CSDL PICMS Thông tin Hỏi – đáp phục vụ ĐBQH của Phòng Thông tin, Trung tâm Thông tin – TV – NCKH, Văn phòng Quốc hội VIỆN NGHIÊN CỨU ĐẠI HỌC VÀ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP PHÒNG THÔNG TIN KHOA HỌC *** Tổng[.]
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU ĐẠI HỌC VÀ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
PHÒNG THÔNG TIN KHOA HỌC
Trang 2MỤC LỤC
Tổng luận 1
TÌNH HÌNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN 1
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN 1
CHỦ NGHĨA PHÁT TRIỂN 1
Phạm Thanh Hà 1
TÓM TẮT TỔNG LUẬN 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
Ý NGHĨA CỦA VIỆC BIÊN SOẠN TỔNG LUẬN 4
PHẦN NỘI DUNG 6
2.1 Vị trí xã hội, tầm quan trọng của GDĐH đối với kinh tế - xã hội tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay 6
2.2 Diễn biến của giáo dục đại học tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển từ sau chiến tranh thế giới lần II tới nay và xu thế tiếp tục diễn biến cho tới đầu thế kỷ 21 9
2.2.1 Giai đoạn phát triển thứ nhất của giáo dục đại học tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển 9
2.2.2 Giai đoạn phát triển thứ hai của hệ thống giáo dục đại học tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển: thập kỷ 70 - thời kỳ suy giảm của hệ thống đại học 12
2.2.3 Giai đoạn phát triển giáo dục đại học gần đây tại các nước tư bản phát triển những năm 80: Xu hướng nâng cao chất lượng đào tạo và dân chủ hóa GDĐH 14
2.2.4 Dự đoán diễn biến xu thế phát triển giáo dục đại học ở các nước tư bản phát triển trong thập kỷ mới 18
2.3 Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển 19
2.4 Mục tiêu nội dung và phương pháp giáo dục – đào tạo đại học ở các nước tư bản phát triển 33
2.5 Nghiên cứu khoa học trong nhà trường đại học ở các nước tư bản phát triển 34
2.6 Đầu tư tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục đại học 36
2.7 Nguyên tắc và phương pháp quản lý giáo dục ĐH 37
2.8 Sinh viên và cán bộ giảng dạy trong giáo dục ĐH 38
PHẦN KẾT LUẬN 41
PHẦN KIẾN NGHỊ 43
4.1 Vài nhận xét về thực trạng giáo dục đại học của ta 43
4.2 Những kiến nghị về phát triển giáo dục đại học Việt Nam từ nay đến năm 2000 45
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN VÀ THAM KHẢO 48
Trang 3TÓM TẮT TỔNG LUẬN
Tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay đều đang tập trung mọi cố gắng vào phát triển kinh tế - xã hội Nhân tố con người có ý nghĩa quyết định trong sự cố gắng đó Trong nhân tố con người thì những con người có trình độ văn hóa, kiến thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao, được giáo dục, đào tạo từ các trường đại học là bộ phận quan trọng nhất Phát triển giáo dục đại học về quy mô, số lượng, chất lượng là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị, xã hội Các nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở châu Âu, cũng như
ở Bắc Mỹ đã dành nhiều ưu tiên cho sự phát triển giáo dục đại học trong nhiều thập kỷ vừa qua Hiện nay, họ cũng tiếp tục đầu tư lớn cho GDĐH Những bài học phát triển trong quá khứ, cũng như những dự định phát triển trong tương lai của họ có thể cung cấp cho nước ta những kinh nghiệm và những thông tin bổ ích Tổng luận điểm lại, tình hình phát triển GDĐH của một số nước TBCN phát triển tiêu biểu như Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 tới nay; cũng như hiện trạng và những dự báo về xu thế phát triển GDĐH tại các nước đó từ nay cho đến năm 2020, nhằm mục đích cung cấp cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý GDĐH và đông đảo cán bộ giảng dạy, sinh viên nước ta những bài học kinh nghiệm về thông tin có ích cho công tác chỉ đạo, quản lý hệ thống GDĐH, cũng như cho công tác giảng dạy – học tập nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và kỹ thuật
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Ý NGHĨA CỦA VIỆC BIÊN SOẠN TỔNG LUẬN
Một trong những biến động lớn của những thập kỷ vừa qua trên phạm
vi thế giới nói chung và trong các nước tư bản phát triển nói riêng, đó là sự bùng nổ trong giáo dục vào những năm 60 và những cải cách liên tiếp diễn
ra từ bấy đến nay của các hệ thống giáo dục
Tiền đề của những biến đổi này chính là những biển đổi nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, sự phát triển năng động của nền kinh tế trên thế giới
và những cải cách xã hội mạnh mẽ theo hướng dân chủ hóa ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển Những tiền đề đó đòi hỏi ở giáo dục, nhất
là giáo dục đại học và chuyên nghiệp phải:
- Đáp ứng nguyện vọng học tập, nâng cao học vấn của đông đảo nhân dân
- Đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi người
- Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, nhất
là đội ngũ những chuyên gia giỏi về kỹ thuật, công nghệ và quản lý
- Phát triển tiềm năng trí tuệ cho đất nước
Trước thử thách mới có GDĐH ở các nước tư bản phát triển (TBPT)
đã có những biến đổi sâu sắc, đa dạng và đã đóng góp có hiệu quả cao việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, và qua đó bản thân ngành giáo dục đại học đã có những bước phát triển mới cả ở trên 2 bình diện lý luận và thực tiễn
Trang 5Ở nước ta từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), một thời kỳ đổi mới sôi động đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho giáo dục đại học nước ta
là phải nghiên cứu đổi mới bao gồm các vấn đề chính sách chiến lược phát triển đến các vấn đề cụ thể về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục
Sự nghiệp đó đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu sâu sắc và những thực nghiệm khoa học nghiêm túc để tìm ra những giải pháp phù hợp và hữu hiệu nhằm đáp ứng tối đa yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong thời đại của cách mạng tin học và sự giao lưu liên kết quốc tế ngày càng mở rộng, trong điều kiện phát triển một nền hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, như chủ trương của Đảng, việc nghiên cứu những xu thế phát triển giáo dục đại học ở một số nước TBPT Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, CHLB Đức, Thụy Điển, Hà Lan sẽ giúp chúng ta những kinh nghiệm tốt góp phần định hướng cho việc nghiên cứ đổi mới GDĐH của ta Đó chính là mục đích và ý nghĩa quan trọng của tổng luận khoa học này
Tổng luận được tiến hành trên cơ sở những tư liệu đã công bố tại các hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế, những tài liệu đã được xử lý
và sử dụng trong nước bằng phương pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa
và hệ thống hóa, tổng luận nhằm rút ra những kết luận chung nhất trên những mặt chủ yếu có tính xu thế của các hệ thống giáo dục nói trên, và trên
cơ sở đưa ra những kiến nghị có tính định hướng cho việc nghiên cứu cải tổ
hệ thống GDĐH của ta
Do nguồn tài liệu có hạn và sự tiếp cận thực tiễn của tác giả còn ít nên tổng luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
2.1 Vị trí xã hội, tầm quan trọng của GDĐH đối với kinh tế - xã hội tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay
Giáo dục từ chỗ là một phương tiện truyền giáo của nhà thờ, của tôn giáo là công cụ của giai cấp thống trị, là đặc quyền của các giới thượng lưu
và mở rộng ra là một thứ phúc lợi xã hội thì ngày nay nó đã được đánh giá lại, giáo dục đã có một vai trò mới mẻ hoàn toàn: Giáo dục là chỗ dựa để xây dựng và phát triển quốc gia Vai trò quan trọng của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước đã được thừa nhận một cách phổ biến Ủy ban quốc tế về phát triển giáo dục của UNESCO, từ những năm 70 đã nhận định: “GDĐH cần được mở rộng và đa dạng để đáp ứng các đòi hỏi của từng con người và của các cộng đồng Muốn vậy phải có sự thay đổi trong quan niệm về thái độ cổ truyền đối với trường đại học
Không chỉ riêng hệ thống nhà trường phải chịu trách nhiệm về đào tạo
kỹ thuật mà cả các xí nghiệp, các ngành kinh doanh cũng phải chia sẻ trách nhiệm ấy với các trường học” (1) các nước TBCN đã thực sự xem đại học là công cụ để cạnh tranh kinh tế, tạo nên tiềm lực chiến tranh của quốc gia Chính quyền trong các nước TBPT ngày càng nhận thức được giá trị của kiến thức khoa học trong phát triển sản xuất, quản lý xã hội, tổ chức quan trọng nhất để truyền thụ, kế thừa và phát triển nó là nhà trường đại học, nên
đã quyết tâm nắm lấy tổ chức đó Những đầu tư lớn, sự quan tâm đặc biệt của chính quyền, các tập đoàn doanh nghiệp, các Đảng phái chính trị, các tổ chức tôn giáo được dành cho đại học (2)
Trang 7Tại Hoa Kỳ trong báo cáo ở một hội nghị khoa học quốc gia mới đây người ta nêu rõ: “Chính sách khoa học của toàn liên bang Mỹ là nâng cao sự đóng góp của khoa học vào việc thỏa mãn các nhu cầu vừa lâu dài vừa cấp bách nhất của nước Mỹ là bảo vệ đất nước và tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế cho ngành công nghiệp Mỹ, chính sách đó gắn liền với những trường đại học đầu ngành, nơi tạo ra những nhà khoa học và kỹ sư tốt nhất để duy trì vai trò dẫn đầu các mặt chất lượng trong tương lai Mục tiêu giáo dục cho đến năm 1995 phải bảo đảm cho thanh niên Mỹ có trình độ cao về toán học, khoa học tự nhiên và kỹ thuật nhất thế giới Điều đó chỉ có thể hạn chế khi nào Mỹ đã trở thành siêu cường công nghiệp” (3) Trong một tài liệu viết về giáo dục đại học Hoa Kỳ năm 1986 Berek Bok đã viết: “Càng ngày Hoa Kỳ càng nhận rõ rằng quốc gia này phải sống bằng trí tuệ của nó Trong tất cả những tài sản của quốc gia thì một đội ngũ trí thức được đào tạo tốt với khả năng cải tiến và phát minh, sáng tạo có lẽ là cái quan trọng nhất” (4) Giôn Kenơđi, nguyên tổng thống Mỹ đã nói: “Nơi quyết định sự thành bại của cuộc chiến tranh mà chúng ta đang tiến hành là ở các trường đại học Mỹ”, ông xem đại học như “một nguồn lực đảm bảo sức mạnh và khả năng sống còn của đất nước” (5) Bộ trưởng giáo dục Mỹ Layrokavaxox mới đây trong kiểm điểm về chính sách phát triển giáo dục đã kêu lên: “chúng ta đang dậm chân tại chỗ, mà đã dậm chân tại chỗ trong giáo dục có nghĩa là tụt hậu” Bộ trưởng giáo dục Pháp Rememonary trong cuộc họp báo ngày 15/12/1987 về
kế hoạch tương lai của nền giáo dục quốc dân, đã nói: “nước Pháp chỉ có thể đấu tranh chống nạn thất nghiệp và giá cả sinh hoạt xã hội đương đầu với việc mở cửa của châu Âu vào năm 192, chuẩn bị bước vào thập kỷ 21, tồn tại được trong cuộc cạnh tranh kinh tế và văn hóa của thế giới với một điều kiện là làm tăng giá trị trí tuệ và văn hóa, đầu tư vào việc đào tạo thế hệ trẻ”
Trang 8(6) Bà Thác Chơ, thủ tướng nước Anh cũng nói một cách mạnh mẽ rằng:
“Một đất nước không biết coi trọng trí thức ắt sẽ đi tới diệt vong” (7) Tại Nhật Bản trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, giáo dục được coi là biện pháp chiến lược hàng đầu trong “bộ ba chiến lược” – Giáo dục, khoa học và chính sách mở cửa Giáo sư Nôbitakê trong một lần sang thăm Việt Nam đã phát biểu về nguyên nhân của những bước tiến nhảy vọt trong nền kinh tế Nhật, trong đó nguyên nhân hàng đầu là Nhật coi trọng con người và phát huy sức mạnh con người Sức mạnh đó gắn liền với trí thức khoa học Giáo dục có sứ mệnh tạo ra sức mạnh đó (8) Hội nghị quốc tế của những người được giải thưởng Nôben họp tại Pháp đã công bố 16 kết luận quan trọng có tính thời đại, một trong những kết luận đó là: “giáo dục phải được ưu tiên tuyết đối trong mọi ngân sách quốc gia” (5)
Trong thời địa ngày nay, khi mà trong thế giới TBCN, các công ty đa quốc gia đang trở thành cơ chế chủ yếu để cung cấp vốn đầu tư và quyết định các vấn đề sản xuất trên khắp thế giới, và quá trình quốc tế hóa sản xuất đang nhanh chóng thống nhất nền kinh tế của các nước thành một nền kinh
tế quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào nhau, thì GDĐH càng có vai trò cực kỳ to lớn trong cuộc chạy đua khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hội giữa các nước
Các quốc gia đang khẩn trương chuẩn bị cho mình tư thế vững vàng
để bước vào thế kỷ 21 Trong bối cảnh nhiều biến động to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội đang dồn dập diễn ra ngay từ đầu thập kỷ 90 này, sẽ có nhiều dự báo khác nhau về viễn cảnh của thế kỷ 21 Song với bất kỳ phương
án dự báo nào GDĐH vẫn giữ vai trò hậu thuẫn trong mọi đường lối phát triển quốc gia
Trang 92.2 Diễn biến của giáo dục đại học tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển từ sau chiến tranh thế giới lần II tới nay và xu thế tiếp tục diễn biến cho tới đầu thế kỷ 21
Trải qua 35 năm từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, quá trình phát triển giáo dục đại học ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển được chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thập kỷ 50, 60: thời kỳ bành chướng của giáo dục đại học
Giai đoạn 2: Thập kỷ 70: thời kỳ suy giảm của giáo dục đại học
Giai đoạn 3: Thập kỷ 80: xu thế dân chủ hóa, nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đại học
2.2.1 Giai đoạn phát triển thứ nhất của giáo dục đại học tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
Thoát ra khỏi đại chiến thế giới lần II, hầu hết các nước TBCN phát triển đều thiếu hụt trầm trọng lao động, nhu cầu đòi hỏi cấp bách của xã hội lúc này là phải có một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho sản xuất, cho nền công nghiệp, để khắc phục tình trạng đó, các nước tư bản đang cố gắng tìm mọi biện pháp để giải quyết Những việc làm được coi
là đem lại thành công nhất: Thành lập hàng loạt các cơ sở đào tạo đại học kiểu mới, tăng đầu tư của Chính phủ cho phép giáo dục đại học, phát triển mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Tập trung giải quyết nhu cầu tăng vọt về kỹ sư và kỹ thuật viên cho nền công nghiệp của đất nước, hàng loạt các cơ sở đào tạo đại học kỹ thuật
Trang 10được hình thành tại các nước TBPT, với thời gian học tương đối ngắn và chương trình học gắn liền với thực tiễn sản xuất, các môn học chủ yếu là các môn khoa học ứng dụng cho công nghiệp Với thời gian đào tạo từ 2 – 3 năm, ở Mỹ có các trường kỹ thuật và trường “bán – chuyên nghiệp” (inatituts techniques và ecoles “semi – professionnelles”), ở Nhật có các trường như Zunior college và community college ở Mỹ, Nhật, các Viện đại học công nghệ (IUT) của Pháp Ở Tây Đức phát triển rất mạnh mẽ các trường dạy nghề cao cấp (enseignement professionnel tech – nique), ở Anh
có các cao đẳng bách khoa (etablissement – polytechnique), ở Úc có các trường dạy nghề và bổ túc (colleges danseignement technique st complementaire) với thời gian học tương đối ngắn Hình thức đào tạo ngắn hạn có định hướng ngày càng phát triển ở Thụy Điển Với thời gian học 1 năm sau khi tốt nghiệp cấp II của trung học, ở Nhật có các trường đào tạo chuyên ngành (semmogakko)
Sự ra đời kịp thời của các cơ sở đào tạo đại học mới, bên cạnh các kiểu trường đại học “truyền thống” đã đáp ứng được nhu cầu khẩn thiết về nhân lực trên thị trường lao động và chính sự ra đời ồ ạt của các cơ sở đào tạo này đã góp phần làm cho hệ thống giáo dục đại học ở các nước TBPT thời kỳ này phát triển mạnh mẽ, các chỉ số phát triển gia tăng mạnh: số lượng trường lớp tăng, số lượng giáo viên tăng, số lượng sinh viên tăng đột ngột thời kỳ 1950 – 1970, số người có trình độ đại học ở các nước TBCN phát triển tăng từ 2 – 7 lần Chỉ riêng năm cuối thập kỷ 60 từ 1965 – 1970 tỷ
lệ tăng sinh viên ở các nước rất cao: ở Mỹ là 10,75%, Nhật 10,7%, Pháp 10,23%, CHLB Đức 7%, Anh 7,9%, Úc 7,28%, Thụy Điển 16,3%, Hà Lan 10,26% Như vậy, tỷ lệ tăng trung bình hàng năm trong 5 năm này của các nước tư bản là: 10,05% Tốc độ tăng của tổng số sinh viên các trường cao
Trang 11đẳng kỹ thuật trội hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của sinh viên các trường đại học “truyền thống” Ví dụ thời kỳ 1960 – 1980, số sinh viên các trường cao đẳng 2 năm ở Mỹ tăng gấp 9,6 lần, ở CHLB Đức số cán bộ kỹ thuật tốt nghiệp các trường đại học chuyên nghiệp tăng 2,5 lần so với tốc độ tăng số cán bộ tốt nghiệp các trường tổng hợp.
Tốc độ đào tạo các cán bộ có trình độ đại học ở các nước này cũng tăng lên Mức tăng trung bình hàng năm từ thập kỷ 70 là: Mỹ 5,7%, Anh 6,4%, Pháp 7,2% Trong tổng số sinh viên, số sinh viên trên đại học có xu hướng tăng, ở Anh khoảng 25%, Mỹ 20% (10)
Số lượng giáo viên cũng gia tăng Ở Mỹ năm 1965 có 500.000 giáo viên, sang năm 1970 là 570.000 người, tỷ lệ tăng trong 5 năm là khoảng 12,5%, gia tăng bình quân hàng năm 2,51% Ở Nhật năm 1965 là 104.775 giáo viên, sang năm 1970 là 151.927 người, tỷ lệ tăng trong 5 năm là 45%, (11) gia tăng bình quân hàng năm 9%
Trong thời kỳ này, các nước TBPT rất quan tâm tới giáo dục đại học,
cố gắng đầu tư càng nhiều càng tốt cho công tác này Từ năm 1965 sang năm 1970, chi phí đầu tư cho giáo dục đại học tăng lên, thể hiện trong bảng
kê dưới đây (Bảng 1)
Có thể nói, thời kỳ phát triển đầu tiên của hệ thống giáo dục đại học các nước TBPT sau đại chiến thế giới lần thứ II, là thời kỳ phát triển mạnh
mẽ nhất, được coi là thời kỳ “bành trướng” của giáo dục đại học, trong thời
kỳ này, hệ thống giáo dục đại học đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình được đặt ra trước yêu cầu của xã hội: đào tạo đông đảo đội ngũ cán bộ khoa học
kỹ thuật cho thị trường lao động
Trang 12Bảng 1: Chi phí công cộng thường xuyên cho giáo dục đại học (tỷ lệ
%) so với tổng chi phí thường xuyên cho giáo dục
mẽ ở thập kỷ 60, bước sang những năm 70, vai trò của giáo dục đại học bị lu
mờ dần Thời kỳ này, nền kinh tế của các nước TBPT bước sang giai đoạn suy thoái, cuộc khủng hoảng về dầu lửa từ năm 1973 đã ảnh hưởng lớn đến
sự tăng trưởng kinh tế của nhiều nước và do đó giáo dục cũng bị kéo theo
“Chính lúc đó, người ta nhận thấy rằng giáo dục đã không thành công trong việc mang lại phương thuốc chữa chạy tất cả các tệ nạn xã hội (điều này không có gì ngạc nhiên) Dư luận công chúng ngoảnh mặt lại với nhà trường ” (12), người ta bắt đầu hoài nghi tác dụng của số cán bộ chuyên môn đại học đối với sự phát triển đất nước, và tất cả những dự đoán chất lượng và hiệu quả đào tạo đại học ở các nước Tây Âu trong 20 năm qua (1960 – 1980) Những thực tế này đã bộc lộ rõ sự “khủng hoảng” của giáo
Trang 13dục: Vai trò của GDĐH bị suy giảm Giới tư bản không còn quan tâm tới GDĐH như trước nữa, thậm trí còn đẩy mạnh sức ép kinh tế vào việc thu hẹp sự “bành trướng” của GDĐH bằng cách giảm chi phí đầu tư hàng năm cho nó, (trừ Hoa Kỳ) ví dụ như sau:
Bảng 2: Chi phí công cộng thường xuyên cho GDĐH những năm 70, tỷ lệ %
so với tổng chi phí thường xuyên cho giáo dục
Nguồn: Unesco Statistical Yearbook 1975, 1980, 1981, 1982, 1984, 1985.
Không những giảm bớt chi phí đầu tư cho GDĐH, các nước tư bản còn đưa ra những chính sách bất lợi cho sinh viên như nâng cao tiền học phí, cho vay học bổng rồi phải hoàn lại Kết quả làm cho tỷ lệ tăng số lượng sinh viên giảm đi trong thập kỷ 70 Nếu như tỷ lệ tăng số lượng sinh viên hàng năm ở các nước TBPT thời kỳ 1965 – 1970 là 10% thì sang thập kỷ 70, mức gia tăng tụt xuống còn 6,7%
Bảng 3: Tỷ lệ tốc độ gia tăng số lượng sinh viên ở các nước TBPT thập kỷ
70 (%)