ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT MÃ NGUYỆT THU NGUYÊN TẮC “CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƢỢC BẢO ĐẢM” THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2019 ĐẠI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MÃ NGUYỆT THU
NGUYÊN TẮC “CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƢỢC BẢO ĐẢM” THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MÃ NGUYỆT THU
NGUYÊN TẮC “CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƢỢC BẢO ĐẢM” THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Mã Nguyệt Thu
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƯỢC BẢO ĐẢM 6
1.1 Khái niệm, nội dung của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Cơ sở của việc quy định nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm 11
1.1.3 Nội dung nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm 13 1.2 Mối quan hệ của nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với một số nguyên tắc khác trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 18
1.2.1 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc suy đoán vô tội 19
1.2.2 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án 21
1.2.3 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự 22
1.2.4 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc tranh tụng 23
Trang 51.3 Khái quát lịch sử phát triển của nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm được bảo đảm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 23
1.4 Nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự một số nước 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 35
2.1 Sự thể hiện của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 35
2.1.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án 35
2.1.2 Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm 40
2.1.3 Quyền hạn của HĐXX sơ thẩm 43
2.2 Mỗi quan hệ giữa xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm 45
2.3 Sự thể hiện của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 46
2.3.1 Những quy định về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 46
2.3.2 Thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án 49
2.3.3 Phạm vi xét xử phúc thẩm 50
2.3.4 Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm 51
2.4 Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 66
2.4.1 Thủ tục giám đốc thẩm 67
2.4.2 Thủ tục tái thẩm 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ NGUYÊN TẮC CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƯỢC
BẢO ĐẢM 77
3.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 77
3.1.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 77
3.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 79
3.2 Kiến nghị hoàn thiện những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 87
3.2.1 Bổ sung quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự 87
3.2.2 Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 88
3.2.3 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm 89
3.3 Một số giải pháp bảo đảm tuân thủ nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm 91
3.3.1 Đổi mới tổ chức của hệ thống TA 91
3.3.2 Đẩy mạnh hoạt động trang tụng tại phiên tòa, nâng cao chất lượng xét xử 92
3.3.3 Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật 95
3.3.4 Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm tố tụng của người tiến hành tố tụng 96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tỷ lệ giải quyết án hình sự sơ thẩm của TAND tỉnh Cao Bằng từ
năm 2014 đến năm 2018 80Bảng 3.2: Tỷ lệ giải quyết án hình sự phúc thẩm của TAND tỉnh Cao Bằng từ
năm 2014 đến năm 2018 82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử là một giai đoạn tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án Hình sự, nhằm xác định TNHS đối với người đó đưa ra một hình phạt tương xứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện để trừng trị người phạm tội và giáo dục phòng ngừa chung Hoạt động xét xử
vụ án hình sự có thể dẫn tới hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị buộc tội, cũng như những người khác có liên quan Vì vậy, quá trình xét xử phải luôn bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật, khách quan, toàn diện nhằm
xử lý đúng người, đúng tội Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi hoạt động xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS
Những nguyên tắc của luật TTHS là phương châm, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong TTHS Theo quy định tại chương II, BLTTHS năm
2003 có 30 nguyên tắc cơ bản trong đó có nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai
cấp xét xử” Nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định lại trong BLTTHS
năm 2015 với tên gọi “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo”
Không chỉ thay đổi về tên gọi của nguyên tắc so với BLTTHS năm
2003 mà về mặt lý luận nuyên tắc này còn có cách tiếp cận mới theo quy định của BLTTHS năm 2015 Mặt khác, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc áp dụng nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm còn nhiều hạn chế Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận chung cũng như những quy định của pháp luật về nguyên tắc và thực tiễn áp dụng để chỉ ra những hạn chế, tồn tại, thiếu sót từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của nguyên tắc trong thực tiễn, đảm bảo chất lượng giải quyết các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và người tham gia tố tụng là một việc làm hết sức cần thiết
Trang 10Vì lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm theo quy định của BLTTHS năm 2015” để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, có rất nhiều tài liệu đề cập đến nguyên tắc của luật TTHS như một số giáo trình chuyên ngành luật, luận án, luận văn và các bài tham luận tại các diễn đàn khoa học Có thể kể đến một số tài liệu điển hình như giáo trình Luật TTHS - Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Luật TTHS - Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả Lê Cảm có hai bài viết đăng
trên tạp chí Kiểm sát: “Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định các nguyên
tắc của luật TTHS” và “Nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự”
Tác giả Nguyễn Ngọc Chí với một loạt các bài viết về các nguyên tắc như
“Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong TTHS” được đăng tại Tạp chí Nhà nước và Pháp luật;
“Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS”, Tạp chí Khoa học Đại
học quốc gia; “Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc "Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật; “Hoàn thiện nguyên tắc “Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật” trong TTHS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật; “Lựa chọn mô hình TTHS”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; “Nguyên tắc suy đoán
vô tội trong Luật TTHS Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật và Đề
cương bài giảng môn xét xử vụ án hình sự, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội Các luận văn thạc sĩ của học viên cao học chuyên ngành luật Hình
sự Ngoài ra còn có những bài viết liên quan đến các nguyên tắc của luật TTHS được đăng trên nhiều tạp chí chuyên ngành
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu riêng về nguyên tắc chế độ xét sở thẩm, phúc thẩm được bảo đảm Hơn nữa, BLTTHS năm 2015 có nhiều nội
Trang 11dung mới quy định về nguyên tắc này Do đó, tác giả chọn đề tài trên để nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề về lý luận chung cũng như quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyên tắc, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng nguyên tắc đưa ra những đề xuất để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng Qua đó, tác giả chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của nguyên tắc
- Khái quát sự phát triển của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong lịch sử pháp luật TTHS của nước ta từ năm 1945 đến nay;
- Nghiên cứu quy định trong luật TTHS một số nước về nguyên tắc chế
Trang 12- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc chế
độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong TTHS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận chung của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
- Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
- Thực tiễn áp dụng nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong khoảng thời gian năm năm, từ năm
2014 đến năm 2018 trên phạm vi địa bàn tỉnh Cao Bằng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm rõ những vấn đề lý luận chung của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, so sánh để thấy rõ quá trình phát triển, những điểm mới của nguyên tắc trong lịch sử TTHS Việt Nam Kết quả của Luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, chủ trương cải cách tư pháp ở nước ta, các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan đến nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đồng thời tham khảo những bài viết đăng trên tạp chí, báo chuyên ngành và các bản báo cáo tổng kết của TA, VKS cũng như thực tiễn công tác của bản thân tác giả
Trang 13Trong quá trình nghiên cứu, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, so sánh để thấy được toàn cảnh bức tranh xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong năm năm trở lại đây
Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng nguyên tắc
6 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương Ngoài ra còn có phần
mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Chương 2: Sự thể hiện của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo trong BLTTHS năm 2015
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, một số kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện và bảo đảm tuân thủ các quy định của BLTTHS năm 2015 về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƯỢC BẢO ĐẢM
1.1 Khái niệm, nội dung của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
1.1.1 Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt, “Nguyên tắc” là “Điều cơ bản định ra, nhất
thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [66, tr.672] Theo khái niệm
trên, nguyên tắc được hiểu là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó Mục đích cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự là kịp thời, nhanh chóng, xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Để đạt được mục đích đó, khi giải quyết vụ án hình sự cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS
Khi nghiên cứu về nguyên tắc cơ bản của TTHS, có nhiều quan điểm khác nhau như: Khái niệm, bản chất, cách phân loại cũng như xác định phạm vi ảnh hưởng của các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Theo PGS TS Trần Đình Nhã “Khái niệm các nguyên tắc của luật
TTHS” là sự nhầm lẫn “bắt nguồn từ việc coi TTHS và pháp luật tố TTHS là một” Theo đó, không có nguyên tắc của luật TTHS mà chỉ có nguyên tắc
của TTHS và “Việc hình thành các nguyên tắc của TTHS không phải là
ngẫu nhiên, càng không phải là ý chí chủ quan của các nhà làm luật”, mà
“nguyên tắc của TTHS, xét cho cùng là sản phẩm phát triển của xã hội và
đồng thời là thành tựu của hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự” [62, tr 273-276]
PGS TS Phạm Hồng Hải đưa ra định nghĩa “Nguyên tắc TTHS Việt
Nam là những quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam,
Trang 15Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quá trình giải quyết vụ án hình sự đó được thể chế hoá trong BLTTHS mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuân theo” Tác giả không đồng ý với
quan niệm coi các nguyên tắc này là nguyên tắc của BLTTHS, nhƣng đồng thời cũng không tán đồng quan niệm chỉ coi đó là nguyên tắc của TTHS
“theo chúng tôi cả hai cách lập luận đó đều chưa đủ tính thuyết phục” Và theo quan điểm của tác giả thì “Khi nguyên tắc quy định trong BLTTHS thì
phải coi chúng là những nguyên tắc của TTHS, ngoài ra nếu các tư tưởng, quan điểm nào đó là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo của luật TTHS thì
Nhƣ vậy, theo PGS TS Phạm Hồng Hải có những nguyên tắc chỉ là của TTHS và có nguyên tắc vừa là của TTHS lại vừa là của luật TTHS đƣợc quy định trong BLTTHS
Theo TS Nguyễn Văn Tuân tồn tại hai loại nguyên tắc: Nguyên tắc của
TTHS và nguyên tắc của luật TTHS đồng thời “khẳng định nguyên tắc của
luật TTHS và nguyên tắc của TTHS có điểm giống nhau và khác nhau, giữa chúng có sự giao thoa nhất định Một số nguyên tắc của luật TTHS cũng có thể là nguyên tắc của TTHS và ngược lại Điều đó phụ thuộc vào sự thể hiện của nguyên tắc đó, cũng như cách tiếp cận chúng” [51, tr.15] Từ đó, TS
Nguyễn Văn Tuân đƣa ra khái niệm nguyên tắc cơ bản của TTHS nhƣ sau:
“Có thể hiểu nguyên tắc của TTHS là những quy định pháp luật cơ bản,
chung nhất, mang tính chất chỉ đạo và được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất tố tụng, xác định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng hình sự”[51, tr.18]
Trang 16TS Lê Hữu Thể thừa nhận có những quan niệm khác nhau, là nguyên
tắc cơ bản của TTHS hay nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, nhưng “Các ý
kiến đều thống nhất chung về bản chất, lĩnh vực thể hiện, đó là: Nguyên tắc
cơ bản được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS hoặc đối với một số hoạt động tố tụng nhất định như hoạt động điều tra, truy tố, xét xử …; được thể hiện trong cả việc xây dựng, giải thích, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự”[50, tr.42] Tuy nhiên, tác giả lại khẳng định
“Nguyên tắc cơ bản của TTHS rộng hơn khái niệm nguyên tắc cơ bản của
GS.TSKH Lê Văn Cảm cho rằng những nguyên tắc được quy định trong BLTTHS là nguyên tắc của Luật TTHS và được định nghĩa như sau:
“Nguyên tắc của luật TTHS là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được
thể hiện trong pháp luật TTHS, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó - của nguyên tắc tương ứng mà ta nghiên cứu” [5]
Giáo trình luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Quốc gia Hà Nội
đưa ra định nghĩa về nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như sau: “Nguyên tắc
cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS” [6, tr 45-46] Như vậy, bản thân hoạt động TTHS đã
đòi hỏi luôn luôn tồn tại những nguyên tắc của nó, tuy nhiên chỉ khi những nguyên tắc của TTHS được nhà làm luật quy định ở những văn bản pháp luật nó mới trở thành nguyên tắc của luật TTHS
Giáo trình luật TTHS Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội đưa ra
khái niệm “Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những định hướng chi
phối tất cả hoặc một số hoạt động TTHS, được các văn bản pháp luật ghi nhận” [60, tr.43 ]
Trang 17Như vậy, cho tới nay có nhiều quan niệm của những nhà nghiên cứu khác nhau về nguyên tắc cơ bản của LTTHS Tuy nhiên tác giả đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng có sự khác nhau giữa hai
khái niệm “tố tụng hình sự” và “luật tố tụng hình sự” Khái niệm “tố tụng
hình sự” rộng hơn nó bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể tiến hành
và tham gia tố tụng nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Đây là hoạt động mang tính khác quan, tồn tại trong xã hội có giai cấp, là đòi hỏi tất yếu của Nhà nước để trừng trị
người phạm tội Còn “luật tố tụng hình sự” là khái niệm hẹp hơn, bao gồm
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Luật tố tụng hình sự là một phạm trù chủ quan, là nhận thức hiện tượng khách quan của nhà làm luật Vì vậy, những phương châm, định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của quá trình TTHS, quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS được gọi là các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS [12]
Những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong TTHS, thể hiện chính sách hình sự, quan điểm giải quyết vụ án hình sự của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện,
xử lý kịp thời, nhanh chóng, công minh theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc TA là cơ quan duy nhất của một nước thực hiện chức năng xét xử Mọi bản án do TA tuyên đều phải thông qua hoạt động xét xử Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử
và kết quả xét xử phải được thể hiện bằng bản án Theo quy định của luật
Trang 18TTHS Việt Nam hiện hành, có hai cấp độ xét xử là: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm
Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đƣa vụ án ra xét xử tại một TA có thẩm quyền Cấp sơ thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ nhất Tất cả các vụ án hình sự đều phải tiến hành xét xử sơ thẩm Đây là cấp xét
có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án Bản án, quyết định sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa, đó là xét xử phúc thẩm Nếu xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, xét xử chính xác, nghiêm túc ngay từ lúc sơ thẩm thì bản án sẽ ít bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu bản án
bị kháng cáo, kháng nghị thì cũng không bị hủy, sửa Nhƣ vậy, vụ án không
bị kéo dài, mất thời gian
Xét xử phúc thẩm là việc TA cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hình sự
mà bản án, quyết định sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Bản án, quyết định của TA cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay
Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm nhƣ sau:
Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức, hoạt động để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong BLTTHS, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm và có thể được xét xử lại ở cấp phúc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định, theo quy định của BLTTHS nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án để TA xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 19Từ khái niệm trên, có thể thấy nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
là tư tưởng chủ đạo, mang tính định hướng, là tiền đề quan trọng thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử các vụ án hình sự nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan trong phán quyết của TA, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân
Thứ hai: Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm phúc thẩm được bảo đảm là
nguyên tắc đặc trưng chỉ được thực hiện trong giai đoạn xét xử vụ án hình
sự TA là cơ quan duy nhất được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giao cho chức năng xét xử Do đó, TA là chủ thể duy nhất thực hiện việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Thứ ba: Không phải tất cả mọi vụ án hình sự đều phải trải qua hai lần
xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Thứ tư: Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm là
biểu hiện quan trọng của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thể hiện ở quyền kháng cáo, có nghĩa là được phép yêu cầu TA cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm
1.1.2 Cơ sở của việc quy định nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Việc quy định chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong TTHS xuất phát
từ những lý do sau:
Thứ nhất, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước theo chế độ xã hội chủ
nghĩa, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Trong bộ máy nhà nước, TA là cơ quan thực hiện chức năng xét xử chuyên biệt của Nhà
Trang 20nước, nhân danh Nhà nước để trừng trị người phạm tội Tuy nhiên, xét xử không phải là một hoạt động đơn giản Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm xét xử và quá trình xét xử có sự hỗ trợ của Hội thẩm nhân dân nhưng thực tế vẫn mắc phải những sai sót do trình độ nhận thức, do cảm tính cá nhân hoặc nhiều yếu tố tác động khác Khi có sai sót sảy ra, quyền và lợi ích của bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác sẽ bị ảnh hưởng Để họ bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình, pháp luật quy định và thực hiện nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong TTHS Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để VKS, người được quyền kháng cáo có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án thể hiện quan điểm không đồng ý với kết quả xét xử của TA bằng việc kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định
sơ thẩm theo quy định của pháp luật để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm Qua đó, bị cáo và những người có quyền kháng cáo có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng được bảo đảm
Hơn nữa, với quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử lại ở cấp phúc thẩm là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử được đúng đắn, chính xác Khi xét xử lại ở cấp phúc thẩm, toàn bộ nội dung của vụ án sẽ được xem xét, phân tích và đánh giá kỹ càng hơn, đầy đủ hơn một lần nữa Như vậy, phán quyết của TA sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn
Thứ hai, TA là cơ quan duy nhất của Nhà nước thực hiện chức năng xét
xử, những phán quyết của TA phải đảm bảo đúng đắn, chính xác Tuy vậy, xét xử là một hoạt động phức tạp, không phải lúc nào việc xét xử của TA một lần đã đúng vì vậy nó cần phải được xem xét, kiểm tra lại lần thứ hai nếu có căn cứ theo quy định của pháp luật Thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cũng chính là hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của
Trang 21TA cấp dưới, nhằm đảm bảo tính khách quan nhất cho một phán quyết nhân danh công lý của TA
Thứ ba, việc quy định một vụ án có thể bị xét xử hai lần, lần thứ nhất ở
cấp sơ thẩm và lần thứ hai ở cấp phúc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán Với khả năng các phán quyết của họ có thể bị xem xét lại, thậm chí bị hủy, bị sửa sẽ giúp Thẩm phán thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng, tập trung đầu tư thời gian nghiên cứu vụ án một cách kỹ lưỡng để đưa ra phán quyết chính xác
Thứ tư, qua chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân được bảo vệ triệt để hơn BLTTHS trao cho bị cáo có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như có quyền tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên, nếu tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo chưa thực hiện được quyền này và vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn có thể thực hiện các quyền của mình, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo suy ngẫm, ăn năn, hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước
Thứ năm, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đảm
bảo sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1996 mà Việt
Nam gia nhập ngày 24/9/1982 trong đó quy định “Bất cứ người nào bị kết
án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xét xử lại bản án
và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật” [26]
1.1.3 Nội dung nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Nguyên tắc đó không chỉ được quy định cụ thể trong pháp luật TTHS của các nước mà còn được ghi nhận
Trang 22trong các công ƣớc quốc tế, văn bản pháp lý quan trọng khác Tại khoản 5 Điều 14 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966
của Đại hội đồng Liên hợp quốc ghi nhận “Bất cứ người nào bị kết án là
phạm tội đều có quyền yêu cầu TA cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật” [26] Tại Điều 81 phần thứ
tám Quy chế Rom về TA hình sự quốc tế cũng xác định “Bản án có thể bị
Công tố viên hoặc người bị kết tội kháng cáo phù hợp với quy tắc về tố tụng
và chứng cứ dựa trên cơ sở thiếu sự cân đối giữa tội phạm và bản án” [26]
Tại Việt Nam, nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm đƣợc quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa tại các luật chuyên ngành là Luật Tổ chức TAND và BLTTHS Điều 6 Luật
Tổ chức TAND quy định:
“1 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Bản án, quyết định sơ thẩm của TA có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm của TA có hiệu lực pháp luật
2 Bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có
vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” [46, Điều 6]
Tại Điều 27 BLTTHS năm 2015 quy định:
“1 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Bản án, quyết định sơ thẩm của TA có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật
Trang 23Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm của TA có hiệu lực pháp luật
2 Bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”
[47, Điều 27]
Theo những quy định trên, nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm có nội dung như sau:
Thứ nhất: Đối với một vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm là lần xét xử đầu
tiên, phát sinh trên cơ sở bản cáo trạng của VKS Việc xét xử sơ thẩm một
vụ án hình sự được thực hiện thông qua một phiên tòa hình sự sơ thẩm và được diễn ra theo trình tự, thủ tục nhất định được quy định trong BLTTHS Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, HĐXX giải quyết toàn bộ các vấn đề của
vụ án, phán quyết của TA được thể hiện qua bản án hình sự sơ thẩm, quyết định bị cáo có tội hay không có tội, phạm tội gì, điều luật áp dụng và quyết định hình phạt đối với bị cáo Ngoài ra, HĐXX còn phải xem xét, giải quyết những vấn đề khác liên quan đến vụ án như bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, quyết định về phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự (nếu có) Đồng thời báo quyền kháng cáo cho những người có quyền kháng cáo Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, HĐXX phải đánh giá, phân tịch toàn bộ vụ án một cách khách quan, toàn diện trên cơ sở những vấn đề đã được tranh tụng tại phiên tòa, làm rõ những chứng cứ xác định có tội hoặc chứng cứ xác định vô tội, đồng thời đánh giá tính chất cũng như mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo; xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
để đưa ra quyết định cuối cùng thể hiện qua bản án hình sự sơ thẩm Bản án,
Trang 24quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị trong một thời hạn nhất định
Thứ hai: Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm mà không bị kháng
cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn luật định thì có hiệu lực pháp luật
Thứ ba: Trong thời hạn luật định, bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị
kháng cáo, kháng nghị Khi có kháng cáo hoặc kháng nghị thì vụ án được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Đây là lần xét xử thứ hai được tiến hành sau lần xét xử sơ thẩm để xem xét lại bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Không phải tất cả các vụ án hình sự đều trải qua thủ tục xét xử sơ thẩm
và xét xử phúc thẩm mà chỉ những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị mới được xét xử phúc thẩm Về nguyên tắc chung, bản án có kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành ngay trừ những trường hợp sau: Bị cáo đang bị tam giam mà TA cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ
án, tuyên bị cáo không có tội, miễn TNHS, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của TA được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị [47, Điều 363] Quy định này nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi cho bị cáo, trả lại tự do cho bị cáo nếu bị cáo không bị giam giữ về một hành vi phạm tội khác
Khi có kháng cáo, kháng nghị thì TA đã xét xử sơ thẩm phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho TA cấp trên trực tiếp để xét xử phúc thẩm Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, VKS ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của
bị cáo Nếu phần kháng cáo, kháng nghị bị rút không liên quan đến phần kháng cáo, kháng nghị khác thì HĐXX phúc thẩm đình chỉ xét xử phần
Trang 25kháng cáo, kháng nghị trong bản án phúc thẩm Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, VKS rút toàn bộ kháng nghị thì không còn căn cứ
để xét xử phúc thẩm nên TA cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày TA cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
Thứ tư: Không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền
kháng cáo Quyền kháng cáo thuộc về những người mà bản án, quyết định ảnh hưởng hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ như bị cáo,
bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… với phạm vi và giới hạn
do luật quy định Quyền kháng cáo luôn được TA tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể có quyền kháng cáo thực hiện được quyền này Thời hạn kháng cáo
là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản
án được niêm yết theo quy định của pháp luật Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định Việc kháng cáo quá hạn được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện việc kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định
Quyền kháng nghị thuộc về VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối với bản án của TA cấp sơ thẩm
là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối với quyết định của TA cấp sơ thẩm là
07 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày TA ra quyết định [47, Điều 337]
Thứ năm: Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ
thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị [47, Điều 343] Bản án phúc thẩm
Trang 26có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án TA đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án đối với những bản án có hiệu lực pháp luật và phải được đưa ra thi hành ngay
Thứ sáu: Bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật và đã đưa ra
thi hành mà phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát sinh tình tiết mới làm thay đổi căn bản nội dung vụ án thì được xem xét lại theo trình
tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Giám đốc thẩm, tái thẩm là hai hình thức của thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải thủ tục nối tiếp của xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật hoặc phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị Việc kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thuộc về VKS và
TA khi có căn cứ quy định tại Điều 371 và Điều 398 BLTTHS năm 2015
1.2 Mối quan hệ của nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với một số nguyên tắc khác trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng thể hiện chính sách hình sự, quan điểm giải quyết vụ án hình sự của Đảng và Nhà nước ta là đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện kịp thời,
xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Hệ thống các nguyên tắc được quy định trong BLTTHS năm 2015 về
cơ bản đã thể hiện được đầy đủ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động tụng hình sự Các nguyên tắc đó có mỗi quan
hệ mật thiết với nhau cùng hướng tới mục tiêu chung của TTHS
Trang 271.2.1 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc suy đoán vô tội
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc
tế, là một trong những nội dung quan trọng về quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là: “Bất kỳ người bị buộc tội nào
đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó” [26]
Năm 1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế năm 1966 và cam kết thực hiện các nguyên tắc của công ước này trong đó có nguyên tắc suy đoán
vô tội Do dó, nguyên tắc này đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của nước ta Cụ thể, tại luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp
năm 2013 quy định tại khoản 1 Điều 31 như sau “Người bị buộc tội được coi
là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật” [45]
Việc ghi nhận và hoàn thiện nguyên tắc này trong BLTTHS là hết sức cần thiết, đó chính là một bước tiến về bảo đảm quyền con người trong TTHS
Do đó, BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS
Điều 13 Suy đoán vô tội
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” [47]
Trang 28Nguyên tắc này thể hiện Nhà nước luôn coi trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm trong suốt quá trình TTHS, từ khi khởi tố vụ
án đến điều tra, truy tố, xét xử các chủ thể tiến hành tố tụng không được coi người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo là người đã có tội mà
họ chỉ là người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm Ngay cả khi họ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thì họ chỉ bị hạn chế một số quyền, những quyền con người và quyền công dân khác của họ vẫn phải được bảo đảm
Nguyên tắc suy đoán vô tội có mối quan hệ với chức năng xét xử của Tòa án thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật Như vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định Việc chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác
về tội phạm và qua các thủ tục khởi tố vụ án, tiến hành điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử công khai tại phiên tòa
Tòa án ban hành bản án kết tội nếu có căn cứ để kết tội Một người chỉ
có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tức là bản án của Tòa án đã tuyên đối với người này là có tội và bản án
đó đã có hiệu lực pháp luật Điều này khẳng định chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền ra bản án, tuyên bố một người có tội hay không có tội Ngoài Tòa án thì không có bất kỳ cơ quan nhà nước nào được ra bản án kết tội bị cáo
Thứ hai, trong khi xét xử Tòa án không thể buộc bị cáo phải chứng minh mình không phạm tội, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Tại phiên tòa, dựa trên kết quả tranh tụng nếu xét thấy có đầy đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội Tòa án mới có thể ra
Trang 29bản bán kết tội bị cáo Nếu không có đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội thì Tòa án phải tuyên bị cáo vô tội
1.2.2 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Thực tiễn, quá trình điều tra không ít trường hợp phạm sai lầm trong công tác điều tra, phá án, xác định sai người phạm tội dẫn đến hậu quả làm oan người vô tội Do đó, mục tiêu đặt ra khi giải quyết vụ án đó là xác định sự thật của vụ án và đây cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật
TTHS được quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015: “Trách nhiệm chứng
minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”[47]
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải đánh giá thực sự khách quan và toàn diện, toàn bộ chứng cứ của vụ án Không thể vì một số nguyên nhân nào khác như
có quan hệ thân thuộc, tình cảm cá nhân mà trong quá trình tố tụng làm thay đổi tình tiết vụ án và đưa ra phán quyết không đúng người, đúng tội
Về phía người tham gia tố tụng, không ít trường hợp vì những nguyên nhân khác nhau mà đã khai không đúng sự thật dẫn đến việc giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn Để tránh tình trạng trên, việc quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án là hết sức cần thiết, nhằm đảo bảo cho việc giải quyết, xét xử đúng người, đúng tội, đảm bảo những người có tội sẽ phải bị xử lý nghiêm minh và không làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tôi phạm
Trang 30Việc quy định chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mục đích cuối cùng cũng là xác định sự thật của vụ án Đây chính là nhiệm vụ bao trùm của hoạt động tố tụng hình sự Do đó, hai nguyên tắc này có mỗi quan hệ trực tiếp đến nhau Trải qua quá trình điều tra, truy tố, thông qua phiên tòa sơ thẩm, toàn bộ chứng cứ được đánh giá một cách khách quan, toàn diện Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đưa ra kết luận cuối cùng về việc giải quyết vụ án Nếu không đồng ý với quyết định của cấp sơ thẩm, cho rằng
vụ án chưa được xác định đúng sự thật thì người có quyền kháng cáo, kháng nghị có thể kháng cáo, khánh nghị để cấp phúc thẩm xét xử lại nhằm xác định
sự thật của vụ án nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và
xử lý nghiêm minh trước pháp luật
1.2.3 Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nhằm bảo đảm cho họ được trình bày ý kiến của mình đối với việc bị buộc tội, đưa ra các chứng cứ của vụ án, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh, xem xét để minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội góp phần không nhỏ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mối quan hệ giữa nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: Quyền bào chữa của người bị buộc tội được bảo đảm sẽ góp phần giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự Khi vụ án đã được giải quyết đúng đắn theo quy định của pháp luật ở cấp sơ thẩm sẽ hạn chế được việc kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại vụ án ở cấp phúc thẩm