ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LƢU THI ̣THU HÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNGCHO HOC̣ SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRUNG VĂN, HÀ NỘI LUÂṆ VĂN THAC̣ SỸ QUẢN LÝ G[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LƯU THI ̣ THU HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNGCHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRUNG VĂN, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LƯU THI ̣ THU HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNGCHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRUNG VĂN, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất em xin trân trọng cảm ơn các thầy
cô trong Ban giám hiệu, các giáo sư, các giảng viên của Trường Đại học Giáo dục
- Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, tư vấn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu xây dựng đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội"
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình lập đề
cương, nghiên cứu viết và hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp các em học sinh của trường THPT Trung Văn,Ban đại diện cha mẹ hoc sinh,chính quyền địa phương đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như cung cấp thông tin, đóng góp các ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, hoàn chỉnh luận văn, song
do năng lực bản thân còn hạn chế , chắc rằng luận văn vẫn còn nhiều khiếm khuyết ,
em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Lưu Thi ̣ Thu Hà
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mu ̣c chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mu ̣c bảng vii
Danh mu ̣c biều đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤCKỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG THPT 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lý 13
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Quản lý nhà trường 14
1.2.4 Kỹ năng sống 15
1.2.5 Giáo dục kỹ năng sống 17
1.2.6 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 17
1.3 Vai trò, ý nghĩa giáo dục KNS cho học sinh trong trường THPT 18
1.3.1 Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường THPT 18
1.3.2 Giáo dục KNS thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh trong học tập và cuộc sống 19
13.3 Giáo dục KNS tạo ra cơ chế phòng ngừa trước những tác động xấu từ bên ngoài cho học sinh 20
1.4 Đặc điểm học sinh THPT 20
1.5 Mục tiêu, nội dung và phương pháp thực hiện và cách đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT 22
1.5.1 Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT 22
1.5.2 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT 23
1.5.3 Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh 24
Trang 61.5.4 Hình thức giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT 25
1.6 Nội dung Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT 25
1.6.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống 25
1.6.2 Tổ chức thực hiện giáo dục KNS cho học sinh 26
1.6.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS cho học sinh nhà trường 26
1.6.4 Kiểm tra - đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 27
1.6.5 Đảm bảo cơ sở vật chất - thiết bị giáo dục, tài chính phục vụ cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 28
1.6.6 Phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT 29
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường THPT 30
1.7.1 Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT 30
1.7.2 Văn hóa nhà trường 31
1.7.3 Các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục 32
1.7.4 Năng lực, trình độ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ CBQL, giáo viên 33 Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT TRUNG VĂN , HÀ NỘI 35
2.1 Trường THPT Trung Văn quá trình hình thành và phát triển 35
2.1.1 Lịch sử phát triển nhà trường 35
2.1.2 Quy mô phát triển giáo dục qua các năm 36
2.2 Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Trung Văn 38
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên, CMHS về hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Trung Văn 38
2.2.2 Thực trạng về thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT… 44
2.2.3 Thực trạng về những khó khăn trong công tác giáo dục KNS cho học sinh 51
Trang 72.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Trung
Văn 53
2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh của BGH nhà trường 53
2.3.2 Công tác tổ chức giáo dục KNS cho học sinh 56
2.3.3 Thực trạng về chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 59
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 61
2.3.5 Quản lý cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động giáo dục KNS 62
2.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 64
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Trung Văn 66
2.4.1 Những kết quả đạt được 66
2.4.2 Một số hạn chế, tồn tại 67
2.4.3 Nguyên nhân của tồn tại 69
Kết luận chương 2 71
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT TRUNG VĂN 73
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Trung Văn 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 73
3.1.3 Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính phù hợp 74
3.1.4 Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính hiệu quả 74
3.2 Biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Trung Văn 75
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò giáo dục KNS trong nhà trường cho đội ngũ CBQL, giáo viên, học sinh và CMHS 75
3.2.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục KNS cho học sinh theo hướng tích hợp một số chuyên đề KNS cơ bản vào môn học 78
Trang 83.2.3 Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trong việc tổ chức, cải tiến phương pháp giáo dục nhằm thúc đẩy hoạt động giáo dục KNS
của học sinh 82
3.2.4 Chỉ đạo đổi mới công tác chủ nhiệm lớp về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 85
3.2.5 Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh nhà trường 87
3.2.6 Xây dựng cơ chế phối hợp thực hiện giữa các lực lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 90
3.2.7 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 93
3.2.8 Đảm bảo chế độ chính sách đãi ngộ cho CBQL, giáo viên tích cực tham gia hoạt động giáo dục KNS 95
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Trung Văn 97
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 99
Kết luận chương 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô học sinh, lớp học của nhà trường từ năm học 2012-2013 đến 2014- 2015 36 Bảng 2.2 Kết quả xếp loại văn hóa, hạnh kiểm của HS các năm học (%) 37 Bảng 2.3 Thống kê đội ngũ giáo viên nhà trường qua các năm học 37 Bảng 2.4: Vai trò thực hiện giáo dục KNS của các lực lượng giáo dục cho học sinh 40 Bảng 2.5 Mức độ quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm giáo dục KNS của CMHS với con cái 42 Bảng 2.6 Mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh 44 Bảng 2.7: Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục KNS cho học sinh nhà trường 46 Bảng 2.8 Mức độ thực hiện phương pháp giáo dục KNS cho học sinh 48 Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các hình thức giáo dục KNS cho học sinh 50 Bảng 2.10 Ý kiến của CBQL,GV về vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình tổ chức, thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 51 Bảng 2.11 Mức độ xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục KNS của BGH 53 Bảng 2.12 Đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh 55 Bảng 2.14 Mức độ chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 59 Bảng 2.15 Mức độ kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 61 Bảng 2.16 Điều kiện cơ sở vật chất thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 62 Bảng 2.17 Ảnh hưởng của các yếu tố tới quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh 64 Bảng 3.1 Tổng hợp khảo sát mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý 100 Bảng 3.2 Tổng hợp khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý 101
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên, học sinh, CMHS về mức độ cần
thiết của hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 39
Biểu đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 102
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 102
Trang 11và quan tâm hiện nay là giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh trong nhà trường nói riêng
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các đô thị và thành phố lớn Đã xuất hiện những vụ án, cố
ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh, nạn nhân chính là bạn học, thầy cô giáo của họ Bên cạnh đó các hiện tượng phổ biến thường gặp ở học sinh THPT hiện nay hút thuốc lá, uống rượu, quan hệ tình cảm nam nữ phức tạp, chơi game, cờ bạc, lô đề… Không ít học sinh sa đà vào tệ nạn xã hội, sống tùy tiện buông thả Tại Nghị quyết Trung Ương II khóa VIII, Đảng ta nhấn
mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước"
Khoản 4, điều 27 luật Giáo dục (sửa đổi 2009) nêu rõ mục tiêu giáo dục
THPT: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Vì lẽ đó, muốn dành cho học sinh THPT một môi trường bền vững cho quá trình định hướng nghề nghiệp, hòa nhập cuộc sống sau khi học sinh tốt
Trang 12nghiệp thì việc quan tâm giáo dục và hình thành các KNS cần thiết có một vai trò và ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình đó
Từ năm 2001, Bộ GD&ĐT đã thực hiện giáo dục KNS cho học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế Giáo dục KNS cho học sinh được thực hiện bằng việc khai thác nội dung một số môn học như giáo dục công dân, khoa học kỹ thuật, công nghệ Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục KNS vào nội dung môn học hay hoạt động nào, bằng phương pháp gì, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất đó là điều mà hiện nay nhiều nhà quản lý, nhà giáo tâm huyết quan tâm
nghiên cứu Từ phong trào “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” do Bộ GD&ĐT phát động đến nay các trường THPT nói riêng và các
trường phổ thông nói chung đã tích cực đẩy mạnh hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về cuộc sống để các em
có thể thích ứng với cuộc sống, tự mình xử lý mọi tình huống trong học tập và
cuộc sống và gần đây thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp chính khóa
càng khẳng định tâm quan trọng đặc biệt của quản lý hoạt động giáo kỹ năng sống trong nhà trường THPT
1.2 Về mặt thực tiễn
Đối với trường THPT Trung Văn được thành lập năm 2008 Do đặc thù
là một trường mới được thành lập , nằm ở quâ ̣n cũng mới thành lâ ̣p của Hà Nội, đối tượng học sinh có những nét riêng, các em chủ yếu xuất thân trong những gia đình nông dân, lao động phổ thông (tại địa phương và từ ngoại tỉnh chuyển về ) nên kiến thức, kinh nghiệm sống còn hạn chế Thêm vào đó bị tác động bởi môi trường sống xung quanh nên một bộ phâ ̣n không nhỏ học sinh
có biểu hiện yếu kém về đạo đức , xử lý các tình huống trong cuô ̣c sống hàng ngày vụng về gây ra những hậu quả rất đáng tiếc
Qua một thời gian tiếp cận đường lối giáo dục KNS thông qua việc tích hợp vào dạy học các môn học trong chương trình giáo dục, với cương vị là
Trang 13một giáo viên đảm trách hoạt động, có thể thấy một thực tế với thời lượng quy định của một tiết học giáo viên không thể truyền tải hết nội dung, tinh thần về kỹ năng nào đó có thể tích hợp để giáo dục học sinh như mong muốn và học sinh cũng khó có khả năng thể nghiệm được những tri thức thu nhận được qua các bài học Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường mang tính bị động, khuôn mẫu, đơn điệu, chiếu lệ và theo thời vụ Thời lượng cũng như định lượng và sự quan tâm dành cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh còn hạn chế Trong khi đó, nhu cầu, nguyện vọng, trình độ, năng lực học sinh còn nhiều điều cần được quan tâm hơn nữa Việc quản lý giáo dục KNS trong nhà trường đúng hướng, đúng nhu cầu góp phần tăng tính hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh, tạo ra cơ hội và điều kiện để học sinh được tiếp cận với những kiến thức, kỹ năng thiết thực cho chính bản thân các em Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả xin chọn đề
tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình với hy vọng
những đóng góp của đề tài sẽ giải quyết khó khăn, tồn tại trong công tác giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh nhà trường hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục, đồng thời là tư liệu thực tiễn hữu ích cho các trường THPT nói chung
2 Mục đi ́ch nghiên cứu
Trên cơ sở Nghiên cứu cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội Từ
đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS hiệu quả và phù hợp với thực tiễn nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và chất lượng giáo dục KNS nói riêng
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt đô ̣ng giáo dục KNS ở trường THPT Trung Văn ?
- Thực trạng Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT Trung Văn như thế nào?
Trang 14- Biện pháp quản lý nào có thể áp du ̣ng để hoa ̣t động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Trung Văn hiê ̣u quả hơn?
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Trung Văn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển những KNS cần thiết phục vụ cho học tập và cuộc sống Tuy nhiên:
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh hiện nay ở nhà trường chưa có giáo viên chuyên trách, GVCN, giáo viên bộ môn kiêm nhiệm hoặc dạy lồng ghép, tích hợp chưa được tập huấn về giáo dục KNS cho học sinh
Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường còn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất về nhận thức và hành động do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Giáo dục KNS cho học sinh chưa được đưa vào hoạt động của nhà trường một vị trí xứng đáng, chưa có kế hoạch hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra thực hiện
Việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT
5.2 Khảo sát và đánh giá việc giáo dục kỹ năng sống và công tác quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn,
Hà Nội
5.3 Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội
5.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi các biện pháp đề xuất
6 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
6.1 Khách thể nghiên cứu:
Trang 15Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Trung Văn, Hà Nội
6.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Trung Văn, Hà Nội
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1 Về không gian
Đề tài nghiên cứu, khảo sát thực trạng giáo dục KNS và công tác quản
lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Trung Văn, Hà Nội
7.2 Về nội dung
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh diễn ra dưới nhiều nội dung và hình thức khác nhau, song trong khuôn khổ đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở THPT Trung Văn,
Hà Nội Trong đó, tập trung vào việc quản lý tổ chức thực hiện giáo dục các KNS cơ bản và thiết thực đối với học sinh THPT Chú trọng đến những kỹ năng hữu dụng mang tính thời sự của xã hội
7.3 Về đối tượng điều tra khảo sát: Tổng 431 trong đó:
- CBQL: 03;
- Giáo viên, cán bộ : 83;
- Học sinh : 270
- CMHS :75
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề hoạt động giáo dục trong nhà trường và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông, trong đó có học sinh THPT; phân tích tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả khảo sát, đánh giá về việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học
Trang 16sinh trong trường THPT để xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin từ các đối tượng thông qua việc trưng cầu ý kiến về các vấn đề liên quan đến thực trạng vấn đề nghiên cứu Các đối tượng tham gia điều tra gồm cán bô ̣, giáo viên, học sinh và CBQL, CMHS nhà trường
+ Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu thu thập thông tin về các nguyên nhân về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường và tìm hiểu quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn Đồng thời thông qua đó để đánh giá tính khả thi của của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của các trường trên địa bàn nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 17Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT Trung Văn nói riêng và các trường THPT trong cả nước
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội
Chương 3: Mô ̣t số biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội
Trang 18Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG THPT 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường đại học Brahmakumarit thực hiện để
kỉ niệm 50 năm ngày thành lập Liên hợp quốc nhằm kêu gọi sự chia sẻ cho một thế giới tốt đẹp hơn, dự án này tập trung vào 12 giá trị sống mang tính phổ quát, chủ đề được lấy trong lời mở đầu của hiến chương Liên hợp quốc, khẳng định lòng tin vào quyền cơ bản của con người, về phẩm chất, nhân cách giá trị của mỗi người: sáng kiến LVEP (LivingValues-Edducation Program) ra đời và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một chương trình giáo dục” Chương trình này đưa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, Tự
do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết
Bước vào thế kỷ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường giáo dục giá trị, mới có thể tạo nên cơ
Trang 19sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh
Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”
Hội nghị giáo dục Thế giới họp tại Dakar - Thủ đô Senegan tháng 4 năm 2004 đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp
Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 đến 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố:
“Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác”
Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách Học sinh đến trường không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa
Trang 20mang tính phổ quát toàn cầu, tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Thuật ngữ Kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến từ chương
trình UNICFF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thông
qua quá trình hoạt động chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và
giáo dục KNS càng ngày được mở rộng
Trong giai đoạn đầu tiên, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề
“Giáo dục sức khỏe cho thanh thiếu niên” Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS đã được mở rộng và phát triển sâu
sắc hơn
Về vấn đề KNS và giáo dục KNS, ngay giai đoạn đầu đã có những nghiên cứu theo xu hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành các kỹ năng này Một trong những người tập trung nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình [3] với hàng loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo…đã góp phần đáng kể trong việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS, giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục này
Ngoài tác giả đã nêu trên còn có: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [31]; Giáo dục KNS của tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh - Giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng; Một
số vấn đề chung về KNS và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 3/2010 [1].Đặc biệt tác giả Nguyễn
Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã nghiên
cứu, thực hiện và xuất bản cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT” [27] đã chỉ ra quan hệ liên thuộc giữa giáo dục giá trị
Trang 21sống và kỹ năng sống, trong đó giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng, kỹ năng sống là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống
Các tổ chức, cơ quan giáo dục cũng cho ra đời một loạt những tài liệu
chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng sống ở mọi góc độ như:“Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục năm 2006; “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở thông qua hoạt động ngoại khóa (Dự án phát triển giáo dục THCS II, năm 2009), “Giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho học sinh THPT, tài liệu tập huấn giáo viên THCS, THPT”
Kể từ năm học 2008 - 2009, Bộ GD - ĐT nước ta đã phát động trong
các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực" nhằm mang lại cho HS cả nước một "môi trường giáo dục
an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội" Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực Một trong những hoạt động đó là chương trình Tập huấn giáo dục KNS và bình đẳng giới tổ chức tại Hà Nội vào 5 ngày đầu tháng 10/2008 cho các giáo viên cốt cán một số trường THPT của 11 tỉnh phía Bắc tham gia
Qua đợt tập huấn này, giáo viên sẽ biết cách hình thành cho học sinh các kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt mục tiêu biết cách giúp các em hiểu kỹ hơn về giới và bình đẳng giới cùng các kiến thức thiết yếu để hiểu biết bản thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng đồng Đồng thời chính bản thân giáo viên được củng cố và phát triển nhiều kỹ năng khác như hoạt động nhóm, xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống, các cách giải quyết vấn đề mà các học sinh cần được trang bị để tồn tại, đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống và phát triển tốt trong một xã hội đầy biến động như hiện nay
Trang 22Về vấn đề quản lý giáo dục KNS trong nhà trường, giai đoạn đầu và trong những năm trước đây thực chất là quản lý hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bởi nội dung của KNS và giáo dục KNS được tích hợp trong cả giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa Vì thế mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhưng xét cho cùng thì mục tiêu về giáo dục KNS chưa được thể hiện rõ, còn nhập nhằng và mang nặng mục tiêu, nội dung, chương trình của giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Các nội dung giáo dục KNS cơ bản đã được triển khai ở tất cả các cấp học: Năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định
Phan Thanh Vân, trong luận án tiến sĩ “ Giáodục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”
[38] đã cho thấy giáo dục KNS là mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh ở trường phổ thông Giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp là vận hành đồng thời các thành tố giáo dục KNS và các thành tố của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để cùng thực hiện mục tiêu của hai hoạt động và tích hợp là con đường có hiệu quả để thực hiện giáo dục KNS cho học sinh mà không làm quá tải các hoạt động trong quá trình dạy và học
Ngoài ra, Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các nhà trường phổ thông đã có nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu Nhìn chung qua các đề tài nghiên cứu, vấn đề quản lý nhà nước được đề cập đến và trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục cũng đặt ra những quan tâm đến giáo dục KNS Đẩy mạnh và tăng cường giáo dục KNS đồng thời phải tổ chức giáo dục KNS theo tinh thần xã hội hóa Có thể nhận thấy ở Việt Nam
Trang 23trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS và công tác quản lý giáo dục KNS trong nhà trường Song, không có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động giáo dục KNS đồng bộ
ở cả môi trường trong và ngoài nhà trường, đặc biệt là quản lý giáo dục KNS trong trường THPT Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả, thông qua đề tài nghiên cứu này, tác giả dành sự quan tâm và mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục KNS trong trường THPT Trung Văn
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trong tác phẩm: “Những vẫn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold
Kontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [25, tr.31]
Tác giả Trần Kiểm nêu rõ: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
[23, tr.21]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[19,
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mảng công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr.31]
Trang 24Theo P.V.Khuđôminxki: “Quản lý giáo dục là tác động một cách có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, và có mục đích của các chủ thể quản lý các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng cả những quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình giáo dục, học tập, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên” [21, tr.44]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32, tr.35]
Như vậy QLGD là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào (từ cơ sở đến Trung ương) Nói cách khác, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất
cả các cấp QLGD, lại vừa là thành tố độc lập tự quản trong xã hội
Quản lý trường học là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng Nét đặc thù của quản lý trường học làm cho nó phân biệt với các quản lý xã hội khác được quy định trước hết bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học - giáo dục, trong đó học sinh vừa là khách thể quản
lý vừa là chủ thể quản lý tự quản lý bản thân mình
Trang 25Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [32,tr.34]
Theo Phạm Khắc Chương; “Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo mà xã hội đang yêu cầu
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào tạo giáo dục nhân cách, bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc, triết xuất được cho thế hệ trẻ Vì vậy, nhà trường trong bất cứ xã hội nào cũng là tâm điểm hội tụ của hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục” [17, tr.19]
Tác giả Hoàng Minh Thao - Hà Thế Truyền cho rằng: “Quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu tới việc hoàn thành mục tiêu
dự kiến” [34, tr.25]
Như vậy, Quản lý nhà trường là tác động có định hướng, có chủ đích,
có hệ thống và hợp quy luật của Hiệu trưởng đến giáo viên, nhân viên, học sinh và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề
ra một cách có chất lượng và hiệu quả nhất
1.2.4 Kỹ năng sống
Kỹ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động, thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Trang 26Theo nhóm biên soạn tài liệu GDKNS của Vụ giáo dục thể chất mà chủ
biên là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì: “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày" [1, tr.10]
Theo WHO (1993), KNS là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng
là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này [5, tr.8]
Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995), KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức
“cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng.[40]
UNESCO (2003) quan niệm: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày [39]
Trong luận văn này, khái niệm KNS được hiểu với nội hàm: Khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày
Trang 27tự chủ, kỹ năng nói không, khả năng tự đưa ra quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống chung quanh
1.2.6 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục KNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao giáo dục KNS trong nhà trường
Quản lý hoạt động giáo dục KNS chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có
kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh
Trang 281.3 Vai trò, ý nghĩa giáo dục KNS cho học sinh trong trường THPT
1.3.1 Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường THPT
Công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 07/8/2013 của Bộ GDĐT v/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học (GDTrH) năm học 2013-
2014, đã thể hiện đầy đủ nhiệm vụ đổi mới giáo dục cho học sinh: “Các trường THPT có điều kiện, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, cần quan tâm tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng kết hợp dạy học văn hóa với tổ chức các hoạt động tập thể nhằm giáo dục tình cảm, đạo đức, giáo dục thể chất, rèn luyện kĩ năng sống, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực của khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn” [13]
Nghị quyết 29, ngày 4 tháng 11 năm 2013 - Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI - Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh đến mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “Giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…”[8]
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong quy định này được hiểu là hoạt động giáo dục giúp cho người học hình thành
và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng phát triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống” và phân biệt: “Hoạt động giáo dục kỹ năng sống không phải là hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa….Hoạt động
Trang 29giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam…”[11]
Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ KNS cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013
do Bộ giáo dục và Đào tạo chỉ đạo và chính thức đưa vào trường THPT trên quan điểm, mục tiêu đổi mới giáo dục với định hướng giáo dục tiếp cận KNS trên tất cả các hoạt động đặc thù trong nhà trường bao gồm hoạt động dạy học các môn học và các hoạt động giáo dục khác
Như vậy, giáo dục KNS thực sự có vai trò quan trọng trong chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, là yêu cầu bức thiết trong giáo dục học sinh ở bậc THPT
1.3.2 Giáo dục KNS thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh trong học tập và cuộc sống
Vai trò của giáo dục trong bối cảnh hiện tại là xây dựng, hình thành con người của xã hội mới, tạo ra năng lực cho mỗi người tự phát triển để sống và làm việc trong xã hội của chúng ta Những phẩm chất tâm lý cần thiết của con người được hình thành dưới ảnh hưởng của kinh nghiệm xã hội con người, dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống và hoạt động, của dạy học và giáo dục, trong những tác động có tổ chức của xã hội, nhà trường và gia đình
Giáo dục KNS trong nhà trường cung cấp những nguyên tắc và những công cụ cho sự phát triển của các cá nhân, với sự hiểu biết rằng mỗi cá nhân bao gồm những khía cạnh về thể chất, tinh thần, tình cảm và trí tuệ Giúp các
em suy nghĩ, xem xét về cách ứng xử, cách giá trị của bản thân khi giao tiếp với người khác, với cộng đồng và với một thế giới rộng lớn hơn Học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực
Trang 30Giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông cũng giúp gây hứng thú cho các cá nhân để lựa chọn những giá trị của riêng mình về xã hội, đạo đức và tinh thần và hiểu biết những phương pháp thực hành để phát triển và
khắc sâu những giá trị này
13.3 Giáo dục KNS tạo ra cơ chế phòng ngừa trước những tác động xấu từ bên ngoài cho học sinh
Đào tạo ra những công dân ưu tú, có ích cho xã hội là nhiệm vụ của giáo dục Nhiệm vụ ấy phải được thực hiện một cách toàn diện, trên nhiều phương diện khác nhau: Đức, trí, thể, mỹ Mỗi hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường đều góp phần tạo nên sự toàn diện ấy Một công dân có ích cho xã hội, được xã hội đón nhận đó là công sức, mồ hôi và những nỗ lực của tập thể sư phạm trong nhà trường Việc quan tâm đến hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường chính là công việc “tuy nhỏ” nhưng “ý nghĩa lớn” Có thể dùng một hình ảnh so sánh về lợi ích của hoạt động này đối với xã hội giống như việc phòng bệnh/điều trị và cấp cứu trong y học Nếu nhà trường
bỏ tâm huyết và công sức ra giúp định hướng, điều chỉnh những suy nghĩ và hành vi lệch lạc của một học sinh trong cuộc sống và học tập, giúp học sinh
có KNS tích cực sẽ giúp xã hội giảm đi một công dân vi phạm tệ nạn xã hội
và tránh được sự tổn hại về con người, tài sản nếu như công dân đó phạm tội
Cứ như thế nếu làm cho 10, 100, thậm chí hàng nghìn học sinh trong nhà trường hiểu được những giá trị tốt đẹp của xã hội, nhà trường và gia đình mà mến yêu, trân trọng, cống hiến hết mình cho những giá trị ấy thì xã hội sẽ phát triển bởi nền tảng của mọi sự phát triển chính là con người
1.4 Đặc điểm học sinh THPT
Học sinh trung học phổ thông ở tuổi vị thành niên (15 - 18 tuổi) Các
em đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý, đang trong thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn Đây là thời kỳ trẻ gia nhập tích cực vào cuộc sống xã hội, qua đó hình thành phẩm chất của người
Trang 31công dân và cũng là thời kỳ then chốt của sự phát triển nhân cách, các em phải ứng xử với những thay đổi lớn trong môi trường học tập từ trung học cơ
sở lên bậc trung học phổ thông và rất nhiều những yêu cầu mới của xã hội, dẫn đến có những biến động về tâm lý Có thể thấy được một số đặc điểm
chung nổi bật của lứa tuổi này là:
Về mặt thể lực và trí lực: Lứa tuổi này dồi dào về thể lực, trí tuệ, nhạy
bén, thích tìm tòi cái mới, ưa sáng tạo Đây là thời kỳ các em muốn tỏ rõ mình
là người thanh niên cường tráng, có lý tưởng, thân hình phát triển, chuyển hoá trong cơ thể mạnh mẽ, sinh lực dồi dào, hiếu động chân tay Trong hoạt động thi đua, luôn thể hiện tính ganh đua, thách đố, cùng với sự tự cao, ý thức hơi thái quá, nôn nóng, mạo hiểm, luôn muốn thử sức để bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân
Về mặt tâm lý giới tính: Giai đoạn này các em rất thích thể hiện mình
trước người khác giới, thích làm dáng, làm điệu Hiện tượng phát dục ở các em
đã đưa đến những biến đổi sinh lý dẫn đến những biến đổi về tâm lý Các em ý thức được sự khác biệt về giới tính và có nhu cầu mạnh mẽ về tình bạn, tình yêu, bên cạnh đó cũng đang xây dựng cho mình những quan điểm riêng và đang quyết định viễn cảnh, kế hoạch cho cuộc sống bản thân Đồng thời, trong các em cũng bộc lộ những mâu thuẫn găy gắt giữa nhu cầu hứng thú, sở thích
cá nhân với khả năng vốn có cộng với những quy tắc, quy phạm chặt chẽ của
xã hội
Về mặt tính cách: Là thời kỳ bộc lộ hết sức mạnh mẽ về tính cách, các
trạng thái tâm lý rất không ổn định, dễ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác từ tích cực sang tiêu cực, yêu và ghét, vui vẻ và buồn chán đan xen nhau Tính khí thất thường do nội tiết phát triển mạnh mà tác dụng ức chế của
vỏ não chưa tới mức hoàn hảo
Về mặt phát triển ý thức đạo đức: Đây là giai đoạn các em đã có cảm
nghĩ mình là người lớn, vì vậy tính tự giác cũng được nâng cao nhanh chóng, các em luôn hướng về phía trước, về lẽ phải, có ý thức tìm kiếm cái cốt lõi
Trang 32của cuộc sống Ý thức xã hội của các em cũng được thể hiện rõ nét, rất nhạy bén với những biến động xã hội, dám nghĩ, dám làm, dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân, khao khát được mọi người đánh giá cao về mình, quan tâm đến sự phát triển tài năng của bản thân và thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức, khả năng tự kiềm chế bản thân dần được nâng cao, hành
vi thiếu tự chủ được giảm bớt, biết khép mình vào khuôn phép xã hội Tuy nhiên, với kinh nghiệm sống chưa nhiều, các em dễ bị cám dỗ và dễ bị ảnh hưởng xấu của ngoại cảnh
Những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT là giai đoạn rất quan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn, là lứa tuổi đầu thanh niên với những nét tâm lý đặc thù khác biệt vì vậy các em hơn bất cứ ai cần được trang bị cho mình những KNS cần thiết phù hợp với sự biến đổi tâm sinh lý đồng thời phát huy những yếu tố tích cực của nhân cách, tình cảm là một nhiệm vụ rất quan trọng Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường một cách khoa học nhằm giúp học sinh phát triển một cách toàn diện nhất
1.5 Mục tiêu, nội dung và phương pháp thực hiện và cách đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường THPT
1.5.1 Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT
Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan
hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày Chuyển dịch kiến thức, thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình; phát triển hài hòa, toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
Trang 331.5.2 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam những năm qua, nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông bao gồm nhiều cách phân loại khác nhau Hiện nay, các trường THPT thực hiện giáo dục KNS cho học sinh bao gồm các bài (chủ đề) sau:
Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:
- Kỹ năng tự nhận thức
- Kỹ năng xác định giá trị
- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
- Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin
* Nhóm các kỹ năng phân biệt và sống với người khác:
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông
- Kỹ năng thương lượng
- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
- Kỹ năng hợp tác
* Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả:
- Kỹ năng tư duy phê phán
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
Trang 34Tùy theo đặc điểm lứa tuổi học sinh các khối lớp, nhà trường sẽ xây dựng
và thiết kế chương trình giáo dục KNS phù hợp hoặc lồng ghép vào các môn học,
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để đạt hiệu quả cao nhất
1.5.3 Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh
Có nhiều phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh (thường gọi tắt là PPDH, KTDH tích cực) và cần sử dụng để giáo dục KNS cho học sinh phổ thông trong quá trình dạy học các môn học và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Dưới đây là một số phương pháp dạy học tỏ ra thích hợp khi muốn hình thành và phát triển KNS cho học sinh THPT
- Phương pháp động não: Nhằm huy động những ý tưởng mới mẻ, độc đáo, những giả định về một chủ đề nào đó của các thành viên trong thời gian ngắn Các thành viên được cổ vũ một cách tích cực, không hạn chế ý tưởng
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Được xây dựng dựa trên một tình huống thật để chứng minh một vấn đề hay một loạt vấn đề, thường là những vấn đề xã hội, tin tức thời sự hay phóng sự ngắn…thông qua các phương tiện như tivi, internet, facebook….nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống và rút ra những bài học ý nghĩa về các KNS cần thiết
- Phương pháp trò chơi: Là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh chơi một trò chơi mà thông qua đó tìm hiểu một vấn đề, hiểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm
- Phương pháp thảo luận nhóm: Là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục trong đó giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, học sinh trong nhóm có thể trao đổi, giúp đỡ cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, qua đó hình thành củng cố phát triển các KNS
- Phương pháp đóng vai: Là phương pháp giúp học sinh thực hành cách bày tỏ, ửng xử, thái độ trong những tình huống được xây dựng giả định hoặc
do óc sáng tạo của các em giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng
Trang 35cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà họ quan sát được
- Phương pháp giải quyết vấn đề: Đây là phương pháp đặt học sinh trong những tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp
1.5.4 Hình thức giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT
Ở bậc học phổ thông, con đường giáo dục KNS được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức tiếp cận KNS trong quá trình dạy học
- Thông qua hoạt động lồng ghép tích hợp vào các môn văn hoá trong nhà trường
- Thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường (Ngoại khoá; môn học tự chọn; hoạt động ngoài giờ lên lớp )
Ngoài con đường lồng ghép qua môn học và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, GVCN có thể giáo dục KNS cho học sinh qua:
Tổ chức các chủ đề giáo dục KNS chuyên biệt đáp ứng nhu cầu của học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Thông qua hoạt động của các câu lạc bộ trong nhà trường
Qua xử lý các tình huống trong thực tiễn cuộc sống theo cách coi trọng tiếp cận KNS
Qua tư vấn, tham vấn trực tiếp đối với cá nhân hoặc nhóm học sinh
1.6 Nội dung Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT
1.6.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống
- Xác định các căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn cho việc lập kế hoạch giáo dục KNS đảm bảo kế hoạch được xây dựng dựa trên những căn cứ chắc chắn làm cơ sở cho quá trình tổ chức thực hiện
- Xác định thực trạng nhiệm vụ giáo dục KNS của nhà trường: Về nội dung đang thực hiện, cách thức thực hiện, cơ sở lý luận, kiến thức của đội ngũ
GV về vấn đề giáo dục KNS các cơ sở vật chất cần thiết (máy vi tính, máy chiếu, bảng biểu, kết nối Internet)
Trang 36- Xác định các nội dung nhiệm vụ cần thực hiện để làm tốt công tác giáo dục KNS cho học sinh Với mỗi nhiệm vụ xác định chính xác đối tượng tham gia thực hiện, công việc cần thực hiện, các điều kiện về tài liệu, cơ sở vật chất, cần thiết để thực hiện công việc đó cũng như tiến độ thời gian cần thiết để hoàn thành công việc
- Dự kiến trước các chi phí vật chất phát sinh trong quá trình thực hiện
kế hoạch đối với nhà trường, các cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện và cả đối với tập thể, cá nhân học sinh Xác định nguồn kinh phí huy động
- Thiết lập hệ thống chuẩn để kiểm tra đánh giá hoạt động, các quy định, quy chế cần thiết để đảm bảo kế hoạch được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả
1.6.2 Tổ chức thực hiện giáo dục KNS cho học sinh
Tổ chức thực hiện kế hoạch tức là đưa kế hoạch vào thực tế Nhà quản
lý căn cứ vào kế hoạch đã được phê duyệt để tiếp nhận các nguồn lực (con người, kinh phí, vật chất ) để bố trí, sắp xếp một cách hợp lí giữa con người với công việc, đảm bảo mỗi người mỗi việc phù hợp với khả năng trình độ của họ đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch Bên cạch đó còn phải sử dụng các phương tiện, thiết bị hỗ trợ một cách hiệu quả tránh lãng phí
- Tổ chức giáo dục KNS cho học sinh theo các nội dung và hình thức thực hiện;
- Tổ chức các chuyên đề, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm… nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục KNS cho CBQL, giáo viên
- Sắp xếp, bố trí, phân công nhiệm vụ giáo dục KNS phù hợp với năng lực, sở trường của cán bộ, giáo viên nhà trường
- Hướng dẫn cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện các hoạt động theo
kế hoạch nhà trường
1.6.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS cho học sinh nhà trường
Khi chỉ đạo thực thực hiện kế hoạch CBQL phải đảm bảo quá trình chỉ đạo thực hiện đi đúng hướng để đạt tới mục tiêu đã định Bám sát kế hoạch và
Trang 37mục tiêu của kế hoạch đã đề ra Đồng thời phải luôn giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ của các GV và các lực lượng có liên quan để đảm bảo rằng công tác giáo dục KNS cho học sinh đang được thực hiện đúng kế hoạch, hướng tới các mục tiêu đã xác định trước
- Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục KNS cho đội ngũ CBLQ, giáo viên nhà trường
- Động viên, kích lệ đội ngũ tham gia hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
- Khuyến khích tinh thần tự học, sáng kiến kinh nghiệm và các ý kiến đóng góp của đội ngũ giáo viên, CBQL về hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
- Theo dõi, giám sát, điều chỉnh sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
1.6.4 Kiểm tra - đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
CBQL nhà trường cần thực hiện việc kiểm tra - đánh giá hoạt động giáo dục KNS thường xuyên và liên tục, trong đó cần xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn, hình thức đánh giá giáo dục KNS
Tiêu chuẩn đánh giá: Nhà quản lý phải xây dựng các tiêu chuẩn để làm căn cứ đánh giá các hoạt động, tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở thực tế của nhà trường, có sự bàn bạc kỹ lưỡng của các tổ chức trong nhà trường, tiêu chuẩn phải phù hợp không nên quá khó hoặc quá dễ sẽ làm ảnh hưởng đến việc thi đua hoặc điều chỉnh hoạt động ở những giai đoạn sau
Về loại hình đánh giá: Việc quản lý đánh giá thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS có những cách đánh giá theo chủ thể, các hình thức bao gồm: tự đánh giá, đánh giá từ bên ngoài
Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục KNS đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt