1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Trung Quốc - Luận Văn Ths. Kinh Tế 6752672.Pdf

54 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Trung Quốc
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Quan Hệ Thương Mại
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môc lôc MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6 1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6 1 1 1 THUYẾT TỰ DO THƯƠNG MẠI 6 1 1 1 1 LÝ THUYẾT “BÀN TAY VÔ HÌNH” CỦA ADAM SMITH 6 1 1 1 2 LÝ[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1.1 THUYẾT TỰ DO THƯƠNG MẠI 6

1.1.1.1 LÝ THUYẾT “BÀN TAY VÔ HÌNH” CỦA ADAM SMITH 6

1.1.1.2 LÝ THUYẾT “BÀN TAY HỮU HÌNH” CỦA JONH MAYNARD KEYNES 8

1.1.1.3 LÝ THUYẾT “KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA SAMUELSON 9

1.1.2 LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 11

1.1.2.1 CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG 11

1.1.2.2 THUYẾT “LỢI ÍCH TUYỆT ĐỐI”CỦA ADAM SMITH (1723 – 1790) 12

1.1.2.3 TƯ TƯỞNG CỦA RICARDO (1772-1823) VỀ LỢI ÍCH SO SÁNH 12

1.1.2.4 ĐỊNH LÝ HECKSCHER - OHLIN 13

1.1.3 LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN 15

1.1.4 QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC VỀ NGOẠI THƯƠNG TRONG THỜI KỲ CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA 18

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19

1.2.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 19

1.2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 19

1.2.1.2 KHÍ HẬU 20

1.2.1.3 TÀI NGUYÊN BIỂN 21

Trang 2

1.2.1.4 TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN 21

1.2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 22

1.2.2.1 XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA KINH TẾ 22

1.2.2.2 CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 24

1.2.2.3 CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 30

2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 30

2.1.1 GIAI ĐOẠN TỪ 1991 - 1995: THỜI KỲ KHỞI ĐỘNG 30

2.1.2 GIAI ĐOẠN TỪ 1996 – 2000: THỜI KỲ PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH 33

2.1.3 GIAI ĐOẠN TỪ 2001 ĐẾN NAY: THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ 37

2.2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 40

2.2.1 KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 40

2.2.2 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU 42

2.2.3 CHỦ THỂ THAM GIA XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 50

2.2.4 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN 52

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 52

2.3.1 NHỮNG THÀNH TỰU 53

2.3.2 NHỮNG HẠN CHẾ 56

2.2.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ 60

Trang 3

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ HƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 65 3.1 BỐI CẢNH MỚI TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 65

3.1.1 TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU LÀ THÀNH VIÊN CỦA

WTO 653.1.2 TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU THAM GIA VÀO HỢP

TÁC KHU VỰC 663.1.3 VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC THAM GIA HỢP TÁC KINH TẾ

VÙNG 68

3.2 MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH CỦA HAI NƯỚC SAU KHI HAI NƯỚC GIA NHẬP WTO693.2.1 VỀ PHÍA TRUNG QUỐC 693.2.2 VỀ PHÍA VIỆT NAM 71

3.3 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 73

3.3.1 NHỮNG NHÂN TỐ THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ

THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI 733.3.2 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG

QUỐC TRONG NHỮNG NĂM TỚI 75

3.4 NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM-TRUNG QUỐC 79

3.4.1 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHO

PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ QUỐC TẾ, TẠO CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC 79 3.4.2 NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO ĐỊA PHƯƠNG CỦA HAI

NƯỚC 81

Trang 4

3.4.3 NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH

HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC 82 3.4.4 THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH HỢP TÁC XÂY DỰNG “HAI HÀNH

LANG VÀ MỘT VÀNH ĐAI KINH TẾ” 86 3.4.5 TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI

TẠI CÁC CỬA KHẨU VÀ TRÊN TOÀN TUYẾN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 88 3.4.6 TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỢ BIÊN GIỚI VÀ

QUẢN LÝ VIỆC MUA BÁN, TRAO ĐỔI HÀNG HOÁ TẠI CÁC CHỢ BIÊN GIỚI 89 3.4.7 HOÀN THIỆN THỦ TỤC THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG Ở

KHU VỰC BIÊN GIỚI 903.4.8 TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG BUÔN LẬU VÀ

GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 90

KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACFTA Khu mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AFTA Khu mậu dịch tự do Đông Nam Á

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ASEM Diễn đàn hợp tác Á- Âu

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

C/O Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá

EHP Chương trình thu hoạch sớm

FTAs Khu vực thương mại tự do

GMS Hợp tác tiểu vùng sông Mê kông mở rộng

L/C Thư tín dụng

RTAs Các thoả thuận thương mại khu vực

XNK Xuất nhập khẩu

VAT Thuế giá trị gia tăng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

B¶ng 2.1: Kim ng¹ch xuÊt nhËp khÈu hµng hãa ViÖt Nam - Trung Quèc thêi kú 1991-2007 41 B¶ng 2.2: Mét sè mÆt hµng xuÊt khÈu chñ yÕu cña ViÖt Nam sang Trung Quèc giai ®o¹n 1991-1995 44 B¶ng 2.3 : Mét sè mÆt hµng xuÊt khÈu chñ yÕu cña ViÖt Nam sang Trung Quèc giai ®o¹n 1996-2000 45 B¶ng 2.4 : Mét sè mÆt hµng xuÊt khÈu chñ yÕu cña ViÖt Nam sang Trung Quèc giai ®o¹n 2001-2007 47 B¶ng 2.5: Mét sè mÆt hµng nhËp khÈu chñ yÕu cña ViÖt Nam tõ Trung Quèc giai ®o¹n 1996-2000 48 B¶ng 2.6: Mét sè mÆt hµng nhËp khÈu chñ yÕu cña ViÖt Nam tõ Trung Quèc giai ®o¹n 2001 - 2007 49 B¶ng 3.1: Dù b¸o kim ng¹ch xuÊt nhËp khÈu gi÷a hai n-íc giai ®o¹n 2007 - 2015 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hoá (11/1991) đến nay, nhiều văn bản, hiệp định đã được ký kết giữa hai nước như: Hiệp định thương mại (1991); Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật (1992); Hiệp định về việc thành lập UỶ ban hợp tác kinh tế thương mại (1994); Hiệp định mua bán hàng hoá tại vùng biên giới.v.v đã tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển và đạt được một số thành tựu quan trọng Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước ngày càng tăng Năm

1991, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc đạt 37,7 triệu USD, đến năm 2007 đạt 15.559 triệu USD, gấp 413 lần so năm 1991 Với nhịp độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu nhanh chóng, Trung Quốc đang trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Cùng với quá trình đẩy mạnh hợp tác song phương, việc tham gia vào kinh tế toàn cầu và khu vực đã mở ra cho Việt nam và Trung Quốc nhiều cơ hội, cụ thể là hệ thống pháp luật và chính sách thương mại ngày càng minh bạch, thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng rào thuế quan đang dần được

dỡ bỏ giữa hai nước, hàng hoá trao đổi giữa hai nước ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, hệ thống cơ sở hạ tầng cũng đang được hai nước quan tâm phát triển Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế cũng đưa lại những thách thức lớn trong quan hệ thương mại giữa hai nước, đó là cạnh tranh hàng hoá của Việt nam với hàng hoá của các nước trong khu vực và hàng hoá của Trung Quốc ngày càng diễn ra gay gắt Chất lượng sản phẩm yêu cầu ngày càng cao hơn Bên cạnh đó, quan hệ thương mại giữa hai nước cũng còn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết như: Thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc quá lớn, khối lượng hàng hoá trao đổi chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của hai nước, tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại tại khu vực biên giới có dấu hiệu gia tăng, ô nhiễm môi trường ở khu vực cửa

Trang 8

khẩu biên giới đang trở thành hiện tượng phổ biến, các doanh nghiệp Việt Nam còn thụ động trong kinh doanh, chạy theo lợi ích ngắn hạn, dễ bị phụ thuộc vào phía Trung Quốc, thương mại dịch vụ còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước…

Nhìn chung, quan hệ thương mại Việt Nam -Trung Quốc những năm qua

đã có sự phát triển vượt bậc và có vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc còn phải được tiếp tục phát triển lên tầm cao mới đáp ứng đòi hỏi của sự hợp tác toàn diện đã được lãnh đạo hai nước thoả thuận, đồng thời đáp ứng yêu cầu của tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Đề tài “Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc” được lựa chọn nghiên cứu góp phần đáp ứng yêu cầu trình bày ở trên, nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu làm cho quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc không ngừng mở rộng và phát triển bền vững trong những năm tới

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

* Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ở nước ngoài, đã có một số tài liệu nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc, cụ thể: Nhóm chuyên

gia về hợp tác kinh tế ASEAN-Trung Quốc (2001) đã nghiên cứu “tác động

của việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc đến lợi ích thương mại của các nước tham gia” dựa trên mô hình phân tích thương mại

toàn cầu với giả định thuế suất giảm xuống bằng 0 Toh Mun Heng and

Vasudevan Gayathri (2004) đã nghiên cứu về “Tác động của tự do hoá

thương mại khu vực đối với các nền kinh tế mới nổi: trường hợp Việt Nam”

đăng tải trên Tạp chí ASEAN Economic Bulletin

* Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở trong nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và Việt

Trang 9

Nam dưới nhiều góc độ khác nhau như: Buôn bán qua biên giới Việt nam -

Trung quốc Lịch sử -Hiện trạng - Triển vọng TS Nguyễn Minh Hằng -

Viện Nghiên cứu Trung Quốc; Một số vấn đề về phát triển thương mại quốc

tế vùng biên giới phía Bắc của TS Nguyễn Công Hoàn - Trung tâm Khoa học

xã hội và nhân văn quốc gia; Các giải pháp để Việt Nam khai thác tối đa

những lợi ích thương mại từ chương trình thu hoạch sớm trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc của Ths Trịnh Thị Thanh Thuỷ-Viện Nghiên

cứu Thương mại; Đổi mới quản lý Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu

trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc của TS Lương Đăng

Ninh-Viện Nghiên cứu Thương mại; Tác động của việc Trung Quốc gia nhập

WTO đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam của Ths Đỗ Kim Chi-Viện

Nghiên cứu Thương mại

Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng quát quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 1991 đến nay, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc trong những năm tới, nhất là trong bối cảnh mới Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của WTO, ACFTA, GMS

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển quan hệ thương mại hai nước

- Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ

1991 đến nay và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt

động thương mại hàng hóa giữa hai nước

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận cơ bản về thương mại quốc tế để làm rõ cơ sở khoa học phát triển quan hệ thương mai hai nước

- Nghiên cứu bối cảnh mới trong nước và quốc tế tác động tới quan hệ thương mại hai nước

- Khảo sát và đánh giá thực trạng quan hệ thương mại hàng hóa Việt

Trang 10

Nam-4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc dưới góc độ kinh tế chính trị

- Nghiên cứu các giải pháp khắc phục những tồn tại trong quan hệ thương mại giữa hai nước hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một trong bốn lĩnh vực chính chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại là thương mại hàng hoá (xuất nhập khẩu hàng hoá) Các lĩnh vực khác như: Thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ chỉ đề cập đến dưới góc độ có liên quan và hỗ trợ cho hoạt động thương mại hàng hoá

- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1991 đến nay và triển vọng của nó

- Về không gian: Hoạt động XNK hàng hoá giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Trung Quốc

5 Phương pháp nghiên cứu:

* Chọn cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Đứng từ góc độ Việt Nam đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc qua từng giai đoạn lịch sử chịu ảnh hưởng của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội trên quốc tế và mỗi nước

* Phương pháp nghiên cứu:

- Đề tài sử dụng các phương pháp cơ bản được áp dụng trong nghiên cứu kinh tế là phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

- Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn ở Trung Quốc

Trang 11

- Sử dụng phương pháp thống kê

- Kết hợp mô hình phân tích, so sánh và dự báo kinh tế

6 Những đóng góp mới của luận văn:

* Đóng góp mới trong khoa học: Đề tài chỉ ra những lợi ích mà các nước thu được khi tham gia vào thương mại quốc tế, những ưu thế nổi trội của quan

hệ hợp tác khu vực hiện nay, là cơ sở cho việc tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc hiện nay và trong thời gian tới

* Đóng góp mới trong thực tiễn: Trên cơ sở phân tích quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc hiện nay Đề tài đưa ra một số vấn đề gợi mở cho Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước

7 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại quốc tế

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc từ

1991 đến nay

Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Trung Quốc

Trang 12

Nam-CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Thuyết tự do thương mại

Ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, thuyết Tự do thương mại phát triển thịnh hành vào thế kỷ XIX trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại Tây Âu và Bắc Mỹ Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu bành trướng kinh tế ra bên ngoài, tăng cường khai thác thuộc địa và trao đổi thương mại giữa các nước tư bản với nhau Vào cuối thế kỷ XVIII, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và kết quả tích lũy tư bản ở giai đoạn trước qua chính sách Trọng thương, nước Anh đã xây dựng được một nền công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn so với hai đối thủ chính là Pháp và Phổ Thị trường Anh và các nước thuộc địa không đủ sức tiêu thụ hàng hóa của Anh đang trên

đà cất cánh và cũng không đáp ứng được nhu cầu về nguyên, nhiên liệu và lương thực cần thiết, do đó Anh phải ra sức tìm kiếm thị trường mới Sự ra đời của thuyết Tự do thương mại đã hỗ trợ cho việc mở rộng thị trường quốc

tế của Anh Bắt đầu từ Anh, chủ nghĩa Tự do thương mại dần dần lan sang các nước Tây Âu như Hà Lan, Pháp, Đức Tuy nhiên, mức độ áp dụng những quan điểm này ở các nước, ở các thời kỳ lịch sử có khác nhau và đưa lại các kết quả cũng khác nhau Trong đó có học thuyết của Adam Smith với lý thuyết về “Bàn tay vô hình”; học thuyết của Keynes với lý thuyết “Bàn tay hữu hình” và học thuyết của trường phái chính hiện đại “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson

1.1.1.1 Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith

Lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith có ảnh hưởng rất sâu rộng và khá bền vững đến đời sống lý luận và chính sách kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XVII đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX Smith đưa ra lý thuyết này trong tác phẩm lớn

Trang 13

nhất của mình “Nguồn gốc của cải của các dân tộc hay gọi là sự giàu có của các dân tộc”, công bố đầu tiên vào năm 1776

Với tư tưởng tự do kinh tế, Adam Smith cho rằng, xã hội là sự liên minh những quan hệ trao đổi Chỉ có trao đổi và thông qua việc thực hiện những quan hệ trao đổi thì nhu cầu của con người mới được thỏa mãn “Hãy đưa cho tôi cái mà tôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”[21, tr.38] Khi tiến hành trao đổi sản phẩm lao động của nhau cho nhau thì con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân của mình Mỗi người chỉ biết tư lợi và chạy theo tư lợi Nhưng khi chạy theo tư lợi thì con người tham gia vào hoạt động kinh tế còn chịu sự tác động của “bàn tay vô hình” Với sự tác động này, con người tham gia vào hoạt động kinh tế vừa chạy theo tư lợi lại vừa đồng thời thực hiện một nhiệm

vụ không nằm trong dự kiến đó là đáp ứng lợi ích chung của xã hội [21, tr.39]

Theo A Smith, “Bàn tay vô hình” đó là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan hay là một “trật tự tự nhiên” Để có sự hoạt động của trật

tự tự nhiên này thì cần phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa

và trao đổi hàng hóa Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế,

tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch Trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ giữa người với người là phụ thuộc vào nhau Trong xã hội với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, người ta luôn luôn có quan hệ kinh tế với nhau

A Smith đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” và cho rằng, hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được phát triển theo sự điều tiết của bàn tay

vô hình Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế mà chỉ có thể thực hiện những chức năng kinh tế khi mà chức năng đó vượt quá khả năng của các đơn vị kinh doanh đơn lẻ Ví dụ: xây dựng các công trình lớn, làm đường, thủy lợi Còn trong điều kiện bình thường, nhiệm vụ của nhà nước là duy trì trật tự trị an, bảo vệ tổ quốc để tạo ra một sự ổn định, để các tư nhân hoạt động kinh tế

Trang 14

1.1.1.2 Lý thuyết “Bàn tay hữu hình” của Jonh Maynard Keynes

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 hay còn gọi khủng hoảng thừa

Để giúp cho hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lấy lại trạng thái cân bằng, đi

ra khỏi tình trạng khủng hoảng, suy thoái và tiếp tục phát triển Học thuyết kinh tế “Chủ nghĩa tư bản được điều tiết” xuất hiện Người sáng lập ra nó là Jonh Maynard Keynes, nhà kinh tế người Anh, ông sinh năm 1884 và mất năm 1946

Khi nghiên cứu về tự do thương mại, Keynes cho rằng, nếu một nước dựa vào lí luận truyền thống mà tiến hành tự do thương mại, thì có thể giành được lợi ích trong việc thực hiện sản xuất chuyên môn hóa các ngành tương đối ưu thế, nhưng nếu bỏ mất hoặc thu hẹp sản xuất các ngành tương đối ưu thế, thì sẽ dẫn đến vấn đề thất nghiệp ngày càng trầm trọng Ông còn cho rằng, gia tăng xuất siêu là biện pháp trực tiếp duy nhất mà chính phủ có thể gia tăng đầu tư nước ngoài Đồng thời, nếu xuất siêu kim loại quý sẽ chảy về trong nước, đó là biện pháp gián tiếp duy nhất để chính phủ có thể giảm lãi suất trong nước, tăng thêm động cơ đầu tư trong nước Mở rộng xuất khẩu tức

là gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với trong nước, có tác dụng “rót vào” giống như tăng thêm đầu tư và sẽ thúc đẩy tổng thu nhập quốc dân tăng lên gấp bội thông qua hiệu ứng thừa số đầu tư Việc mở rộng nhập khẩu có nghĩa

là gia tăng dùng hàng nhập ngoại, điều đó có tác dụng “chảy ra”, giống như tăng thêm để dành, làm yếu đi tác dụng của thừa số đầu tư, làm giảm thu nhập quốc dân Dựa vào lí do trên, Keynes ra sức tán thành xuất siêu, phản đối nhập siêu Ông chủ trương mở rộng xuất khẩu bằng mọi cách, đồng thời nhờ

sự giúp đỡ của việc bảo vệ thuế quan và khuyến khích “mua hàng của Anh”

để hạn chế nhập siêu [16, tr.1338 -1339] Keynes cho rằng, để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải bằng sự can thiệp của nhà nước, từ đó Keynes đã đưa ra lý thuyết về bàn tay

Trang 15

hữu hình Theo thuyết đó, thông qua những hỗ trợ của nhà nước như là những biện pháp để duy trì cầu đầu tư, thông qua hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua của nhà nước để tạo ra sự ổn định về môi trường kinh doanh, ổn định thị trường, ổn định về lợi nhuận cho các công ty

Lý thuyết của Keynes đã được nhiều nước áp dụng, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX Nhưng đến đầu những năm 70, nền kinh tế phương Tây liên tục xuất hiện tình trạng lạm phát, nguyên nhân chính là do chính phủ các nước phương Tây đã quá chú trọng,

đề cao vai trò của nhà nước trong nền kinh tế

1.1.1.3 Lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson

Samuelson là nhà kinh tế Mỹ, năm 1948, ông đã cho xuất bản bộ giáo trình Kinh tế học Trong bộ giáo trình này, Samuelson đã đề cập đến lý thuyết

“Kinh tế hỗn hợp” Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình” và “thăng bằng tổng quát”, trường phải Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay hữu hình”, thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay” là cơ chế thị trường và nhà nước Khi bàn về cơ chế thị trường, Samuelson cho rằng, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm: Sản xuất cái gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai [21, tr.166]

Cơ chế thị trường mang nặng yếu tố tự phát, nhưng không phải là một sự hỗn độn, mà là trật tự kinh tế có tính quy luật Trật tự này có nhiệm vụ kết nối các kết giao kinh tế của hàng triệu cá nhân với nhau Để thực hiện được nhiệm vụ này, ông cho đó là sức mạnh của thị trường

Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hóa tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa

Thông qua sự vận động của giá cả trên thị trường mà các nhà kinh doanh

Trang 16

tự định hướng cho mình trong việc giải quyết các vấn đề sản xuất cái gì? như thế nào? cho ai? Người tiêu dùng cũng thông qua sự vận động của giá cả mà đưa ra những quyết định lựa chọn

Theo quan điểm của Samuelson, nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường sẽ cho nó đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng và phát triển, thỏa mãn nhu cầu Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật, đó là khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, phân hóa giàu nghèo, độc quyền trong kinh doanh, sử dụng tài nguyên một cách bừa bãi

Khi nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Samuelson cho rằng, nhà nước nên tập trung vào 4 chức năng sau: (1) Thiết lập khuôn khổ pháp luật, yêu cầu cả Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng phải tuân theo (2) Sửa chữa những thất bại của thị trường, đó là bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền Hạn chế và ngăn ngừa những ảnh hưởng bên ngoài dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động kinh tế thị trường Sản xuất

và kinh doanh hàng hóa công cộng Đánh thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp (3) Ổn định kinh tế vĩ mô bằng cách Chính phủ phải ban hành những chính sách kinh tế thích ứng với từng giai đoạn của chu kì thông qua những quyền lực về tài chính, tiền tệ của nhà nước (4) Đảm bảo sự công bằng

xã hội thông qua các khoản hỗ trợ của nhà nước, thông qua các quỹ bảo hiểm, phúc lợi Theo Samuelson, việc đưa ra những chính sách và phương án lựa chọn của nhà nước không phải lúc nào cũng đúng Vì vậy, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng có những giới hạn

Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường và khắc phục những giới hạn trong vai trò của nhà nước, theo Samuelson phải kết hợp cả cơ chế thị trường và vai trò nhà nước trong điều hành nền kinh tế hiện đại, hình thành nên một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó có cả cơ chế thị trường và nhà nước

Mô hình “Kinh tế hỗn hợp” đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống lý

Trang 17

luận và đời sống kinh tế của hầu hết các nước TBCN Ảnh hưởng của lý thuyết này cho đến nay còn được lan rộng đến các nhóm nước đang phát triển trong quá trình điều chỉnh mô hình phát triển sang quĩ đạo kinh tế thị trường

1.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế

1.1.2.1 Chủ nghĩa Trọng thương

Chủ nghĩa Trọng thương là trường phái kinh tế lớn đầu tiên của lịch sử nhân loại, nó ra đời ở giữa thế kỷ XV, khi đó phương thức sản xuất phong kiến tan rã, phương thức sản xuất TBCN ra đời Tư tưởng chính của chủ nghĩa Trọng thương là:

- Một quốc gia muốn phát triển kinh tế thịnh vượng phải gia tăng khối lượng tiền tệ Theo họ, tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải, hàng hóa chỉ

là phương tiện làm tăng khối lượng tiền tệ [21, tr.15]

- Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ phải phát triển ngoại thương và trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu, tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu

- Theo chủ nghĩa Trọng thương, lợi nhuận đạt được trong buôn bán là kết quả của trao đổi không ngang giá và lường gạt Trong trao đổi phải có một bên thua và một bên được và trong thương mại quốc tế thì “dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh lợi ích của dân tộc kia” [21, tr.16]

Những người theo học thuyết Trọng thương kêu gọi nhà nước phải can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế như: Lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch; miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ cho sản xuất; cấm xuất khẩu tài nguyên thô (sắt, thép, sợi, lông cừu…), nâng đỡ hoạt động xuất khẩu như thực hiện tài trợ xuất khẩu, duy trì quota và đánh thuế suất nhập khẩu cao đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng để duy trì hiện tượng xuất siêu trong hoạt động thương mại quốc tế

Có thể nói, chủ nghĩa Trọng thương là những học thuyết kinh tế đầu tiên

mở đường cho việc nghiên cứu hiện tượng và lợi ích của thương mại quốc tế

Trang 18

1.1.2.2 Thuyết “lợi ích tuyệt đối”của Adam Smith (1723 – 1790)

Trong tác phẩm “Sự giàu có của các dân tộc”, năm 1776, A Smith đã đưa ra thuyết “lợi ích tuyệt đối” Học thuyết này đã lấy sự khác biệt tuyệt đối của giá thành sản xuất các nước là cơ sở tiến hành phân công chuyên môn hóa quốc tế, đồng thời thông qua mậu dịch tự do để thu được lợi ích kinh tế Adam Smith cho rằng: một nước phải sản xuất những sản phẩm sở trường nhất của nước mình, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất tuyệt đối

rẻ, rồi dùng những sản phẩm này trao đổi với các nước khác, đem về những sản phẩm không phải sở trường sản xuất của mình nhất, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất cao Kiểu phân công quốc tế này sẽ làm hai nước tiết kiệm được nhiều lao động, nâng cao hiệu suất bố trí sắp xếp tài nguyên sản xuất, từ đó thu được một số lượng hàng hóa nhiều hơn là trong điều kiện đóng cửa giữ mình, tức là thu được lợi ích tuyệt đối của mậu dịch [16, tr.1318]

Như vậy, thuyết “lợi ích tuyệt đối” của Adam Smith lấy thuyết giá trị lao động làm cơ sở, có quan điểm khác với chủ nghĩa trọng thương về mậu dịch quốc tế chỉ có thể làm một bên nào đó có được lợi ích mậu dịch Tuy nhiên, hạn chế của thuyết này chưa giải thích được hiện tượng: Một nước có mọi lợi thế hơn hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? Thương mại quốc tế

có xảy ra ở những nước này không và xảy ra như thế nào [14, tr.10]

1.1.2.3 Tư tưởng của Ricardo (1772-1823) về lợi ích so sánh

David Ricardo là nhà kinh tế duy vật người Anh gốc Do Thái, năm 1817 Ricardo cho xuất bản tác phẩm với nhan đề “Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế”, trong đó ông đưa ra quan điểm mậu dịch quốc tế trên cơ sở thuyết lợi ích tuyệt đối của Adam Smith, dựa theo sự khác biệt tương đối của giá thành sản xuất mà thực hiện phân công chuyên môn hóa quốc tế Ricardo cho rằng: nếu trình độ sức sản xuất của hai nước không bằng nhau thì giá thành lao động của bất kì loại sản phẩm nào mà nước A sản xuất đều thấp hơn nước

Trang 19

B, nước A ở vào ưu thế tuyệt đối, còn nước B ở vào thế kém tuyệt đối, giữa hai nước vẫn còn tồn tại khả năng phân công quốc tế và buôn bán cùng có lợi

Vì khoảng cách về năng suất lao động của hai nước không phải bằng nhau trong bất cứ hàng hóa nào Nước A ở vào ưu thế tuyệt đối không nhất thiết phải sản xuất tất cả mọi hàng hóa, mà chỉ phải sản xuất hàng hóa có ưu thế lớn nhất Trái lại, nước B ở vào thế kém tuyệt đối cũng không nhất thiết phải ngừng sản xuất tất cả những hàng hóa này, mà chỉ phải ngừng sản xuất những hàng hoá kém thế nhất Như vậy, hai nước A và B mỗi nước tự sản xuất hàng hóa mà giá thành so sánh tương đối có lợi, thông qua mậu dịch quốc tế, trao đổi với nhau, hai nước đều tiết kiệm được lao động và cùng có lợi

Thuyết “lợi ích so sánh” của Ricardo là sự phát triển và bổ sung lí luận mậu dịch quốc tế của Adam Smith Với thuyết lợi ích so sánh, Ricardo chủ yếu dựa vào lý luận giá trị lao động, với giả định lao động là yếu tố đầu vào duy nhất để sản xuất ra sản phẩm Nhưng trong thực tế, để sản xuất ra sản phẩm ngoài yếu tố lao động còn có các yếu tố khác như: vốn, kỹ thuật, đất đai v.v Do vậy, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo chưa giải quyết được một cách rõ ràng nguồn gốc của thương mại quốc tế trong nền kinh tế hiện đại

ra rằng: nếu cả hai nước đều có yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, lao động) và lượng phân bổ giống nhau, trình độ kỹ thuật của các ngành sản xuất như nhau, khi không xem xét đến giá thành vận chuyển, thì mậu dịch quốc tế sẽ vừa không mang lại lợi ích cho một nước nào trong đó, vừa không mang lại tổn

Trang 20

thất cho một nước nào khác Vì vậy, điều kiện tiền đề của việc tồn tại khác nhau về giá thành so sánh và dẫn đến mậu dịch quốc tế là: 1) Hai nước tồn tại

số lượng và lượng phân bổ yếu tố sản xuất khác nhau 2) Tỉ lệ yếu tố sản xuất

mà hai nước sử dụng để sản xuất cùng một loại hàng hóa cũng không giống nhau Ohlin kế thừa truyền thống phân tích cân bằng thông thường của trường phái Thụy Điển, tiếp thu luận điển của Heckscher và đã nghiên cứu một cách sáng tạo trong “Mậu dịch khu vực và quốc tế” (1993), trình bày rõ tài nguyên sẵn có của các nước khác nhau tức tình hình cung cấp yếu tố sản xuất khác nhau là nguyên nhân cơ bản sản sinh mậu dịch quốc tế Do lí luận mậu dịch quốc tế của ông kế thừa của Heckscher nên được giới mậu dịch quốc tế gọi là

“định lý Heckscher và Ohlin” [16 tr.1322]

Định lý Heckcher-Ohlin cho rằng: sự phát triển của mậu dịch quốc tế lấy

sự khác nhau về sự sẵn có tương đối của yếu tố sản xuất các nước làm cơ sở, một nước có loại yếu tố sản xuất tương đối dồi dào nào đó, trong trường hợp nhu cầu giả định không thay đổi, giá cả của yếu tố này tất nhiên là tương đối

rẻ, nước đó sẽ có thể sản xuất những sản phẩm đòi hỏi sử dụng một số lượng lớn yếu tố giá rẻ loại này, từ đó có ưu thế giá thành so sánh về mặt sản xuất sản phẩm đó Vì vậy, một nước phải xuất khẩu những sản phẩm trong sản xuất tập trung sử dụng những yếu tố sản xuất tương đối phong phú của mình, nhập khẩu những sản phẩm trong sản xuất tập trung sử dụng những yếu tố sản xuất tương đối khan hiếm thiếu của mình Các nước dựa vào yếu tố sản xuất phong phú và hiếm thiếu để tiến hành phân công quốc tế, làm cho yếu tố sản xuất được sử dụng hữu hiệu nhất

Định lý Heckscher – Ohlin là một trong những lí luận cơ sở quan trọng nhất trong lý luận mậu dịch quốc tế hiện đại, nó là cơ sở khoa học để mỗi quốc gia lựa chọn và xác định các sản phẩm xuất khẩu phù hợp dựa trên cơ sở phân tích các lợi thế so sánh về nguồn lực sản xuất, từ đó tích cực tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế giới

Trang 21

1.1.3 Lý thuyết thương mại quốc tế trong điều kiện các quốc gia đang phát triển

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế thế giới chia thành 2

nhóm nước: Thứ nhất là nhóm các nước phát triển, đây là những nước đã

hoàn thành cách mạng công nghiệp, chuyển từ một nước nông nghiệp truyền

thống sang một nước công nghiệp hiện đại; Thứ hai là nhóm các nước đang

phát triển, đây là các nước mới giành được độc lập, còn lạc hậu về kinh tế- xã hội, các nước này đều đang nỗ lực công nghiệp hóa để thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế

Việc lựa chọn và thực hiện lý thuyết thương mại, mô hình kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt đối với quá trình phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển

là một tập hợp các quốc gia không thuần nhất về khuynh hướng phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, có trình độ phát triển kinh tế rất khác nhau, vì vậy việc áp dụng lý thuyết thương mại và mô hình kinh tế vào các nước đang phát triển là hết sức phức tạp và thật sự là một thách thức lớn đối với các chính phủ Bởi vì:

Thứ nhất, một số quan điểm trong lý thuyết thương mại quốc tế của trường phái Cổ điển và Tân cổ điển chưa phù hợp với các hoạt động ngoại thương đã và đang được thực hiện bởi nhiều quốc gia đang phát triển

Thứ hai, ở các nước đang phát triển, cơ cấu cứng nhắc và sự không hoàn hảo của thị trường khiến cho cơ chế giá cả được đưa ra trong lý thuyết Tân cổ điển không thể phát huy tác dụng đúng như mô hình lý thuyết của nó

Thứ ba, nhiều nhà kinh tế cho rằng, tự do thương mại không phải lúc nào cũng làm tăng phúc lợi kinh tế, trái lại trong một số hoàn cảnh có thể tạo ra tình trạng bần cùng hóa Từ đó các nhà kinh tế đề nghị nên có sự can thiệp nhất định của nhà nước [29, tr.19]

Thứ tư, những người theo chủ nghĩa cấp tiến hay còn là các nhà mác – xít mới (như Baran, 1957; Leys, 1975; Cardoso và Faletto, 1979; Do santot,

Trang 22

1973) cho rằng buôn bán giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển

đã được sử dụng như một công cụ để chuyển giá trị thặng dư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển Trong lịch sử, các nước đang phát triển đã xuất khẩu nhiều nguyên, nhiên, vật liệu thô sang các nước phát triển, đồng thời nhập khẩu các sản phẩm chế tạo Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ thuộc của các nước thuộc địa vào các nước chính quốc Những người theo chủ nghĩa cấp tiến như Colman, Nixon (1986) và Palma (1978) chứng minh rằng: Tình trạng phụ thuộc này đã làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển

Để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, các nước đang phát triển đã trải qua một trong những chiến lược phát triển kinh tế sau:

- Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, nội dung của chiến lược này là sử dụng thuế và các hạn ngạch nhập khẩu nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài Với chiến lược này, trong hai thập niên 50 và 60, nhiều nước đã khai thác, phát huy được tiềm năng, thế mạnh về lao động, tài nguyên để phát triển mạnh mẽ sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu Nhờ vậy đã đạt được tốc độ cao về tăng trưởng và phát triển kinh tế Tuy nhiên, đến cuối những năm 1960, chiến lược này nảy sinh một số bất cập như: hệ thống quản lý quan liêu, tham nhũng, tình trạng sản xuất kém hiệu quả, lạm phát và thâm hụt ngày càng tăng trong cán cân thanh toán, việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ đã khiến nhiều quốc gia hoàn toàn không có khả năng đối mặt với sự cạnh tranh trên thế giới

- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế: Thực chất đây là chiến lược công nghiệp hóa hướng ngoại nhưng ở trình độ thấp Trước những năm

50, chiến lược này đã mang lại sự tăng trưởng cho một số quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Cộng hòa Liên bang Đức nhờ có lợi thế so sánh về xuất khẩu lương thực, thực phẩm và một số khoáng sản thô khác Cũng với chiến lược này, một số nước như Côlômbia, Mêhicô, Malaysia, Philippin đã có những bước phát triển trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, nhờ có lợi thế so

Trang 23

sánh về một số sản phẩm xuất khẩu như cao su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ, quặng kim loại Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược này đã gặp phải những trở ngại như: Hiệu quả kinh tế không cao, thường bị thua thiệt do giá cả thấp, gây hậu quả xấu về môi trường sinh thái

- Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: Trước những hạn chế của chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu vào cuối những năm

1960, các nhà kinh tế học Tân cổ điển đã nhắc lại đề nghị của họ về chính sách tự do hóa thương mại Trên thực tế, các nước công nghiệp mới như Braxin, Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan đã theo đuổi chiến lược phát triển hướng ngoại Mục đích của chiến lược này là khuyến khích việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa các nước đang phát triển có lợi thế so sánh Vì lao động dư thừa trong hầu hết các nước đang phát triển, nên chiến lược khuyến khích xuất khẩu có khả năng tạo thêm số lượng lớn các sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động Tuy nhiên, chiến lược này cũng có những hạn chế: Thứ nhất, các nước đang phát triển khó đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm thô sang các nước phát triển, bởi sự phát triển mạnh mẽ của các vật liệu thay thế các sản phẩm tự nhiên và việc sử dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế nông sản nhập khẩu từ các nước đang phát triển Thứ hai, tiến trình mở rộng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo tuy đạt được một số thành công, nhưng cũng gặp nhiều trở ngại do các nước phát triển chủ yếu sử dụng hàng rào phi thuế quan để hạn chế các sản phẩm chế tạo nhập khẩu từ các nước đang phát triển Thứ ba, chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa tỏ ra thuyết phục

- Chiến lược phát triển hỗn hợp: là sự kết hợp hai hay ba loại chiến lược nói trên Mặc dù cho đến nay chưa có sự tổng kết đầy đủ về những nước đã áp dụng chiến lược này, song tấm gương của Nhật Bản và một số quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan đã thành công lớn trong việc phát triển kinh tế nhờ kết hợp cả hai chiến lược hướng nội, hướng ngoại, trong đó ưu tiên phát triển mạnh hướng ngoại Một số quốc gia có dân số đông, diện tích lãnh thổ lớn như Ấn

Độ, Inđônêxia, Trung Quốc điển hình là Trung Quốc từ những năm 1980 trở

Trang 24

lại đây cũng đã gặt hái được nhiều thành công nhờ việc thực hiện chiến lược phát triển hỗn hợp Chiến lược này đang trong xu thế phát triển đầy hứa hẹn, hiện đang được thế giới (đặc biệt là các nước đang phát triển) quan tâm

1.1.4 Quan điểm của Trung Quốc về ngoại thương trong thời kỳ cải cách

- Xóa bỏ tư tưởng tự cấp tự túc trong nền kinh tế kế hoạch tập trung và

tư tưởng cho rằng ngoại thương chỉ là phương tiện điều tiết tình trạng thừa thiếu của nền kinh tế, đồng thời khẳng định lợi ích của nền kinh tế khi tham gia phân công lao động và cạnh tranh quốc tế

- Thừa nhận lý thuyết về lợi thế so sánh trong buôn bán quốc tế, đồng thời khẳng định rằng: để mở rộng xuất khẩu, Trung Quốc cần tận dụng đầy đủ các lợi thế của mình, đặc biệt là lợi thế về lao động rẻ

- Khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngoại thương và tăng trưởng kinh tế, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện cơ cấu hàng xuất khẩu

- Khẳng định việc quản lý xuất nhập khẩu theo nguyên tắc kế hoạch tập trung đã ngăn cản sự phát triển ngoại thương Vì vậy, cần phi tập trung hóa việc quản lý ngoại thương

- Khẳng định hệ thống giá cả và tỉ giá hối đoái cần phải hợp lý, cụ thể giá cả hàng hóa về cơ bản do cung cầu thị trường quyết định, đồng thời chấm dứt các chính sách phân biệt đối xử với hàng xuất khẩu

- Khẳng định nền kinh tế thị trường phải hướng tới 3 điều có lợi: (1) Có lợi cho sự phát triển của sức sản xuất XHCN; (2) Có lợi cho việc tăng cường

Trang 25

sức mạnh tổng hợp của nhà nước XHCN; (3) Có lợi cho việc nâng cao mức sống của nhân dân Đây được coi là lý thuyết 3 có lợi [11, tr.84]

- Phát triển kinh tế nhiều loại sở hữu, coi kinh tế công hữu là chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu cùng phát triển

- Mở rộng phạm vi và qui mô của thị trường, trong đó khuyến khích phát triển tối đa thị trường hàng hóa tiêu dùng, tạo điều kiện phát triển các yếu tố sản xuất khác như: thị trường đất đai, lao động, vốn, công nghệ

- Khẳng định tư tưởng lấy thị trường làm phương hướng, xây dựng một

hệ thống thị trường thống nhất, mở cửa, cạnh tranh và có trật tự

- Vai trò và cách thức quản lý kinh tế của Nhà nước đã có sự thay đổi căn bản Đặc biệt trong việc điều tiết vĩ mô, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi hẳn về mặt phương thức, trong đó họ lấy thị trường làm căn cứ, làm cơ sở Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc về cơ bản chỉ tập trung vào những vấn đề then chốt sau: 1) Đảm bảo sự cân bằng tổng lượng kinh tế 2) Khống chế và kiểm soát lạm phát 3) Thúc đẩy tối ưu hóa cơ cấu kinh tế ở bình diện lớn 4) Thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định 5) Bảo đảm điều hòa giữa sự phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội

Trung Quốc đã có một cuộc giải phóng tư tưởng mạnh mẽ và một loạt quan điểm mới của Trung Quốc về vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế Những quan điểm trên tuy chưa đủ hình thành nên một hệ thống lý thuyết rõ ràng về ngoại thương, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc hình thành các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Trung Quốc về phát triển ngoại thương

Trang 26

tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc Đặc biệt, Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng ở Đông Nam Á, nằm ở điểm trung gian nối Trung Quốc với ASEAN trên các tuyến đường xuyên á, hành lang Đông – Tây, cũng như trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng Việt Nam là cửa ngõ

để Trung Quốc vào ASEAN, là cầu nối giữa Trung Quốc và ASEAN trong khu mậu dịch tự do ACFTA Miền Tây Nam Trung Quốc qua Việt Nam để đến một số nước ASEAN gần hơn nhiều so với đi trong lục địa Trung Quốc Vân Nam và Quảng Tây lại là cửa ngõ thương mại chính giữa Trung Quốc và Việt Nam, giữa Trung Quốc với ASEAN thông qua Việt Nam Đây thực sự là thế mạnh của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung Quốc Với vị trí địa lý nêu trên, Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển việc mua bán, trao đổi hàng hóa và phát triển các hoạt động hợp tác về kinh tế – xã hội khác

Việt Nam với bờ biển dài 3.260 km, có nhiều đảo và quần đảo, lại nằm trên các tuyến giao thông quốc tế quan trọng nên rất thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng lớn, mở rộng giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới [24, tr.24] Đây chính là điểm thu hút sự quan tâm của Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh miền Nam Trung Quốc Hàng hoá các tỉnh miền Nam Trung Quốc có thể quá cảnh qua miền Bắc Việt Nam để xuất khẩu – nhập khẩu với các nước khác trên thế giới Chính vì vậy, hiện nay hai nước Việt Nam và Trung Quốc đang chủ trương tiến hành xây dựng Hành lang kinh

tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và Hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ Đây cũng là lợi thế của hai nước trong việc phát triển quan hệ thương mại với các nước trên thế giới, đặc biệt phát triển quan

hệ thương mại hàng hóa giữa hai nước với nhau

1.2.1.2 Khí hậu

Khí hậu nhiệt đới ẩm nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa châu Á Sự đa dạng của địa hình, với nhiều vùng tiểu khí hậu, cho phép Việt

Trang 27

Nam đa dạng hóa cây trồng và các nông sản nhiệt đới như : cây công nghiệp (cao su), cây nông nghiệp (cây ăn quả, ngũ cốc các loại, chè, cà phê, hồ tiêu, hạt điều ) Đây là những mặt hàng có nhu cầu nhập khẩu lớn ở thị trường Trung Quốc Ngoài ra, một số loại quả của Việt Nam (Xoài, nhãn, thanh long, vải ) rất được người tiêu dùng Trung Quốc ưa chuộng

Khí hậu của Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, miền Trung có khí hậu

ôn đới, miền Nam có khí hậu tiểu nhiệt đới Khí hậu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc phát triển các loại cây trồng như: cây ăn quả, rau, củ Hàng năm Trung Quốc đã thu hoạch được một khối lượng quả lớn, khoảng 62 triệu tấn/năm, các loại quả chủ yếu là táo, bưởi, chuối, nho Ngoài

ra, Trung Quốc còn đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu rau tươi, các mặt hàng chủ yếu là nấm, hành, tỏi, củ cải và một số loại rau tươi, quýt, táo, hạnh đào nhân, hạt dẻ [30, tr 49] Hiện nay, những mặt hàng rau, củ, quả của Trung Quốc được xuất khẩu vào thị trường Việt Nam với khối lượng lớn, giá rẻ và

có mặt ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước Việc trao đổi hoa quả ôn đới và hoa quả nhiệt đới giữa hai nước đang thể hiện sự bổ sung, hỗ trợ các mặt hàng khan hiếm trong nước cho nhau

1.2.1.3 Tài nguyên biển

Với nhiều sông ngòi và bờ biển dài,Việt Nam rất có tiềm năng phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới Trung Quốc cũng là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống của Việt Nam Miền Tây và Tây Nam Trung Quốc là khu vực miền núi, biên giới của Trung Quốc nên họ có nhu cầu về hàng thủy sản rất lớn Hàng năm Việt Nam xuất khẩu một khối lượng đáng kể hàng thủy sản tươi và khô sang khu vực thị trường này

1.2.1.4 Tài nguyên khoáng sản

Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và dồi dào

Mỏ than Hòn Gai là mỏ than gầy nổi tiếng của thế giới, ngoài ra các tỉnh biên giới còn có nguồn tài nguyên phong phú như quặng sắt, nhôm, mangan

Ngày đăng: 03/02/2023, 17:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm