Hướng dẫn viết Đề cương nghiên cứu ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Nguyễn Nguyên Hằng NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC BỘ GIÁP XÁC MƢỜI CHÂN (CRUSTACEA DECAPODA) Ở SÔNG TRƢỜNG GIAN[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
TS Ngô Xuân Nam PGS.TS Nguyễn Văn Quảng
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Học viên thực hiện
Nguyễn Nguyên Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, học viên xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới hai
thầy hướng dẫn luận văn là TS Ngô Xuân Nam và PGS TS Nguyễn Văn Vịnh
đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho học viên trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Học viên xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các học viên, sinh viên trong Bộ môn Động vật học Ứng dụng, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian qua đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho học viên thực hiện tốt luận văn
Học viên xin cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp
đỡ học viên trong quá trình thực hiện luận văn
Học viên xin cảm ơn Ban chủ nhiệm đề tài: “Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam”, mã số: ĐTĐL.CN-15/16, đã tạo điều kiện cho học viên được tham gia và sử dụng một phần số liệu của đề tài để hoàn thành luận văn này
Học viên xin được chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè
đã động viên giúp đỡ học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Một lần nữa, học viên xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày…….tháng……năm ……
Tác giả luận văn
Nguyễn Nguyên Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU……….1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân tại Việt Nam 8
1.3 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân tại sông Trường Giang 17
1.4 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực
nghiên cứu 18
1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên 18
1.4.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội 24
Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 28
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 35
2.2.2 Phương pháp thu thập vật mẫu ngoài tự nhiên 35
2.2.3 Phương pháp phân tích vật mẫu trong phòng thí nghiệm 35
2.2.4 Phương pháp xác định tính chất địa động vật của các loài Giáp xác
mười chân 36
2.2.5 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 37
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Đặc điểm độ mặn khu vực nghiên cứu 39
Trang 63.2 Đặc trưng về thành phần loài Giáp xác mười chân (Decapoda) tại khu vực
nghiên cứu 40
3.2.1 Thành phần loài và cấu trúc thành phần loài 40
3.2.2 So sánh về thành phần loài Giáp xác mười chân (Decapoda) với các khu vực nghiên cứu khác 47
3.2.3 Tính chất địa động vật Giáp xác mười chân (Decapoda) tại khu vực nghiên cứu 48
3.3 Phân bố Giáp xác mười chân (Decapoda) theo độ mặn tại khu vực
nghiên cứu 49
3.4 Đánh giá tính tương đồng của Giáp xác mười chân (Decapoda) giữa
các điểm thu mẫu 55
3.5 Các loài Giáp xác mười chân (Decapoda) có giá trị bảo tồn và giá trị
kinh tế tại khu vực nghiên cứu 57
3.6 Đề xuất định hướng bảo tồn và phát triển bền vững Giáp xác mười chân (Decapoda) tại khu vực nghiên cứu 59
3.6.1 Hiện trạng khai thác một số loài động vật Giáp xác mười chân 59
3.6.2 Đề xuất định hướng bảo tồn và phát triển bền vững 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
Kết luận 71
Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp) IUCN International Union for Conservation of Nature (Liên minh
Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên) QCCP Quy chuẩn cho phép
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Số lượng họ, giống, loài Giáp xác mười chân nước lợ, mặn trong một số
nghiên cứu 15
Bảng 1.2 Dân số và mật độ dân số của các xã vùng phụ cận sông Trường Giang, giai đoạn 2012 - 2016 25
Bảng 2.1 Đặc điểm sinh cảnh sông Trường Giang 30
Bảng 3.1 Độ mặn các điểm nghiên cứu tại sông Trường Giang 39
Bảng 3.2 Phân chia độ mặn 40
Bảng 3.3 Thành phần loài Giáp xác mười chân tại các điểm nghiên cứu 41
Bảng 3.4 Số lượng họ, giống, loài của Giáp xác mười chân tại khu vực
nghiên cứu 45
Bảng 3.5 Mối quan hệ thành phần loài Giáp xác mười chân giữa khu vực
nghiên cứu với một số thủy vực khác ở Việt Nam 47
Bảng 3.6 Cấu trúc địa động vật Giáp xác mười chân tại khu vực nghiên cứu 49
Bảng 3.7 Phân bố các loài Giáp xác mười chân tại khu vực nghiên cứu
theo độ mặn 51
Bảng 3.8 Danh sách các loài có giá trị bảo tồn và giá trị kinh tế của Giáp xác
mười chân tại khu vực nghiên cứu 58
Bảng 3.9 Hiện trạng khai thác thủy sản tại sông Trường Giang năm 2016 60
Trang 9iii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nhiệt độ trung bình các năm từ 2011 - 2017 19
Hình 1.2 Tổng số giờ nắng trong năm giai đoạn 2011 - 2017 20
Hình 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2011 - 2017 20
Hình 1.4 Tổng lượng mưa và số ngày mưa năm giai đoạn 2011 - 2017 22
Hình 1.5 Cơ cấu ngành nghề phân theo các hộ vùng phụ cận sông Trường Giang 26 Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu tại sông Trường Giang 29
Hình 3.1 Số lượng họ, giống, loài nhóm tôm và nhóm cua 46
Hình 3.2 Phân bố các họ Giáp xác mười chân theo độ mặn tại khu vực
nghiên cứu 50
Hình 3.3 Số lượng các loài Giáp xác mười chân theo độ mặn 54
Hình 3.4 Kết quả tính chỉ số tương đồng của Giáp xác mười chân giữa các điểm nghiên cứu 55
Hình 3.5 Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu 56
Hình 3.6 Lưới mắc và lưới bát quái 61
Hình 3.7 Hoạt động lấn chiếm dòng sông để nuôi trồng thủy sản 62
Hình 3.8 Bơm nước từ đầm nuôi trồng thủy sản ra sông Trường Giang tại khu vực xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ 64
Hình 3.9 Bèo tây lấn chiếm mặt nước tại khu vực xã Bình Dương, 65
Hình 3.10 Bèo tây lấn chiếm mặt nước tại khu vực xã Bình Triệu,
huyện Thăng Bình 65
Hình 3.11 Phỏng vấn người dân khai thác thủy hải sản tại sông Trường Giang 66
Trang 101
MỞ ĐẦU
Sông Trường Giang với chiều dài 67 km, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam, ngăn cách với biển bởi cồn cát rộng lớn, phía Bắc nhập với hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn rồi đổ ra biển qua cửa Đại (Hội An), phía Nam nhập với hạ lưu sông Tam Kỳ rồi đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa Nguồn nước của sông Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống sông này và từ nguồn thủy triều lên xuống ở hai cửa sông Bởi vậy, sông Trường Giang không có thượng lưu, hạ lưu nên cũng không có hữu và tả ngạn Đây là dòng sông đặc biệt và có vai trò quan trọng về kinh
tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam
Các nghiên cứu liên quan đến sông Trường Giang còn rất ít và tản mạn, chủ yếu tập trung vào các vấn đề tiêu thoát lũ, nạo vét, gia cố bờ… Các vấn đề về đa dạng sinh học, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững… chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ
Các loài Giáp xác mười chân (Decapoda) là nhóm sinh vật phong phú và đóng vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái và trong đời sống của con người Tại các thủy vực, Giáp xác mười chân tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất
và năng lượng, là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của thủy vực và tạo
sự cân bằng cho các thủy vực Đối với đời sống con người, Giáp xác mười chân là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Việc điều tra, nghiên cứu, khai thác và
sử dụng hợp lý nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi Giáp xác mười chân ở các thủy vực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với ngành thủy sản
Từ những lý do nêu trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Giáp xác mười chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam” là việc làm cần thiết để có thể đưa ra định hướng sử dụng, khai thác
hợp lý nguồn lợi thủy sản tại sông Trường Giang
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thành phần loài, phân bố của bộ Giáp xác mười chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 112
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Giáp xác mười chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam;
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ Giáp xác mười chân (Crustacea: Decapoda);
- Đề xuất định hướng bảo tồn và phát triển bền vững động vật Giáp xác mười chân (Crustacea: Decapoda) tại khu vực nghiên cứu
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân trên thế giới
Bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) được xem như là nhóm quan trọng đối với ngành thủy sản, kinh tế thương mại Nghiên cứu về Giáp xác mười chân đã được bắt đầu từ thế kỷ thứ XVIII Tỷ lệ các loài Giáp xác mười chân được định tên tăng đều với khoảng 100 loài mỗi năm kể từ cuối thế kỷ XIX Những công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên trong định loại các loài Giáp xác mười chân bao gồm các nghiên cứu của Edwards (1834-1837) và De Haan (1833-1850); Dana (1852); Stimpson (1860, 1871); Milne-Edwards (1872, 1880); Glassell, Rathbun và Schmitt trong thập kỷ 1930; Glassell (1935 - 1938); Rathbun (1925, 1930, 1933, 1937); Schmitt (1935) đã nối tiếp và hoàn thiện các nghiên cứu trước đó Đến năm
2006, có 7.905 loài Giáp xác mười chân đã được định tên trên thế giới [66]
Trong bộ Giáp xác mười chân (Decapoda), riêng nhóm cua (Brachyura) được nghiên cứu độc lập vì đây là nhóm có nhiều loài kích thước lớn Chúng cũng được xem là nhóm phổ biến nhất và có giá trị thương mại cao Những công trình có hệ thống đầu tiên về nhóm cua có thể kể đến các nghiên cứu của De Haan (1833 - 1850), Edwards (1834 - 1837), Dana (1852), Stimpson (1871), Milne-Edwards (1872) và Rathbun Riêng Rathbun (1906) là tác giả đã đóng góp rất lớn trong phân loại và sắp xếp hệ thống nhóm cua Đến năm 2006, có 3.452 loài trong nhóm cua (Brachyura) đã được định tên trên toàn thế giới và 4.453 loài thuộc nhóm tôm (các nhóm phân loại còn lại của bộ Decapoda trừ thứ bộ Brachyura), thì tổng số loài thuộc nhóm tôm cao hơn số loài thuộc nhóm cua đã được định tên Đến năm 2014, trên thế giới đã ghi nhận 14.756 loài Giáp xác mười chân thuộc 2.725 giống Trong
đó, nhóm cua (Brachyura) có 6.835 loài, chiếm 46,32% [56, 66]
Đối với môi trường nước ngọt, nghiên cứu của Martin và Davis (2001) đã thống kê hơn 1.300 loài cua Đây là những loài sống hoàn toàn ở nước ngọt hoặc một phần trên cạn Những loài cua nước ngọt thuộc 8 họ Pseudothelphusidae và Trichodactylidae (Mê-xi-cô, Trung và Nam Mỹ), Potamonautidae (Châu Phi và
Trang 134
quần đảo Ma-đa-gát-ca), Deckeniidae và Platythelphusidae (Đông Phi), Potamidae (Bắc Phi, miền nam Châu Âu, Châu Á), Gecarcinucidae (quần đảo Sy-che-ly thuộc Châu Á) và Parathelphusidae (Châu Á, Châu Úc) [65] Nghiên cứu của Yeo và cộng
sự (2008) cũng đã thống kê được 1.476 loài cua nước ngọt, thuộc 14 họ trên thế giới (trừ khu vực Nam Cực) Trong đó, có 1.306 loài sống trong môi trường nước ngọt thuộc 8 họ là Pseudothelphusidae, Trichodactylidae, Potamonautidae, Deckeniidae, Platythelphusidae, Potamidae, Gecarcinucidae và Parathelphusidae [84]
Nghiên cứu của De Grave và cộng sự (2008) đã thống kê có 655 loài tôm nước ngọt Trong số các họ tôm nước ngọt, hai họ Tôm riu (Atyidae) có số loài nhiều nhất với 359 loài Họ Tôm càng (Palaemonidae) có các giống phổ biến như
Macrobrachium, Palaemon, Exopalaemon, Palaemonetes [53]
Đối với môi trường nước lợ, mặn, nghiên cứu của De Grave và cộng sự (2008) đã thống kê có khoảng 1.800 loài tôm thuộc thứ bộ Caridea thuộc 31 họ [53] Nghiên cứu của Dorji (2014) ước tính trên thế giới có khoảng và 5.500 loài cua (Brachyura) với 7.200 loài thuộc nhóm tôm (các nhóm phân loại còn lại của bộ Decapoda trừ thứ bộ Brachyura) [56] Một số nghiên cứu về bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) tại một số vùng trên thế giới có thể kể đến nghiên cứu của Abele và Kim (1986) đã xác định tại vùng biển Flo-ri-da có 724 loài Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 377 loài thuộc 39 họ; nhóm cua (Brachyura) ghi nhận 347 loài thuộc 24 họ [38] Nghiên cứu của Chan (2010) về nhóm tôm bò (Macrura Reptantia) đã thống
kê được 248 loài (với 4 phân loài) thuộc 55 giống, 6 họ thuộc các nhóm Astacidea, Glypheidea, Achelata và Polychelida [47] Nghiên cứu của Boschi (2000) đã thống
kê ở khu vực biển ven bờ Châu Mỹ có 1.086 loài, thuộc 311 giống, 40 họ Kết quả nghiên cứu về phân bố số lượng loài của nhóm cua (Brachyura) tại khu vực nghiên cứu cho thấy tính đa dạng cao hơn trong vùng nhiệt đới và giảm dần về phía vùng vĩ
độ cao [42]
Nghiên cứu về hệ thống phân loại, đối với bậc phân loại cao hơn của Decapoda, hiện tại vẫn tồn tại hai quan điểm Thứ nhất là quan điểm cho rằng Crustacea ở bậc taxon lớp (Class) như các nghiên cứu của Taylor (1982), Jose và
Trang 145
cộng sự (2013) [61, 76] Thứ hai là quan điểm về hệ thống học đã xếp Crustacea ở taxon phân ngành (Sub Phylum Crustacea) của ngành Chân khớp (Arthropoda) như các nghiên cứu của Thorp and Covich (1991), Martin và Davis (2001), Anyong và cộng sự (2011) [39, 65, 78] Theo đánh giá của các nghiên cứu thì xu thế hiện nay là đưa Crustacea ở mức phân ngành (Sub Phylum Crustacea) có xu hướng được sử dụng trong các nghiên cứu về phân loại học và hệ thống học nhiều hơn
Đối với hệ thống phân loại học dưới bộ Decapoda, theo hệ thống phân loại trước đây, Boas (1880) đã chia bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) thành hai phân
bộ (Suborder) Natantia (tôm) và Reptantia (cua) Hệ thống này được hầu hết các tác giả thừa nhận sau đó, chỉ thay đổi ít nhiều về các thành phần của nhóm Natantia Năm 1963, Burkenroad chia lại bộ Giáp xác mười chân thành 2 phân bộ mới: Dendrobranchiata (= Penaeidea) và Pleocyemata là nhóm bao gồm các loài còn lại
bộ Decapoda Pleocyemata được phân thành 2 thứ bộ (Infraorder) Natantia và Reptantia Dựa trên các hệ thống cũ, Burkenroad (1981) phân chia lại bộ Giáp xác mười chân thành 4 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Stenopodidea, Caridea và Reptantia Cách phân chia khác là chia bộ Decapoda thành 3 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Natantia (bao gồm các nhóm tôm khác ngoài Penaeidea) và Reptantia (Cua) [27] Đến năm 2001, nghiên cứu của Martin và Davis đã đưa ra cập nhật về phân loại học nhóm giáp xác dựa trên những phân loại học, hệ thống học trước đó của các tác giả khác, đồng thời nghiên cứu xét đến vấn
đề phân loại học dựa trên sinh học phân tử đã cho rằng bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) được chia thành 2 phân bộ là Dendrobranchiata và Pleocyemata Như vậy, quan điểm của Martin và Davis (2001) trùng với quan điểm của Burkenroad (1963) Tuy nhiên, điểm khác là Pleocyemata được phân thành 7 thứ bộ (Infraorder)
là Stenopodidea, Caridea, Astacidea, Thalassinidea, Palinura, Anomura, Brachyura [65]
Đến năm 2009, nghiên cứu của De Grave và cộng sự đã đưa ra cập nhật về phân loại bộ Giáp xác mười chân (Decapoda), ước tính bao gồm 14.756 loài còn sống và 2.979 loài hóa thạch Nghiên cứu này cũng căn cứ trên nghiên cứu của
Trang 15Như vậy có thể thấy, các nghiên cứu về phân loại học, hệ thống học của bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) vẫn chưa thống nhất giữa các quan điểm khác nhau
và vẫn tồn tại phương pháp phân loại khác nhau
Nghiên cứu về địa động vật học, đặc tính phân bố thường được áp dụng cho một khu vực cụ thể, có thể nhỏ như một con suối hoặc một khu vực rộng lớn hơn rất nhiều như vùng, vùng biển, châu lục và thường được nghiên cứu đồng thời với đa dạng loài hay phân loại học Ví dụ, nghiên cứu của Sokolov (2006) tại khu vực biển Euro - Asiatic đã xác định tổng số 101 loài Giáp xác mười chân Khu hệ Giáp xác mười chân tại đây bao gồm các loài cận nhiệt đới, ôn đới phía Bắc, hàn đới phía Bắc
và các loài Bắc Cực Tỷ lệ các loài Bắc cực trong khu hệ động vật Giáp xác mười chân tăng từ biển Na Uy đến biển Đông-Siberia Cụ thể từ 9,7 đến 68,8% và sau đó giảm mạnh xuống 12,1% ở phần phía nam của Biển Chuc-chi Tất cả các loài Bắc cực thuộc nhóm Caridea Một vài loài thuộc thứ bộ Anomura và Brachyura được quan sát thấy ở vùng Ba-ren và Biển Trắng, biển Chukchi và ở phía đông biển Laptev Các loài đặc hữu của vùng Bắc Cực chiếm khoảng 3% tổng số loài [75] Nghiên cứu của Crane (1975), Carpenter và Niem (1998) về phân bố của các loài Giáp xác mười chân được tiến hành đồng thời với nghiên cứu phân loại học [46, 51]
Nghiên cứu về phương pháp thu mẫu Giáp xác mười chân có thể kể đến nghiên cứu của S C Snedaker và J S Snedaker (1984), Ghani và cộng sự (2016) [57, 74] Trong đó nghiên cứu của Ghani và cộng sự (2016) đã sử dụng hai công cụ lấy mẫu định tính là khung lưới chữ D và khung lưới hình vuông trong thu mẫu động vật thủy sinh nước ngọt nói chung tại sông Khung lưới hình chữ D có tay cầm
Trang 167
dài 1,2m, lưới hình nón dài 60 cm với kích thước mắt lưới 0,3mm Khung lưới hình vuông có tay cầm dài 1,2m, kích 0,5 × 0,5m, lưới hình nón 90 cm với kích thước mắt lưới 0,3 mm Dùng hai loại lưới này sục vào các đám cỏ ven bờ, kéo theo dòng nước, chà nhẹ bằng tay sát nền trong 2 phút để thu các mẫu thủy sinh Thu mẫu định lượng sử dụng lưới Suber kích thước 40 x 40 x 40cm với kích thước mắt lưới 0,3mm [57] Nghiên cứu của S C Snedaker và J S Snedaker (1984) áp dụng cho thu mẫu động vật thủy sinh tại khu vực vùng triều, rừng ngập mặn Cụ thể, thu mẫu các loài thủy sinh thông thường được thực hiện tại khu vực vùng triều thấp Thu mẫu định tính các loài cua bằng bắt bằng tay, bằng dao cán dài, bay hoặc thuổng Thu mẫu định lượng bằng khung nhôm hình vuông, kích thước 0,25 m2
hoặc 0,5m2
đến độ sâu 20cm hoặc đến 0,5m đối với các loài cua lớn và giống Thalassina [74]
Ngoài các nghiên cứu về phân loại học, hệ thống học, địa động vật học và phân bố, các nghiên cứu về ứng dụng Giáp xác mười chân đã được thực hiện nhiều trên thế giới Giáp xác mười chân đã được chứng minh là nhóm có giá trị kinh tế
Do đó việc phát triển nuôi trồng các loài Giáp xác mười chân có giá trị kinh tế cao
đã được phát triển trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới Nghiên cứu nuôi trồng thường đi cùng với các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học nhằm mục đích tối ưu hóa quá trình nuôi trồng Ví dụ, nghiên cứu của
Hiroshi (1985) về đặc điểm sinh học và sinh thái học của Tôm sú (Penaeus monodon) nhằm mục đích phát triển nuôi công nghiệp [58]; nghiên cứu của Sahoo
và cộng sự (2011) về đặc điểm sinh học và sinh thái học của Ghẹ xanh (Portunus pelagicus) tại đầm phá Chilika, Orissa, Ấn Độ cũng nhằm mục đích tăng sản lượng
nuôi trồng thủy sản tại khu vực [70] Trong các tuyển tập nghiên cứu của Fao, không chỉ tập trung vào đặc điểm sinh học và sinh thái học mà còn hướng dẫn kỹ thuật, phương pháp nhân nuôi các loài Giáp xác mười chân có giá trị kinh tế như
các loài cua xanh (Scylla spp.) như các nghiên cứu của Shelley (2008), Shelley và
Lovatelli (2011) [71, 72]
Có thể thấy rằng các nghiên cứu về Giáp xác mười chân trên thế giới tập trung nghiên cứu về thành phần loài, phân loại học, địa động vật, đặc điểm sinh học,
Trang 178
sinh thái học của loài, ứng dụng nuôi trồng các loài có giá trị kinh tế cao Các nghiên cứu này đã góp phần vào việc phát triển và hoàn thiện nghiên cứu về thủy sinh vật học trên thế giới
1.2 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân tại Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân tại Việt Nam có thể chia thành hai giai đoạn là giai đoạn trước năm 1945 và giai đoạn từ năm 1945 đến nay
Giai đoạn trước năm 1945: Trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu
về Giáp xác mười chân còn ít và tản mạn Công trình nghiên cứu đầu tiên về Giáp xác mười chân nước ngọt tại Việt Nam là nghiên cứu về cua nước ngọt được thực hiện vào thế kỷ thứ IXX với nghiên cứu của Edwards vào năm 1869 khi mô tả một
loài mới là Thelphusa longipes (= Potamon longipes) tại Côn Đảo Nghiên cứu của Thalwitz (1891) công bố loài tôm Palaemon nipponensis ghi nhận ở khu vực Trung
Bộ De Man (1904) công bố 28 loài tôm cua nước ngọt ở Việt Nam, trong đó có 3
loài cua (Parathelphusa sinensis, Potamon longipes, Potamon cochinchinesis) và 2 loài tôm (Palaemon nipponensis, Palaemon cascinus) Nghiên cứu của Rathbun
(1902, 1904, 1905) đã công bố 15 loài cua nước ngọt tại Việt Nam Trong đó, có 11 loài tại miền Nam và 4 loài tại miền Bắc Nghiên cứu của Ballas (1914) đã bổ sung
2 loài là Potamon fruhstorferi, Geothelphusa annamensis Nghiên cứu của Kemp (1923) đã bổ sung 6 loài và phân loài tại khu vực miền Nam là Geothelphusa dehaani var laevir, Potamon luangprabangnensis, Potamon klossianum sp now, Potamon splaeridium sp now, Potamon loxophrys sp now, Potamon phymatodes
Về tôm nước ngọt, Sollaud (1914) đã bổ sung 2 loài cho khu hệ là Coutierella tonkinensis, Leander mani Nghiên cứu của Bouvier (1904, 1920, 1925) đã bổ sung
3 loài tôm thuộc họ Atyidea là Caridina nilotica typica, Caridina weberi sumatrensis, Caridina tonkinensis [12, 25, 27, 55]
Về thủy sinh học nước lợ, mặn được bắt đầu nghiên cứu vào cuối thế kỷ XVIII Các nghiên cứu ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào trai, ốc và cá biển Giai đoạn 1922 - 1939, Viện Nghiên cứu Hải dương Nha Trang đã có quả nghiên cứu liên quan đến động vật không xương sống ở biển Tuy nhiên, trong thời kỳ này
Trang 189
các tài liệu nghiên cứu về thủy sinh biển nói chung và Giáp xác mười chân nước lợ, mặn còn chưa hoàn chỉnh, số lượng nghiên cứu còn ít [23]
Giai đoạn sau năm 1945: Số lượng các công trình nghiên cứu về Giáp xác
mười chân tại Việt Nam tăng nhanh và hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước
Đối với Giáp xác mười chân nước ngọt, công trình nghiên cứu giai đoạn này
có thể kể đến một số công trình của Đặng Ngọc Thanh (1961, 1967), Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Huy Yết (1972) Các công trình nghiên cứu này đã ghi nhận một
số loài tôm gồm những loài đã biết như Tôm càng Hải Nam (Macrobrachium hainanense), Tôm càng (Macrobrachium nipponense), Leander mani, Coutierella sinensis đã ghi nhận tại khu vực thủy vực miền Bắc Việt Nam Mô tả một số loài tôm, cua mới như Macrobrachium vietnamensis sp now, Macrobrachium dienbienphuense sp now, Caridina denticualata vietnamensis sp now, Potamon luangprabangense, Geothelphusa glabra sp now Ở miền Nam, giai đoạn này hầu
như không có nghiên cứu nào được thực hiện [27]
Công trình nghiên cứu về phân loại và hệ thống học các loài Giáp xác mười chân nước ngọt phải kể đến công trình nghiên cứu động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) đã đưa ra khóa định loại và ghi nhận 17 loài tôm, 11 loài cua Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 2 họ là họ
Palaemonidea có 9 loài, thuộc 3 giống là Macrobrachium (6 loài), Palaemon (1 loài), Palaemonetes (2 loài); họ Atyidea có 8 loài đều thuộc giống Caridina Nhóm cua ghi nhận họ Parathelphusidae có 4 loài đều thuộc giống Somanniathelphusa; họ Potamidae có 7 loài thuộc 4 giống là Orientalia (1 loài), Ranguna (3 loài), Potamiscus (2 loài), Tiwaripotamon (1 loài) [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân (1992) đã đưa ra tổng quan kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, phân bố, giá trị kinh tế của 8 loài thuộc phân họ
Palaemoninae tại Việt Nam, ngoại trừ giống Macrobrachium Đây là tài liệu đầu
tiên công bố có sự so sánh đặc điểm nhận dạng giữa các loài trong phân họ [69]
Nghiên cứu của Yeo và Nguyễn Xuân Quýnh (1999) đã công bố thêm một
loài cua mới ở Hà Nội, Việt Nam là Cua đồng (Somanniathelphusa dangi) Nghiên
Trang 1910
cứu cũng đã phân tích về đặc điểm hình thái, vị trí phân loại của 4 loài cua thuộc
giống Somnaniathelphusa đã được công bố trước đây [82]
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam
đã đưa ra khóa định loại tới họ bộ Giáp xác mười chân (Decapoda), bao gồm 4 họ là Palaemonidae, Atyidae, Parathelphusidae, Potamidae [21]
Công trình chuyên khảo “Tôm, cua nước ngọt Việt Nam” của Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2012) đã đưa ra khóa định loại gồm 42 loài tôm và 35 loài cua được ghi nhận cho khu hệ Việt Nam thuộc các họ Palaemonidae, Atyidae, Parathelphusidae, Potamidae Họ Tôm càng (Palaemonidae) có 22 loài được ghi nhận trong khóa định loại và xác định vùng phân bố Trong đó, khu vực duyên hải
Nam Trung Bộ ghi nhận 4 loài là Tôm càng Hải Nam (Macrobrachium hainanense), Macrobrachium lanchesteri, Tôm càng (Macrobrachium nipponense), Macrobrachium rosenbergii Họ Tôm riu (Atyidae) có 20 loài được ghi nhận Trong
đó, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ ghi nhận 5 loài là Tôm riu (Caridina acuticaudata), Caridina flavilineata, Caridina gracilirostris, Tôm riu (Caridina subnilotica), Atyopsis moluccensis Họ Cua đồng (Parathelphusidae) có 9 loài được
ghi nhận Trong đó, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ không ghi nhận loài nào Họ Cua suối (Potamidae) có 20 loài được ghi nhận Trong đó, khu vực duyên hải Nam
Trung Bộ ghi nhận 4 loài là Balssipotamon fruhstorferi, Balssipotamon ungulatum, Hainanpotamon auriculatum, Tiwaripotamon annamensis, Vietopotamon aluoiensis, Villopotamon thaii Đây là công trình không những đưa ra khóa phân
loại đến loài của 77 loài tôm cua nước ngọt tại Việt Nam mà còn đưa ra tổng hợp về phân bố của chúng theo các khu vực địa lý [27]
Nghiên cứu của Đỗ Văn Tứ (2014) đã cho rằng khu hệ cua ở Việt Nam có mức độ đa dạng và đặc hữu cao với 49 loài đã được ghi nhận, trong đó có tới 42 loài mới chỉ được ghi nhận ở Việt Nam Ngoài ra, nhiều loài cua nước ngọt còn chưa được mô tả hay chưa được khám phá, trong khi có tới 10% trong tổng số loài đã biết đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Như vậy, theo kết quả nghiên cứu này,
Trang 20định được tổng số 23 loài tôm thuộc các giống Alpheopsis, Synalpheus và Alpheus Trong đó, có 2 loài mới được ghi nhận cho khu hệ thuộc giống Alpheopsis và Alpheus Nghiên cứu cũng đã xác định trong 23 loài ghi nhận có 3 loài đặc hữu của
Việt Nam; 2 loài phổ biến; 4 loài phân bố tại vùng quần đảo Ma-lay và Ấn Độ Dương; 1 loài phân bố tại Việt Nam, vùng quần đảo Ma-lay và vùng biển Tây Thái Bình Dương; 13 loài còn lại phân bố rộng rãi tại vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Như vậy, có thể thấy khu hệ tôm thuộc họ Alpheidae tại khu vực nghiên cứu có tính tương đồng cao so với khu hệ thuộc quần đảo Ma-lay và có địa động vật học là một phần của khu hệ Ấn Độ - Mã Lai [79]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chung và cộng sự (1982) khi điều tra tổng hợp sinh vật đáy vùng biển Thuận Hải - Minh Hải đã ghi nhận 30 loài tôm thuộc họ
Penaiedea với nhiều loài có giá trị kinh tế như Penaeus merguiensis, Penaeus japonicus, Penaeus semisulcatus, Tôm sú (Penaeus monodon), Tôm đất (Metapenaeus ensis) [29]
Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995) đã công bố “Danh mục tôm biển Việt Nam” Đây được coi là công trình công bố tương đối đầy đủ, dễ dàng tra cứu ở thời điểm bấy giờ với các synonym chủ yếu, thường gặp, thông số kích thước, phân bố, môi trường sống [29]
Công trình chuyên khảo về khu hệ động vật đáy vịnh Nha Trang, Nam Việt Nam của Britayev và cộng sự (2012) đã đưa ra các mô tả về các nhóm động vật biển không xương sống tại khu vực Đối với nhóm Giáp xác mười chân tập trung vào nhóm cua có giá trị kinh tế và những loài phân bố trong rừng ngập mặn Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 26 loài cua, thuộc 10 họ tại Đầm Bảy (Vịnh Nha Trang,
Trang 21(Linnaeus, 1758) [43]
Nghiên cứu về phương pháp thu mẫu Giáp xác mười chân có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2004), Nguyễn Quang Hùng (2010), Hoàng Ngọc Khắc (2010) [7, 8, 22] Trong đó nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2004) đã đưa ra phương pháp thu mẫu định tính động vật đáy nói chung bằng cách dùng vợt ao sục vào các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các đám cây thủy sinh sống nổi trên mặt nước Đối với thu mẫu định lượng bằng gầu Petersen với diện tích ngoạm bùn của gầu là 0,025m2, mỗi điểm thu 4 gầu Ở những nơi nước nông, vùng ven bờ, động vật đáy được thu bằng lưới Subber, kích thước 50 x 50 cm [22] Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hùng (2010), Hoàng Ngọc Khắc (2010) đã đưa ra phương pháp thu mẫu định tính và định lượng đối với vùng
bờ sông, khu vực bãi triều, rừng ngập mặn Cụ thể, thu mẫu định tính Giáp xác mười chân bằng các dụng cụ có thể sử dụng như cào đáy, lưới vét, te, đăng, đó, bắt bằng tay, bằng dầm đào sâu 20 - 30cm hoặc hơn nữa để thu mẫu trong hang và dưới nền đáy Mẫu định tính còn được thu bằng cách thu mua của ngư dân đánh cá, giã tôm và ở chợ địa phương Mẫu định lượng được thu bằng tay, vợt lưới trong ô định lượng 1m2
(1 x 1m) [7, 8]
Ngoài các nghiên cứu về phân loại, hệ thống học, địa động vật học, nghiên cứu về sinh thái học và ứng dụng vào thực tiễn của Giáp xác mười chân cũng được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này có thể kể đến
Trang 2213
nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2004) đã xây dựng phương pháp giám sát môi trường nước ngọt bằng động vật không xương sống Trong đó có sử dụng một số họ của bộ Giáp xác mười chân để đánh giá chất lượng môi trường nước [22]
Nghiên cứu về sinh thái học và nhân nuôi chủ yếu tập trung vào các loài
Giáp xác mười chân có giá trị kinh tế như Tôm sú (Penaeus monodon), Cua đồng (Somanniathelphusa germaini), Cua xanh (Scyllla spp.) [10, 34, 35]
Trong giai đoạn gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến bộ Giáp xác mười chân, cả ở nước ngọt và nước lợ, mặn Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:
Công trình nghiên cứu về Giáp xác mười chân nước ngọt có thể kể đến nghiên cứu của Ngô Xuân Nam (2014) về đa dạng sinh học động vật không xương sống ở nước tại Khu bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã ghi nhận 15 loài Giáp xác mười chân thuộc 4 giống, 3 họ là Parathelphusidae, Palaemonidae, Atyidae có giá trị bảo tồn và các loài đặc hữu cho vùng đồng bằng
Nam Bộ và Tây Nguyên như: Macrobrachium mekongense, Macrobrachium secamanense và Somanniathelphusa germaini [15]
Nghiên cứu của Lê Danh Minh (2018) về thành phần loài và đặc trưng phân
bố của giáp xác nước ngọt (Crustacea) ở khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã ghi nhận 16 loài Giáp xác mười chân thuộc bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) Trong đó, ghi nhận 10 loài tôm, 6 loài cua thuộc 8 giống, 5 họ Có số lượng loài nhiều nhất là họ Tôm càng sông (Palaemonidae) với 7 loài ; họ Tôm riu (Atyidae) và Cua suối (Potamidae) mỗi họ 3 loài; họ cua đồng (Parathelphusidae)
có 2 loài và họ rạm (Varunidae) có 1 loài Kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 11 loài cho khu hệ Giáp xác mười chân ở các thủy vực vùng núi đá vôi Vườn quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng, bao gồm 7 loài tôm: Tôm riu (Caridina subnilotica), Caridina tonkinensis, Macrobrachium phongnhaense, Tôm càng Hải Nam (Macrobrachium hainanense), Macrobrachium javanicum, Macrobrachium yeti, Macrobrachium mieni; 4 loài cua: Indochinamon phongnha, Nemoron nomas, Cua
Trang 2314
đồng (Somanniathelphusa pax), Vilopotamon sp.) Trong số 16 loài tôm, cua đã
được xác đinh ở khu vực nghiên cứu có 7 loài được xem là loài đặc hữu của Việt
Nam, gồm có: Tôm riu (Caridina subnilotica), Caridina auticaudata, Macrobrachium phongnhaense, Indochinamon phongnha, Nemoron nomas, Villopotamon sp., Cua đồng (Somanniathelphusa pax) [12]
Về công trình nghiên cứu về Giáp xác mười chân nước lợ, mặn có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận và Cao Thị Thanh Hà (2008) về thành phần họ Tôm he (Penaeidae) ở vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi đã xác định được 33 loài
thuộc 7 giống Trong đó, giống Penaeus có só loài nhiều nhất với 9 loài So sánh
kết quả nghiên cứu với toàn quốc (46 loài), nhận thấy thành phần loài tôm he tại vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi có tính đa dạng cao, cao hơn so với vùng biển Nam
Bộ (29 loài), nhưng thấp hơn so với vùng biển Bắc Bộ (35 loài) [28]
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hùng và cộng sự (2010) về đa dạng sinh học một số vùng rừng ngập mặn điển hình tại Việt Nam là rừng ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; xã Hưng Hoà, Vinh, tỉnh Nghệ An; xã Long Sơn, Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Vườn quốc gia mũi Cà Mau thuộc địa phận xã Đất Mũi, xã Viên An (huyện Ngọc Hiển) và xã Đất Mới (huyện Năm Căn), tỉnh Cà Mau đã ghi nhận tổng số 103 loài Giáp xác mười chân thuộc 18 họ Trong
đó, nhóm tôm có 51 loài thuộc 8 họ; nhóm cua, ghẹ có 52 loài thuộc 10 họ Kết quả nghiên cứu không phát hiện thấy có sự sai khác nhiều về cấu trúc thành phần loài giữa các khu vực địa lý từ Bắc tới Nam [7]
Kết quả điều tra của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2014) về đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam đã thống kê được 108 loài, 41 giống, 16
họ thuộc giáp xác thuộc bộ Giáp xác mười chân Trong đó, nhóm tôm (Macrura) ghi nhận 27 loài thuộc 6 giống, 4 họ là họ Tôm gõ mõ (Alpheidae), họ Tôm gai (Palaemonidae), họ Tôm he (Penaeidae), họ Tép moi (Sergestidae); nhóm cua (Brachyura) ghi nhận 81 loài thuộc 35 giống, 12 họ Trong tổng số 16 họ, họ Cua cát (Ocypodidae) có số lượng loài nhiều nhất với 35 loài, tiếp đến là họ Cua vuông (Grapsidae) với 20 loài, họ Tôm he (Penaeidae) có 18 loài, các họ còn lại có từ 1 - 9 loài [14]
Trang 2415
Kết quả nghiên cứu của Ngô Xuân Nam (2017) tại khu vực ven biển tỉnh
Thái Bình đã xác định được 22 loài Giáp xác mười chân thuộc 19 giống, 10 họ
Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 10 loài thuộc 7 giống, 4 họ; nhóm cua ghi nhận 12
loài thuộc 12 giống, 10 họ Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ số loài thuộc
nhóm tôm và nhóm cua gần tương đương nhau [18]
Bảng 1.1 Số lượng họ, giống, loài Giáp xác mười chân nước lợ, mặn
trong một số nghiên cứu
So sánh kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Hùng và cộng sự (2010) với
kết quả điều tra của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2014) (Bảng 1.1) có sự sai khác về
tỷ lệ số loài giữa nhóm tôm và nhóm cua Nếu như kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Quang Hùng và cộng sự thì tỷ lệ giữa số loài của nhóm tôm và nhóm cua gần như
tương đương trong khi đó kết quả điều tra của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2014),
kết quả ghi nhận nhóm cua có số loài nhiều hơn 3 lần (27 loài thuộc nhóm tôm và
81 loài thuộc nhóm cua) Điều này có thể lý giải bởi số điểm, tuyến thu mẫu, giới
hạn của hai nghiên cứu độc lập với nhau Kế thừa cả hai nghiên cứu, ước tính có
khoảng 130 loài Giáp xác mười chân nước lợ và mặn tại Việt Nam đã được ghi
nhận
Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài bộ Giáp xác mười chân tại sông có
thể kể đến nghiên cứu của Hoàng Ngọc Khắc (2010) tại sông Hồng (từ Phú Thọ đến
cửa Ba Lạt) trong 7 đợt thu mẫu đã xác định được 97 loài thuộc 50 giống, 22 họ
Thành phần loài Giáp xác mười chân bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ nhạt,
Trang 2516
nước lợ và nước lợ mặn Về yếu tố địa động vật, số loài Giáp xác mười chân mang yếu tố cận nhiệt đới (Trung Hoa - Nhật Bản) nhiều hơn số loài mang yếu tố phân bố rộng và yếu tố nhiệt đới (Ấn Độ - Mã Lai) Số loài Giáp xác mười chân tăng dần từ vùng nghiên cứu Phú Thọ đến cửa Ba Lạt Ở vùng cửa sông, ven biển, rừng ngập mặn có sự đa dạng loài Giáp xác mười chân cao nhất đối với cả nhóm tôm và nhóm cua [8]
Nghiên cứu của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2013) đã xác định được tại khu vực sông Mã từ huyện Mường Lát đến khu vực 3 cửa sông là cửa Hới, cửa Lạch Trường, cửa Lạch Sung tại 18 điểm thu mẫu ghi nhận 47 loài thuộc 21 giống, 10 họ thuộc bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 31 loài thuộc 10 giống, 5 họ; nhóm cua ghi nhận 16 loài thuộc 11 giống, 5 họ Về thành phần loài theo độ mặn, các loài nước ngọt và lợ nhạt ghi nhận 12 loài nhóm tôm thuộc 5 giống 2 họ là họ Tôm riu (Atyidae) và Tôm càng (Palaemonidae); 6 loài nhóm cua thuộc 4 giống 2 họ là họ Cua đồng (Parathelphusidae) và Cua suối (Potamidae) Các loài nước lợ vừa đến lợ mặn, nhóm tôm ghi nhận 19 loài, thuộc 5 giống, 3 họ là họ Alpheidae, họ Tôm he (Penaeidae), họ Tép moi (Sergestidae); nhóm cua ghi nhận 10 loài, thuộc 7 giống, 3 họ là họ Cua vuông (Grapsidae), họ Cua bơi (Portunidae) và họ Cua cát (Ocypodidae) [13]
Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài bộ Giáp xác mười chân tại hạ lưu sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị của Hoàng Đình Trung (2012) tại 12 điểm đã xác định được 18 loài thuộc 11 giống, 4 họ Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 12 loài thuộc 7 giống, 2 họ là họ Tôm riu (Atyidae) và họ Tôm càng (Palaemonidae); nhóm cua ghi nhận 6 loài thuộc 4 giống 2 họ là họ Cua đồng (Parathelphusidae) và Cua suối (Potamidae) Tất cả các loài ghi nhận đều là loài nước ngọt [31]
Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài bộ Giáp xác mười chân tại sông Truồi, tỉnh Thừa Thiên Huế của Hoàng Đình Trung (2015) tại 7 điểm thu mẫu đã xác định được 8 loài thuộc 5 giống, 4 họ Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 6 loài thuộc các giống Macrobrachium (4 loài), Palaemonetes (1 loài), Caridina (1 loài), Somanniathelphusa (1 loài), Varuna (1 loài) Trong nghiên cứu này, số lượng của
Trang 2617
các loài Giáp xác mười chân ghi nhận không nhiều Lý do có thể do số lượng điểm thu mẫu không nhiều (7 điểm) và cũng có thể do số lượng các loài Giáp xác mười chân ở khu vực này không nhiều, bởi vì số lượng các nhóm còn lại, đặc biệt là côn trùng nước rất nhiều (27 loài) [32]
Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài bộ Giáp xác mười chân tại sông Ba Lai, tỉnh Bến Tre của Nguyễn Minh Lưu và cộng sự (2017) tại 24 điểm thu mẫu đã xác định được 10 loài thuộc 9 giống, 7 họ Thành phần loài Giáp xác mười chân tại khu vực nghiên cứu có 4 loài thuộc 4 giống thuộc họ Tôm càng (Palaemonidae) và
họ Cua đồng (Parathelphusidae) thuộc môi trường nước ngọt, lợ nhạt; 6 loài thuộc 5 giống thuộc các họ Upogebiidae, họ Cua bơi (Portunidae), họ Rạm (Varunidae), họ Cua cát (Ocypodidae) và họ Goneplacidae thuộc môi trường nước lợ và mặn Tại khu vực sông Ba Lai, các loài thuộc bộ Giáp xác mười chân (Decapoda) không chiếm ưu thế trong quần xã giáp xác cỡ lớn [11]
Như vậy, có thể thấy trong nhiều năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu
về Giáp xác mười chân nước ngọt, nước lợ, nước mặn tại Việt Nam Các công trình nghiên cứu về phân loại học đã thống kê được nhiều loài giáp xác trên các vùng nghiên cứu khác nhau tại Việt Nam Ngoài các nghiên cứu về phân loại học, địa động vật còn có các nghiên cứu về sinh thái học, sinh học ứng dụng nuôi trồng của Giáp xác mười chân
1.3 Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mười chân tại sông Trường Giang
Đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu liên quan đến bộ Giáp xác mười chân tại sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam đã công bố, có các bài báo từ kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cấp Quốc gia: Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam
Ngô Xuân Nam và cộng sự (2017) đã đưa ra dẫn liệu bước đầu về thành phần loài động vật đáy tại sông Trường Giang và vùng phụ cận tại tỉnh Quảng Nam Trong đó đã thống kê được 23 loài tôm, cua thuộc bộ Giáp xác mười chân thuộc các
Trang 2718
họ Atyidae (1 giống, 7 loài), họ Palaemonidae (2 giống, 11 loài), họ Portunidea (2
giống, 5 loài) [16]
Ngô Xuân Nam (2017) đã đưa ra dẫn liệu bước đầu về thành phần loài động
vật đáy tại khu vực cửa An Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Trong đó đã
thống kê được 29 loài động vật đáy thuộc 18 giống, 14 họ, 10 bộ với nhiều loài
thuộc bộ Giáp xác mười chân có giá trị kinh tế như các loài tôm hùm (Panulirus
spp.), Tôm sú (Penaeus monodon), các loài ghẹ (Portunus spp.) [17]
1.4 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Sông Trường Giang có tổng chiều dài 67 km, có tọa độ từ 15°29'45.76" đến
15°50'22.28" vĩ độ Bắc, từ 108°21'5.15" đến 108°39'34.97" kinh độ Đông Sông
chạy dài từ Bắc xuống Nam, lần lượt đi qua các huyện Duy Xuyên, huyện Thăng
Bình, thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, song song với đường bờ biển Đoạn
phía Nam có khoảng cách đến bờ biển khoảng 2km, đoạn phía Bắc khoảng cách
rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km [37]
1.4.1.2 Địa hình và cấu tạo nền đáy
Cao độ lòng sông phổ biến từ (-2,20) đến (-3,00)m, cá biệt có nhiều đoạn
dòng sông thu hẹp do các công trình vượt sông, do người dân lấn dòng để nuôi
trồng thủy sản và bị bồi rất nhiều nên dòng chảy rất nhỏ, đặc biệt trong mùa cạn kéo
dài tới 8 tháng Các bãi cạn đa số kéo dài 2 - 3 km, chỗ cạn nhất mực nước chỉ đạt
0,4 - 0,6 m, nhiều đoạn sông hẹp [37]
Nền đáy sông Trường Giang chủ yếu là cát pha, bùn sét, sét pha, một số đoạn
là bùn cát, bùn Phần lớn các vị trí có nền đáy là cát thường ít chứa chất hữu cơ,
ngược lại các vị trí có nền đáy là bùn sét thường có chứa chất mùn hữu cơ Đặc biệt,
tại khu vực đập Cổ Linh, do hoạt động lấn dòng nuôi tôm nên bùn đáy tại đây có
nhiều chất hữu cơ [1]
Trang 2819
1.4.1.3 Khí hậu, thời tiết
Chế độ nhiệt
Trong giai đoạn nghiên cứu, số liệu 7 năm đo tại trạm Tam Kỳ từ 2011 -
2017, nhiệt độ trung bình năm từ 25,1°C đến 26,3°C (Hình 1.1)
Hình 1.1 Nhiệt độ trung bình các năm từ 2011 - 2017
Nguồn: Trạm quan trắc khí tượng Tam Kỳ, 2011 - 2017 [30]
Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận vào năm 2011 và cao nhất ghi nhận vào năm
2012 Nhưng năm gần đây, nhận thấy nhiệt độ trung bình có xu hướng giảm nhẹ
Số giờ nắng
Trong thời kỳ này, tổng số giờ nắng trong năm tại khu vực nghiên cứu đạt trung bình 1.973 giờ/năm Tổng số giờ nắng trong năm tại khu vực này ở mức trung bình so với cả nước, nhiều hơn so với Hà Nội (khoảng 1.466 giờ/năm) và ít hơn so với thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 2.486 giờ/năm)
Theo số liệu quan trắc, năm có tổng số giờ nắng lớn nhất là năm 2015 với 2.272 giờ, năm có giờ nắng thấp nhất là năm 2011 với 1.718 giờ (Hình 1.2)
Tổng số giờ nắng qua các năm biến đổi với phức tạp hơn Một số năm tổng
số giờ nắng khá thấp so với trung bình toàn thời kỳ, như năm năm 2011 đạt giá trị 1.718 giờ; năm 2013 đạt giá trị 1.847 giờ Trong khi đó năm 2012, 2014, 2015, tổng
số giờ nắng cao hơn so với tổng số giờ nắng trung bình
Trang 2920
Hình 1.2 Tổng số giờ nắng trong năm giai đoạn 2011 - 2017
Nguồn: Trạm quan trắc khí tượng Tam Kỳ, 2011 - 2017 [30]
Độ ẩm không khí
Độ ẩm trung bình từ năm 2011 đến năm 2017 từ 85 đến 88% Độ ẩm không khí của các tháng 5,6,7,8 thấp hơn so với các tháng còn lại trong năm Độ ẩm cao vào các tháng 9,10,11,12 Nguyên nhân do tại Quảng Nam, mùa mưa thường từ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12
Giá trị độ ẩm trung bình các tháng trong năm được trình bày tại Hình 1.3
Hình 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm giai đoạn 2011 - 2017
Nguồn: Trạm quan trắc khí tượng Tam Kỳ, 2011 - 2017 [30]
Trang 3021
Tại khu vực nghiên cứu, độ ẩm trung bình tháng cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu là vào tháng 12, với 91,7%; thấp nhất là tháng 7, chỉ đạt 77,6% (Hình 1.3) Thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 ở khu vực này trùng với mùa mưa nên độ
ẩm cao, khác biệt với mùa đông lạnh khô ở miền khí hậu phía Bắc và mùa khô ở miền khí hậu phía Nam từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên bắt đầu từ tháng 1, lượng mưa giảm mạnh, nhưng độ ẩm vẫn ở mức cao
Nếu so sánh biến thiên nhiệt độ năm so với biến độ ẩm năm, tháng nhiệt độ cao dẫn đến độ ẩm thấp và ngược lại; còn nếu so sánh độ ẩm với lượng mưa thì chỉ tương đồng với các tháng từ tháng 9 đến tháng 12 Như vậy theo số liệu thống kê và kết quả nghiên cứu của báo cáo này, có thể nhận xét được rằng biến thiên của độ ẩm tại khu vực này phụ thuộc nhiều hơn vào biến thiên nhiệt
Lượng mưa
Chế độ mưa tại khu vực sông Trường Giang mang những đặc điểm chung cơ bản của vùng đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ Chế độ mưa theo mùa: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 Riêng tháng 5 và tháng 6 xuất hiện đỉnh mưa phụ [1, 6]
Tổng lượng mưa trong giai đoạn nghiên cứu 7 năm từ năm 2011 - 2017 tại trạm Tam Kỳ trung bình 2.715,6mm/năm
Tổng lượng mưa năm đều trên 2.000mm, một số năm tổng lượng mưa đạt trên 3.000m như năm 2011 đạt 3.456,4mm và năm 2016 đạt 3.448,9mm Thấp nhất
là năm 2012, tổng lượng mưa chỉ đạt 2.068,4mm
Theo số liệu quan trắc, dễ nhận thấy được lượng mưa đang có xu hướng giảm trong những năm 2012 - 2015, xuống thấp hơn mức trung bình, hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra mạnh hơn Sang năm 2016, lượng mưa lại tăng cao trở lại đạt 3.448,9mm (Hình 1.4)
Số ngày mưa được quan trắc trong giai đoạn nghiên cứu đạt trung bình 154 ngày/năm Tổng số ngày mưa biến đổi gần như tương đồng với tổng lượng mưa Tuy nhiên, một số năm có lượng mưa cực lớn nhưng số ngày mưa chênh với chỉ số trung bình không nhiều như năm 2016 Tuy tổng lượng mưa đạt giá trị 3.448,9mm,