TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN VÀ NỘI THẤT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tên đề tài Thiết kế cải tạo cảnh quan quảng trường 3 2,tp Bắc Giang NGÀNH KIẾN TRÚC CẢNH QUAN MÃ NGÀNH D52585110 Giả[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN VÀ NỘI THẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Thiết kế cải tạo cảnh quan quảng trường 3-2,tp Bắc Giang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhằm đánh giá kết quả học tập trong 5 năm học qua, và củng cố thêm kiến thức chuyên ngành, trường ĐH Lâm Nghiệp Việt Nam đã tổ chức thực tập cuối khóa và làm khóa luận cho sinh viên K59 Kiến Trúc Cảnh Quan ( khóa 2014-2019) được sự nhất trí của Viện Kiến trúc cảnh quan & Nội thất, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô đặc biệt cô ThS Lại Thị
Thu Hà em đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp với chủ đề: “Thiết kế cải tạo cảnh quan quảng trường 3-2,thành
phố Bắc Giang”
Sau một thời gian làm việc khẩn trương, nghiêm túc dưới sự hướng dẫn tận tình của cô ThS Lại Thị Thu Hà, đến nay khóa luận của em đã được hoàn thành Để có được thành công này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo và bạn bè Đặc biệt là cô ThS Lại Thị Thu Hà - người đã chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện khóa luận tối nghiệp
Trong quá trình thực hiện khóa luận em đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn đồng khóa để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội hiện đại, cuộc sống con người ngày càng phát triển kéo theo điều kiện sống và nhu cầu hưởng thụ ngày một tăng cao Khái niệm “hưởng thụ” ở đây được hiểu là hưởng thụ về cả mặt vật chất lẫn tinh thần Đô thị càng hiện đại, người dân càng có nhiều cơ hội tiếp cận với những hình thức giải trí mới mẻ, sinh động, càng có nhiều cơ hội trải nghiệm những tiến bộ khoa học công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí Tuy nhiên, tất cả những bức tranh đẹp đẽ về một đô thị hài hòa, bền vững về mặt xã hội và hạ tầng chỉ có thể được vẽ nên một khi người dân cảm thấy thoải mái khi sống trong đô thị
đó và sự tương tác giữa các cư dân thành phố được kích thích và phát triển một cách tích cực
Một trong những phát minh vĩ đại nhất của nghệ thuật quy hoạch đô thị loài người nhằm thể hiện sự công bằng và thúc đẩy tương tác giữa con người và các hoạt động xã hội đó là những trung tâm thành phố, không gian thương mại trung tâm của một thành phố được thiết kế một cách có chủ ý, hay còn được gọi với tên quen thuộc ngày nay là quảng trường
Quảng trường trung tâm được coi như là trái tim của đô thị,chính vì vậy yếu tố cảnh quan của quảng trường cũng là
bộ mặt của đô thị
Hiểu rõ vai trò của quảng trường đối với xã hội, em chọn “Thiết kế ,cải tạo cảnh quan quảng trường 3-2,thành
phố Bắc Giang ” làm đề tài đồ án tốt nghiệp
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ĐẶT VẤN ĐỀ MỤC LỤC CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu 1
1.2.Khái niệm quảng trường,phân loại quảng trường 2
1.2.1.Khái niệm quảng trường 2
1.2.2.Phân loại quảng trường 3
1.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới 4
1.3.1.Thời kỳ cổ đại 4
1.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới 5
1.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới 5
1.3.1.Thời kỳ cổ đại 5
1.3.2.Thời kì trung đại 6
1.3.3.Thời kỳ hiện đại 11
1.3.3.Thời kỳ hiện đại 12
1.4 Quảng trường tại Việt Nam 13
Trang 51.5.Phân loại quảng trường 17
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.1.1 Mục tiêu chung 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Đánh giá hiện trạng các yếu tố cảnh quan tại khu vực nghiên cứu 19
2.4.2 Đề xuất giải pháp thiết kế cải tạo cảnh quan quảng trường 3-2 21
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23
3.1 Vị trí và mối liên hệ vùng 23
3.2.Địa hình 25
3.3.Địa chất 26
3.4 Khí hậu - Thủy văn 26
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 29
4.1 Hiện trạng khu vực nghiên cứu 29
4.1.1 Đặc điểm gió 29
4.1.2 Đặc điểm nắng 31
Trang 64.1.4 Hướng nhìn 33
4.1.5 Hiện trạng thoát nước 34
4.1.6 Hiện trạng cây xanh 35
4.1.7 Hiện trạng hạ tầng kĩ thuật 38
4.2 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN CẢI TRỤC TUYẾN CẢNH QUAN 39
4.2.1 Cải tạo cảnh quan các trục tuyến quan trọng trong quảng trường 39
4.2.2 Đề xuất cải tạo vật liệu lát nền, bãi đỗ xe 60
4.3 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XÂY DỰNG TRUNG TÂM VĂN HÓA ẨM THỰC 76
4.3.1.Thuyết minh ý tưởng 76
4.3.2 Định hướng chung 78
4.3.3 Các nội dung cần thiết kế : 78
4.3.4 Giải pháp kiến trúc 80
4.4 Chọn loài cây trồng 109
4.5 Kỹ thuật trồng cây 110
4.6 Kỹ thuật chăm sóc cây 112
Chương 5: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu
Cây xanh có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của nhân loại Nó không chỉ mang lại những hiệu quả về mặt kinh tế mà nó còn mang lại hiệu quả về mặt xã hội – môi trường sinh thái
Để bảo vệ môi trường và cải thiện không gian sống quanh ta, ngoài các biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc sử dụng cây xanh tạo cảnh quan có vai trò vô cùng quan trọng Hệ thống cây xanh có những chức năng sau:
Trước hết, hệ thống cây xanh lâm nghiệp và cây công trình có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng ngăn chặn
và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu thông gió
Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: hút khí CO2 và cung cấp O2, ngăn giữ các chất khí bụi độc hại, cây xanh có tác dụng chống xói mòn, điều hoà mực nước ngầm Cây xanh còn có tác dụng hạn chế tiếng ồn
Cây xanh trong đô thị có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan Những tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa, thân cây, trạng mùa của lá…) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm
mỹ của công trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung
Vấn đề phân bố cây trong mỗi khu vực cũng cần đảm bảo không những về số lượng cây trồng mà còn tạo thuận lợi cho các hoạt động xã hội của con người như ở khu du lịch, trường học, bệnh viện hay khu nhà ở, nhà máy… Diện tích cây xanh từng khu vực cần tỉ lệ với mật độ người ở và đáp ứng được nhiệm vụ ở đó Mỗi khu vực có quy hoạch cây xanh riêng nhưng không đi chệch mục đích, yêu cầu chung, phải đảm bảo các điều kiện, vệ sinh, mĩ quan, chỗ nghỉ ngơi tốt cho người dân
Trang 8Chất lượng chung của cây xanh tùy thuộc vào sự bố trí và kĩ thuật chọn giống cây trồng Hai vấn đề này liên quan chặt chẽ và phải trên cơ sở địa hình, địa vật và mục đích, ý nghĩa của việc trồng cây từng nơi mà quyết định
Quảng trường là một điểm tập trung trong đô thị, cung cấp một không gian giúp cư dân đô thị trao đổi về cả mặt xã hội và kinh tế Ý nghĩa của quảng trường thường khác với công viên và những không gian cảnh quan mềm trong đô thị Nếu như vườn hoa và công viên là những không gian công cộng “đóng” về mặt cảnh quan, tương đối tách biệt với phần còn lại của
đô thị về mặt vị trí và chỉ được sử dụng vào những thời điểm nhất định trong ngày thì quảng trường lại được coi là một thực thể cấu thành đô thị, gắn bó mật thiết với những yếu tố tạo thị khác như giao thông, kiến trúc, kinh tế, xã hội,…
Quảng trường thường được sở hữu công cộng, có thể tiếp cận bởi tất cả mọi người Đặc biệt, đối với các quốc gia châu
Âu, sự phát triển và ra đời của quảng trường không chỉ mang ý nghĩa về mặt kiến trúc xây dựng hay thiết kế đô thị, mà
còn là biểu tượng của sự phát triển về tính dân chủ và mức độ văn minh xã hội
1.2.Khái niệm quảng trường,phân loại quảng trường
1.2.1.Khái niệm quảng trường
Quảng trường hay còn gọi là công trường là không gian hoạt động công cộng của đô thị, được tạo nên bởi các sự kết hợp hoặc hạn định của kiến trúc thích hợp xung quanh, gắn kết với mạng lưới giao thông, kết nối những thành tố độc lập thành một tổng thể
Công năng cơ bản của quảng trường là nơi sinh hoạt chính trị, văn hóa như hội họp, mít tinh, là nơi tổ chức các lễ hội tôn
giáo Sau dần phát triển thêm là nơi kỷ niệm, vui chơi, biểu diễn, giao tiếp, nghỉ ngơi
Trang 91.2.2.Phân loại quảng trường
Quảng trường thị chính
Quảng trường thị chính có công năng hội họp chính trị, văn hoá, đại lễ, diễu hành, duyệt binh và các sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống Ví dụ: Quảng trường Ba Đình Việt Nam, Quảng trường Thiên An Môn, Trung Quốc,
Quảng trường kỷ niệm
Quảng trường kỷ niệm dùng để kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó, hay nhân vật nào đó có công với đất nước, quê hương Thông thường ở trung tâm hay ở một bên quảng trường đặt đài hay tháp hay một công trình kiến trúc mang tính kỷ niệm Ví dụ: Quảng trường Petersburg kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga
Quảng trường giao thông
Quảng trường giao thông là một bộ phận của hệ thống giao thông đô thị Nó có tác dụng phân luồng giao thông hợp lý, có thể là nơi đỗ xe công cộng, đảm bảo lưu thông thuận tiện, thoáng, thông suốt, an toàn Ví dụ: Quảng trường Taksim, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Quảng trường thương nghiệp
Quảng trường thương nghiệp phục vụ cho yêu cầu giao dịch, buôn bán thương mại, là phương thức kết hợp không gian nội thất của khu trung tâm thương nghiệp với không gian bên ngoài và không gian bán lộ thiên
Quảng trường thương nghiệp thường kết hợp với việc bố trí đường đi bộ, tạo ra các tiện nghi để nghỉ ngơi, giao du, ăn uống là một trong những trung tâm sinh hoạt chủ yếu của đô thị
Trang 10Quảng trường tôn giáo
Quảng trường tôn giáo là không gian đặt trước giáo đường, đình chùa, từ đường để tổ chức những lễ hội tôn giáo Ví dụ: Quảng trường trước Đại giáo đường ở Ý hay Đức
Quảng trường nghỉ ngơi, biểu diễn văn hoá
Loại quảng trường này là không gian xanh trong đô thị để mọi người có thể nghỉ ngơi, biểu diễn góp phần tái sản xuất sức lao động Trong quảng trường có thể có những bệ, đài, ghế ngồi, bồn hoa, chậu cây cảnh, bể nước, đài phun nước, các tiểu phẩm đô thị Ví dụ: Quảng trường Piazza Duomo ở Milano, Ý
1.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới
1.3.1.Thời kỳ cổ đại
Những khái niệm đầu tiên về quảng trường xuất hiện cách đây hơn 6000 năm dưới thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, cùng với
sự ra đời của những thể chế chính trị đầu tiên tại châu Âu Quảng trường thời Hy Lạp cổ đại được biết đến với tên gọi Agora Mặt bằng của những không gian này thường được quy hoạch hình chữ nhật hoặc hình vuông Quảng trường thời kỳ này là những không gian ngoài trời thường được đặt tại trung tâm thành phố, là giao của những trục giao thông quan trọng,
dễ dàng tiếp cận từ mọi hướng Về mặt xã hội, ngay từ những khái niệm đầu tiên, Agora đã được coi là biểu tượng cho sự dân chủ của người Hy Lạp cổ đại Tất cả các hoạt động chính trị, thể thao, văn nghệ quan trọng đều diễn ta tại đây và tất cả mọi tầng lớp dân cư đều có quyền tham gia Kế thừa những giá trị đó, quảng trường thời La Mã, với tên gọi forum, cũng là nơi tụ họp dân chúng và diễn ra những hoạt động chính trị, văn hóa quan trọng của thành phố Trên đà phát triển đó, đến thời
kỳ trung đại vào khoảng thế kỷ 13, trên khắp châu Âu đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt quảng trường tại Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, …
Trang 111.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới
1.3.1.Thời kỳ cổ đại
Những khái niệm đầu tiên về quảng trường xuất hiện cách đây hơn 6000 năm dưới thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, cùng với
sự ra đời của những thể chế chính trị đầu tiên tại châu Âu Quảng trường thời Hy Lạp cổ đại được biết đến với tên gọi Agora Mặt bằng của những không gian này thường được quy hoạch hình chữ nhật hoặc hình vuông Quảng trường thời kỳ này là những không gian ngoài trời thường được đặt tại trung tâm thành phố, là giao của những trục giao thông quan trọng,
dễ dàng tiếp cận từ mọi hướng Về mặt xã hội, ngay từ những khái niệm đầu tiên, Agora đã được coi là biểu tượng cho sự dân chủ của người Hy Lạp cổ đại Tất cả các hoạt động chính trị, thể thao, văn nghệ quan trọng đều diễn ta tại đây và tất cả mọi tầng lớp dân cư đều có quyền tham gia Kế thừa những giá trị đó, quảng trường thời La Mã, với tên gọi forum, cũng là nơi tụ họp dân chúng và diễn ra những hoạt động chính trị, văn hóa quan trọng của thành phố Trên đà phát triển đó, đến thời
kỳ trung đại vào khoảng thế kỷ 13, trên khắp châu Âu đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt quảng trường tại Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, …
1.3.Lịch sử phát triển quảng trường trên thế giới
1.3.1.Thời kỳ cổ đại
Những khái niệm đầu tiên về quảng trường xuất hiện cách đây hơn 6000 năm dưới thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, cùng với
sự ra đời của những thể chế chính trị đầu tiên tại châu Âu Quảng trường thời Hy Lạp cổ đại được biết đến với tên gọi Agora Mặt bằng của những không gian này thường được quy hoạch hình chữ nhật hoặc hình vuông Quảng trường thời kỳ này là những không gian ngoài trời thường được đặt tại trung tâm thành phố, là giao của những trục giao thông quan trọng,
Trang 12dân chủ của người Hy Lạp cổ đại Tất cả các hoạt động chính trị, thể thao, văn nghệ quan trọng đều diễn ta tại đây và tất cả mọi tầng lớp dân cư đều có quyền tham gia Kế thừa những giá trị đó, quảng trường thời La Mã, với tên gọi forum, cũng là nơi tụ họp dân chúng và diễn ra những hoạt động chính trị, văn hóa quan trọng của thành phố Trên đà phát triển đó, đến thời
kỳ trung đại vào khoảng thế kỷ 13, trên khắp châu Âu đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt quảng trường tại Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, …
Trang 13Thế kỷ 15-16, thời kỳ Phục hưng đã mở ra một cuộc cách mạng về quảng trường với những phát kiến quan trọng của người
Ý Thiết kế quảng trường thời kỳ này đã được gắn chặt với quy hoạch và thiết kế đô thị, quảng trường trở thành một bộ phận then chốt không thể tách rời của đô thị Với yếu tố con người là trung tâm, những quảng trường thời kỳ phục hưng đã rất thành công trong việc thiết lập nền tảng cho những bản thiết kế quảng trường chú trọng đến yếu tố thẩm mỹ, tỷ lệ giữa con người và các công trình xung quanh cũng như việc kết hợp hệ thống dịch vụ công cộng với không gian nghỉ ngơi trong phạm vi quảng trường nhằm kích thích tối đa sự lưu lại và tương tác giữa con người Một số quảng trường tiêu biểu thời kỳ này: quảng trường trung tâm del Campo (thành phố Sienna), quảng trường Santissima Annunziata (thành phố Florence), quảng trường St Marco (thành phố Venice),…
Hình 3.Quảng trường Santissima Annunziata (nguồn tapchikientruc.com.vn)
Trang 14Hình 4.Quảng trường Santissima Annunziata
(nguồn tapchikientruc.com.vn)
Hình 5.Quảng trường Ducale (nguồn: www.henri-iv.culture.fr)
Trang 15Thế kỷ 17-18, tư tưởng Phục Hưng tiếp tục được mở rộng và phát triển, cùng với đó là sự ra đời của phong cách kiến trúc Barocco tại các quốc gia Tây Âu, điển hình là Ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha,… Tại Pháp, từ cuối thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 18 chứng kiến sự ra đời của nhiều thành phố được quy hoạch theo các nguyên tắc Phục hưng, điển hình là các thành phố Nancy, Charleville, Paris, … Hệ thống quảng trường của các thành phố này do đó chịu nhiều ảnh hưởng từ phong cách Phục Hưng với mặt bằng kỷ hà cơ bản (hình chữ nhật, hình vuông) với chức năng là các quảng trường hạt nhân trung tâm thành phố, giao điểm của các trục giao thông quan trọng Một số quảng trường tiêu biểu ở Pháp thời kỳ này là Place Stanislas (thành phố Nancy), Place Ducale (thành phố Charleville),… Trong khi đó tại Ý, thời gian này chứng kiến sự ra đời
và phát triển của phong cách kiến trúc Barocco, phong cách kiến trúc vừa bổ sung kế thừa những thành tựu của phong cách Phục hưng ở giai đoạn trước, vừa có những phát triển mang tính đặc trưng trong cách thể hiện và tư duy Điều này được chứng minh rất rõ trong việc thiết kế các quảng trường Nếu các quảng trường thời kỳ Phục hưng thường có mặt bằng đơn giản, chủ yếu là các hình dạng kỷ hà đối xứng đơn trục thì mặt bằng của quảng trường thời kỳ Barocco đa dạng hơn với cách
bố trí đối xứng đa trục (mặt bằng hình tam giác, hình thang cân)…, cùng với đó là cách xử lý các chi tiết trang trí phức tạp hơn, nhiều màu sắc hơn, qua đó tạo cho đô thị một hình thái động đa dạng và linh hoạt hơn Một số quảng trường có thể coi
là tiêu biểu cho phong cách Barocco là quảng trường St Peter và quảng trường Tây Ban Nha (thành phố Roma), quảng trường Vosges (thành phố Paris),… Phong cách kiến trúc Barocco đã đánh dấu cho sự phát triển đến đỉnh cao của kiến trúc
cổ điển phương Tây, trước khi cách mạng công nghiệp nổ ra, nơi mà tư duy kiến trúc và quy hoạch đô thị đã thay đổi hoàn toàn Và các quảng trường cũng không phải ngoại lệ
Trang 16Hình 6 Quảng trường St Peter thành phố Roma ((nguồn tapchikientruc.com.vn)
Trang 171.3.3.Thời kỳ hiện đại
Vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp đã mở màn cho một loạt thay đổi lớn trong thiết kế và quy hoạch đô thị
Sự xuất hiện của xe lửa và đầu máy hơi nước đã thúc đẩy sự giao thương giữa các thành phố, tạo nên những đại đô thị (megacities) với mật độ dân số lớn và nền kinh tế sôi động Sự phát triển về kinh tế xã hội này đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đến hình thái các đô thị Việc dân cư đổ dồn về các thành phố lớn tạo nên hiện tượng bong bóng cho sự phát triển dân số của các thành phố Sự phát triển này tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở, dịch vụ, gây tác động lớn đến môi trường và tính liên kết cộng đồng Như một hệ quả tất yếu, nửa đầu thế kỷ 20, sự tiếp diễn của các quá trình phát triển kinh tế xã hội mạnh
mẽ cộng với sự ra đời của các phương tiện giao thông cá nhân như ô tô, mô tô đã tạo nên một sự thay đổi lớn trong việc sử dụng quảng trường trong các thành phố, tác động tiêu cực đến sự tương tác giữa cư dân đô thị trong các không gian công cộng Một ví dụ điển hình chứng minh sự thay đổi tiêu cực này: nhiều quảng trường đã bị biến đổi chức năng từ một không gian công cộng, nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nghỉ ngơi của dân cư trở thành một đảo giao thông thuần túy, mất đi nhiệm vụ và chức năng to lớn của nó trong đô thị Những quảng trường ở Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước thuộc địa châu Á là những ví dụ điển hình(1)
Chỉ đến khi những vấn đề môi trường và chất lượng sống của con người trở nên đáng lo ngại tại các thành phố lớn, chức năng của quảng trường mới được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc Bằng những cuộc cải cách trong tư tưởng quy hoạch chú trọng hơn đến môi trường và sự tương tác giữa con người và hình thái đô thị, quảng trường đã được định nghĩa lại
và luôn được coi như hạt nhân của những đồ án quy hoạch đô thị từ quy hoạch chung tới quy hoạch chi tiết đơn vị ở hay nhóm ở
Trang 18Về mặt hình thái, đô thị hiện đại được coi là sự kết hợp của những khoảng đặc (công trình kiến trúc) và rỗng (đường giao thông, quảng trường, vườn hoa cây xanh,…) Số lượng và tỷ lệ của những khoảng đặc rỗng này quyết định hình thái và cấu trúc đô thị Quảng trường, do đó, đảm nhận nhiệm vụ vô cùng quan trọng là tạo nên sự cân bằng cho hình thái đô thị với những khoảng hở cần thiết dành cho hoạt động xã hội của con người Quảng trường trong đô thị hiện đại được định nghĩa là
một không gian công cộng được bao quanh bởi những công trình kiến trúc đa chức năng, từ h
1.3.3.Thời kỳ hiện đại
Vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp đã mở màn cho một loạt thay đổi lớn trong thiết kế và quy hoạch đô thị
Sự xuất hiện của xe lửa và đầu máy hơi nước đã thúc đẩy sự giao thương giữa các thành phố, tạo nên những đại đô thị (megacities) với mật độ dân số lớn và nền kinh tế sôi động Sự phát triển về kinh tế xã hội này đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đến hình thái các đô thị Việc dân cư đổ dồn về các thành phố lớn tạo nên hiện tượng bong bóng cho sự phát triển dân số của các thành phố Sự phát triển này tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở, dịch vụ, gây tác động lớn đến môi trường và tính liên kết cộng đồng Như một hệ quả tất yếu, nửa đầu thế kỷ 20, sự tiếp diễn của các quá trình phát triển kinh tế xã hội mạnh
mẽ cộng với sự ra đời của các phương tiện giao thông cá nhân như ô tô, mô tô đã tạo nên một sự thay đổi lớn trong việc sử dụng quảng trường trong các thành phố, tác động tiêu cực đến sự tương tác giữa cư dân đô thị trong các không gian công cộng Một ví dụ điển hình chứng minh sự thay đổi tiêu cực này: nhiều quảng trường đã bị biến đổi chức năng từ một không gian công cộng, nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nghỉ ngơi của dân cư trở thành một đảo giao thông thuần túy, mất đi nhiệm vụ và chức năng to lớn của nó trong đô thị Những quảng trường ở Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước thuộc địa châu Á là những ví dụ điển hình(1)
Trang 19Chỉ đến khi những vấn đề môi trường và chất lượng sống của con người trở nên đáng lo ngại tại các thành phố lớn, chức năng của quảng trường mới được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc Bằng những cuộc cải cách trong tư tưởng quy hoạch chú trọng hơn đến môi trường và sự tương tác giữa con người và hình thái đô thị, quảng trường đã được định nghĩa lại
và luôn được coi như hạt nhân của những đồ án quy hoạch đô thị từ quy hoạch chung tới quy hoạch chi tiết đơn vị ở hay nhóm ở
Về mặt hình thái, đô thị hiện đại được coi là sự kết hợp của những khoảng đặc (công trình kiến trúc) và rỗng (đường giao thông, quảng trường, vườn hoa cây xanh,…) Số lượng và tỷ lệ của những khoảng đặc rỗng này quyết định hình thái và cấu trúc đô thị Quảng trường, do đó, đảm nhận nhiệm vụ vô cùng quan trọng là tạo nên sự cân bằng cho hình thái đô thị với những khoảng hở cần thiết dành cho hoạt động xã hội của con người Quảng trường trong đô thị hiện đại được định nghĩa là một không gian công cộng được bao quanh bởi những công trình kiến trúc đa chức năng, từ hành chính xã hội đến giải trí, thương mại, dịch vụ, được thiết kế hợp lý phục vụ cho việc nghỉ ngơi của con người và khuyến khích các hoạt động nghệ thuật đô thị
1.4 Quảng trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam,quảng trường là nơi người dân tập thể dục,hoặc các đôi trẻ hò hẹn,hoặc là nơi giao cắt của nơi có mật độ giao thong lớn,nhưng với sự khác nhau về địa lý và lịch sử,khái niệm về quảng trường có sự sai khác so với định nghĩa quảng trường của châu âu.Đô thị nếu bóc tách theo ngôn ngữ thì gồm phần “đô” và phần “thị”,phần “đô” là nơi tập trung quyển lực của trung ương,thời phong kiến đó là nơi của vương quyền,của các thế lực quan lại,còn “thị” là nơi buôn bán,là nơi người dân tập hợp lại thành các tiểu thương buôn bán nhỏ nhằm trao đổi lưu thong hàng hóa.Vì tính chất đặc biệt của Việt Nam không giống như phong kiến châu âu nơi quyền lực tập trung hết ở nhà thờ Thiên Chúa hơn là ở giai cấp thống trị
Trang 20(bao gồm quan vua và các quan lại), trong xã hội phong kiến châu âu,những thành trì thường được kiên cố và bao quanh đô thị,có nghĩa là phần “đô” và phần “thị” không có ranh giới cụ thể,bên trong tường thành đó,sự dân chủ vốn có từ thời Hy Lạp vẫn tồn tại và phát triển ở các thể chế phong kiến châu âu nên những quảng trường được hình thành với mục đích là nơi diễn thuyết,phát biểu của các nhà chính khách và đặc biệt là nơi thể hiện uy quyền tôn giáo Ở Việt Nam,sự phân quyền là rõ rệt,quyền lực tuyệt đối nằm ở vua chúa,không có khái niệm dân chủ trong đời sống,nên kinh thành thường khép kín là nơi cho vua chúa và quan lại ở,còn người dân tập trung ở các khu vực buôn bán bên ngoài,như kinh thành Thăng Long xưa và phần thị là phố cổ có ranh giới cụ thể,chính vì vậy nên không gian công cộng mang tính biểu tượng là rất ít,và vì phố cổ là một nơi tập trung các làng nghề buôn bán sát cạnh nhau và hoàn toàn tách biệt so với cấm thành nên không gian công cộng
để giao thoa hầu như không có vì sự di chuyển từ làng này sang làng khác là rất dễ dàng.Đến khi những bản vẽ quy hoạch đầu tiên xuất hiện dưới thời Pháp thuộc,hình hà của thủ đô Hà Nội và tp Hồ Chí Minh chính thức xuất hiện trên bản vẽ của những kiến trúc sư châu âu,khi đó những quảng trường,không gian công cộng mới chính thức xuất hiện Những quảng trường như Đông Kinh Nghĩa Thục,quảng trường Nhà Hát Lớn,quảng trường 1/5 đánh dấu một bước tiến lớn trong quy hoạch của Hà Nội.Những quảng trường đó được xây dựng với mục đích tạo không gian công cộng cho những người Pháp đến định cư trong khu phố cũ,và tầng lớp tư sản của Hà Nội những năm Pháp thuộc,chính vì vậy nên những quảng trường xuất hiện khá hài hòa và làm thành những điểm nhấn đẹp cho không gian đô thị Hà Nội thời kì đầu và đảm bảo những tính năng theo khái niệm của châu Âu
Quảng trường ở Việt Nam thường hời hợt thiếu điểm nhấn,không hòa hợp với môi trường xung quanh,thiếu tính thẩm
mỹ và rất nông cạn trong việc sử dụng.Mặc dù không gian rất rộng nhưng chức năng chính cũng chỉ cho người dân đi dạo,chỗ hẹn hò,những hoạt động văn hóa trình diễn diễn ra rất ít và chủ yếu là vào các ngày lễ lớn của đât nước Không gian
đô thị đó,mà ở phương Tây là một phần không thể thiếu,một thực thể sống của đô thị thì ở Việt Nam nó giống như một
Trang 21không gian được hình thành theo những công trình công thức lắp sẵn của nhà quy hoạch và nhà quản lý,giống như việc người ta thích xây thêm những bảo tàng nhưng rồi chẳng biết trưng bày gì Quảng trường ở Việt Nam đang gặp trình trạng đó,những thành phố lớn thì quá thiếu,còn những đô thị nhỏ hơ thì quá thừa.Sự không hài hòa của quy hoạch vẫn luôn là vấn
đề nhức nhối muôn thuở
Là bộ phận long cốt của đô thị,hình thái của quảng trường luôn luôn gắn liền với hình thái của đô thị một cách không thể tách rời,nếu không sẽ phá vỡ cảnh quan và mất mỹ quan của đô thì đó Hà Nội nói riêng và các địa phương nói chung đang tiến đến những bước dài trong quá trình phát triển cả về chất và lượng trên mọi lĩnh vực,nhưng lại thiếu sự hài hòa,những tac động kinh tế luôn làm cho những bản vẽ quy hoạch,đặc biệt là cảnh quan và không gian công cộng bị thu hẹp
và bóp méo,cuộc sống đô thị luôn là thứ yếu trong nhu cầu phát triển xã hội,những thuộc tính của một đô thị thân thiện với con người,hòa đồng với xã hội được xem nhẹ và trễ nại
Những năm gần đây kinh tế nước ta có một chút khởi sắc, chính vì thế việc cải tạo, xây dựng đô thị được triển khai khắp nơi, việc xây dựng cổng chào, quảng trường hoành tráng, hầu hết được bê tông hóa như quảng trường Lam Sơn - Thanh Hóa, thiên về tính chơi ngông bề nổi, không thân thiện gần gũi với thiên nhiên môi trường, trái ngược với tính cách của người Việt dựa vào thiên nhiên để sinh tồn Quảng trường Ba Đình là trường hợp được chấp nhận, vì là không gian cần thiết tổ chức những sự kiện trọng đại của cả nước, mang tính quốc gia Quảng trường các thành phố khác nước ta trống và rộng nếu chỉ phục vụ cho việc mít-tinh của người dân thì một năm sự kiện mít-tinh và duyệt binh chỉ diễn ra hiếm hoi Vậy xây dựng một quảng trường chiếm một diện tích không gian rộng lớn, không một bóng cây che mát thì số lần sử dụng không cao và thay vào đó việc sử dụng mục đích sinh hoạt nghỉ ngơi hằng ngày của người dân nếu được nâng cao chắc chắn mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều với mô hình cây xanh, công viên đan xen phù hợp với thực tế hiện tại, môi trường cảnh quan
đô thị
Trang 22Hình 7 Quảng trường Lam Sơn - TP Thanh Hóa(nguồn ashui.com)
Trang 231.5.Phân loại quảng trường
Quảng trường thị chính
Quảng trường thị chính có công năng hội họp chính trị, văn hoá, đại lễ, diễu hành, duyệt binh và các sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống Ví dụ: Quảng trường Ba Đình Việt Nam, Quảng trường Thiên An Môn, Trung Quốc,
Quảng trường kỷ niệm
Quảng trường kỷ niệm dùng để kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó, hay nhân vật nào đó có công với đất nước, quê hương Thông thường ở trung tâm hay ở một bên quảng trường đặt đài hay tháp hay một công trình kiến trúc mang tính
kỷ niệm Ví dụ: Quảng trường Petersburg kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga
Quảng trường giao thông
Quảng trường giao thông là một bộ phận của hệ thống giao thông đô thị Nó có tác dụng phân luồng giao thông hợp
lý, có thể là nơi đỗ xe công cộng, đảm bảo lưu thông thuận tiện, thoáng, thông suốt, an toàn Ví dụ: Quảng trường Taksim, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Quảng trường thương nghiệp
Quảng trường thương nghiệp phục vụ cho yêu cầu giao dịch, buôn bán thương mại, là phương thức kết hợp không gian nội thất của khu trung tâm thương nghiệp với không gian bên ngoài và không gian bán lộ thiên
Quảng trường thương nghiệp thường kết hợp với việc bố trí đường đi bộ, tạo ra các tiện nghi để nghỉ ngơi, giao du, ăn uống là một trong những trung tâm sinh hoạt chủ yếu của đô thị
Trang 24Quảng trường tôn giáo
Quảng trường tôn giáo là không gian đặt trước giáo đường, đình chùa, từ đường để tổ chức những lễ hội tôn giáo Ví dụ: Quảng trường trước Đại giáo đường ở Ý hay Đức
Quảng trường nghỉ ngơi, biểu diễn văn hoá
Loại quảng trường này là không gian xanh trong đô thị để mọi người có thể nghỉ ngơi, biểu diễn góp phần tái sản xuất sức lao động Trong quảng trường có thể có những bệ, đài, ghế ngồi, bồn hoa, chậu cây cảnh, bể nước, đài phun nước, các tiểu phẩm đô thị Ví dụ: Quảng trường Piazza Duomo ở Milano, Ý
Trang 25CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
- Nghiên cứu, đề xuất phương án thiết kế không gian cảnh quan quảng trường 3-2,tp Bắc Giang
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng khu vực thiết kế
- Đề xuất phương án thiết kế cảnh quan ngoại thất và nội thất
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Không gian cảnh quan quảng trường 3-2,tp Bắc Giang
- Giới hạn nghiên cứu: Khu đất nghiên cứu có diện tích 11.220m2
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan xu thế cảnh quan quảng trường trên Thế Giới và tại Việt Nam
- Đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu
- Thiết kế không gian cảnh quan quảng trường
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Đánh giá hiện trạng các yếu tố cảnh quan tại khu vực nghiên cứu
* Ngoại nghiệp
- Thu thập thông tin và các tài liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu:
Trang 26+ Vị trí, quy mô, mối liên hệ với xung quanh
+ Bản đồ điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội ,thu thập thông tin về chiếu nắng và các yếu tố ảnh huỏng đến chiếu nắng; thông tin về gió và các yếu tố ảnh hưởng đến hướng gió
+ Tài liệu nghiên cứu được công bố liên quan
- Khảo sát thực địa, chụp ảnh, đưa ra phân tích và đánh giá hiện trạng
- Điều tra thăm dò về phương hướng xây dựng thiết kế của những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực cảnh quan
- Khảo sát chi tiết:
Đo đạc kiểm tra thông tin về quy mô khu đất, cơ cấu sử dụng đất, dạng địa hình, hướng thoát nước tự nhiên, công trình kiến trúc (loại công trình, giá trị sử dụng, giá trị kiến trúc, giá trị nghệ thuật, giá trị lịch sử) công trình hạ tầng, cây xanh
Trang 27+ Bản vẽ tổng thể hiện trạng khu vực nghiên cứu, in trên khổ giấy A3: tỷ lệ là 1/500
+ Các bản vẽ chi tiết hiện trạng: bản vẽ mặt bằng cơ cấu sử dụng đất,bản vẽ mặt bằng và mặt cắt về hiện trạng phân
bố địa hình và hướng thoát nước, bản vẽ hiện trạng công trình kiến trúc hạ tầng, bản vẽ hiện trạng cây xanh, mặt nước; bản
vẽ ảnh hưởng đến chiếu nắng, hướng gió
+Bản vẽ sơ đồ ảnh minh họa
2.4.2 Đề xuất giải pháp thiết kế cải tạo cảnh quan quảng trường 3-2
* Ngoại nghiệp: Vẽ bản vẽ phác thảo ý tưởng tại hiện trường, tham khảo ý kiến ban quản lý
* Nội nghiệp: Tài liệu tham khảo, đưa ra bản vẽ,
- Xây dựng ý tưởng thực hiện vấn đề nghiên cứu:
+ Cơ sở xây dựng ý tưởng
Cơ sở thực tiễn: Dựa trên thực trạng
Cơ sở pháp lý: Dựa trên các văn bản, ý kiến chỉ đạo + Ý tưởng nghiên cứu, giải quyết vấn đề: Ý tưởng tổng thể, ý tưởng chi tiết cho từng phân khu, ý tưởng cho các điểm cảnh
- Tính toán các chỉ tiêu cho các hạng mục quy hoạch thiết kế bằng phần mềm Word và Excel Thí dụ chỉ tiêu về cơ cấu sử dụng đất, hệ số sử dụng đất, hệ số xây dựng
- Xây dựng bản vẽ bằng cách sử dụng các phần mềm máy tính AuoCAD, Photoshop, phần mềm đồ họa 3D, công cụ
vẽ bằng tay:
Trang 28+Xây dựng phương án quy hoạch, thiết kế,cải tạo tổng thể: Bản vẽ tổng mặt bằng, mặt cắt điển hình, phối cảnh tổng thể (phối cảnh chim bay), thuyết minh
+ Xây dựng bản vẽ phân vùng chức năng
+ Xây dựng bản vẽ quy hoạch, thiết kế ,cải tạo tổng thể cho từng hạng mục nghiên cứu: Bản vẽ, thuyết minh
+Xây dựng phương án thiết kế,cải tạo chi tiết:
Các bản vẽ gồm: Bản vẽ sơ đồ khu đất trong tổng thể khu vực nghiên cứu, bản vẽ tổng mặt bằng chi tiết của khu thiết
kế, bản vẽ mặt cắt chi tiết các hạng mục thiết kế, bản vẽ phối cảnh các điểm cảnh (Phối cảnh chim bay và phối cảnh 2 chiều)
Trang 29CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
3.1 Vị trí và mối liên hệ vùng
Quảng trường 3/2, đường Hoàng Văn Thụ, Phường Ngô Quyền, TP Bắc Giang
Ngô Quyền là một phường thuộc thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam
Phường Ngô Quyền có diện tích 1,161 km², dân số năm 2013 là 10.303 người,[2] mật độ dân số đạt 8.882 người/km²
Thành phố Bắc Giang là một đô thị loại II - trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Giang, nằm cách trung tâm Hà Nội 50 km về phía Đông Bắc Thành phố phấn đấu trước năm 2025, sẽ trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bắc Giang Thành phố có diện tích khá nhỏ nên mật độ dân cư cao Khi lên đô thị loại I, diện tích nội thành của thành phố sẽ tăng lên 34,16 km2, thay vì 14,37 km2 hiện tại, và tổng diện tích toàn thành phố sẽ lên tới hơn 120 km2 Dân số thành phố hiện đã hơn 200.000 người
và dự kiến sẽ còn tăng mạnh hơn nữa do tỉ lệ nhập cư cao
Địa giới hành chính:
Đông giáp huyện Lạng Giang;
Tây giáp huyện Việt Yên;
Nam-Tây Nam giáp huyện Yên Dũng;
Bắc giáp huyện Tân Yên
Trang 30Hình 8 Sơ đồ liên hệ vùng