Pham Thi Goi 1 §¹I HäC TH¸I NGUY£N ĐẠI HỌC NÔNG LÂM �� PH¹M THÞ GéI NGHI£N CøU TRåNG vµ Sö DôNG BéT Cá STYLO TRONG CH¡N NU¤I Gµ THÞT LUËN V¡N TH¹C SÜ KHOA HäC N¤NG NGHIÖP TH¸I NGUY£N 2010 2 MỞ ĐẦU Bé[.]
Trang 1§¹I HäC TH¸I NGUY£N ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
PH¹M THÞ GéI
NGHI£N CøU TRåNG vµ Sö DôNG BéT
Cá STYLO TRONG CH¡N NU¤I Gµ THÞT
LUËN V¡N TH¹C SÜ KHOA HäC N¤NG NGHIÖP
TH¸I NGUY£N - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
Bé GI¸O DôC §µO T¹O
§¹I HäC TH¸I NGUY£N
- -
PH¹M THÞ GéI
NGHI£N CøU TRåNG vµ Sö DôNG BéT
Cá STYLO TRONG CH¡N NU¤I Gµ THÞT
CHUY£N NGHµNH: CH¡N NU¤I
M" Sè: 60 62 40
LUËN V¡N TH¹C SÜ KHOA HäC N¤NG NGHIÖP
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: 1. 1 1 TS TS TS Tr−¬ng H÷u Dòng Tr−¬ng H÷u Dòng Tr−¬ng H÷u Dòng
2 PGS.TS Phan §×nh Th¾m 2 PGS.TS Phan §×nh Th¾m
TH¸I NGUY£N - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được bảo vệ ở một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm
ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi
rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và điạ phương Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y cùng tập thể các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo
hướng dẫn: TS Trương Hữu Dũng và PGS.TS Phan Đình Thắm
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thạc sĩ Hồ Thị Bích Ngọc tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ của các em sinh viên giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010
Tác giả
Phạm Thị Gội
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các biểu đồ và đồ thị
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 10
3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 10
3.1 Ý nghĩa khoa học 10
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ stylo 11
1.1.1 Nguồn gốc 11
1.1.2 Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo 11
1.2 Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá giống cỏ 13
1.2.1 Năng suất chất xanh 13
1.3 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi 19
1.3.1 Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá 19
1.3.2 Giá trị dinh dưỡng của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi 20
1.3.3 Các hạn chế của bột lá bột cỏ đối với vật nuôi 23
1.3.4 Vai trò của bột lá bột cỏ trong sinh trưởng của gia cầm thịt 23
1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm 26
1.4.1 Nguồn gốc và vài nét về giống gà lương phượng 26
Trang 61.4.2 Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn 27
1.4.2.1 Khả năng sinh trưởng của gà 27
1.4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng 28
1.4.3 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt 32
1.4.3.1 Năng suất thịt 33
1.4.3.2 Chất lượng thịt 34
1.4.4 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 35
1.5 Tình hình nghiên cứu trồng, sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi 36
1.5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 36
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 43
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 47
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 47
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 47
2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 47
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.2.1 Xác định ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến năng suất và chất lượng của cỏ stylo 48
2.2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột cỏ stylo trong khẩu phần đến tốc độ sinh trưởng gà thịt 52
2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 57
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 58
3.1 Xác định ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến năng suất và chất lượng của cỏ Stylo 58
3.1.1 Tình hình thời tiết, khí hậu trong năm 2009 ở vùng thí nghiệm 58
3.1.2 Thành phần hoá học của đất trước thí nghiệm 60
3.1.3 Khả năng sinh trưởng và tái sinh của cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 61
3.1.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón đến năng suất xanh của cỏ Stylo 63
Trang 73.1.5 Ảnh hưởng của các mứa phân bón đến thành phần hoá học của cỏ Stylo 64
3.1.6 Ảnh hưởng của thời điểm cắt khác nhau đến thành phần hoá học của cỏ Stylo 66
3.1.7 Năng suất vật chất khô, Protein thô của cỏ thí nghiệm ở các mức phân bón khác nhau 68
3.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột cỏ stylo trong khẩu phần đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của đàn gà thí nghiệm 71
3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 71
3.2.2 Khả năng sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 72
3.2.2.1 Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm 72
3.2.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm 75
3.2.2.3 Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm 77
3.2.3 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 79
3.2.4 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP) cho 1 kg tăng khối lượng 80
3.2.5 Chỉ số sản xuất PI (Performance Index) của đàn gà thí nghiệm 82
3.2.6 Năng suất thịt của đàn gà thí nghiệm 84
3.2.7 Thành phần hoá học của thịt gà thí nghiệm 86
3.2.8 Sơ bộ hạch toán kinh tế đàn gà thí nghiệm 88
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Đề nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
I Tiếng việt 2
II.Tiếng Anh 8
III Các trang Website 10
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Công thức phân bón 48
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 49
Bảng 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm gà Lương Phượng nuôi thịt 52
Bảng 2.4: Thành phần và giá trị dinh dưỡng cám gà thịt lông mầu 53
Bảng 3.1: Số điều kiện thời tiết khí hậu vùng thí nghiệm năm 2009 58
Bảng 3.2: Thành phần hoá học của đất trước thí nghiệm 60
Bảng 3.3: Chiêu cao sinh trưởng và tái sinh của cỏ Stylo (cm) 61
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các mức phân bón đến năng suất xanh của cỏ Stylo 63
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các mức phân bón đến thành phần hoá học của cỏ 65
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời gian thu cắt khác nhau đến thành phần hoá học của cỏ (n=3) 66
Bảng 3.7: Năng suất vật chất khô và protein thô của cỏ Stylo (tấn/ha/lứa) 68
Bảng 3.8: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 71
Bảng 3.9: Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 73
Bảng 3.10: Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm (g/con/ngày) 75
Bảng 3.11: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 77
Bảng 3.12: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của đàn gà thí nghiệm (kg) 79
Bảng 3.13: Tiêu tốn Protein thô/kg tăng khối lượng (gr) 81
Bảng 3.14: Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (Kcal) 81
Bảng 3.15: Chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm 82
Bảng 3.16: Kết quả mổ khảo sát đàn gà thí nghiệm lúc 70 ngày tuổi 85
Bảng 3.17: Thành phần hoá học của gà thí nghiệm lúc 70 ngày tuổi 87
Bảng 3.18: Sơ bộ hạch toán kinh tế nuôi gà Lương Phượng thịt thương phẩm 88
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang
Biểu đồ 3.1: Diễn biến nhiệt độ trung bình/tháng, lượng mưa trung bình/tháng
của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 59
Biểu đồ 3.2: Chiều cao sinh trưởng và tái sinh của cỏ Stylo (cm) 62
Biểu đồ 3.3: Năng suất chất xanh của cỏ Stylo ở các lứa cắt (tấn/ha/lứa) 64
Biểu đồ 3.4: Năng suất vật chất khô của cỏ thí nghiệm (tấn/ha/lứa) 69
Biểu đồ 3.5: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 76
Biểu đồ 3.6: Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm 78
Biểu đồ 3.7: Chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm 84
Đồ thị 3.1: Năng suất protein thô của cỏ Stylo (tấn/ha/lứa) 70
Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm 75
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc sản xuất bột cỏ, bột lá thực vật và phối hợp chúng vào thức ăn hỗn hợp của gia súc gia cầm được thực hiện nhiều trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển, bởi vì bột lá thực vật không chỉ có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi, mà còn góp phần hạ giá thành sản phẩm Ở một số nước trên thế giới việc sản xuất bột lá thực vật đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến bột lá thực vật như: Thái Lan, Ấn Độ… Qua nhiều nghiên cứu ở trên thế giới và trong nước, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn bột lá thực vật thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn và mức độ an toàn thực phẩm cao hơn so với sử dụng các chế phẩm để tạo màu khác Thức ăn chiếm trên 72% giá thành sản phẩm chăn nuôi và càng ngày nó càng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng, an toàn thực phẩm cho con người và an toàn môi trường sinh thái Mặc dù quan trọng như vậy, nhưng đến nay, các nghiên cứu tìm ra các loại cây thức ăn có
tiềm năng để sản xuất bột lá, bột cỏ cho chăn nuôi chưa nhiều
Stylo là cây họ đậu, là loại cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, ít sâu bệnh, có khả năng thích ứng rộng, chịu được khô hạn và ngập úng tạm thời, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và chua, dễ nhân giống Cỏ được sử dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (24%) Ngoài ra, nó còn được trồng xen với cây ăn quả, chè, cà phê để cải tạo đất, che phủ đất và chống xói mòn Đối với trâu bò, lợn thì người ta đã chế biến thành bột và sử dụng nó cho những đối tượng này Tuy nhiên, số liệu về việc nghiên cứu sản xuất và bổ sung bột cỏ stylo cho vật nuôi hiện nay còn rất ít,
và đặc biệt cho gia cầm Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu trồng và sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi gà thịt”
Trang 122 Mục tiêu đề tài
- Xây dựng được quy trình trồng cỏ stylo đạt năng suất cao
- Xác định được tỷ lệ bổ sung bột cỏ stylo thích hợp vào khẩu phần ăn của gà thịt
3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài sau khi hoàn thành sẽ có thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của các mức phân bón đến năng suất chất xanh, chất lượng của cỏ Stylosantheis CIAT 184 Vai trò, tác dụng của bột cỏ này đối với năng suất và chất lượng thịt gia cầm
Đồng thời, có thêm công thức thức ăn hỗn hợp với mức bổ sung bột cỏ Stylo hợp lý trong chăn nuôi gà thịt
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng vào thực tế chăn nuôi tại cơ sở, góp phần đưa giống cỏ này vào sản xuất đại trà, tăng nhanh số lượng Cung cấp thông tin cho người chăn nuôi sử dung bột cỏ vào khẩu phần ăn cho gà thịt, nhằm nâng cao chất lượng thịt gà đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng và hạ giá thành sản phẩm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ stylo
1.1.1 Nguồn gốc
Đây là một loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawii, và một số nước châu Phi như
Kenya, Uganda, Nigieria Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam
Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là loại cây thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công - gô, Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, cây cỏ stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia
Các giống stylo đang gieo trồng:
Stylosanthes guianensis (common stylo): cây lâu năm
Stylosanthes hamata (Caribbcan stylo): cây hàng năm
Stylosanthes scabra (Shrubby stylo): cây lâu năm
Stylosanthes humilis (Townsville stylo): cây hàng năm
1.1.2 Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo
Stylo là cỏ lâu năm, có loại hàng năm, thân thô, đứng hoặc bò, cao tới 1m, ở khí hậu ẩm có thể tới 1,5m Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu xanh sẫm hoặc tím Bộ rễ ăn sâu dưới đất đến 70 phân Rễ phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng nên có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập, chống xói mòn rất tốt Lá chẻ ba, dài hẹp và nhọn, đầu tày; có lông, có nhiều hoặc ít lông mềm Lá dài 2 - 3cm rộng 5 - 10mm, tỷ lệ lá/thân = 5/7 Loài nhập nội không có vòi cuốn Những chồi thẳng có đốt ngắn, lá nhiều hơn cành
Trang 14ngang, hoa hình bông cuốn không sát nhau, thường có 70 - 1200 chùm, trên mỗi chùm có 5 - 9 hoa Qủa đậu không có cuống, gồm 7 - 8 hạt có vỏ cứng, màu xám đen trọng lượng 1000 hạt khoảng 5 - 6 gam Cây non mới mọc từ hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và bị sâu hại trong 3 - 4 tháng đầu sau khi gieo Nếu gieo vào cuối mùa khô thì sau khi gieo cây non phát triển nhanh, 5 -
6 tháng cây cao 1m hay hơn
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới Là cây
có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa từ
1500 - 2500mm Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm Tuy nhiên, với lượng mưa 650mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng rất kém Độ ẩm không khí thích hợp là 70 - 80% Cỏ Stylo cũng có thể chịu được ngập tạm thời, ở những nơi quá ẩm năng suất cỏ cũng bị giảm Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt độ không khí trong khoảng
20 - 350C Nhiệt độ thích hợp cho cỏ Stylo sinh trưởng phát triển là 15,50C Khi nhiệt độ dưới 50C và trên 400C cây phát triển kém Khi thiếu ánh sáng cỏ Stylo bị giảm năng suất Cỏ Stylo có thể mọc được trên nhiều loại đất khác nhau: chua nghèo dinh dưỡng và có thể trồng xen với các cây ăn quả, chè, cà phê Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giầu đạm để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, có thể vừa trồng bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại cây chịu được khô hạn, không chịu được đất bị úng ngập Đây
là loại cỏ có khả năng chịu bóng kém, vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác Cỏ này có thể thích nghi với nhiều loại đất Nó có thể phát triển được trên đất axít và có khả năng chịu úng tương đối tốt Cỏ có khả năng chịu giẫm đạp nên có thể dùng để chăn thả tuy nhiên chỉ ở mức chăn thả vừa phải, thường thì đậu stylo được gieo xen với cỏ ghinê hay pangola để chăn thả [72]
Trang 15Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay
cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Năng suất xanh đạt 40 - 50 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, mỡ 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt
là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và Cs) [36]
1.2 Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá giống cỏ
Trong quá trình nghiên cứu để đánh giá một giống cỏ tốt hay không tốt trước khi đưa vào sản xuất người ta thường căn cứ vào một số yếu tố chính sau:
1.2.1 Năng suất chất xanh
Năng suất chất xanh là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích
Như chúng ta đã biết, cơ thể thực vật và ngoại cảnh có mối quan hệ hết sức khăng khít Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô, làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật Những điều kiện ngoại cảnh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của cỏ đó là:
* Điều kiện khí hậu
Khí hậu bao gồm lượng mưa và sự phân bố lương mưa, ẩm độ không khí, cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong năm Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây trồng
Ánh sáng cung cấp năng lượng để thực vật quang hợp Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng quyết định tới năng lượng nhận được của cây trồng
Trang 16Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cỏ Nhiệt độ quá cao làm cho thực vật bốc hơi mạnh, làm cho cỏ khô héo Nhiệt độ quá thấp làm cho các mạch dẫn các chất dinh dưỡng co lại Các hệ thống men hoạt động kém, cây không phát triển được
Ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lượng mưa, ẩm độ đất ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút các chất dinh dưỡng Ngoài ra nó còn quyết định đến sự phát triển của vi sinh vật đất và độ tơi xốp của đất
* Điều kiện đất đai
Trong điều kiện nhiệt đới, môi trường đất là yếu tố quyết định năng suất
và chất lượng cỏ Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó tính chất vật lý cấu tượng đất sẽ ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng
Đất giầu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ
vi sinh vật hoạt động tốt sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt
Kết cấu đất có ảnh hưởng lớn đến cây trồng Tỷ lệ mùn, cát, sét, sỏi đá khác nhau thì sẽ tạo ra đất có kết cấu khác nhau Đất nhiều mùn, sét, cát, sỏi đá thấp thì đất tươi xốp và vi sinh vật phát triển mạnh thuận lợi cho cây phát triển, còn đất có hàm lượng sét quá nhiều thì đất dí chặt rễ cây kém phát triển [17]
* Điều kiện phân bón
Phân bón là nguồn bổ sung cung cấp chất màu cho đất Lượng phân bón cung cấp cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển, qua trình trao đổi chất của cây trồng Từ đó sẽ dẫn tới sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng Các nhà khoa học đã khẳng định “ Phân bón quyết định trên 50% việc tăng năng suất cây trồng”
Trang 17Bón đầy đủ các chất dinh dưỡng và khoáng vi lượng theo yêu cầu của cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng, tăng lượng vật chất khô trong cây, đặc biệt là các nguyên tố khoáng, điều đó gián tiếp làm tăng năng suất chăn nuôi Khi sử dụng phân bón P K và N P K làm tăng năng suất lên tương ứng 33
và 70% Phân bón P K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân Ngược lại, sự tăng năng suất do nitơ chỉ xảy ra ngay sau khi bón phân một thời gian ngắn Chính vì vậy, người ta
sử dụng đạm một cách hợp lý bằng cách bón rải ra sau các lứa cắt, chu kỳ chăn thả để làm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục tình trạng mùa do điều kiện thời tiết gây nên
+ Phân chuồng (phân hữu cơ): là loại phân không thể thiếu đối với cây trồng Bón phân hữu cơ là biện pháp quan trọng cảì thiện tính chất, tăng độ phì của đất, tạo tiềm năng cho năng suất cao Thành phần phân chuồng có chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng bao gồm dinh dưỡng đa lượng, trung lượng
và vi lượng, giúp cho cây trồng phát triển cân đối hơn Để đảm bảo năng suất cây trồng tăng, đất không bị suy kiệt dinh dưỡng và nền sản suất bền vững thì
sử dụng phân chuồng là điều hết sức cần thiết
+ Phân đạm: Chỉ tiêu đạm tổng số thể hiện tổng số đạm có trong đất Trong điều kiện bình thường 98% đạm tổng số nằm ở dạng hữu cơ Đạm hữu
cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các protit thực vật, còn đạm
vô cơ được phân giải từ đạm hữu cơ Cho nên khi đánh giá hàm lượng đạm trong đất người ta đánh giá chủ yếu thông qua hàm lượng đạm tổng số và đạm
dễ tiêu trong đất Đạm dễ tiêu là đạm ở dạng vô cơ gồm Amôniac, Nitrat, Nitric (NH3, NO - 3, NO2 - - ) và được gọi là đạm dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu ở dạng này
Sản phẩm chính của cỏ là thân và lá do vậy mà đạm là yếu tố không thể thiếu khi sản suất Tuy nhiên khi bón đạm cho cỏ cần bón vừa phải, cân đối thì sẽ làm tăng năng suất, tăng hàm lượng đạm tổng số trong cây, giảm hàm lượng xơ, gia súc dễ ăn và tăng tính ngon miệng
Trang 18Nếu bón nhiều đạm sẽ có hiện tượng cây tích luỹ nhiều Alcaloit, Glucozit làm cho cỏ có vị đắng giảm tính ngon miệng của gia súc Biến không khí thành phân đạm - thiên nhiên đã làm được như thế từ cây họ đậu Ngoài cây họ đậu, tảo lam cũng có khả năng cố định đạm
Khả năng cố định đạm sẽ không thể nếu như không có mặt của các vi sinh vật cố định đạm Trong đó, vi khuẩn nốt sần thuộc loại hiếu khí không tạo bào tử có thể đồng hoá nhiều nguồn cacbon khác nhau, pH thích hợp 6,5 - 6,9, nhiệt độ phát triển thích hợp là 24 - 260C Vi khuẩn nốt sần xâm nhập vào
rễ cây họ đậu thông qua lông hút, đôi khi thông qua vết thương
Nốt sần thích hợp ở các điều kiện: Độ ẩm cuả đất 60 - 70 %; độ thoáng khí: càng nhiều càng tốt, điều này cho thấy rễ càng sâu lượng nốt sần càng kém; pH thích hợp là 4,6 - 8,0; Phân đạm thường ức chế tạo thành nốt sần; Phân lân, kali có tác dụng tích cực; Phân canxi, magie và các muối khác cũng
có tác dụng tốt đến quá trình taọ thành nốt sần
+ Phân lân: Tỷ lệ lân cao trong hạt thấp hơn trong lá, tỷ lệ lân trong cây
bộ đậu cao hơn trong cây hoà thảo Trong cây, lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ có một lượng nhỏ nằm dưới dạng vô cơ Tỷ lệ lân trong đất biến động trong phạm vi từ 0,03 - 0,12% Ở một số đất hình thành trên đá mẹ giàu lân, tỷ lệ lân tổng số lên tới 0,6% Các dạng lân trong đất gồm các dạng lân hữu cơ và dạng vô cơ
Lân vô cơ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống đệm trong tế bào và là nguồn dự trữ cần thiết cho việc tổng hợp lân hữu cơ Lân hữu cơ rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, hút các chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây
+Phân Kaly: Kaly làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bó mạch, làm cho cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ, chống lốp cho cây trồng
Trang 19Kaly còn kích thích hoạt động của các men do đó làm tăng cường hoạt động của trao đổi chất trong cây, tăng cường sự hình thành acid hữu cơ, làm cho cây tăng cường tổng hợp protit Ngoài ra kaly còn tăng khả năng chống rét cho cây và tăng sức đẻ nhánh cho cây
* Thời gian thu cắt
Theo Vũ Duy Giảng và Cs (1997)[7], thức ăn xanh cần thu hoạch đúng thời vụ để đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao Nếu thu hoạch sớm ít xơ, nhiều nước, hàm lượng vật chất khô thấp Ngược lại nếu thu hoạch quá muộn hàm lượng nước giảm, vật chất khô tăng nhưng chủ yếu tăng chất xơ, còn lipit và protein giảm
Thời gian thu cắt có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng của cỏ Nếu cắt quá ít lần/năm thì cỏ sẽ bị già dẫn đến chất lượng kém và ảnh hưởng tới lứa tái sinh sau, ảnh hưởng tới sản lượng cỏ/năm Nếu cắt quá nhiều lứa/năm, cỏ chưa đủ thời gian tích luỹ các chất dinh dưỡng nuôi cây, bộ rễ phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng rễ bị xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng đồng cỏ chóng bị thoái hoá, năng suất, chất lượng giảm
Xác định thời điểm thu cắt hợp lý sẽ khắc phục được cả hai vấn đề trên
Cỏ mềm tỷ lệ tiêu hoá của gia súc cao, hàm lượng Protein thô trong vật chất khô của cỏ sẽ cao hơn và cỏ có khả năng tái sinh tốt Thời gian thu cắt phụ thuộc vào các giống cỏ và mùa vụ
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002) [39], thời gian thu cắt của Cỏ Stylosanhtes gracilis HBK, sau khi trồng 4 - 5 tháng, cây cao 50 - 60 cm cắt lứa đầu, lứa đầu không để già Cắt lần khác sau 60 - 70 ngày ( vụ hè thu) và
90 - 100 ngày (vụ đông xuân) Đối với cỏ Stylo thì thu hoạch lứa đầu khi cỏ trồng được 3 - 4 tháng, khi thảm cỏ đã phủ kín đất và cao thảm 50 - 70 cm Các lứa tái sinh cần được thu cắt khi thảm cỏ được 60 - 80 ngày tuổi và có độ cao 45 - 55cm (nếu thu cắt chất xanh) và độ cao 35 - 45 cm cho chăn thả gia súc Chỉ nên chăn thả gia súc khi thảm cỏ đã thu cắt chất xanh được 2 lứa
Trang 20* Chiều cao của gốc sau khi thu cắt
Chỉ tiêu này cũng ảnh hưởng đến việc tăng sản lượng và chất lượng của giống cỏ Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ, vì phần để lại, còn khi cắt cỏ quá thấp, thì sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau do làm mất phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ mới được Tuỳ thuộc vào từng loại giống cỏ, mà
có độ cao gốc để lại sau khi cắt khác nhau
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002) [39] cho biết độ cao gốc để lại: Đối với cỏ Pangola thì cắt cỏ sát mặt đất, độ cao còn lại không quá 2 cm
Cỏ họ đậu lâu năm (Cỏ Stylosanhtes gracilis KBK) thì cắt lần một cách gốc
10 - 15 cm, các lần sau cắt cách gốc 20 - 25 cm, cắt trên phần thân đã hoá gỗ
1 - 2cm và phải còn lại một ít lá xanh Theo Nguyễn Thị Mùi và Cs (2008) [33] thì độ cao cắt cỏ Stylo là 17 - 20 cm
Đối với cỏ Stylo, độ cao của gốc cỏ còn lại sau khi thu hoạch khoảng 20
- 25 cm là thích hợp cho khả năng mọc tái sinh lại của cỏ [90]
* Cơ sở để đánh giá chất lượng giống cỏ
Chất lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hoá học có trong giống cỏ đó Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một giống cây thức ăn Trên cơ sở đó giúp cho các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc gia cầm một cách hợp lý để chúng sinh trưởng phát triển tốt Thành phần hoá học có trong giống cỏ chủ yếu tập trung ở 3 chỉ tiêu: Vật chất khô (VCK), protein và xơ
Đậu đỗ thức ăn gia súc ở nước ta thường giàu protein, vitamin và khoáng, Ca, Mg, Mn, Zn, Cu, Fe, nhưng ít phốt pho, kali hơn cỏ hoà thảo Tuy vậy, hàm lượng protein thô trong thân lá cây đậu đỗ trung bình 167g/kg vật chất khô, xấp xỉ giá trị trung bình của đậu đỗ nhiệt đới và thấp hơn giá trị của đậu đỗ ôn đới (175g/kg vật chất khô), hàm lượng chất khô 200 - 260 g/kg thức ăn, giá trị năng lượng cao hơn cỏ hoà thảo [16]
Trang 21Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô và năng suất protein cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, trong đó chỉ tiêu protein được chú trọng nhiều hơn cả Ngoài ra, thức ăn thực vật là nguồn cung cấp hàm lượng caroten là chủ yếu cho gia súc gia cầm Các giống cây họ đậu bao giờ cũng cho giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức ăn hoà thảo Điều này được thể hiện qua nghiên cứu của nhiều tác giả [23]
1.3 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi
1.3.1 Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá
Trong tự nhiên, nguồn thực vật để sản xuất bột cho gia súc gia cầm rất nhiều như: lá sắn, lá keo dậu, cỏ Stylo, bèo hoa dâu, lá và hạt cây so đũa, lá mắm, rau cỏ…Thức ăn gia cầm, ngoài lượng ngô vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Tại các nước ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế biến từ
cỏ alfalfa (Medicago sativa) Đây là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá xanh khác như bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis)[82]
Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa, tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo
Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% Protein trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm[83]
Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô 21%[84]
Trang 22Lá keo dậu: Cây keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất khác nhau Lượng Protein thô trong lá keo dậu khá cao 270 - 280g/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn
bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm [42]
Cây so đũa: Là loại cây họ đậu, trồng ở nhiều nơi, hạt và lá so đũa có tỷ
lệ protein cao và nhiều vitamin
Cây lá mắm: Cây mắm mọc ở vùng nước mặn, nước lợ ven biển, nhất là
ở các tỉnh Nam Trung bộ và miền Nam
Cây cỏ VA06: VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, hệ số tiêu hoá cao, là thức
ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ [85]
Cỏ Alfalfa: Cỏ Alfalfa hay Cỏ linh Lăng còn có tên là mục túc Braxin (tên khoa học là Lucern) là cây họ đậu thân thảo,có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, được thế giới rất quan tâm nghiên cứu trên 50 nước [86]
Cây trichanthera Gigantea: Cây trichanthera có nguồn gốc ở Nam Mỹ,
trồng bằng hom đạt tỷ lệ sống 90% - 95% Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể cao chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn
át Ngoài cung cấp dinh dưỡng, lá cây còn có tác dụng phòng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi[87]
Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [51] cho biết: Ở vùng núi, có thể lấy lá
và cả cành non các loại cây không độc, không có chất chát (trâu bò thường ăn) để phơi khô, dự trữ dành cho mùa đông hiếm rau cỏ
1.3.2 Giá trị dinh dưỡng của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi
Trong phát triển chăn nuôi, việc chọn giải quyết nguồn thức ăn để đảm bảo năng suất, chất lượng thịt, trứng và giảm giá thành sản xuất bằng cách tìm
ra những giống cây bổ sung nguồn thức ăn mới phù hợp với điều kiện địa phương là vấn đề rất cần thiết
Trang 23Ngày nay, ngay ở các nước phát triển, bột cỏ vẫn là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm Vì bột cỏ cung cấp nhiều vitamin tự nhiên, đặc biệt là tiền vitamin A (caroten) và sắc tố vàng Xanthophyll Vitamin E, C và caroten là những chất chống oxi hoá, ngăn cản tích trữ cholesterol trong máu Ngoài ra, lá xanh còn chứa nhiều chất quinol
và phenol, là những chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho người và động vật Chính vì vậy, sử dụng bột cỏ làm thức ăn chăn nuôi được các nước trên thế giới rất quan tâm [38]
Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [50], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng nuôi lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi Bột thân lá đậu, lạc, điền thanh, keo dậu, bèo hoa dâu, là những loại tốt, vì có chứa nhiều đạm nên khi hỗn hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm được thức ăn tinh
Thức ăn gia cầm, ngoài lượng bắp vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Các loại bột lá, bột cỏ thường được dùng trong thức ăn gà với mức 3 - 4% để vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và lòng đỏ trứng có màu vàng đẹp mắt
Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dưỡng cao không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây họ đậu) mà còn chứa nhiều Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic) Phối hợp khẩu phần ăn của vật nuôi với bột lá bột cỏ làm tăng chất lượng sản phẩm, tăng tính chất thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm [82]
Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí thức ăn, màu lòng đỏ trứng đậm hơn so với thí nghiệm đối chứng Thường bổ sung 5% vào khẩu phần thức ăn hỗn hợp hàng ngày [88]
Trang 24Theo kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Khoa Thuỷ sản (Trường Đại học Nông lâm Huế) và Đại học Nông nghiệp Nhiệt đới (Côlômbia) Các nhà khoa học đã thực nghiệm tại xã Vân Thuỷ, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế trên đối tượng cá rô phi dòng Gift, cho biết: dùng bột lá săn phối trộn với cám, bột cá, Premix khoáng Sau thời gian
6 tháng lần lượt thay thế 25, 50, 75 và 100% bột cá bằng bột lá sắn cho thấy, việc thay thế hoàn toàn bột cá bằng bột lá sắn làm thức ăn cho cá rô phi cho kết quả tăng trưởng tốt, tỷ lệ sống của cá nuôi đạt từ 76 - 90% Dùng lá sắn thay thế bột cá trong khẩu phần thức ăn cho cá rô phi đem lại nhiều kết quả khả quan, vừa tận dụng được nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương vừa giảm được giá thành sản phẩm [84]
Với hàm lượng B - caroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10 - 20% trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng đỏ
to, màu lòng đỏ đậm, tỷ lệ nở con cao hơn hẳn Nhờ các chất Ancaloid - Enzim dồi dào trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ tiết lượng sữa nhiều
và chất lượng sữa tốt hơn Người ta dùng nó làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi quan trọng như: bò đực sản xuất tinh, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh Do những tác dụng lớn lao đó các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới
đã suy tôn cỏ Alfalfa là "nữ hoàng" trong thức ăn chăn nuôi [86]
Các cuộc thử nghiệm cho thấy, Trichathera ở dạng bột cỏ hoặc tươi trong khẩu phần ăn của gia cầm sẽ tạo nguồn cung cấp protein, caroten 150
gà đẻ thương phẩm, 800 chim cút đẻ kéo dài trong 10 tuần có bổ sung 2 - 4% bột lá Trichathera và 0,2 - 0,3% carophyll trong khẩu phần Kết quả trung bình về năng suất và chất lượng của trứng gà và chim cút giữa thí nghiệm và đối chứng tương đối giống nhau Nhưng giá thành có bổ sung bột lá thấp hơn Đối với 120 vịt xiêm nuôi từ 30 - 90 ngày tuổi có dùng lá Trichathera trong khẩu phần, kết quả cho thấy, dùng lá Trichathera làm da có màu vàng tốt hơn
so với vịt ở nghiệm thức đối chứng [87]
Trang 25Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002)[39], cho biết rằng: Sử dụng bột
cỏ khô hỗn hợp trong thức ăn cho gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt, vừa phòng trừ giun sán lại vừa đỡ công chăn nuôi
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Trung và Cs (2007) [52]cho biết: Bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn của trâu tơ 13 - 18 tháng tuổi đã làm tăng lượng thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Bột lá sắn có thể dùng làm thức ăn bổ sung cho trâu tơ để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
1.3.3 Các hạn chế của bột lá bột cỏ đối với vật nuôi
Nhìn chung gia súc thích ăn các loại thức ăn xanh hơn hoặc ủ chua hơn
là ăn các loại thức ăn này chế biến thành bột
Trong bột cỏ và bột lá thực vật, hàm lượng chất xơ là cao do đó việc sử dụng nó trong thức ăn chăn nuôi gia cầm chỉ chiếm một chỉ lệ rất nhỏ trong khẩu phẩn, trong chăn nuôi gà, tỷ lệ dùng trong chất xơ rất ít, chỉ từ 5 - 6% trong khẩu phần mà thôi [89]
Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố HCN, Cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi
sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần
Theo Vũ Duy Giảng và Cs (1997) [7] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6% tính theo đơn vị khẩu phần Trong lá keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ bị mốc và làm hao hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là B - caroten, vitamin bị mất đi [42]
1.3.4 Vai trò của bột lá bột cỏ trong sinh trưởng của gia cầm thịt
Trong bột cỏ bột lá có chứa nhiều B - caroten, protein, vitamin nên việc
sử dụng nó bổ sung vào khẩu phần ăn của gà thịt có tác dụng rất tốt Không những làm tăng khả năng sinh trưởng, tăng năng suất mà đặc biệt là tăng chất