CHƯƠNG 1 1 SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT TỈNH VĨNH LONG TRUNG TÂM GIỐNG NÔNG NGHIỆP BÁO CÁO TỔNG KẾT Đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở năm 2017 “Thử nghiệm ƣơng cá chạch lấu (Mastacembelus favus) trong bể lót[.]
Trang 1SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT TỈNH VĨNH LONG
TRUNG TÂM GIỐNG NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở năm 2017
“Thử nghiệm ương cá chạch lấu (Mastacembelus favus)
trong bể lót bạt với các mật độ khác nhau quản lý nước
bằng hệ thống lọc tuần hoàn cơ học”
Chủ nhiệm đề tài: KS Trần Văn Danh
Vĩnh Long, năm 2018
Trang 2SỞ NÔNG NGHIỆP & PTNT TỈNH VĨNH LONG
TRUNG TÂM GIỐNG NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở năm 2017
“Thử nghiệm ương cá chạch lấu (Mastacembelus favus)
trong bể lót bạt với các mật độ khác nhau quản lý nước
bằng hệ thống lọc tuần hoàn cơ học”
Trang 3MỤC LỤC
Mục lục i-ii
Danh sách Bảng iii
Danh sách Hình iv
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá chạch lấu 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 4
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 6
2.2 Tình hình nghiên cứu về ương nuôi cá chạch lấu 7
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.2.1 Dụng cụ và hóa chất 11
3.2.2 Cá thí nghiệm 11
3.2.3 Nguồn nước sử dụng trong thí nghiệm 11
3.2.4 Bố trí thí nghiệm 11
3.2.5 Quản lý và chăm sóc 12
3.2.6 Thu mẫu 14
3.2.7 Phương pháp phân tích 14
3.2.7.1 Các chỉ tiêu thu thập, tính toán, phân tích và xử lý số liệu 14
3.2.7.2 Phương pháp xử lý số liệu 15
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Sự biến động của môi trường trong bể trong thời gian thí nghiệm 16
4.2 Tăng trưởng của cá chạch lấu về trọng lượng sau 120 ngày ương nuôi thí nghiệm 16
4.3 Tốc độ tăng trưởng của cá chạch lấu về trọng lượng sau 120 ngày ương nuôi thí nghiệm 17
Trang 44.4 Tăng trưởng của cá chạch lấu về chiều dài sau 120 ngày thí nghiệm 19
4.5 Tốc độ tăng trưởng của cá chạch lấu về chiều dài sau 120 ngày thí nghiệm 20 4.6 Hệ số thức ăn 21
4.7 Tỷ lệ sống (SR) của cá sau 120 ngày thí nghiệm 22
4.8 Tỷ lệ phân đàn của cá, năng suất thu hoạch 23
4.9 So sánh hiệu quả kinh tế giữa thử nghiệm ương bằng hệ thống lọc tuần hoàn và mô hình ương không sử dụng hệ thống lọc (ương ao) 24
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 16
Bảng 4.2: Kết quả tăng trưởng về trọng lượng 17
Bảng 4.3: Kết quả tốc độ tăng trưởng về trọng lượng 18
Bảng 4.4: Kết quả tăng trưởng về chiều dài 19
Bảng 4.5: Kết quả tốc độ tăng trưởng về chiều dài 20
Bảng 4.6: Hệ số thức ăn (FCR) 22
Bảng 4.7: Tỷ lệ sống của cá chạch lấu sau 120 ngày thí nghiệm 23
Bảng 4.8: Tỷ lệ(%) phân đàn của cá chạch lấu sau 120 ngày ương nuôi 24
Bảng 4.9: Năng suất sau 120 ngày ương (g/m2 ) 24
Bảng 4.10: So sánh hiệu quả kinh tế 24
DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Cá chạch lấu 3
Hình 3.1: Cá chạch lấu thí nghiệm 11
Hình 3.2: Hệ thống bể thí nghiệm 12
Hình 3.3: Thức ăn sử dụng 13
Hình 4.1: Tăng trưởng về trọng lượng 17
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng về trọng lượng 18
Hình 4.3: Tăng trưởng về chiều dài 20
Hình 4.4: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài 21
Hình 4.5: Thu hoạch cá chạch lấu 21
Hình 4.6: Tỷ lệ sống của cá chạch lấu 23
Trang 6CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao mật độ ương là sử dụng hệ thống lọc tuần hoàn cơ học để loại bỏ chất thải cặn bã, vi sinh vật gây hại và ổn định chất lượng nước giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt, từ đó nâng cao được mật độ ương và tỷ lệ sống
Qua một số nghiên cứu, thực tiễn sản xuất tại đơn vị và một số khách hàng trong và ngoài tỉnh (ở đồng bằng sông Cửu Long) cho thấy ở giai đoạn 5-7cm/con tỷ lệ sống đạt 50 – 60% nhưng đến giai đoạn 7-10cm/con tỷ lệ sống còn rất thấp, dao động từ 5-20% Đây là giai đoạn cá rất mẫm cảm với dịch bệnh và
sự biến động đột ngột của môi trường sống, những thời điểm dao mùa trong năm nếu không phát hiện và xử lý kịp thời thì tỷ lệ hao hụt sẽ rất lớn Đây là loài cá rất nhạy cảm với các loại thuốc và hóa chất nên công tác phòng bệnh là chính, công tác trị bệnh thường mang lại hiệu quả không cao Do đó, vấn đề đặt ra khi ương cá chạch lấu là phải ổn định môi trường và đảm bảo chất lượng nước nhằm hạn chế dịch bệnh, nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả sản xuất cho người nuôi Với định hướng phát triển của tỉnh trong thời gian tới là phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn trong đó tập trung phát triển thâm canh cá tra và
đa dạng hóa các thủy đặc sản có giá trị kinh tế nhằm phát triển thủy sản Vĩnh Long theo hướng tăng hiệu quả sản xuất ,ổn định và bền vững, đặt biệt chú trọng phát triển các đối tượng có giá trị kinh tế, có khả năng mở rộng sản xuất ở những vùng nông thôn để gia tăng thu nhập nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân
Cá chạch lấu là đối tượng có nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát triển mạnh
mẽ ở Vĩnh Long Vì vậy, việc nghiên cứu “Thử nghiệm ương cá chạch lấu
(Mastacembelus favus) trong bể lót bạt với các mật độ ương khác nhau quản lý nước bằng hệ thống lọc tuần hoàn cơ học” là rất cần thiết nhằm đa dạng hóa các
loài thủy đặc sản, góp phần thực hiện thắng lợi đề án tái cơ cấu nghành nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống lọc tuần hoàn cơ học để quản lý môi trường trong ương cá chạch lấu trên bể lót bạt với các mật độ ương khác nhau Từ đó tìm ra mật độ ương thích hợp, hiệu quả cao, làm cơ sở xây dựng hoàn chỉnh qui trình ương cá chạch lấu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Thử nghiệm ương cá chạch lấu bằng hệ thống lọc tuần hoàn với các mật
độ khác nhau( 1000 con/m2
), 1500 con/m2), 2000 con/m2)
Trang 7- So sánh hiệu quả kinh tế khi ương cá chạch lấu bằng hệ thống lọc tuần hoàn với mô hình không sử dụng hệ thống lọc tuần hoàn
- So sánh và đánh giá một số thông số kỹ thuật về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn ở các mật độ ương khác nhau
Trang 8CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Sơ lược đặc điểm sinh học của cá Chạch lấu
2.1.1 Hệ thống phân loại cá chạch lấu
Theo ITIS (2009) hệ thống phân loại của cá chạch lấu được sắp xếp
Tên địa phương: Cá chạch lấu
Tên tiếng Anh: spiny eel, tiretrack eel, zigzag eel
Trang 9Theo Ủy Hội sông Mê kông (Chavalit Vithayanon, 2008) họ Synbrachidae
ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam hiện có 9 loài như sau: Monopterus
albus (lươn), Ophisternon bengalense (cá lịch), Macrotrema caligans (cá lịch
sông), Macrognathus circumcinctus (cá chạch khoang), Macrognathus
siameensis (cá chạch lá tre), Macrognathus cemiocellatus (cá chạch khoang)
Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, hiện diện cả 3 loài
thuộc giống Mastacembelus là M armatus (chạch sông); M erythrotenia (chạch lửa) và M favus (chạch lấu) Xem xét về hình dạng, màu sắc và kích thước cơ thể, loài M armatus rất giống với loài M favus, nhưng có một số khác biệt cơ bản như ở loài M.favus toàn cơ thể được phủ bởi các vân hình tổ ong màu tối, còn loài M armatus cơ thể cũng có vân hình tổ ong nhưng chỉ phân bố từ vây
lưng đến cơ quan đường bên Ngoài ra số gai cứng và tia mềm ở các vây của M
favus cũng ít hơn so với của M armatus
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá chạch lấu là loài sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng vẫn phát triển
được trong môi trường nước lợ với nồng độ muối thấp (Pethitagoda, 1991) Trên thế giới, cá chạch lấu phân bố ở các nước: Ấn Độ, Lào, Pakistan, Sumatra, SriLanka, Thái Lan, Trung Quốc,…trong tự nhiên chúng phân bố rất rộng, từ vùng thượng lưu đến hạ lưu, vùng đầm lầy, cửa sông, hay sống dưới những dòng sông có đáy cát mịn hay thô và những nơi có thảm thực vật dày Đây là loài sống
ẩn nấp, chui rúc, chúng thường tập trung chủ yếu ở các kênh, hồ vào những tháng mùa hè hoặc những vùng ngập lũ vào các tháng mùa mưa Đây là loài sống khác biệt với những loài khác chúng thích sống một mình dưới đáy sâu ở những nơi nước chảy nhẹ hay nước tĩnh (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Ở Việt Nam, cá phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Nam Trung Bộ Chúng tập trung đông tại các khe, kè đá, chân cầu,…nơi nước chảy nhẹ (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cá chạch lấu là loài sống tầng đáy, chúng có thể sống và phát triển tốt trong điều kiện pH từ 6 – 8; độ cứng từ 6 – 25; nhiệt độ từ 26 – 330C Môi trường nuôi thêm một ít muối hoà tan bổ sung vào môi trường giúp cá phát triển tốt Cần có
Trang 10mái che phía trên để che bớt ánh sáng trực tiếp tránh để cá trốn ra khỏi bể đồng thời giúp chúng có thể tìm được thức ăn vào ban ngày ( Mongabay, 2007)
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Do miệng cá chạch lấu có thể co duỗi được, vách miệng kéo dài gần
tới mắt Răng hàm nhỏ, mịn, rải đều trên cả hai hàm Lược mang thưa Thực quản ngắn, mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giãn được Dạ dày có hình chữ J, kích thước không lớn, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp Ruột gấp khúc và có vách dày Tỷ lệ giữa chiều chuẩn với chiều dài cơ thể cá chạch lấu trung bình là 0,38 Chiều dài và cấu trúc của ruột là những chỉ tiêu dùng để xác định tính ăn của cá Theo Nikolsky (1963), những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có trị số dài ruột/dài thân (Li/Lt) < 1, cá ăn tạp có Li/Lt =1-3 và ăn thiên về thực vật có Li/Lt>3 Từ đó cho thấy cá chạch lấu là loài ăn tạp thiên về động vật điển
Cá chạch lấu là loài có tập tính thích bắt mồi về đêm, trong tự nhiên chúng ăn các loại côn trùng sống đáy: giun, ấu trùng giáp xác và cả mùn bã hữu
cơ ( Rainboth, 1996) Trong môi trường nhân tạo, chúng có thể ăn các loại thức ăn: các loài tôm cá nhỏ, ấu trùng muỗi, động vật phù dù đặc biệt rất thích ăn các loài giun đất Trong môi trường nuôi nhốt chúng vẫn có thể bắt mồi vào ban ngày nếu bể nuôi được che bớt ánh sáng ( PetEducation, 2007)
Theo Nguyễn Văn Khải (2008) khi nghiên cứu về hình thái giải phẩu
hệ thống ống tiêu hóa đưa ra kết luận cá chạch lấu là loài ăn động vật và bắt mồi chủ động Kết quả phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa cá chạch lấu theo phương pháp kết hợp giữa tần số xuất hiện và khối lượng cho thấy cá chạch lấu ăn thức
ăn có nguồn gốc động vật như: cá, giáp xác, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ, … trong
đó thức ăn là côn trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (40,6%) và giáp xác ( 16,4%) trong ống tiêu hóa Tuy nhiên nghiên cứu của Nguyễn Văn Triều (2009) theo phương pháp kết hợp giữa tần số xuất hiện và khối lượng trong ống tiêu hoá của
cá chạch lấu cho thấy: trong dạ dày côn trùng chiếm (40,6%), cá nhỏ (23,9%), giáp xác(16,4%), mùn bã hữu cơ (10,3%), không xác định (6%) và cuối cùng là nghuyễn thể (2,8%) Kết hợp các phương pháp trên và dựa vào tỷ lệ chiều dài
Trang 11ống tiêu hóa và chiều dài cơ thể (0,62) có thể khẳng định được rằng cá chạch lấu
là loài cá ăn động vật với côn trùng, cá và giáp xác là thức ăn ưa thích
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Đây là loài cá có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm Ngoài tự
nhiên, cá chạch lấu có chiều dài tối đa 90 cm và khối lượng 500g (Huang, H et
al, 1987; Sokheng, C et al, 1999) Cá chạch lấu nuôi thương phẩm trong ao thì
tăng trưởng chậm hơn so với nuôi trong lồng/ bè, cá chạch lấu sau thời gian nuôi 10-12 tháng cá đạt 500-800g/con
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Ở đồng bằng sông Cửu Long, mùa vụ sinh sản tự nhiên vào
khoảng tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, nhưng trong điều kiện chủ động nuôi vỗ thì chúng có thể sinh sản từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm Nơi đẻ tự nhiên là hang hốc, khe đá, bụi cây ven bờ Sức sinh sản tuyệt đối dao động 4.500 – 7.500 trứng/kg cá cái Cá có thể tham gia sinh sản sau 1 năm tuổi Chỉ phân biệt được giới tính khi con cái thành thục rõ ràng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Triều (2009) để phân biệt giới tính cá chạch lấu dựa vào những đặc điểm sau: cá cái thành thục chiều dài thân ngắn hơn cá đực, màu sắc sáng hơn cá đực, bụng to, mềm, da bụng mỏng, lỗ sinh dục to, lồi, có màu hồng nhạt Riêng với cá đực khi thành thục thì thân thon dài hơn cá cái, màu sắc sậm, lỗ sinh dục tròn, hơi lõm, có màu hồng Hệ số thành thục của cá chạch lấu cái thấp nhất vào tháng 12 (0,1%) và đạt cực đại vào tháng
6 (3,57%) và tháng 7 (3,61%) Vào tháng 8 thì hệ số thành thục của cá bắt đầu giảm (3,17%) và giảm rất mạnh vào tháng 9 chỉ đạt 1,27% Hệ số thành thục cá chạch lấu đực thấp nhất vào tháng 12 (0,02%) và đạt cao vào tháng 5,6,7 và đạt cao nhất vào tháng 6 (0,21%) Hệ số thành thục của cá đực thấp hơn rất nhiều so với cá cái Từ đó Tác giả khẳng định rằng cá chạch lấu có 1 mùa sinh sản và sinh sản tập trung vào tháng 5-7
Tỷ lệ đực cái của các mẫu cá thu từ tự nhiên được ghi nhận là tương đương 1:1 Cá thường sinh sản vào tháng 4-6 hàng năm (Pathiyagoda,
1991) Nguyễn Thành Trung và ctv (2009) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh
Trang 12học sinh sản cá chạch lấu Kết quả cho thấy ngoài tự nhiên ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mùa sinh sản chính của cá chạch lấu trùng vào mùa mưa, sức sinh sản tương đối trung bình của chúng là 31±9,2 trứng/g thể trọng
2.2 Tình hình nghiên cứu về cá chạch lấu :
* Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản của cá chạch lấu:
Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) đã định danh các loài cá nước ngọt ở ĐBSCL Trong đó đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh sản của cá chạch lấu
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh sản của cá chạch lấu tại Việt Nam, là cơ sở bước đầu để thực hiện các nghiên cứu ứng dụng sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi loài cá này
* Nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo cá chạch lấu:
Phan Phương Loan (2007 – 2010) xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chạch lấu Kết quả đã xác định được liều kích dục tố phù hợp, xác định thời gian nở của cá bột, năng lực sinh sản của cá với tỷ lệ thụ tinh đạt 50% và tỷ
lệ nở ra cá bột là 60% Đề tài, còn hoàn chỉnh được quy trình phòng trị bệnh cho
cá, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt, đảm bảo chất lượng đàn cá bố mẹ và cá giống trước khi đưa ra cho ngư dân thả nuôi
Nguyễn Văn Triều (2009) nghiên cứu sản xuất thành công giống cá chạch lấu nhân tạo, với tỷ lệ trứng thụ tinh đạt 70 - 80% và tỷ lệ nở trên 90% Sau thời gian ương hai tháng, cá đạt kích thước giống, chiều dài từ 5 - 7 cm, trọng lượng bình quân 1 - 2 gam/con, tỷ lệ sống dao động 50 - 60%
Ngô Thị Kiều Ngân (2008) nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chạch lấu Kết quả cho thấy sử dụng kích thích tố HCG với 3 lần tiêm cho hiệu quả cao nhất; tỷ
lệ rụng trứng 100%, tỷ lệ thụ tinh 73,33% và tỷ lệ nở 71,33%
Kết quả các nghiên cứu trên là bước ngoặc rất quan trọng trong lĩnh vực sản xuất giống cá chạch lấu tại ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung
* Nghiên cứu về ương thử nghiệm cá chạch lấu :
Phan Phương Loan (2007 – 2010), trường Đại Học An Giang đã xây dựng
quy trình ương cá chạch lấu trong bể (composite, xi măng) với mực nước từ 60-