh hỏa lực bố trí không chặt chẽ
Ở phía Nam thành phố, khu vực Hữu Ngạn Khu Phan Sào Nam có sở chỉ huy tiểu khu Thừa Thiên Khu Khách sạn Thuận Hóa, Hương Giang là nơi
ở tình báo và cố vấn Mỹ Khu sân vận động có đài ra đa và bọn cố vấn Mỹ Các khu Tòa Khâm sứ cũ, tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên, nhà lao Thừa Phủ, khu cơ quan đại diện Trung phần, khu biệt kích trưởng dân tộc, các kho, xưởng đều có lực lượng bảo an canh giữ Tất cả các cầu và các đường vào thành phố đều có cảnh sát canh giữ và đóng rải rác Các ty, sở ngụy quyền như đài phát thanh, ngân hàng, bưu điện, công chánh… cũng ở khu vực phía Nam Phía Nam tính chất bố phòng các vị trí ngoài thành kiên cố, có đầy đủ
hệ thống chướng ngại vật, trong thành và nhà dựa vào kiểu kiến truc cũ, có xây thêm các ô đề kháng và tường thành bao bọc xung quanh
Ngoài thành phố có 6 tiểu đoàn cơ động (2 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn ngụy) kết hợp với quân chiếm đóng, quân địa phương thành hệ thống căn cứ phòng thủ ứng cứu ở phía nam Huế Các tiểu đoàn bộ binh ngụy, các đại đội bảo an và hỏa lực pháo thường đóng ở vùng ven, các cửa ngõ ra vào thành phố như Đồng Di, tam Đông, Xuân Hòa, quận lỵ Nam Hòa… Quân Mỹ còn đóng rải dọc theo quốc lộ 1, từ Huế về Phú Bài, để giữ đường giao thông
Trang 22huyết mạch ở cửa Thuận An để bảo vệ kho xăng, dầu và cửa ngõ từ biển theo sông Hương vào Huế
Có thể thấy trước khi cuộc tiến công nổ ra, địch vẫn còn đông, cả bọn cầm súng công khai, cả bọn cầm súng bí mật, đóng thành nhiều tầng, nhiều lớp Nhưng lực lượng chiến đấu của địch ít, chiếm tỷ lệ 1/3, còn là ô hợp, cơ quan, phục vụ, ty sở, sức chiến đấu kém Vành ngoài địch bố trí mạnh, nặng
về phòng ngự bên ngoài, có thiết giáp, quân cơ động, pháo binh, cộng sự vững chắc, nhưng lại bố trí phân tán trên địa bàn rộng lớn 3 huyện, khi bị tấn công đồng loạt sẽ bị rối loạn, khó hiệp đồng, khó chi viện lẫn nhau, dễ bị ta tiêu diệt từng bộ phận Bên trong ỷ lại bên ngoài, ỷ lại quân cơ động và chiếm đóng, tuyến dân vệ, ác ôn, mật thám, gián điệp, cảnh sát, ỷ lại thành cao, hào sâu, song ngòi nhiều, do đó sơ hở, cộng sự sơ sài và sức chiến đấu kém
Trước những thắng lợi lớn của quân và dân ta tinh thần quân ngụy sa sút, quân Mỹ bạc nhược, cả 2 lực lượng Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa đều sợ chủ lực của ta Quân Mỹ thua trận ở Đường 9 trở nên bạc nhược càng làm cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất tin tưởng, suy yếu nghiêm trọng, đầy rẫy mâu thuẫn (mâu thuẫn với Thiệu – Kỳ, mâu thuẫn giữa các phe phái, mâu thuẫn Mỹ
- Việt Nam Cộng Hòa) tinh thần chiến đấu rất kém Đó là điểm yếu tuyệt đối của địch, ta đánh mạnh chúng dễ tan vỡ, tạo khả năng cho ta làm công tác binh vận Có thể thấy ta có nhiều ưu thế trong cuộc tiến công lần này
1.2.2 Hoạt động tác chiến và quá trình chuẩn bị của ta
Từ năm 1966, Trị Thiên không còn là Phân khu Bắc thuộc Quân khu 5
mà được Bộ Chính trị quyết định thành lập Quân khu Trị Thiên trực thuộc Bộ Quốc phòng Từ một khu đệm, không đánh lớn đã chuyển thành một mặt trận tiến công địch, cùng với Mặt trận Đường số 9 – Bắc Quảng Trị hợp thành một hướng chiến lược quan trọng, một chiến trường tiêu diệt, thu hút địch, nhất là quân Mỹ, có khả năng phối hợp tác chiến với các chiến trường khác để đưa cuộc chiến tranh cách mạng tiến lên một bước mới Ngay sau khi thành lập,
Trang 23Khu ủy Trị Thiên chủ trương đẩy mạnh tiến công địch, xây dựng và củng cố bàn đạp vững chắc trên vùng rừng núi, đưa chiến tranh xuống đồng bằng, chiếm lĩnh giáp ranh, xây dựng cơ sở vùng ven để chuẩn bị đánh thẳng vào đô thị, phát động đảng bộ, quân và dân trong Quân khu có một khí thế tiến công toàn diện quân địch
Thực hiện chủ trương trên, từ giữa năm 1966 bộ đội ta đã thọc được xuống đồng bằng, đánh những trận diệt gọn địch ở Lương Mai, Nam Giảng, Phong Lai và đến tháng 11 năm 1966 đã diệt gọn được 1 tiểu đoàn địch trong căn cứ An Lỗ Trong thành phố ta cũng đánh vào căn cứ vận tải Lê Lai của địch ở An Cựu
Phát huy thắng lợi từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1967, Quân khu Trị Thiên chủ trương mở tiếp đợt hoạt động mùa Xuân đánh thẳng vào các căn cứ La Vang, thị xã Quảng Trị, Từ Hạ, Phú Bài, rồi thọc vào thành phố đánh khách sạn Hương Giang, các căn cứ Long Thọ, Nam Giao, Trường bắn tập… Những trận đánh đó đã gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân ở đô thị, xây dựng được lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương Đặc biệt là bộ đội rút ra được nhiều kinh nghiệm thực tiễn về các cách đánh sâu vào lòng địch Lực lượng ít nhưng đạt hiệu quả cao và được nhân dân đùm bọc, che chở
Vùng rừng núi rộng lớn phía Tây nơi đứng chân của Khu ủy ta làm chủ hoàn toàn Địa bàn này là chỗ đứng chân của các lực lượng, là bàn đạp xuất phát tấn công về đồng bằng, đô thị Đồng bằng nông thôn của bốn huyện: Phong Điền, Quảng Điền của Thừa Thiên, Triệu Phong, Hải Lăng của Quảng Trị được giải phóng mở rộng, trở thành nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho cách mạng Tại các vùng ven đô thị như huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang của Thừa Thiên – Huế đã tổ chức được nhiều cơ sở bí mật; đây cũng là bàn đạp rất thuận lợi để tiếp cận vào thành phố Đặc biệt trong nội thành phố Huế ta đã xây dựng được nhiều cơ sở, khắp các quận, các phường có lực lượng vũ trang tối mật, vũ khí đạn dược được đưa vào chỗ cất giấu an toàn
Trang 24Có thể nói bước vào năm 1967 vùng giải phóng được mở rộng, chiến tranh du kích phát triển khá mạnh, lực lượng vũ trang địa phương trưởng thành, nhất là trên những địa bàn quan trọng Những bàn đạp sát vùng ven thành phố được thiết lập; lực lượng chủ lực, các đội biệt động đứng chân ở đây đánh vào thành phố thuận lợi, thường xuyên hơn
Sau thắng lợi mùa Xuân 1967, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định sang Xuân 1968 chuyển cuộc chiến tranh vào thành phố nhằm “tiến công địch liên tục cả quân sự, chính trị, binh vận… tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, ngụy và chiếm lĩnh vùng nông thôn, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng ngự địch, phối hợp với các chiến trường tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành toàn thắng”
Để thuận tiện cho việc chuẩn bị chiến trường và tổ chức chỉ huy khi đánh vào thành phố Huế, Khu ủy chủ trương cắt 3 huyện tiếp giáp là Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang sát nhập vào Mặt trận Huế do Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy Đồng chí Tư Minh, Phó bí thư Khu
ủy được cử trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Huế, chăm lo mọi mặt chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng, xây dựng kế hoạch, đồng thời trực tiếp chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch
Với tinh thần tích cực tiến công theo phương châm chỉ đạo trên của Khu
ủy, có sự phối hợp chiến trường toàn Miền, nhất là hướng Đường số 9, nên vào những tháng cuối năm 1967, thế bố trí lực lượng quân sự và chính trị ở Trị Thiên nói chung và trên mặt trận Huế nói riêng đã có sự chuyển biến rất có lợi cho ta Nhưng vì lực lượng chủ lực và trang bị của ta còn quá yếu so với đối phương nên để đảm bảo cho cuộc tiến công vào Thành giành được thắng lợi Khu ủy chỉ đạo cần phải có sự bổ sung tăng cường lực lượng đồng thời đề nghị
Bộ bổ sung lực lượng và vũ khí một cách đáng kể và khẩn trương
1.3 Chủ trương của Trung ương Đảng
Chiến lược Chiến tranh cục bộ, đỉnh cao nhất trong toàn bộ nỗ lực chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, đến đầu năm 1967 đã bước sang năm thứ 3
Trang 25Trong khoảng thời gian đó, cho dù phía Mỹ và đồng minh của Mỹ dồn sức hòng khuất phục ý chí kháng chiến của nhân dân Việt Nam, qua đó hoàn tất các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam theo đúng như kế hoạch
đề ra ban đầu, nhưng địch không sao làm được Quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân các nước phụ thuộc Mỹ không thể làm nhiệm vụ “tìm diệt” và “bình định” có hiệu quả Lực lượng của chúng bị căng ra các chiến trường và bị thế trận chiến tranh nhân dân của ta vây hãm Thế chiến lược của địch bị đảo lộn và vỡ từng mảng, làm cho tinh thần, ý chí của binh lính Mỹ và Sài Gòn sa sút nghiêm trọng Nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn bị chia rẽ sâu sắc
Về phía ta qua hai năm, quân và dân miền Nam vẫn giữ vững và phát huy mạnh mẽ chiến lược tiến công làm thất bại một bước quan trọng nỗ lực chiến tranh của địch, giữ vững quyền chủ động chiến trường Trên miền Bắc, trong khói lửa bom đạn, quân và dân ta vừa đánh trả quyết liệt và hiệu quả máy bay, tàu chiến Mỹ, vừa giữ vững sản xuất, tăng sức chi viện mạnh mẽ và liên tục cho cách mạng miền Nam Trước những thất bại của địch và thắng lợi của ta trên cả hai miền Nam, Bắc đầu năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương chuẩn
bị đánh một đòn quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, buộc Mỹ phải thua về quân sự, tạo điều kiện tiến tới mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh” xem đó là sách lược hỗ trợ cho đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quân và dân ta Tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vẫn trên cơ sở phát huy mạnh mẽ phong trào nổi dậy của quần chúng kết hợp với đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp trên
cả ba vùng chiến lược, đồng thời với đẩy mạnh tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực, thực hiện đánh vừa và đánh lớn
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (họp từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967) Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trình bày “Đề cương báo cáo về công tác đấu tranh ngoại giao” trong đó chỉ rõ: “Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao
Trang 26độ, nắm vững phương châm chiến lược đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn khéo, giành thắng lợi từng bước” [21;124-125] Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 này trên mặt trận ngoại giao, Đảng ta mềm dẻo hơn trong sách lược bằng việc chủ trương hé mở khả năng phía Việt Nam sẽ đi vào đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc chứ không gắn với việc đòi Mỹ rút khỏi miền Nam nữa Nghị quyết Hội nghị 13 khẳng định:
“Chúng ta tiến công địch về mặt ngoại giao bây giờ là đúng lúc và chỉ rõ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân
sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” [21; 174]
Trên cơ sở phân tích tình hình mọi mặt và dõi theo sát diễn biến thực tế trên chiến trường Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thấy: Những thắng lợi của ta trong Đông – Xuân 1966 – 1967 đã tạo ra tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch Kế hoạch chiến lược Đông – Xuân
1967 – 1968 lập tức được khởi thảo nhằm mục đích tận dụng tình thế mới có lợi
đó để đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước tiếp tục phát triển Từ tháng
5 và tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã mở những cuộc họp bàn về dự thảo kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967 – 1968 do Tổ kế hoạch thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chuẩn bị Hội nghị Bộ chính trị đã được triệu tập và bàn bạc rất kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược này Hội nghị nhận định rằng thắng lợi của quân và dân ta giành được trên hai miền Nam Bắc là to lớn và toàn diện Thắng lợi đó đã làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đẩy Mỹ vào thế lúng túng, bị động cả
Trang 27về chiến lược lẫn chiến dịch [48; 86] Hội nghị còn nhận định rằng về phía
ta, cả thế và lực đang có những tiến bộ cho phép ta “trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn” và dự kiến có thể giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 Muốn vậy nhiệm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh
Về phương thức đấu tranh xác định trong khi kiên trì tiến công địch toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao cần chuẩn bị đánh những trận quy mô lớn, tạo điều kiệnđể đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao
Từ tháng 7 năm 1967 phương án tác chiến chiến lược tiếp tục được bổ sung Bộ chính trị nhận thấy nếu cứ tiếp tục mở các hoạt động quân sự như trước, đánh theo cách đánh cũ thì khó tận dụng được thời cơ có lợi để tạo nên chuyển biến chiến lược trên chiến trường, chiến tranh sẽ vẫn diễn ra trong thế nhùng nhằng, giằng co Nhưng mặt khác trước đối thủ có quân số đông , hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, khả năng tiếp ứng nhanh, lại chiếm ưu thế áp đảo trên sông, trên biển… thì phương án bao vây để tiêu diệt lớn đội quân này – như ta đã từng làm ở Điện Biên Phủ đối với quân viễn chinh Pháp trước đây là không thực hiện được Các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã trao đổi, đề xuất giải pháp mới là đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta từ vùng rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt, đầu não hiểm yếu nhất của địch là các thành phố căn cứ trung tâm Đánh vào đó ta sẽ tạo được bất ngờ lớn về chiến lược giành thắng lợi lớn [48; 88]
Trong 5 ngày, từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, Bộ Chính trị tiếp tục họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968 và quyết định một phương thức tiến công, một cách đánh chiến lược mới có hiệu lực
Trang 28cao Đây là hội nghị rất quan trọng để vạch ra kế hoạch tiến công táo bạo “Tết Mậu Thân” lịch sử Tại Hội nghị này thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Văn Tiến Dũng đã trình bày dự thảo “Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967 – 1968” làm cơ sở cho Bộ chính trị đi vào bàn bạc, thảo luận Bản dự thảo nêu rõ những thất bại và khó khăn của phía Mỹ ngụy và những thắng lợi to lớn quân và dân ta đã giành được trên hai miền Nam, Bắc Chúng ta cần nắm bắt thời cơ chiến lược, ra sức chuẩn bị mọi mặt, cần nhanh chóng và nhất loạt thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả lực lượng vũ trang và chính trị, tức là khởi sự một cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa mạnh mẽ và quyết liệt nhất để giành lấy thắng lợi cao nhất và chủ động nhất [ 48; 91]
Trên cơ sở thảo luận rất kỹ các báo cáo Bộ Chính trị, nhận định “Mỹ đang thất bại lớn, vì có tăng quân cũng không giải quyết được gì mà tình thế càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc”[13; 34] Về nhiệm vụ: Tranh thủ và tạo thời cơ, tích cực chuẩn bị để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa làm thay đổi tình hình, chuyển biến chiến lược có lợi cho ta như các nghị quyết của Trung ương đề ra Bộ Chính trị đề ra ba mức giành thắng lợi:
- Mức cao: giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Nam, giữ vững được miền Bắc
- Mức thứ hai: căn bản thắng lợi, nhưng địch co lại cố thủ một số nơi, tiếp tục cuộc chiến tranh
- Mức thứ ba: chỉ thắng được một phần
Ta phải thay đổi cục diện, chuyển biến chiến lược, có thể nói đây là một quyết định hết sức táo bạo trong thời điểm bấy giờ Vì thế cuộc tấn công giải phóng miền Nam phải được tiến hành toàn diện trên các mặt vào nền tảng thống trị của bọn Mỹ và tay sai chứ không đơn thuần là một cuộc tiến công về quân sự Sức mạnh của nó không đơn thuần là sức mạnh quân sự, mà là một sức mạnh tổng hợp mọi mặt về chính trị - tinh thần, về quân sự, về thế và lực của nhân dân và đất nước So sánh lực lượng giữa ta và địch tại thời điểm lúc bấy giờ quân địch vẫn còn rất đông tới hơn 60 vạn quân Mỹ và chư hầu, hơn 50 vạn quân ngụy Nhưng
Trang 29muốn xét lực lượng so sánh đôi bên chiến trường, theo đồng chí Lê Duẩn “là phải xét kết quả tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần của các lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa mà mỗi bên sử dụng để chống lại đối phương Nó không phải là trừu tượng mà là cụ thể , nó không phải là một tỷ lệ bất biến mà là một so sánh trong vận động, kết quả của quá trình phát triển biện chứng về số lượng cũng như về chất lượng của các yếu tố, các lực lượng nói trên”[7; 168] Chính là xuất phát từ quan điểm trên cũng như xuất phát từ kinh nghiệm của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, của kháng chiến chống thực dân Pháp và Đồng khởi năm 1960 mà Đảng ta chủ trương Tổng công kích – tổng khởi nghĩa trong dịp Tết Mậu Thân
Chủ trương này là cơ sở để các chiến trường ở miền Nam bắt tay vào chuẩn bị trực tiếp cho đến Tết Mậu Thân 1968 tạo ra bước ngoặt lớn cho cách mạng miền Nam Sau một thời gian chuẩn bị mọi mặt về thế trận và lực lượng, trên cơ sở nắm bắt diễn biến tình hình thực tế trên chiến trường, ở trong nước và trên thế giới có liên quan đến cuộc chiến, tháng 12 năm 1967,
Bộ Chính trị họp, chính thức hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, dùng phương pháp tổng công kích – tổng khởi nghĩa để giáng đòn mạnh liệt vào ý chí của đối phương
Tháng 1 năm 1968 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 họp tại Hà Nội đã thông qua Nghị quyết tháng 12 năm 1967 của Bộ Chính trị Bộ Chính trị nhận định: “ Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn Đế quốc Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược” So với mục tiêu chính trị và quân sự có hạn của chúng ở miền Nam thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao Vì thế xu hướng của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự bị động hơn trước Trong khi đó chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược lẫn chiến thuật, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết Qua Hội nghị Quân ủy Trung ương