1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình Hình Và Xu Thế Phát Triển Giáo Dục Đại Học Ở Một Số Nước Thuộc Khu Vực Châu Á - Thái Bình Dương 4124203.Pdf

37 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình và xu thế phát triển giáo dục đại học ở một số nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trường học Văn phòng Quốc hội
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Tổng luận
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 309,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HÌNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG CSDL PICMS Thông tin Hỏi – đáp phục vụ ĐBQH của Phòng Thông tin, Trung tâm Thông tin – TV – NCKH, V[.]

Trang 1

TÌNH HÌNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC KHU VỰC

CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

(Tổng luận phân tích)

I TÓM TẮT TỔNG LUẬN

Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực chiếm 63% dân số thế giới (hơn

3 tỷ người) với những đặc điểm phức tạp về mặt lịch sử, chính trị, xã hội vàvăn hóa đã từng chịu đựng hậu quả của nhiều cuộc chiến tranh quốc tế vàkhu vực, đã chịu ảnh hưởng của nhiều truyền thống văn hóa Âu - Mỹ, vẫngiữ được truyền thống và bản sắc dân tộc trên mỗi chặng đường phát triểncủa mình Đặc điểm nổi bật của khu vực này là sự phát triển không đồng đều

về mặt kinh tế, có nước thuộc hàng tư bản phát triển hàng đầu thế giới(Nhật), có nước thu nhập bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới(Nepan) Tuy nhiên, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước, trong đó

có các nước mới giành được độc lập, đã nhanh chóng phục hồi kinh tế, thựchiện chính sách mở cửa, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, ứng dụng nhữngthành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, tạo ra những bước phát triểnquan trọng, đặc biệt là trong 2 thập kỷ 70 và 80 Nhật Bản đã trở thành mộtcường quốc kinh tế thế giới Các nước Nam Triều Tiên, Hồng Kông,Singapo, Đài Loan trở thành những “con rồng châu Á”, các nước thuộc khốiAsean cũng đang sẵng sàng nối gót các nước công nghiệp mới nói trên.Châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực năng động nhất thế giới

Trang 2

Sự phát triển kỳ diệu trên đây gắn liền với sự phát triển của hệ thốnggiáo dục các nước, trong đó GDĐH đóng vai trò năng động nhất Tổng luậnkhoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu khái quát những đặc điểm chung nhấtcủa quá trình hình thành và phát triển nền giáo dục đại học của các nướctrong khu vực, mối quan hệ ảnh hưởng giữa kinh tế - xã hội, khoa học kỹthuật với giáo dục đại học, vai trò của GD ĐH trong sự phát triển đi lên củacác quốc gia, những thành tựu và kinh nghiệm.

Tổng luận dành phần quan trọng cho việc xem xét cụ thể nền GD ĐHcủa một số nước tiêu biểu trong khu vực: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan

Tổng luận đã đi vào từng thời kỳ phát triển của GD ĐH gắn liền với

sự phát triển kinh tế - xã hội của từng nước Thông thường tại mỗi bướcngoặt của kinh tế - xã hội nền giáo dục lại được cải cách để đáp ứng nhữngđòi hỏi mới của giai đoạn phát triển

Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt về Lịch sử chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội, sự phát triển của GD ĐH của mỗi nước cũng có những nétđặc thù riêng; tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trong khu vực cũng có nhiềuđiểm chung giống nhau cũng là những nước đang phát triển, cùng phát triểnkinh tế thị trường mở cửa, cùng chịu tác động của cách mạng khoa học vàcông nghệ cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Âu, Mỹ Do vậy, quá trình pháttriển GD ĐH cũng có những xu thế chung giống nhau Đó là sự mở rộng liêntục về quy mô, sự đa dạng hóa về loại hình trong một cơ cấu hệ thống nhiềubậc, gắn liền nhà trường với xã hội, với thực tiễn sản xuất và đời sống, gắnđào tạo với việc làm, với thị trường lao động thường xuyên biến đổi Mụctiêu và nội dung GD ĐH hướng chủ yếu vào việc thỏa mãn nhu cầu nhân lựccho công nghiệp, cho phát triển kho học và công nghệ, cho việc nâng cao

Trang 3

tiềm lực cạnh tranh quốc tế GD ĐH còn được hướng vào những mục tiêuchung về tiến bộ xã hội – dân chủ, công bằng, bình đẳng về cơ hội học tập,góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách phục vụ cộng đồng và phát triểnquốc gia.

Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, GD ĐH của khu vực châu Á

- TBD tiếp tục phát triển cả về quy mô và chất lượng, mở rộng hợp tác trongkhu vực và thế giới, nhằm giải quyết những khó khăn tồn đọng, vươn lênđón đầu những thử thách mới của thế kỷ 21

Phần cuối của Tổng luận đã phân tích và so sánh những kinh nghiệmcủa các nước trong khu vực, đối chiếu với tình hình phát triển GD ĐH ViệtNam và đưa ra một số kiến nghị nhằm xúc tiến công cuộc đổi mới GD ĐH ởnước ta

Trang 4

Trong bối cảnh đó, châu Á - Thái Bình Dương đang nổi lên như mộtkhu vực năng động nhất.

Về kinh tế, hơn 55% sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản ngàynay thuộc về các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tổng sản lượngquốc gia của 5 nước tư bản phát triển: Mỹ, Nhật, Canada, Ôxtraylia và NewDilan, vượt gấp 1,7 lần tổng sản lượng quốc gia của khối thị trường chungEEC Các nước đang phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương tăngtiềm lực kinh tế theo nhịp độ vượt hẳn những chỉ tiêu tương ứng của tất cảcác nước đang phát triển tính chung Nhịp độ tăng tổng sản phẩm quốc giahàng năm vào khoảng 6 đến 10% Trong nền kinh tế khu vực đã hình thành

1 nhóm nước công nghiệp mới (NIC) có trình độ phát triển kinh tế và khoahọc kỹ thuật gần đuổi kịp các nước tư bản phát triển Các thành viên củaASEAN là những nước đang phát triển cỡ lớn trong khu vực đang đuổi theonhóm nước này

Trang 5

Việc khu vực này chiếm lĩnh những vị trí tiên tiến nhất trong lĩnh vựcphát triển khoa học kỹ thuật là một nhân tố cực kỳ quan trọng Ngày nay,chính khu vực này đang tiến hành các cuộc nghiên cứu và chế tạo kỹ thuậthiện đại nhất trong lĩnh vực sản xuất máy vi xử lý, rôbot công nghiệp, cũngnhư trong lĩnh vực công nghệ học khai thác đại dương và chinh phục vũ trụ.

Các nước tư bản chính là Nhật - Mỹ đang hoạt động và có những lợiích chính trị, kinh tế lớn trong khu vực này Khu vực này còn có các nướcTrung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia là những quốc gia XHCN đangtrên đường đổi mới Hàng loạt nước lớn đang phát triển (Indonsia, Malaixia,Thái Lan, các nước vùng Nam Á mà trước hết là Ấn Độ) cũng rất quan tâm

và gắn bó với khu vực này Việc tập trung và đan kết những lợi ích Quốc giaquan trọng của các nước khác nhau làm cho khu vực này trở thành 1 trongnhững trung tâm đầu mối kinh tế và chính trị rất nhạy cảm của thế giới1

Như trên đã nói, nhân tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy sự phát triểnnăng động và nhanh chóng của nhiều quốc gia trong khu vực chính là khảnăng chiếm lĩnh nhiều vị trí tiên tiến nhất trong phát triển khoa học côngnghệ, đó chính là chiến lược đầu tư vào con người, là phát triển giáo dục vàđào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực, nâng cao dân trí và đào luyện nhântài Mỹ đã coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu “Các trường đạihọc Mỹ là nơi quyết định sự thắng lợi của công cuộc cạnh tranh kinh tế”2.Nhật Bản đã coi giáo dục, khoa học và chính sách mở cửa là 3 mũi nhọnchiến lược quyết định sự phát triển nhảy vọt của quốc gia này trong mấythập kỷ qua Nam Triều Tiên, Malaisia, Thái Lan cũng đã làm như vậy

Việt Nam là một thành viên trong khu vực, một nước có nền kinh tếphát triển thấp đang cần đổi mới để vươn lên thoát khỏi nghèo nàn và lạc

1 Vladimer Lukin Ai đe dọa Châu Á? XNB APN Matscova 1987

2 Sức lực nhường chỗ cho trí tuệ, Sputnhic số 5/1988

Trang 6

hậu Đại hội lần thứ VII của Đảng CSVN đã đưa ra những định hướng mới,quan trọng cho quá trình đổi mới đất nước Trong đó, giáo dục và đào tạocũng được coi là một trong những quốc sách hàng đầu Vì vậy, việc nghiêncứu, học tập những kinh nghiệm của các nước trong khu vực về vấn đề này

là một nhiệm vụ bức thiết góp phần hoạch định những chính sách, nhữngbước đi, những cách làm giáo dục phù hợp với điều kiện, khả năng và nhucầu phát triển đất nước, nhằm nhanh chóng đưa nền giáo dục của ta pháttriển hòa đồng với những xu thế chung của khu vực và thế giới, phục vụ hữuhiệu nhất cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 7

III PHẦN NỘI DUNG

1 Những đặc điểm về kinh tế - xã hội của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

1.1 Về dân số và lao động

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có số dân đông nhất so với cáckhu vực trên thế giới và có tỷ lệ dân số tăng khá nhanh: từ 1,6 tỷ người giữanhững năm 60 lên 2,5 tỷ người giữa những năm 80 và dự kiến sẽ lên tới 3,3

tỷ người vào năm 2000: Năm 1960 Trung Quốc chiếm 41,8% dân số trongvùng, năm 1980 tụt xuống 40,7% và triển vọng giảm xuống 37,9% vào năm

2000 Nhưng dân số các nước Nam Á lại tăng từ 34,6% năm 1960 lên 36,6%năm 1980 và khả năng lên tới 39% năm 2000 Nhìn chung thì tỷ lệ dân số ởcác nước công nghiệp mới (NIC) và Nhật Bản tương đối thấp, còn ở cácnước có thu nhập thấp thuộc các vùng Đông Nam Á tỷ lệ đó còn khá cao.Trong khi đó đất đai canh tác lại rất hạn hẹp Nhìn chung tỷ lệ tăng dân số đã

hạ xuống, song mức tăng dân số vẫn là mối đe dọa cho việc cân đối tàinguyên ở những nước này Đồng thời những người mới bước vào đội ngũlao động cá thể tăng với một nhịp độ cao hơn tỷ lệ tạo ra công ăn việc làm vàgây ra những vấn đề về thu hút lao động và thất nghiệp Quá trình đô thị hóanhanh chóng một mặt thu hút lao động vào khu vực đô thị, mặt khác làmtăng tầng lớp trung gian và thay đổi lối sống hướng vào tiêu dùng quy môlớn Nên không có những điều chỉnh về cơ cấu và tăng năng suất lao động ởcác khu vực khác nhau, thì sự tăng dân số và sức lao động trong hai thập kỷtới dự kiến sẽ làm tăng thêm sự bần cùng hóa ở các nước này3

3 Kinh tế Châu Á-TBD đến năm 2000-Tổng luận KHKT và kinh tế số 1-1990, TTTT KH và CN quốc gia.

Trang 8

1.2 Về kinh tế:

Nói chung, châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực có các nền kinh

tế phát triển năng động nhất thế giới, mặc dù tốc độ tăng trưởng có chậm lại.Theo Liên hợp quốc thì kinh tế toàn khu vực năm 1990 tăng 5,2% so với 6%năm 1987 và 8,7% năm 1988 Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế thế giớităng trưởng chậm, khủng hoảng vùng Vịnh và nông nghiệp Châu Á - TháiBình Dương giảm sút mạnh4

Đặc điểm nổi bật nhất về kinh tế ở khu vực này là sự phát triển khôngđồng đều giữa các nền kinh tế trong khu vực Có những nước thu nhập bìnhquân theo đầu người rất cao như Nhật Bản: 15.760 đô la Mỹ, Australia:11.100, Hồng Kông: 8.070, nhưng cũng có những nước có thu nhập vào loạithấp nhất thế giới như Nepal: 160, Lào: 170 Sự không đồng đều này cònthể hiện ở một số mặt:

- Trình độ sản xuất và tổ chức sản xuất chênh lệch rất lớn giữa cácnước Trong khi đó tỷ lệ đóng góp vào nền kinh tế quốc dân của các ngànhDịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp ở Nhật Bản (số iệu 1987) là 57-41-2, ởNam Triều Tiên là 46-43-11, thì ở các nước đang phát triển vai trò nôngnghiệp còn chiếm tỷ trọng quan trọng trong nền kinh tế, ví dụ Nepal: 29-4-

4 Kinh tế thế giới 1990- Tạp chí quan hệ quốc tế số 2/1991

Trang 9

Trong khi số vốn dư thừa của Nhật Bản là 100 tỷ đôla, Đài Loan 75

tỷ, thì số nợ của các nước nghèo ở châu Á thuộc loại lớn nhất thế giới5

Tuy nhiên, nhìn về tương lai, triển vọng hợp tác kinh tế trong khu vực

sẽ có những phát triển mới, nhằm phát huy được các tiềm năng trong khuvực vào việc xây dựng và phát triển kinh tế Đã có những tổ chức liên kết từtrước đây như OPEC của nhóm nước Arập, ASEAN của một số nước ĐôngNam Á, đã có những cố gắng để hình thành các liên minh kinh tế khu vựcnhư: Hội đồng kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương (Pacific Basin EconomicCouncil – PBEC) năm 1967, hay hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương(Pacific Economic Cooperation Conference – PECC) năm 1980 (mặc dù cácliên minh này thực tế chưa thành công do nhiều nguyên nhân (địa lý, trình

độ phát triển khác nhau, ảnh hưởng của các điều kiện văn hóa, chính trị )6.Tháng 11 năm 1989, Hội nghị hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương –Asia Economic Cooperation – APEC – đã xem xét vai trò kinh tế của khuvực và đề ra các nguyên tắc hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực.Hiện đã có 12 nước tham gia tổ chức này

Trong tương lai châu Á - Thái Bình Dương sẽ trở thành một trung tâmkinh tế, tài chính, thương mại của thế giới với những tiền đề mà sự hợp táckhu vực có thể khai thác và phát huy được, đó là:

- Nguồn nhân lực dồi dào, trong đó có đội ngũ lao động kỹ thuật lànhnghề

- Có những ưu điểm nổi bật về địa lý và tài nguyên thiên nhiên phongphú

5 Tạp chí quan hệ quốc tế số 7/1990

6 Tạp chí quan hệ quốc tế số 7/1990

Trang 10

- Một số nước tương đối ổn định về chính trị, tạo thuận lợi cho pháttriển kinh tế, tương đối có đầu tư của nước ngoài.

- Có nhiều nước (NICS, NIES) và một số nước đang phát triển đã biếtchọn cho mình những chiến lược và sách lược phát triển kinh tế phù hợp

Dựa vào những tiền đề đó APEC đã đưa ra những nội dung hợp tác cụthể sau:

- Hợp tác phát triển nguồn nhân lực

- Trao đổi thông tin khoa học kỹ thuật và công nghệ cả về chính sách

và các bước phát triển

- Trao đổi số liệu đầu tư trực tiếp của nước ngoài

- Phối hợp các chương trình phát triển

- Hợp tác thông tin giao thông

- Hợp tác trong các lĩnh vực năng lượng và môi trường

- Trong nhiều năm, châu Á - Thái Bình Dương là trung tâm của những

sự kiện chính trị có ý nghĩa thế giới: cuộc đấu tranh của phong trào giảiphóng dân tộc ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Dương ; đấu tranh chống xâmlược của Triều Tiên, Việt Nam , sự lớn mạnh không ngừng của Nhật Bản

từ nước thua trận trở thành cường quốc kinh tế, sự ra đời của các nước công

Trang 11

nghiệp mới, và sự cải tổ, đổi mới và phát triển trong những năm gần đây củacác nước XHCN.

- Điểm quan trọng nữa là xu hướng đối thoại, hòa bình và hợp táctrong khu vực ngày càng rõ nét (Hội nghị APEC là một ví dụ điển hình cho

xu hướng trên)

1.4 Về văn hóa xã hội:

- Là khu vực đông dân nhất thế giới và cũng là nơi được coi là cónhững nền văn hóa lâu đời nhất, đặc sắc và riêng biệt (Tiêu biểu là TrungQuốc, Ấn Độ) là cái nôi của văn hóa nhân loại

- Tại Châu Á - Thái Bình Dương định cư hàng ngàn dân tộc với ngônngữ và bản sắc dân tộc đa dạng, phong phú, là nơi sớm có ngôn ngữ chữviết, là nơi hình thành các tôn giáo lớn nhất (Phật giáo, hồi giáo )

- Châu Á - Thái Bình Dương đã phát sinh các kỹ thuật và công nghệtiêu biểu như in ấn, trồng lúa, thủy lợi là nơi cá ngành khoa học quan trọngnhư thiên văn, y học, toán học sớm phát triển và được ứng dụng góp phầnlàm nền văn minh nhân loại, là nơi xuất hiện sớm nhất các cơ chế và hệthống quản lý xã hội, các hệ thống giáo dục, thi cử

- Châu Á - Thái Bình Dương có tỷ lệ phát triển dân số cao (2,1% hàngnăm so với 1,7% của thế giới) chủ yếu tập trung ở các nước nghèo (TrungQuốc, các nước Nam Á và Đông Nam Á) Đây sẽ là nguồn nhân lực dồi dàonhưng trước hết đó là gánh nặng thực sự cho việc cung cấp lương thực vàgánh nặng cho giáo dục

Trang 12

1.5 Về giáo dục:

- Giáo dục cũng mang những nét đặc thù của khu vực Trừ một sốnước như Úc, Ấn Độ, Việt Nam, hệ thống giáo dục phổ thông của các nướctrong khu vực thường chia thành 3 cấp theo công thức sau: Phỏ thông cơ sở6-7 năm + phổ thông trung học bậc I 3 năm + phổ thông trung học bậc II 3năm Công thức 6+ 3+ 3 cũng là phổ biến của nhiều nước trên thế giới

- Giáo dục đại học ngày càng được coi trọng đặc biệt trong các nướcphát triển và công nghiệp mới Tại các nước đang phát triển quy mô và chấtlượng giáo dục có được nâng lên tại 1 số nước như Thái Lan, Malaisia Tuynhiên, giáo dục đại học ở đây còn theo khuôn mẫu cá nước Âu, Mỹ7

- Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp, xét về mặt đầu tư của Nhà nước,quy mô tuyển sinh, cơ cấu hệ thống thì ngay ở các nước có kinh tế phát triểnnhư Nam Triều Tiên, Úc, cũng chưa được quan tâm đầy đủ Tỷ lệ số ngườihọc nghề so với số người đi học phổ thông của các nước đang phát triểntrong khu vực là 1/9, trong khi đó tỷ lệ này tại các nước phát triển (1983) là

tố quyết định sức mạnh cạnh tranh và sức bật của mỗi quốc gia Bài học

7 Amrik Singh – GD Sharma, Higher Education in India the social context, Dehli, 1988.

Trang 13

thành công về công cuộc công nghiệp hóa của các nước NIC ở châu Á là dosớm có những ưu tiên trong việc phát triển và nâng cao tiềm năng con người.

Giáo dục đại học có vai trò đặc biệt quan trọng Ngoài việc phục vụnhu cầu nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ GD ĐH góp phần thúcđẩy các cải cách xã hội, thực hiện dân chủ hóa, công bằng xã hội, bình đẳngnam nữ, mở rộng giao lưu quốc tế (vì trí thức và những thành tựu khoa học

dễ đi vào các nước)

Hội nghị UNESCO khu vực họp tại Australia tháng 10-1990 đã nhậnđịnh: GD ĐH ở châu Á - Thái Bình Dương đã phục vụ rộng rãi cho xã hộiđến mức đáng ngạc nhiên GD ĐH không chỉ tạo ra tầng lớp thượng lưu tríthức, tạo ra nhân tài mà còn đưa trí thức vào đại chúng, giải đáp nhiều vấn

đề đặt ra của xã hội, phục vụ những nhu cầu thiết thực của cộng đồng Quátrình công nghiệp hóa đất nước đã ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống xã hội,làm thay đổi cả những chuẩn mực đạo đức và thang giá trị xã hội Nhàtrường đại học, tiêu biểu cho nền văn minh của các dân tộc phải đưa ra đượcnhững tiêu chuẩn đạo đức mới và thang giá trị xã hội mới làm định hướngcho mục tiêu đào tạo và giáo dục các thế hệ mới phù hợp với sự phát triểncủa xã hội hiện đại Có thể nói, xã hội đã tác động rất mạnh mẽ đến GD ĐH.Chính từ yêu cầu của tiến bộ kinh tế - xã hội đã gây sức ép lến GD ĐH, đòihỏi GD ĐH phải thay đổi, đặc biệt là áp lực về nghiên cứu khoa học, phục

vụ công nghiệp hóa đất nước Nhà trường đại học buộc phải mở rộng quy

mô, mở rộng nhiều mối quan hệ với xã hội, với GD ĐH của thế giới Hệthống đại học buộc phải mềm hóa chống mọi sự cứng nhắc, chống bảo thủ,đổi mới về cơ cấu, đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại hình trường, đổimới công tác quản lý và kế hoạch hóa Nhà nước phải tăng cường đầu tưngân sách, đồng thời với việc tối ưu hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục,

Trang 14

nhiều tổ hợp công nghiệp phải tham gia đầu tư trực tiếp cho giáo dục đạihọc.

Tóm lại, trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trongkhu vực, GD ĐH đóng vai trò vừa là mục tiêu vừa là động lực, làm cho nhàtrường và xã hội gắn bó với nhau thúc đẩy nhau cùng phát triển

3 Thực trạng và xu thế phát triển GD ĐH ở một số nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương

3.1 Trung Quốc:

Trung Quốc là nước lớn nhất trong khu vực với dân số trên 1 tỷngười Ngay từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa, chính phủ TrungQuốc đã chú ý phát triển giáo dục và đã nhanh chóng đạt được những thànhtựu quan trọng, đáp ứng các yêu cầu phát triển của công nghiệp, nôngnghiệp, khoa học và văn hóa Nhưng từ năm 1966 và kéo dài 10 năm sau,nền giáo dục của Trung Quốc, đặc biệt là giáo dục đại học, đã bước vào mộtthời kỳ đen tối, người ta gọ là “10 năm bất hạnh” của “giáo dục TrungQuốc” do hậu quả của cuộc cách mạng văn hóa và đường lôi siêu tả

“khuynh” của thời kỳ này Dấu ấn sâu sắc để lại cho giáo dục Trung Quốcsau thời kỳ này là:

- Số lượng người mù chữ và nửa mù chữ rất lớn và không ngừng xuấthiện thêm

- Giáo dục tiểu học chưa được phổ cập ở mọi nơi

- Giáo dục mầm non phát triển kém

- Đào tạo nghề không được chú ý

- Đào tạo đại học thiếu cả về số lượng và chất lượng

Trang 15

Trong 6 năm liền các trường đại học và Trung học chuyên nghiệpkhông tuyển sinh Giáo dục đã rơi vào tình trạng bất động hoặc nửa bất động

và chệch khỏ hướng phục vụ phát triển kinh tế, khoa học và văn hóa ở TrungQuốc8

Sau thời kỳ trên, đất nước Trung Quốc lại bước sang một giai đoạnphát triển mới, theo đường lối bốn hiện đại hóa: hiện đại hóa công nghiệp,nông nghiệp, quốc phòng, khoa học và kỹ thuật Trong đó, hiện đại hóa khoahọc và kỹ thuật là then chốt và giáo dục là cơ sở Từ năm 1981, Quốc vụViện Trung Quốc đã ra chỉ thị về việc tìm kiếm những giải pháp cải cách thểchế giáo dục

Ngành giáo dục đã tổ chức các hội nghị, tọa đàm, đẩy mạnh công tácchính trị, tư tưởng, điều tra nghiên cứu để điều chỉnh, cải cách thể chế giáodục Một số giải pháp bước đầu là:

- Tăng cường ban lãnh đạo các trường đại học, giao cho 6 trường vàViện giáo dục bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trung gian của các trường đại học

- Cải tiến công tác chiêu sinh đại học, thi tuyển nghiên cứu sinh, tổchức viết giáo trình cơ sở các bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học kỹthuật

- Tổ chức hội nghị các sở trưởng, cục trưởng giáo dục của 9 tỉnhthành, tổ chức hội nghị thư viện đại học

- Soạn thảo bản quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật kế hoạch 5năm lần thứ 6 của các trường đại học trực thuộc, xây dựng điều lệ về học vị

8 Wang cheng xu và Heping – Tham luận tại hội nghị UNESCO khu vực châu Á – TBD, Băngkok 1983

Trang 16

- Xác định sơ bộ các trường và ngành học trọng điểm, chủ trương xâydựng trường đại học thành 2 trung tâm, trung tâm đào tạo và trung tâmnghiên cứu khoa học.

- Xây dựng đội ngũ “thầy giáo”, tiêu chuẩn hóa thầy giáo đại học 9Với những giải pháp trên, đến năm 1983 Trung Quốc đã có 675trường đại học với khoảng 1.144.000 sinh viên và 246.900 cán bộ giảng dạy.Trong số đó có 32 trường đại học tổng hợp, 203 trường đại học kỹ thuật, 66trường đại học nông lâm, 178 trường đại học sư phạm, 30 trường đại họckinh tế và tài chính, 7 trường đại học chính trị và luật, 11 trường đại học thểdục thể thao, 26 trường đại học công nghệ và 9 trường đại học thuộc loạikhác10 Như vậy, 2/3 số trường đại học trên nhằm phục vụ trực tiếp nhu cầuphát triển công nghiệp, chuẩn bị giáo viên và phục vụ sự nghiệp y tế

Xây dựng các trường đại học trọng điểm được coi là một biện phápquan trọng để phát triển GD ĐH Trường trọng điểm được coi là 2 trungtâm, vừa là trung tâm đào tạo vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học và làxương sống của hệ thống đại học Trung Quốc lúc đó đã có 96 trường nhưvậy, trong đó có 29 trường trực thuộc Bộ Giáo dục, 67 trường thuộc các bộkhác Các trường này được ưu tiên trong tuyển sinh, phân phối cán bộ giảngdạy, trang thiết bị, phương tiện dạy học nghe nhìn, trao đổi quốc tế vànghiên cứu ở nước ngoài, để trở thành những trường dẫn đầu và đào tạonhững nhà khoa học dần dần

Để tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, nhiều viện nghiên cứukhoa học xã hội và khoa học tự nhiên ra đời, công tác nghiên cứu khoa học

9 Phan Văn Các – tiến trình cải cách thể chế giáo dục ở Trung Quốc, tổng luận, TT Thông tin KHGD 1990.

10 Wang cheng xu và Heping – Tham luận tại hội nghị UNESCO khu vực châu Á – TBD, Băngkok 1983

Trang 17

giáo dục cũng được chú ý Nhiều việc nghiên cứu giáo dục được thành lập ởcác trường đại học.

Nhà nước chủ trương điều chỉnh lại chính sách đại học, xây dựng lại

cơ cấu, củng cố và cải tiến một cách toàn diện

Tuy nhiên, những chuyển biến trên đây vẫn chưa đáp ứng được tốc độphát triển kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật và văn hóa đang diễn ra sôiđộng trong xã hội Trung Quốc Do số trường và số sinh viên phát triển ngàycàng nhanh, trong đó rất nhiều trường đại học và cao đẳng trực thuộc nhiều

bộ ngành và địa phương khác nhau, tháng 6 năm 1984 Ủy ban thường vụQuốc hội Trung Quốc đã quyết định thành lập “Ủy ban giáo dục nhà nước”

và do Lý Bằng làm chủ nhiệm Ủy ban có trách nhiệm soạn thảo và đưa ranhững nguyên tắc chỉ đạo toàn ngành giáo dục, lập kế hoạch phát triển giáodục, phối hợp công tác giáo dục đào tạo của nhiều bộ, ngành và cơ quankhác nhau, tổ chức và hướng dẫn thực hiện cải cách giáo dục theo mộtphương án toàn diện

Ngày 15/5/1985, Trung Quốc tổ chức hội nghị giáo dục toàn quốc vàđến ngày 27/5/1985 công bố quyết định của Ban Chấp hành TƯ ĐCSTQ vềcải cách thể chế giáo dục Quyết định chỉ rõ: muốn giải quyết vấn đề conngười phải làm cho sự nghiệp giáo dục có bước phát triển lớn Phải nâng caonhận thức của toàn dân về công tác giáo dục Giáo dục phải phục vụ côngcuộc xây dựng CNXH và xây dựng CNXH phải dựa vào GD Tại một phiênhọp toàn thể của Bộ Chính trị, Đặng Tiểu Bình đã phát biểu: “Phải nắm lấygiáo dục với nỗ lực tối đa và phải nắm bắt đầu từ trường tiểu học Đó lànước cờ chiến lược” Ông nhấn mạnh “những người lãnh đạo nào coi nhẹgiáo dục là người lãnh đạo thiều tầm nhìn xa và chưa chín, sẽ không thể lãnhđạo đươc công cuộc hiện đại hóa” Hồ Khải Lập, Bí thư ban Bí thư trung

Trang 18

ương tại Hội nghị giáo dục toàn quốc cũng phát biểu “phải phấn đấu để xâydựng trong toàn xã hội một cách phong phú, tốt đẹp là tôn trọng giao dục(tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài11).

Những biện pháp về tổ chức này cùng với tới những quyết sách kháctrong quá trình cải cách đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong toànngành giáo dục, riêng ở lĩnh vực đại học

- Công tác chính trị tư tưởng, được tăng cường với 2 Bộ giáo trìnhmới ra đời “Phương pháp luận giáo dục chính trị tư tưởng “và Nguyên lýxây dựng Đảng” do trường đại học Nam khai chủ biên

- Cải cách giáo dục khoa học, kỹ thuật khoa học ở các trường đại họctổng hợp với khuynh hướng xâm nhập lẫn nhau giữa KTTN và KHXH

- Thực hiện chế độ học phần, môn học bắt buộc cho mỗi chuyênngành chiếm 7% thời gian học, môn tùy ý tự chọn chiếm 60% và môn chỉđịnh tự chọn chiếm 20%

- Sửa đổi giáo trình, nội dung và kế hoạch giảng dạy, tăng thêm thựchành, giảm lý thuyết Thử nghiệm những phương pháp giảng dạy tiên tiếntrong các trường đại học, mở rộng công tác nghiên cứu chuyên sâu, hiện đạihóa các phương tiện, thiết bị cho dạy học, tạo điều kiện cho sinh viên cónhiều thời gian nghiên cứu độc lập, tăng khả năng sáng tạo, áp dụng chế độhọc bổng, cho phép sinh viên được học, thi và nhận 2 bằng tốt nghiệp đồngthời

- Cải cách chế độ tuyển sinh: tuyển chọn riêng trên cơ sở thi chung,tuyển theo sự giới thiệu đảm bảo của các trường trung học

11 Phan Văn Các – tiến trình cải cách thể chế giáo dục ở Trung Quốc, tổng luận, TT Thông tin KHGD 1990.

Ngày đăng: 03/02/2023, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w