ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý công Mã số 60 31 01 01 01 LUẬ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý công
Mã số: 60.31.01.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THANH TRỌNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện luận văn: “Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu”, tôi đã vận dụng kiến thức đã học, nghiên cứu từ các tài liệu, dữ liệu thu thập liên quan và được sự hướng dẫn, góp ý của TS Nguyễn Thanh Trọng để hoàn thành luận văn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BR – VT : Bà Rịa – Vũng Tàu
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
CPI : Chỉ số giá tiêu dùng
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Tỷ lệ khách quốc tế lưu trú so với tổng lượng khách ở Vũng Tàu 2014 –
2018 51 Hình 2: Tỷ lệ khách trong nước lưu trú so với tổng lượng khách ở Vũng Tàu 2014 –
2018 53 Hình 3: Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch sau khi tham quan thành phố Vũng Tàu 55 Hình 4: Nhu cầu tuyển dụng lao động Dịch vụ du lịch - Nhà hàng - Khách sạn của tỉnh BR – VT 2014 – 2019 59
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2018 47 Bảng 2: Thống kê hoạt động du lịch từ năm 2014 – 2018 49
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 3
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
3.1 Mục tiêu 6
3.2 Mục tiêu cụ thể 6
4 Câu hỏi nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.1 Đối tượng nghiên cứu 7
5.2 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu 7
6.1 Phương pháp nghiên cứu 7
6.2 Nguồn dữ liệu 8
7 Bố cục của đề tài 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 10
1.1 Du lịch và phát triển du lịch bền vững 10
1.1.1 Du lịch 10
1.1.2 Phát triển bền vững 11
1.1.3 Phát triển du lịch bền vững 12
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 13
1.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 18
Trang 71.2.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý 19
1.2.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và chất thải ra môi trường19 1.2.3 Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng 20
1.2.4 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 20
1.2.5 Đảm bảo việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 21
1.2.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch 21
1.2.7 Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương về phát triển du lịch 22
1.2.8 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường22 1.2.9 Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động quảng bá du lịch 23
1.2.10 Thường xuyên tiến hành các công tác nghiên cứu 23
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trong và ngoài nước 23
1.3.1 Tại Việt Nam 23
1.3.2 Một số nước trong khu vực 28
1.3.3 Kinh nghiệm rút ra cho phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU 36
2.1 Phân tích tài nguyên, nguồn lực du lịch của thành phố Vũng Tàu 36
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 37
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 40
2.1.3 Nguồn lực để phát triển du lịch 43
2.2 Thực trạng phát triển du lịch thành phố Vũng Tàu 48
2.2.1 Quy mô tăng trưởng 48
2.2.2 Cơ cấu khách du lịch 50
2.2.3 Đáp ứng nhu cầu của du khách 54
2.2.4 Nguồn nhân lực du lịch 58
2.2.5 Quản lý nhà nước về du lịch 60
2.2.6 Hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch 62
Trang 82.2.7 Phát triển du lịch trong quan hệ cộng đồng với địa phương 63
2.3 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững thành phố Vũng Tàu 64
2.3.1 Đánh giá tính bền vững của du lịch lên phân hệ kinh tế 64
2.3.2 Đánh giá tính bền vững của du lịch lên phân hệ văn hóa – xã hội 67
2.3.3 Đánh giá tính bền vững của du lịch lên phân hệ môi trường 70
2.3.4 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Vũng Tàu trên 10 nguyên tắc 73
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU 83
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển bền vững 83
3.1.1 Mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 83
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch bền vững thành phố Vũng Tàu 85
3.2 Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 86
3.2.1 Giải pháp phát triển du lịch bền vững từ góc độ kinh tế 86
3.2.2 Giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững từ góc độ văn hóa - xã hội 91
3.2.3 Giải pháp phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên - môi trường 94
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Với một số quốc gia, du lịch được coi là một cứu cánh để vực dậy nền kinh tế Đối với Việt Nam, phát triển du lịch hiện là một trong những giải pháp tốt trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết lao động, tăng thu nhập cho người dân một cách hiệu quả Tuy nhiên, do việc khai thác tài nguyên không hợp lý và thiếu khoa học để phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội mà môi trường và tài nguyên du lịch ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang phải chịu những tác động tiêu cực, nó đã và đang trong quá trình cạn kiệt, suy thoái và gây ô nhiễm môi trường tự nhiên Như chúng ta đã biết, du lịch là một ngành có mối liên
hệ chặt chẽ với môi trường Trong phát triển du lịch môi trường là yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và hoạt động, là nguồn động lực để thu hút khách du lịch Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, du lịch cũng cần
có những sự thay đổi để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của con người
Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một thành phố ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở vị trí cửa ngõ ra biển Đông các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, là nơi kết nối thuận lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường không, đường thủy và đường sắt Nơi đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của miền Nam với đường bờ biển trải dài 42 km bao quanh thành phố và sở hữu nhiều bãi biển đẹp Trong những năm qua, lãnh đạo tỉnh và thành phố đã xác định từng bước đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Vũng Tàu, góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của thành phố Năm 2019 là năm thứ ba tỉnh BR-VT thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, năm thứ tư thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu
Trang 10Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015-2020 và là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 27/12/2017 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về Phát triển du lịch chất lượng cao tỉnh BR-VT giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm
2030 Du lịch tại thành phố Vũng Tàu hiện nay đang ngày càng phát triển với số lượng khách du lịch ngày càng tăng, doanh thu tăng qua các năm Doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2018 đạt 11.221,9 tỷ đồng, tăng 13,62%
so với năm 2017; trong đó doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 321,5 tỷ đồng, tăng 15,79%; doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.353,3 tỷ đồng, tăng 13,26%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 8.547,2 tỷ đồng, tăng 13,64% Tổng lượng khách năm 2018 là 15,8 triệu lượt khách, tăng gần gấp 2,3 lần so với năm 2014 là 6,945 triệu lượt khách Tuy nhiên, việc phát triển du lịch này còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được việc phát triển bền vững Còn nhiều bất cập trong giải phóng mặt bằng, quy hoạch dự án kéo dài dẫn đến các “dự án treo”, gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến môi trường và đời sống của người dân Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn yếu kém, công tác quản lý và khai thác còn chồng chéo, hiệu quả thấp, sử dụng chưa đi đôi với bảo vệ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Đặc biệt hệ thống xử lý rác thải của thành phố chưa đáp ứng được việc xử lý lượng rác thải với tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Từ đó dần gây ra các tác động xấu đến môi trường, tăng lượng phế thải, đưa đến hậu quả môi trường sinh thái ngày càng bị hủy hoại và ô nhiễm Đứng trước vấn đề đó đòi hỏi cần tìm ra một con đường phát triển ngành du lịch hợp lý và hài hòa, sao cho các vấn đề về kinh tế, văn hóa - xã hội, tài nguyên - môi trường phải được xem xét một cách tổng thể để cùng phát triển, không cản trở sự phát triển lẫn nhau ở hiện tại cũng như tương lai Để làm tốt điều này, phát triển du lịch phải đi đôi với phát triển bền vững, nhu cầu phát triển du lịch bền vững của ngành du lịch cho một tầm nhìn dài hơn và sâu hơn đang trở nên cấp thiết Bên cạnh đó, dù có lợi thế về du lịch biển nhưng Vũng Tàu đang trong tình trạng quá tải, mất cân đối nghiêm trọng giữa cầu và cung, đặc biệt là vào những ngày cuối tuần và các dịp lễ tết Do đó, ngành du lịch của thành phố Vũng
Trang 11Tàu muốn phát triển xanh, sạch và bền vững cần một hướng đi mới hơn Đây cũng chính là khoảng trống mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến
Xuất phát từ thực trạng trên và để góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, phát triển du lịch thành phố Vũng Tàu nhanh và bền vững Tác giả đã chọn đề
tài “Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu” để nghiên cứu, làm
luận văn tốt nghiệp cao học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu phát triển bền vững ngành du lịch đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ lâu Các tài liệu cho thấy về mặt lý luận, phát triển bền vững du lịch đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng, việc giám sát sự phát triển đã được cụ thể hóa qua hệ thống các chỉ tiêu về phát triển bền vững du lịch Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo của Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) nổi tiếng với tên gọi Ủy ban Brundlant, Hội nghị đã trao đổi dựa trên các nghiên cứu, đưa ra định nghĩa và cơ sở lý luận về việc phát triển bền vững Trong lĩnh vực học thuật,
du lịch bền vững là lĩnh vực nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu hay các tổ chức từ khi nó xuất hiện, trong đó có các công trình làm nền tảng về mặt lý thuyết
và thực tiễn trên thế giới như:
Công trình nghiên cứu khoa học “Indicator for Sustainable Development” của Bossel H (1999) đã đưa ra những chỉ số về phát triển bền vững và tìm ra bộ chỉ tiêu phù hợp cho từng vùng miền Qua công trình nghiên cứu, tác giả cũng đã nêu lên cơ
sở lý thuyết, quy trình và kinh nghiệm thực tiễn trong việc cung cấp một số danh mục đầy đủ về các chỉ tiêu phát triển bền vững cho các vùng khác nhau cùng với các minh hoạ chỉ ra các chỉ số phổ biến như Tổng sản phầm quốc nội (GDP) không
Trang 12phản ánh được sự phát triển bền vững vì chỉ số này không đề cập đến các vấn đề về môi trường
Theo công trình nghiên cứu của Bien, Amos (2004), “The simple user’s guide
to certification sustainable for tourism and ecotourism”, khi chúng ta nói đến hoạt động bền vững nghĩa là chúng ta nói đến việc hoạt động đó có thể được sử dụng một cách tương tự trong tương lai vô định, không giới hạn về thời gian dựa trên ba khía cạnh chính: môi trường, văn hoá – xã hội và kinh tế Bên cạnh đó tác giả lý giải các lý thuyết về phát triển bền vững, các chứng nhận về phát triển bền vững, trong đó tập trung phân tích ba khía cạnh chính của phát triển bền vững
Trong nghiên cứu của Machado A (2003), “Tourism and Sustainable Development, Capacity Building for Tourism Development in VietNam”, tác giải cho rằng du lịch bền vững là sự phát triển du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch và giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác hại xấu đến môi trường, văn hoá – xã hội, kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại mà không gây ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng trong tương lai Quan điểm của Machdo A đã bám sát chiến lược phát triển bền vững nói chung, từ đó đưa ra mực tiêu phát triển bền vững về du lịch
Bên cạnh đó, tác giả Manning E.W (1996) cũng đã giới thiệu bộ ba chỉ tiêu để đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch thông qua nghiên cứu có tên
“Carrying Capacity and Environmenttal Indicators” Bộ ba chỉ tiêu bao gồm: chỉ tiêu chung cho phát triển du lịch bền vững, cho các điểm du lịch và bộ chỉ tiêu đánh giá nhanh tính bền vững của một điểm du lịch
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Phát triển du lịch bền vững đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng, điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững cả về thực tiễn và chính sách Các công trình nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững làm nền tảng cho các nghiên cứu ở Việt Nam như: “Giáo trình kinh tế du lịch” (2008) của hai tác giả Nguyễn
Trang 13Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, “Giáo trình kinh tế du lịch” (2009) của Vũ Đức Minh, “Địa lý du lịch Việt Nam” (2014) Nguyễn Minh Tuệ chủ biên, “Tổng quan
du lịch” (2005) của Võ Văn Thành, “Môi trường và Phát triển bền vững” (2007) của tác giả Nguyễn Đình Hòe Các công trình nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng Bên cạnh đó là các chính sách và căn cứ pháp lý cho phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam như: “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (2012) của Bộ Văn hóa Thể thao và
Du lịch, Chỉ thị 36/CT ban hành ngày 25 tháng 06 năm 1998 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, đã tạo ra căn cứ cho việc nghiên cứu và phát triển du lịch
Trong những năm gần đây, các tác động của du lịch đối với môi trường tự nhiên và xã hội đã ngày càng trở nên nghiêm trọng và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Điều đó cho thấy yêu cầu ngày càng cấp thiết của việc xây dựng và phát triển du lịch bền vững Đối với hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch bền vững, đã có các công trình nghiên cứu như sau: “Phát triển du lịch Nha Trang (Khánh Hòa) theo hướng bền vững” (2012) của tác giả Đào Thị Bích Nguyệt , “Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững” (2017) của tác giả Lê Đức Viên
Riêng đối với hoạt động nghiên cứu phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, đã có một số công trình nghiên cứu như: “Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu” (2014) của tác giả Nguyễn Vũ Đông, một số bài nghiên cứu khoa học trong kỷ yếu khoa học “Phát triển du lịch trong cách mạng công nghiệp 4.0” (2018) của Nguyễn Văn Kiếm Các đề tài này đã đi vào nghiên cứu hoạt động phát triển du lịch của Vũng Tàu, nhìn chung đã mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận cho sự phát triển của ngành du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến một hoặc một số vấn đề riêng lẻ hoặc đã nghiên cứu từ rất lâu Các nghiên cứu chưa tập trung sâu vào phân tích thành phố Vũng Tàu mà chủ yếu phân tích trên cả tỉnh BR-VT
Trang 14Như vậy, cho đến nay chưa có những nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu mà mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu về phát triển du lịch nói chung hoặc phát triển du lịch bền vững trên toàn tỉnh mà chưa tập trung sâu vào phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu, đây chính là cơ sở cấp thiết đối với việc thực hiện nghiên cứu đề tài của tác giả Tác giả kế thừa, vận dụng những luận điểm của các công trình đã nghiên cứu trước để từ đó định ra hướng nghiên cứu cho mình Với mục tiêu đưa ra các định hướng, mục tiêu phát triển và các giải pháp phát triển du lịch bền vững phù hợp với điều kiện phát triển của thành phố Vũng Tàu, tác giả đã lựa chọn hướng đi này cho đề tài: “Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu” với hy vọng sẽ có những đóng góp thiết thực và tích cực cho việc phát triển du lịch bền vững của thành phố
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, các tiêu chí phát triển du lịch bền vững và các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững;
Phân tích tài nguyên và nguồn lực phát triển du lịch của Vũng Tàu;
Đánh giá thực trạng phát triển du lịch thành phố Vũng Tàu dựa trên các thành tố của phát triển bền vững;
Đánh giá các nguyên tắc bền vững của phát triển du lịch tại Vũng Tàu giai đoạn 2014 – 2019
Trang 15 Từ mục tiêu và định hướng phát triển du lịch bền vững của tỉnh và thành phố, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu đến năm 2025
4 Câu hỏi nghiên cứu
Phát triển du lịch bền vững được đánh giá dựa trên các nguyên tắc nào?
Các tiêu chí nào được dùng để đánh giá sự phát triển du lịch bền vững?
Thực trạng phát triển du lịch ở thành phố Vũng Tàu có đáp ứng được các tiêu chí không?
Các giải pháp để phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố là gì?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
du lịch bền vững nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu
Về không gian: thành phố Vũng Tàu
Về thời gian: thời gian nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch bền vững từ
năm 2014 đến năm 2019, đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2030
6 Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học: tiến hành khảo sát trực tiếp du khách tại các
địa điểm du lịch nổi tiếng tại thành phố Vũng Tàu như biển Bãi Trước, Bãi Sau, Tượng Chúa dang tay, Thích Ca Phật Đài từ ngày 28/09 – 13/10/2019, bằng cách phát phiếu khảo sát với bảng hỏi gồm 21 câu hỏi Nội dung khảo sát gồm các câu hỏi về thông tin cơ bản của du khách, lý do du khách lựa chọn đến Vũng Tàu du
Trang 16lịch, số đêm lưu trú, khả năng chi trả, các ý kiến của du khách về thành phố Vũng Tàu và những vấn đề khiến du khách hài lòng hay không hài lòng về thành phố,
Số phiếu khảo sát thu về là 178 phiếu được điền đầy đủ thông tin Việc khảo sát nhằm mục đích đánh giá đúng tiềm năng du lịch, hiện trạng khai thác du lịch nơi đây, từ đó có cái nhìn khách quan để đưa ra những đề xuất, kiến nghị hợp lý Đây là một trong những phương pháp quan trọng góp phần làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực
Phương pháp thống kê mô tả: tác giả đã thu thập thông tin, dữ liệu cơ bản từ
các nguồn khác nhau nghiên cứu về du lịch, phát triển du lịch bền vững, các tài liệu liên quan đến thành phố Vũng Tàu và phát triển du lịch tại thành phố Vũng Tàu Từ
đó tiến hành tổng hợp dữ liệu, phân tích và đi đến đánh giá để đưa ra được những kết luận có căn cứ Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn như: giáo trình, sách; các công trình nghiên cứu khoa học gồm báo cáo khoa học, luận án, …; các báo, tạp chí chuyên ngành, cổng thông tin internet; văn bản pháp luật của Quốc Hội: Luật du lịch Việt Nam, các báo cáo tổng kết của Sở Du lịch, Ủy Ban nhân dân tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu; các Nghị quyết, Nghị định
Phương pháp phân tích, so sánh: phương pháp sử dụng trong việc đề ra các
định hướng mục tiêu và các giải pháp phát triển du lịch bền vững của thành phố Vũng Tàu Dựa trên các nền tảng cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững, bài học kinh nghiệm từ các nước và các thành phố khác trong nước và việc nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu để từ đó đưa ra được các hướng giải pháp phát triển phù hợp
6.2 Nguồn dữ liệu
Dự liệu thứ cấp: là dữ liệu thống kê của các báo cáo ngành du lịch, chủ yếu dự
vào nguồn số liệu của Cục Thống kê, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại –
Du lịch tỉnh BR-VT, Sở lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh BR-VT, Báo cáo UBND tỉnh BR-VT
Dữ liệu sơ cấp: là dữ liệu tiến hành điều tra khảo sát của tác giả
Trang 177 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thành phố Vũng Tàu
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH BỀN VỮNG 1.1 Du lịch và phát triển du lịch bền vững
1.1.1 Du lịch
Thời đại ngày nay, cuộc sống của con người không chỉ gói gọn trong việc sinh hoạt hằng ngày lặp đi lặp lại, mà nhu cầu giải trí ngày càng cao hơn Giao thông phát triển và việc di chuyển giữa các địa điểm ngày càng thuận tiện giúp cho nhu cầu về việc đi du lịch ngày một tăng Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này
Theo hai học giả Hunziker và Kraff (2008), những người đã đặt nền móng cho
lý thuyết về cung – cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối
quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [8, 13]
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du
hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ cách du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
Trong Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), tại điều 4, chương I: “Du
lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” [17]
Trang 19Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan điểm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
1.1.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh
tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hoá riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau
về khái niệm phát triển bền vững Theo quan điểm của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên
quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980 thì: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện
trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn
và dài hạn đan xen nhau” Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài
nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững
Đến năm 1987, nhờ báo cáo của Ủy ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát
triển UNCED, thuật ngữ “phát triển bền vững” đã được phổ biến rộng rãi: “Phát
triển bền vững thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Như vậy nếu một hoạt động có
tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi
Sau đó, quan điểm này được các nhà khoa học bổ sung tại hội nghị về môi
trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5 như sau: “Phát triển bền vững được hình
thành trong sự hòa nhập, đan xen và thỏa hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa - xã hội” Phát triển bền vững không cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác”
Trang 20Ở Việt Nam, theo chỉ thị 36/CT của Bộ Chính trị BCHTW Đảng ngày 25/6/1998 đã xác định phát triển bền vững chủ yếu dựa vào các hoạt động bảo vệ
môi trường: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của
những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ” [1]
Từ đó có thể thấy vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ rất sớm, phục vụ cho mục tiêu xây dựng đất nước phát triển đi đôi với việc bảo vệ môi trường
1.1.3 Phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững và phát triển bền vững có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững đều liên quan đến môi trường, nếu không bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm Do đó phát triển
du lịch không được làm tổn hại đến tài nguyên, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Hay nói cách khác, phát triển du lịch bền vững phải là xu thế phát triển của ngành du lịch Theo Machado (2003): “Phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển các sản ph m du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” Theo giáo trình Tổng quan Du lịch của Võ Văn Thành (2015): “Thuật ngữ Phát triển du lịch bền vững theo tiếng Anh là
tourism sustainable development, là một thuật ngữ mới trong ngành du lịch Nó xuất hiện dựa trên thuật ngữ du lịch bền vững (sustainable tourism) có từ năm
1996 Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế 1996: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”” [20, 202]
Phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển chú trọng trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Quan tâm đến phát triển kinh tế là khả năng duy trì kinh tế dài hạn và quá trình này mang lại tối đa hóa lợi ích cho cộng đồng địa phương Tuy nhiên phát triển kinh tế không phải bằng bất cứ giá nào mà phải quan
Trang 21tâm đến công bằng xã hội và môi trường Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế
giới – WTO: “Phát triển bền vững trong du lịch là sự phát triển có thể đáp ứng
được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Sự phát triển này quan tâm đến lợi ích kinh
tế, xã hội mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn v n về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”
Du lịch còn được gọi là ngành công nghiệp không khói do đó phát triển du lịch bền vững là mục tiêu dài hạn, cần phải có chiến lược phát triển cân bằng, quan tâm đến toàn cục, phối hợp đồng bộ các doanh nghiệp du lịch, chính quyền, khách
du lịch và cộng đồng bản địa Ngày nay, phát triển du lịch bền vững là yếu tố không thể thiếu của phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế Ở Việt Nam, khái niệm về phát triển du lịch bền vững vẫn còn khá mới, theo điều 4, khoản 18, Luật
Du lịch Việt Nam, thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Du lịch bền vững là việc
đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai” [17], đây có thể coi là bước
quan trọng thúc đẩy du lịch bền vững ở Việt Nam phát triển
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (International Ecotourism Society, 2004), du lịch bền vững được đánh giá dự trên 3 tiêu chí, cụ thể:
1.1.4.1 Các tiêu chí về kinh tế:
Chỉ tiêu khách du lịch: đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với quá trình
phát triển du lịch Chỉ tiêu này quyết định sự thành công hay thất bại, sự phát triển bền vững hay không bền vững của ngành du lịch Việc đánh giá tính phát triển bền vững phụ thuộc vào việc chỉ tiêu này có tăng trưởng qua các năm hay không và tăng trưởng với mức độ như thế nào Trong chỉ tiêu này, cần tính đến những thành phần khác như số ngày lưu trú trung bình, số khách quay trở lại, khả năng thanh toán,
Trang 22mức độ hài lòng của khách, mức độ chi tiêu của khách trong chuyến du lịch, chất lượng của sản phẩm du lịch, chất lượng các dịch vụ, chất lượng của đội ngũ lao động, Sẽ đảm bảo đáp ứng cho mức độ hài lòng của du khách, làm tăng thêm mong muốn quay trở lại của họ, và chính họ cũng sẽ là người quảng cáo tốt nhất cho hoạt động du lịch Tỷ lệ khách du lịch quay trở lại càng cao chứng tỏ rằng hoạt động du lịch đang phát triển đúng hướng và có hiệu quả Điều này càng quan trọng đối với những đối tượng khách du lịch từ những thị trường có khả năng chi trả cao, thời gian lưu trú dài ngày Đây chính là dấu hiệu quan trọng cho thấy sự phát triển bền vững trong hoạt động du lịch
Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: thước đo phản ánh trình độ
phát triển của ngành du lịch chính là chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch (bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển, các khu du lịch, văn phòng, cơ sở dịch vụ bổ sung khác,…) Sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật vừa đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng vừa góp phần quan trọng vào việc thu hút khách du lịch đảm bảo cho sự phát triển của ngành Vấn đề đầu tư hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chất lượng cao là một vấn đề rất quan trọng, nếu không được đầu tư hoặc đầu tư không đồng bộ thì hệ thống cơ sở vật chất du lịch sẽ nghèo nàn lạc hậu kém chất lượng và không có khả năng hấp dẫn khách du lịch cũng như không có khả năng lưu giữ khách dài ngày hay làm cho khách du lịch có mong muốn quay lại, từ đó làm giảm khả năng chi tiêu của họ, dẫn đến nguồn thu giảm, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên đến sự phát triển bền vững của du lịch
Chỉ tiêu nguồn nhân lực du lịch: chất lượng đội ngũ lao động ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và sự tăng trưởng du lịch đứng từ góc độ kinh tế Chất lượng đội ngũ lao động được đào tạo không chỉ là yếu tố thu hút khách du lịch, nâng cao uy tín của ngành mà còn là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách du lịch, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hướng bền vững về mặt chuyên môn bên cạnh kỹ năng nghề nghiệp giỏi,
Trang 23khả năng giao tiếp tốt, thông thạo ngoại ngữ, phải cần trang bị những kiến thức về sinh thái học, quản lý môi trường, luật môi trường và hệ thống kiến thức sâu rộng
về xã hội Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ lao động
du lịch sẽ đảm bảo cho sự phát triển về chất lượng sản phẩm, các dịch vụ, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển du lịch bền vững
Tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch: đây là công
tác đóng vai trò quan trọng trong bất cứ một ngành kinh tế nào Cần đề cao tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá thông qua việc cung cấp đầy đủ
và trung thực thông tin về địa điểm du lịch, về sản phẩm du lịch, đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho du khách về thái độ ứng xử với cộng đồng, với truyền thống văn hóa, với cảnh quan môi trường nơi du khách tới tham quan du lịch Từ đó tạo được lòng tin cho du khách, gia tăng lượng khách du lịch, đồng nghĩa với việc tăng trưởng về kinh tế thông qua tăng trưởng các hoạt động du lịch
1.1.4.2 Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường
Số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: phát triển bền
vững là nhằm hạn chế việc khai thác quá mức và lãng phí các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên tự nhiên không tái tạo, chính vì vậy số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn được coi là một trong số những dấu hiệu nhận biết về sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch Thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao Chính vì vậy chỉ tiêu về số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư bảo tồn và tôn tạo được coi là một trong số các tiêu chí cơ bản của sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch về mặt tài nguyên môi trường Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì hoạt động du lịch được xem là trong trạng thái phát triển bền vững
Số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch: quy hoạch là căn cứ dựa trên
việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các dự án cụ thể, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch Quy hoạch là quá trình kiểm kê, phân tích, đánh giá các nguồn lực và các điều kiện có liên quan đến phát triển du lịch, từ đó xác
Trang 24định các phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội Vì vậy,
số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch là một trong các chỉ tiêu phản ánh tính bền vững của phát triển du lịch
Áp lực lên môi trường tài nguyên tại các khu, điểm du lịch: để đạt tới mục tiêu
phát triển du lịch bền vững thì vấn đề về môi trường tại các khu, điểm du lịch cần được coi trọng trong quá trình phát triển du lịch Việc phát triển nhanh các hoạt động du lịch mà không coi trọng đến công tác đánh giá và quản lý tác động môi trường tại các khu vực du lịch sẽ là nguyên nhân chính gây ra hậu quả nghiêm trọng
về môi trường tại các khu, điểm du lịch Kết quả sẽ là sự phát triển thiếu bền vững của du lịch Do đó việc quản lý và hạn chế những áp lực lên các nguồn tài nguyên
và môi trường thông qua các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu chất thải, mức độ kiểm soát các hoạt động phát triển du lịch, mức độ đầu tư bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh học Quá trình này diễn ra càng gắt gao và nghiêm túc thì việc thực thi phát triển du lịch bền vững càng có hiệu quả
Cường độ hoạt động tại các điểm, khu du lịch: việc gia tăng mạnh mẽ về số
lượng khách du lịch sẽ đồng nghĩa với việc các nguồn tài nguyên du lịch bị khai thác quá mức để đáp ứng các nhu cầu của du khách, dẫn đến tình trạng suy thoái và cạn kiệt các nguồn tài nguyên Sự gia tăng nhanh của du khách còn gây ra hiện tượng quá tải về chất thải tại các điểm du lịch, làm cho môi trường tại nơi đó không được đảm bảo dẫn đến hiện tượng suy thoái môi trường Đồng thời sẽ dẫn đến sự gia tăng trong nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng, gây ra thiếu hụt các nguồn năng lượng, cạn kiệt nguồn tài nguyên Từ những mâu thuẫn trên, việc phát triển du lịch bền vững một mặt phải đảm bảo được sự gia tăng của du khách nhưng đồng thời phải xác định được cường độ hoạt động của du khách tại điểm du lịch sao cho không vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép, môi trường, tiêu chuẩn về tiêu thụ năng lượng và sức chứa Chính vì vậy việc giới hạn số lượng du khách đến trong cùng một khoảng thời gian là vấn đề quan trọng và cần thiết giúp cho việc duy trì và bảo
Trang 25vệ sự đa dạng sinh học nhằm đảm bảo đủ nguồn năng lượng để phục vụ nhu cầu cho khách du lịch
Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường: nguồn thu từ việc khai thác và sử dụng các nguồn tài
nguyên phục vụ du lịch có thể sử dụng một phần vào mục đích tôn tạo, bảo tồn và nâng cấp nguồn tài nguyên đó Mức độ này được thể hiện qua tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồn thu Tỷ lệ càng lớn thì mức đóng góp càng cao và đảm bảo cho việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch càng bền vững Do vậy, đây cũng là một tiêu chí không thể thiếu trong việc đánh giá phát triển du lịch bền vững về mặt tài nguyên môi trường
1.1.4.3 Các tiêu chí về xã hội
Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: để đảm bảo cho sự phát triển du
lịch bền vững về mặt xã hội, vấn đề đặt ra là các tác động tiêu cực không thể tránh khỏi đến xã hội từ các hoạt động phát triển du lịch cần được kiểm soát và quản lý Ngoài ra do tính chất của cơ chế thị trường trong hoạt động du lịch, một số giá trị văn hóa truyền thống có thể bị biến đổi để phù hợp với nhu cầu của khách, hoặc bị biến đổi do sự du nhập văn hóa ngoại lai, Đây là những tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội Như vậy để kiểm soát và quản lý nhằm hạn chế các tác động tiêu cực này, cần thiết phải có hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước và quy định của chính quyền địa phương và năng lực để thực hiện Các chính sách phát triển du lịch và hoạt động du lịch phải được hoạch định và thực hiện sao cho vừa có sự bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa, nghệ thuật vừa giữ lại ít nhất một phần các nguồn thu từ du khách để bảo dưỡng trùng tu các di sản đó
Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động
du lịch: nếu có được sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng thì chính họ sẽ là người
bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường Do vậy mức độ hài lòng của cộng đồng dân
cư đối với các hoạt động du lịch sẽ phản ánh mức độ bền vững của du lịch trong quá trình phát triển Để có được sự hài lòng của cộng đồng thì vai trò, lợi ích, trách
Trang 26nhiệm của cộng đồng phải được quan tâm hàng đầu và phát huy, bằng những công việc cụ thể như: tăng cường khả năng và mức độ tham gia của cộng đồng vào các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn, tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia đầu tư xây dựng và phát triển du lịch trên địa bàn để nâng cao mức sống và tạo công ăn việc làm cho cộng đồng, phát huy vai trò của cộng đồng trong việc tham gia xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển trên địa bàn du lịch, đồng thời nâng cao phúc lợi xã hội chung của cộng đồng trên địa bàn nhờ các hoạt động phát triển du lịch
1.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới và cũng là mục tiêu hàng đầu cho phát triển của Việt Nam Ở nước ta, khái niệm phát triển bền vững mới được tiếp cận từ thập niên 1980, được khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước 1991- 2000, bằng Chỉ thị 36 CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về công tác tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đồng thời, cũng được khẳng định thông qua các chủ trương qua các kỳ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII, trở thành những định hướng quan trọng cho các ngành, trong đó có ngành du lịch Việc xác định nguyên tắc phát triển bền vững và du lịch bền vững là cơ sở quan trọng cho những bước tiếp theo của ngành du lịch
Tại Hội nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển UNCED ngày 14/2/1992 đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh về trái đất (Earth Eummit), 182 Chính phủ đã thông qua chương trình nghị sự 21 (Agenda) – một chương trình hành động toàn diện nhằm đảm bảo một tương lai bền vững cho nhân loại và thế kỷ 21 Chương trình Nghị sự 21 đã đề ra các nguyên tắc chủ đạo cho toàn ngành nhằm
đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững, cụ thể:
Trang 271.2.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Mọi hoạt động phát triển kinh tế đều liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn, đối với các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng, việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cần dựa trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá, quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển cụ thể Sự phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng cần đảm bảo tính trường tồn của môi trường Điều này có nghĩa là trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến giải pháp nhằm ngăn chặn sự hư hại cảnh quan thiên nhiên, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước, và khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Chính điều này sẽ khiến cho việc kinh doanh du lịch phát triển lâu dài
Ngành du lịch cần ngăn chặn sự phá hoại tới nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, nhân văn, phát triển và thực thi chính sách môi trường hợp lý trên các lĩnh vực của du lịch, lắp đặt các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm không khí, nguồn nước, ; thực thi nguyên tắc phòng ngừa, tôn trọng các nhu cầu của người dân địa phương, bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, triển khai các hoạt động du lịch có trách
nhiệm và đạo đức, kiên quyết bài trừ các hoạt động du lịch phá hủy môi trường
1.2.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và chất thải ra môi
trường
Việc khai thác tài nguyên quá mức và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ dẫn đến sự hủy hoại môi trường địa phương, đi ngược lại sự phát triển bền vững lâu dài của ngành công nghiệp du lịch Mọi hậu quả của nó sẽ gây ra những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường Để thực hiện nguyên tắc này ngành du lịch cần phải khuyến khích việc giảm tiêu thụ tài nguyên như nước, năng lượng, ưu tiên sử dụng nguồn lực địa phương hợp lý và bền vững, giảm rác thải do du khách xả ra, xử lý rác thải một cách hiệu quả, an toàn, đầu tư cơ
Trang 28sở hạ tầng cho địa phương và phải có trách nhiệm hồi phục tổn thất cho công tác quy hoạch du lịch
1.2.3 Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng
Nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch chính là tính đa dạng về thiên nhiên, văn hóa, xã hội, những yếu tố này làm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch dẫn đến tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Nếu phát triển
du lịch đúng nguyên tắc, sẽ đảm bảo cho hoạt động du lịch trở thành một động lực góp phần tích cực duy trì sự đa dạng của thiên nhiên Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa bằng việc khích lệ các hoạt động văn hóa dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa Chính vì vậy việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa, xã hội là rất quan trọng đối với du lịch bền vững và là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch Để duy trì tính đa dạng về thiên nhiên văn hóa và xã hội, ngành du lịch cần phải trân trọng tính đa dạng của điểm đến, ngăn ngừa sự phá hoại đa dạng sinh thái, giám sát chặt chẽ các hoạt động du lịch đối với động thực vật, khuyến khích các đặc tính riêng của vùng, đảm bảo quy mô, tiến độ của các loại hình du lịch nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa du khách và dân
Trang 29lợi, tránh những xung đột tiêu cực, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài bền vững của mỗi ngành kinh tế
1.2.5 Đảm bảo việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương
Việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một trong những nguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững, nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình, không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống của người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Do đó, du lịch phát triển sẽ hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển, thúc đẩy kinh tế địa phương và tránh các tổn hại về môi trường Đầu tư cho du lịch cũng chính là đầu tư cho cơ sở hạ tầng địa phương, cải tạo cảnh quan môi trường và mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương
1.2.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá
trình phát triển du lịch
Địa phương là điểm đến du lịch, là nơi thu hút sự quan tâm của khách du lịch, nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào các hoạt động du lịch thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển Việc này không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương mà còn nâng cao chất lượng phục vụ du lịch cũng như góp phần bảo vệ môi trường, vì cộng đồng dân cư địa phương sẽ có ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường nơi mình ở cao hơn Chính điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch Để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, các cơ quan quản lý cần phải tôn trọng nhu cầu và nguyện vọng của người dân địa phương, đồng thời khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia tích cực vào các dự án, các hoạt động phát triển du lịch, tạo điều kiện và ủng hộ các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân địa phương cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho khách, hướng dẫn du khách, Góp phần phát triển du lịch của địa phương cũng như nâng cao đời sống của người dân nơi đây
Trang 301.2.7 Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa
phương về phát triển du lịch
Sự tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương là cần thiết để có thể đánh giá được tính khả thi của một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hóa sự đóng góp tích cực của quần chúng địa phương Đây chính
là quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm khác của cộng đồng địa phương, với những tác động tiềm ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội Việc thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan để cùng nhau giải quyết các màu thuận nảy sinh trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Quá trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương, việc làm này hết sức cần thiết đối với mục tiêu phát triển du lịch bền vững
1.2.8 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi
trường
Con người luôn là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với bất kỳ sự phát triển nào Sự phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ những người thực hiện không chỉ có trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn về tính cấp thiết của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường Đưa nhận thức về quản lý môi trường vào chương trình đào tạo của ngành du lịch sẽ đảm bảo cho việc thực hiện những chính sách và luật pháp
về môi trường tại các cơ sở du lịch Việc xây dựng một đội ngũ nhân viên có trình
độ nghiệp vụ, có hiểu biết về văn hóa, môi trường là yêu tố quan trọng để đảm bảo cho chất lượng của sản phẩm du lịch Do đó ngành du lịch cần phải chú trọng hơn trong công tác đào tạo, đưa những vấn đề về môi trường, văn hóa xã hội vào chương trình đào tạo, khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường và bản sắc văn hóa địa phương mình
Trang 311.2.9 Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động quảng bá du lịch
Để thu hút khách du lịch đến với địa phương mình thì việc quảng bá tiếp thị là một trong những hoạt động quan trọng góp phần phát triển du lịch Cần cung cấp cho khách du lịch đầy đủ những thông tin ngay từ đầu để khách du lịch nâng cao nhận thức trong việc tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa nơi địa phương đến tham quan, giúp du khách hiểu rõ hơn về địa phương Điều này
sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách du lịch,
đảm bảo tính bền vững trong phát triển du lịch
1.2.10 Thường xuyên tiến hành các công tác nghiên cứu
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên các nghiên cứu về những vấn đề có liên quan Công tác nghiên cứu chính là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là ngành du lịch Việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích là rất cần thiết không chỉ đảm bảo cho hiệu quả hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho việc bảo vệ tài nguyên và môi trường phát triển một cách bền vững Việc thực hiện nguyên tắc này một cách nghiêm túc và đầy đủ sẽ đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế chuyên nghiệp hiện đại và bền vững
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trong và ngoài nước
1.3.1 Tại Việt Nam
1.3.1.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của Đà Nẵng
Thời gian qua, ngành du lịch Đà Nẵng có mức tăng trưởng bền vững với lượng
du khách ngày càng gia tăng Theo báo cáo của Sở Du lịch, giai đoạn 2015-2019, tốc độ tăng trưởng bình quân khách tham quan du lịch Đà Nẵng ước đạt 17,88% Năm 2019, tổng lượng khách tham quan, du lịch Đà Nẵng ước đạt 8,69 triệu lượt, tăng 85,7% so với năm 2015; tổng thu du lịch ước đạt 30.973 tỷ đồng, tăng 141,6%
so với năm 2015 Tính đến tháng 11-2019, trên địa bàn thành phố có 943 cơ sở lưu trú du lịch với 40.074 phòng, 376 đơn vị kinh doanh lữ hành, 4.646 hướng dẫn viên
Trang 32Về hệ thống cơ sở vật chất, hiện thành phố có 85 dự án du lịch đã và đang triển khai đầu tư với 7,2 tỷ USD với nhiều dự án ven biển đẳng cấp quốc tế Thành phố được kết nối ngày càng nhiều với các tỉnh, thành trong và ngoài nước thông qua việc xúc tiến đường bay hiệu quả, với 31 đường bay quốc tế, tần suất 480 chuyến/tuần và 9 đường bay nội địa tần suất 670 chuyến/tuần 41 Sở dĩ đạt được những kết quả trên
là do cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, người dân Đà Nẵng đã
“chung sức, chung lòng” hướng tới mục tiêu bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển bền vững
Thành phố Đà Nẵng đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, điện, nước, viễn thông, cảng biển… thuận tiện; đảm bảo cơ sở hạ tầng hiện đại, nhưng không ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và môi trường Cơ sở vật chất phục vụ
du lịch được đầu tư, nâng cấp cả về số lượng lẫn chất lượng, như: xây dựng các tuyến đường du lịch ven biển Nguyễn Tất Thành, đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa; nâng cấp Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, hệ thống các bãi tắm công cộng… Đối với khu vực phía Bắc Ghềnh Nam Ô, tăng diện tích công cộng,
mở rộng không gian chung tại mặt biển cho người dân, tính từ mực nước biển, lùi 50m thiết lập đường ranh giới bảo vệ bờ biển và điều chỉnh ranh giới các dự án lùi vào sau đường ranh giới bảo vệ bờ biển; mở rộng đường dân sinh giáp ranh với các
dự án; tổ chức 03 lối xuống biển và làm công viên quảng trường phục vụ công cộng
Ngoài ra, chính quyền thành phố đã tập trung đảm bảo tốt tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giải quyết nạn ăn xin, hạn chế tối đa việc bán hàng rong, đặt các biển cấm trong thành phố với tần suất khoảng 300m - 500m/biển… Ngày 19/04/2005, UBND thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định số 45/2005/QĐ-UB
về việc Ban hành Kế hoạch triển khai một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giày, bán sách, báo dạo và bán hàng rong trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thể hiện
sự kiên quyết trong việc kiểm soát chặt chẽ và hạn chế tối đa các hoạt động này, đưa ra các giải pháp hướng nghiệp và tạo điều kiện chuyển đổi ngành nghề cho các đối tượng này Thành phố thường xuyên tổ chức kiểm tra, khảo sát địa bàn, quản lý
Trang 33đối tượng và tiến hành xử lý các đối tượng vi phạm như lập biên bản cảnh cáo, buộc trở về nơi cư trú đối với các đối tượng từ những nơi khác đến Đà Nẵng lang thang đánh giày, bán hàng rong tại các tuyến đường, khu vực quy định cấm; lập biên bản, thu gom chuyển vào cơ sở Bảo trợ xã hội để phân loại, xử lý các đối tượng: Người lang thang xin ăn, người tâm thần lang thang, người làm công việc khác kết hợp với xin ăn (biến tướng xin ăn),
Sản phẩm du lịch thành phố ngày càng đa dạng, chất lượng dịch vụ du lịch được củng cố và nâng cao, cơ bản đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của du khách với nhiều sản phẩm mới, ví dụ như: quần thể du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ, bán đảo Sơn Trà, các khu du lịch Hòa Phú Thành, Phước Nhơn; Công viên suối khoáng nóng Núi Thần Tài… Du lịch văn hóa – lịch sử được khai thác thông qua các tour tham quan các di tích lịch sử, các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh và múa Chăm tại bảo tàng Điêu khắc Chăm được định kỳ tổ chức phục vụ du khách Trong những năm gần đây thành phố
đã chú trọng phát triển các địa điểm du lịch ở ngoại ô thành phố nhằm mục đích phân bố lại lưu lượng du khách, giảm tải áp lực cho các địa điểm du lịch trong thành phố, góp phần gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ môi trường góp phần trong việc phát triển du lịch bền vững
Công tác xúc tiến quảng bá du lịch được đẩy mạnh thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch; farmtrip, quảng bá đến các thị trường quốc tế với quy
mô ngày càng tăng về số lượng và chất lượng; tổ chức nhiều sự kiện lớn như: thi trình diễn pháo hoa quốc tế, thi ma-ra-tông quốc tế, dù lượn quốc tế… Do đó, điểm đến Đà Nẵng đã được nhiều du khách, doanh nghiệp, các tổ chức du lịch, các tạp chí, trang mạng chuyên về du lịch trên thế giới bình chọn và đánh giá cao, từng bước khẳng định thương hiệu của du lịch Đà Nẵng đến thị trường trong nước và quốc tế
Nguồn nhân lực du lịch từng bước được bổ sung và tăng cường qua chính sách thu hút nhân tài, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm du lịch với trình
Trang 34cao ngày càng được chú trọng, đáp ứng nhu cầu tăng cao của du lịch cả về vui chơi, giải trí lẫn tìm hiểu giá trị văn hóa, lịch sử của Đà Nẵng Chính sách thu hút nhân tài của Đà Nẵng được thực hiện từ năm 1998 – 2014, sau 16 năm thực hiện, thành phố
đã tiếp nhận và bố trí công tác cho 1.269 người tốt nghiệp đại học công lập, chính quy trở lên Ngoài chế độ đãi ngộ vật chất ban đầu và hỗ trợ hàng tháng, bố trí nhà
ở cho một số đối tượng từ các địa phương khác đến Đà Nẵng công tác thì chính quyền còn tạo điều kiện để các đối tượng đó thi tuyển công chức, viên chức 39
1.3.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của tỉnh Khánh Hòa
Ở Nha Trang, với thế mạnh về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, những năm gần đây, ngành du lịch đã bắt đầu chú trọng phát triển "du lịch xanh" nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của ngành "công nghiệp không khói" này Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, du lịch được xác định là ngành kinh
tế mũi nhọn Năm 2016, tổng doanh thu du lịch trên địa bàn tỉnh đạt 13.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng chục nghìn người Trong năm 2017, du lịch Khánh Hòa đã đón hơn 3,8 triệu lượt khách lưu trú (tăng 20% so với cùng kỳ), tổng doanh thu du lịch đạt hơn 11.526 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ) Năm 2018, du lịch Nha Trang - Khánh Hòa đón gần 6.3 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 2.8 triệu lượt tăng 37% so với năm 2017, doanh thu du lịch ước đạt khoảng 20.524
tỷ đồng.Trong năm du lịch quốc gia 2019, Khánh Hòa đặt mục tiêu đón hơn 6,8 triệu lượt khách du lịch, tăng 7% so với năm 2018, trong đó có 3,3 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18%, doanh thu du lịch đạt 22.500 tỷ đồng, tăng khoảng 9% Khánh Hòa đặt mục tiêu đón hơn 7 triệu lượt khách lưu trú, trong đó có hơn 3 triệu lượt khách quốc tế Có thể thấy ngành du lịch đang có đóng góp vô cùng quan trọng vào
sự phát triển của địa phương 49
Về tác động xã hội, ngành du lịch đã và đang tạo ra việc làm ổn định với mức thu nhập khá cho một bộ phận lớn cộng đồng dân cư địa phương và sẽ không ngừng tăng qua các năm, từ các hoạt động liên quan đến việc phục vụ nhu cầu ăn uống, vui chơi, mua sắm… của du khách Tuy nhiên với sự phát triển du lịch ngày càng nhanh, thì ngược lại môi trường càng dễ bị hủy hoại Đầu những năm 2016, rác thải
Trang 35tràn ngập trên các bãi biển và đường phố là nỗi lo lắng rất lớn của tỉnh Khánh Hòa Bên cạnh đó việc phát triển quá nhanh dẫn đến cơ sở hạ tầng quá tải và không đủ điều kiện đáp ứng dẫn đến nhiều vấn đề hệ lụy kéo theo Để tạo dựng lại cảnh quan
đô thị, bảo vệ môi trường biển, giữa năm 2016, thành phố đã triển khai lắp đặt các bảng chỉ dẫn địa điểm du lịch, biển cấm buôn bán hàng rong tại các khu vực tham quan, đặt 120 thùng rác dọc các tuyến đường trung tâm, xây dựng 14 nhà vệ sinh công cộng, lắp đặt hệ thống loa truyền thanh không dây dọc công viên bờ biển, đặt
22 trụ cung cấp nước uống công cộng, góp phần tạo ra thay đổi đáng kể trong việc bảo vệ môi trường
Song song đó, những khu du lịch sinh thái rừng, những khu resort ra đời sau này đã được xây dựng hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, những khu bảo tồn thiên nhiên được quan tâm gìn giữ hơn, những khu vực rừng ngập mặn được phục hồi, vịnh biển Nha Trang ngày càng trở nên sạch hơn,
Nâng cao cơ sở hạ tầng công cộng phục vụ cho du lịch, điển hình như việc phát động phong trào xã hội hóa nhà vệ sinh công cộng TP Nha Trang mới có 19 nhà VSCC, hầu hết được bố trí ở dọc công viên bờ biển nên chưa đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách Để giải quyết khó khăn trên, tháng 11/2019, UBND TP Nha Trang phê duyệt Đề án Xã hội hóa nhà VSCC với mục tiêu chính là vận động các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thuộc các lĩnh vực du lịch, thương mại, dịch vụ tại các tuyến đường trung tâm của thành phố cho phép du khách sử dụng miễn phí
hệ thống nhà vệ sinh hiện có ở các cơ sở với tinh thần cởi mở thân thiện Các đơn vị tham gia đề án sẽ dán logo “Thoải mái như ở nhà - Comfort as home” để du khách nhận biết và sử dụng Việc UBND TP Nha Trang phát động phong trào xã hội hóa nhà vệ sinh công cộng không chỉ giải quyết được việc thiếu nhà vệ sinh công cộng,
mà còn là một sự cam kết cho nỗ lực chung tay xây dựng Nha Trang - Khánh Hòa thành điểm đến văn minh, thân thiện
Các giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa bản địa được tôn vinh và giới thiệu cho du khách gần xa Hầu hết các công ty lữ hành ở Khánh Hòa đều thiết kế những chương trình tour gắn liền với các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, chẳng hạn như