1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực Tiễn Thi Hành Pháp Luật Về Quản Lý Nhà Nước Đối Với Đất Đai Tại Huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang - Luận Văn Ths. Luật 6828782.Pdf

70 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Thi Hành Pháp Luật Về Quản Lý Nhà Nước Đối Với Đất Đai Tại Huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Văn Xuyền
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN XUYỀN THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN XUYỀN

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN

TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hµ Néi - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Xuyền

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU……… 7

LỜI MỞ ĐẦU 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 13

1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện 13

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện 21

1.3 Vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 29

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG 31

2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện 31

2.1.1 Quy định quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 31 2.1.2 Quy định quản lý nhà nước về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 35

2.1.3 Quy định quản lý nhà nước về thu hồi đất 39

2.1.4 Quy định quản lý nhà nước về đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 48

2.1.5 Quy định về quản lý tài chính đất đai 54

2.1.6 Quy định về quản lý thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản 57

2.1.7 Quy định về quản lý các dịch vụ công đất đai 58

2.1.8 Quy định về thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai; xử lý vi phạm hành chính trong quản lý, sử dụng đất 58

2.1.9 Quy định về giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất 62

2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 66

2.3 Điều tra thu thập số liệu thực tiễn thi hành Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 70

Trang 4

2.4 Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại

huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 72

2.4.1 Thi hành pháp luật trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 72

2.4.2 Thi hành pháp luật trong công tác giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất 75

2.4.3 Thi hành pháp luật trong công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 77

2.4.4 Thi hành pháp luật về quản lý tài chính đất đai 78

2.4.5 Thi hành pháp luật về quản lý phát triển thị trường bất động sản và quản lý dịch vụ công đất đai 79

2.4.6 Thi hành pháp luật về thanh tra, kiểm tra việc quản lý đất đai; giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và xử lý vi phạm pháp luật đất đai 80

2.4.7 Thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất 81

2.5 Đánh giá thực tiễn thi hành Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 83

2.5.1 Đánh giá chung thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 83

2.5.2 Nguyên nhân hạn chế của phương thức thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 86

Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG 93 3.1 Giải pháp hoàn thiện phương thức thi hành pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 93

3.1.1 Giải pháp hoàn thiện nội dung, phương thức thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 93

3.1.2 Giải pháp hoàn thiện công cụ bổ trợ cho hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 99

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện 102

3.2.1 Kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước 102

3.2.2 Kiến nghị với chính quyền tỉnh Bắc Giang 108

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Phụ lục 1 Mẫu phỏng vấn công chức thực hiện QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 121

Trang 5

Phụ lục 2 Tóm tắt ghi chép kết quả phỏng vấn công chức thực hiện

QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 122

Phụ lục 3 Mẫu phiếu điều tra thông tin đối với hộ gia đình và cá nhân

SDĐ trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 124

Phụ lục 4 Kết quả điều tra thông tin đối với hộ gia đình và cá nhân SDĐ

trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 127

Phụ lục 5 Mẫu phiếu điều tra thông tin đối với DNSDĐ trên địa bàn

huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 129

Phụ lục 6 Kết quả điều tra thông tin đối với doanh nghiệp SDĐ trên địa

bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 130

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

6 HĐND Hội đồng nhân dân

7 HGĐ & CN Hộ gia đình và cá nhân

14 NĐ 84 Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của

Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

15 QLĐĐ Quản lý đất đai

16 QLNN Quản lý nhà nước

17 QSD Quyền sử dụng

18 QSDĐ Quyền sử dụng đất

19 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

20 TT 30 Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm

2004 của Bộ TN&MT về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch SDĐ

21 UBND Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 2.2.1 Diện tích các loại đất của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 67 Bảng 2.2.2 Biến động cơ cấu đất đai năm 2010 so với năm 2005 tại huyện

Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 68 Bảng 2.2.3 Dân số trung bình qua các năm của Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 69 Bảng 2.2.4 Hệ thống giao thông tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 70 Bảng 2.3.1 Mô tả điều tra nghiên cứu bằng phiếu hỏi 71

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp Đất đai gắn liền với chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Quản lý đất đai là yêu cầu và là nhiệm

vụ hàng đầu của mỗi nhà nước trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào Ngày nay khi xã hội phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng lớn thì đất đai lại càng trở lên quí hiếm hơn bao giờ hết Do vậy, yêu cầu quản lý để sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả là là vô cùng cần thiết

Là một cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước, chính quyền cấp huyện quản

lý một vùng miền nhất định với những nét đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên và xã hội, có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý đất đai theo mục đích yêu cầu đặt ra Tuy nhiên, QLNN về đất đai ở cấp huyện những năm gần đây bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần có những nghiên cứu nghiêm túc bằng luận cứ khoa học để có chính sách, biện pháp điều chỉnh phù hợp

Tân Yên là huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang Trong những năm qua, cùng với các lĩnh vực khác, QLNN đối với đất đai của huyện Tân Yên đã góp phần không nhỏ vào phát triển KT-XH của tỉnh Bắc Giang nói chung và của huyện Tân Yên nói riêng Tuy nhiên công tác QLNN đối với đất đai còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như: Tình trạng quy hoạch sử dụng đất manh mún nhỏ lẻ; tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm và còn nhiều sai phạm; thu hồi đất khó khăn không đáp ứng được yêu cầu, tiến độ các dự án phát triển kinh tế, xã hội; thị trường bất động sản phát triển không lành mạnh; vi phạm pháp luật đất đai như lấn chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích diễn ra thường xuyên ở nhiều nơi không được xử lý kịp thời; cán bộ chuyên môn thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý đất đai và có nhiều sai phạm… làm cho quản lý nhà nước đối với đất đai kém hiệu quả, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chính quyền Nhà nước Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có chính sách pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai chưa đồng bộ, còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang diễn ra hiện nay, cần phải sớm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện

Trang 9

Từ những lý do trên, em chọn đề tài nghiên cứu: " Thực tiễn thi hành Pháp

luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang " với

mong muốn góp phần tìm ra nguyên nhân và những giải pháp giải quyết những hạn chế, bất cập trong chính sách pháp luật về QLNN đối với đất của chính quyền cấp huyện, nâng cao hiệu quả QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện nói chung

và của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu:

Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với đất đai, nhưng tiêu biểu là các công trình sau: Luận văn tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc(1997) “ Chiến lược quản lý đất đai Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 ” với nội dung nghiên cứu chủ yếu về công tác lập và quản lý quy hoạch sử dụng đất của Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn tiến sỹ Luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003)

“ Địa vị pháp lý của người SDĐ trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai”, nghiên cứu các quy định của pháp luật về địa vị của người SDĐ ảnh hưởng đến các giao dịch đất đai cũng như việc quản lý, thúc đẩy sự phát triển của thị trường BĐS và hoàn thiện pháp luật đất đai; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của PGS-TS Phạm Hữu Nghị (2000) “Những quy định về chuyển QSD đất” Ngoài ra còn một số

đề tài khoa học cấp Bộ do Viện nghiên cứu Địa chính thực hiện; các bài báo viết về các vấn đề cụ thể như: Thị trường BĐS, công tác GPMB, công tác cấp giấy chứng nhận QSD đất ….[33]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về QLNN đối với đất đai của các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong QLNN đối với đất đai nói chung nhưng chưa mang tính chuyên sâu, chuyên đề về QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

Những nghiên cứu chuyên sâu hơn về QLNN đối đất đai của chính quyền cấp huyện có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Đánh giá thực trạng và những giải pháp tăng cường công tác QLNN về đất đai tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” (2006) của tác giả TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên [31]; Luận án tiến sỹ kinh tế: “ Hoàn thiện QLNN về đất đai của chính quyền quận Tây Hồ”(2007) của tác giả Nguyễn Thế Vinh [33]

Trang 10

Tuy nhiên các tác giả Nguyễn Khắc Thái Sơn và Nguyễn Thế Vinh quan tâm nghiên cứu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp về tổ chức, hành chính nhằm tăng cường hiệu quả QLNN về đất đai của chính quyền cấp huyện, chưa có những nghiên cứu sâu sắc yếu tố pháp luật tác động đến hiệu lực, hiệu quả quản lý đất đai

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn phân tích những lý luận cơ bản về QLNN đối với đất đai, các quy định của pháp luật về QLNN đối với đất đai; Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn

để tìm ra nguyên nhân thành công và những bất cập trong chính sách pháp luật về QLNN đối với đất đai, những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên nói riêng và của chính quyền cấp huyện nói chung Từ

lý luận, kết quả phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, Luận văn đề xuất những giải pháp phát huy những mặt đã làm được, khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với đất đai trên địa bàn huyện Tân Yên; đồng thời để đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tăng cường hiệu quả QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp

luật liên quan đến hoạt động QLNN đối với đất đai của HĐND và UBND cấp huyện; các văn bản điều chỉnh hoạt động thi hành pháp luật và phương thức thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống văn bản pháp luật đất đai năm 2003, Luật Khiếu

nại Tố cáo năm 1998 được sửa đổi bổ sung đến năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; các văn bản, quyết định pháp luật trong hoạt động QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, thời gian từ năm 2005 đến 2010 Luận văn không nghiên cứu những nội dung mang tính kỹ thuật của hoạt động quản lý hoặc thẩm quyền quản lý của chính quyền cấp tỉnh, trung ương như: xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; thống kê, kiểm kê đất đai; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất mà chỉ đi sâu vào các quy định của pháp

Trang 11

luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, Tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp; sử dụng nguồn số liệu từ phương pháp thu thập qua sách báo, các báo cáo của chính quyền huyện Tân Yên và số liệu thu thập từ điều tra, phỏng vấn; kết hợp nghiên cứu lý luận với phân tích thực tiễn thi hành pháp luật

về QLNN đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang để chứng minh đề xuất giải pháp và kiến nghị liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn là công trình nghiên cứu

toàn diện, chi tiết những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Về mặt lý luận: Luận văn phân tích, bổ sung những lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện; phân tích các vấn đề pháp lý về quản lý nhà nước đối với đất đai trên cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Về mặt thực tiễn: Luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp thích hợp hoàn thiện phương thức thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, góp phần thúc đẩy KT-XH huyện Tân Yên phát triển Bên cạnh đó, những lý luận mà Luận văn đưa ra có thể sử dụng cho chính quyền cấp huyện sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; hoàn thiện chính sách pháp luật về QLNN đối với đất đai

So với những công trình đã nghiên cứu, Luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu trước, bên cạnh đó, Luận văn đã có những nghiên cứu, đóng góp cho hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên nói riêng và chính quyền cấp huyện nói chung Luận văn có giá trị tham khảo đối với những người quan tâm đến lĩnh vực quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung

Trang 12

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương với kết cấu và nội dung nghiên cứu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện;

Chương 2: Thực trạng pháp luật về QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính

quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện Pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA

CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

Đất đai là một loại hàng hóa, tài sản đặc biệt Đất đai gắn liền với chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, do đó bất kỳ quốc gia nào cũng đòi hỏi sự can thiệp và điều tiết của nhà nước đối với đất đai Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có nghĩa là QLNN về đất đai phải thể hiện được vai trò làm chủ của người dân thông qua các hoạt động kiểm tra giám sát; SDĐ nhằm đem lại hiệu quả lớn nhất cho người dân, cho cộng đồng, cho xã hội Nhà nước trong đó có chính quyền địa phương các cấp là Nhà nước của dân, do dân bầu ra và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai tại địa bàn theo quy định của pháp luật Nhà nước thể hiện vai trò chủ sở hữu đối với đất đai thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách về đất đai [34]

Cấp huyện là cấp chính quyền được thành lập để thực hiện chức năng QLNN theo địa bàn Trên thực tế, QLNN đối với đất đai là lĩnh vực quản lý chủ yếu của chính quyền cấp huyện; những biến động về đất đai trong nền kinh tế thị trường diễn ra hàng ngày, hàng giờ và chỉ có chính quyền địa phương mới có thể nắm bắt, giải quyết được kịp thời, do vậy việc phân cấp cho chính quyền địa phương theo một thể thống nhất trong quản lý là một xu thế của QLNN về đất đai [28]

Từ những vấn đề trên, tác giả đề xuất khái niệm: QLNN đối với đất đai trên địa

bàn cấp huyện là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện và bảo vệ quyền đại diện sở hữu đối với đất đai của Nhà nước trong phạm vi địa bàn huyện; là sự phối hợp để thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý được giao của chính quyền cấp huyện với các đơn vị khác thuộc hệ thống QLNN về đất đai theo pháp luật quy định, nhằm mang lại môi trường thuận lợi nhất cho người SDĐ trong việc thực hiện các quyền và nghĩa

Trang 14

vụ của mình đối với đất đai; đảm bảo đất đai được sử dụng hiệu quả cao cho các mục tiêu phát triển KT- XH vì con người, cộng đồng, xã hội cũng như bảo vệ môi trường sống bền vững trên địa bàn huyện [33]

1.1.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện

Quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện theo các nguyên tắc chủ yếu sau:

Một là, Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với đất đai

Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân, vì vậy, chỉ có Nhà nước, chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng

Chính quyền cấp huyện thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu QLNN đối với đất đai trên địa bàn theo pháp luật quy định nhằm tạo điều kiện cho người SDĐ trên địa bàn có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai, sao cho đất đai được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển KT-XH trên địa bàn [32]

Hai là, Đảm bảo phân quyền gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành

nhiệm vụ Chính quyền cấp huyện thực hiện QLNN đối với đất đai trên địa bàn trong phạm vi thẩm quyền, trách nhiệm pháp luật quy định Cơ quan tài nguyên và môi

trương ở huyện chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp huyện trong QLNN đối với đất đai Chính quyền cấp tỉnh có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp, kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện nhiệm vụ của cấp huyện Chính quyền cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, hỗ trợ chính quyền xã và thực hiện quyền giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất của các HGD&CN trên địa bàn [33]

Ba là, Thực hiện tập trung dân chủ trong QLNN về đất đai của chính quyền cấp

huyện Chính quyền huyện thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu trong hoạt động quản

lý, sử dụng đất đai; thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai bằng việc tạo điều kiện để người dân có thể tham gia giám sát hoạt động QLNN của chính quyền cấp huyện trực tiếp hoặc thông qua tổ chức HĐND và các tổ chức chính trị- xã hội tại huyện[33]

Trang 15

Bốn là, Đảm bảo kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ

trong quản lý nhà nước đối với đất đai Chính quyền cấp huyện thống nhất QLNN về đất đai theo địa giới hành chính, có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành Chính quyền cấp huyện có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tỉnh, trung ương đóng trên địa bàn hoạt động, đồng thời có quyền giám sát kiểm tra các cơ quan này trong việc thực hiện pháp luật đất đai, cũng như các quy định khác của Nhà nước; có quyền xử lý hoặc kiến nghị xử lý nếu có vi phạm [32]; [33]

Năm là, Đảm bảo tính kế thừa và tôn trọng lịch sử: Phân cấp QLNN đối với đất

đai hiện nay đòi hỏi chính quyền cấp huyện phải giải quyết, xử lý nhiều vấn đề do lịch

sử để lại như việc đòi lại đất cha ông, xử lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do lấn chiếm đất, đất sử dụng do được giao trái thẩm quyền ; việc giải quyết phải đảm bảo kế thừa các quy định luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong QLĐĐ qua các thời kỳ của cách mạng [33]

1.1.3 Mục đích quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

QLNN đối với đất đai nói chung và QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện đều nhằm đảm bảo 3 mục đích cơ bản sau:

Một là, Đảm bảo SDĐ hợp lý, hiệu quả Đất đai là một tài nguyên quý giá, tài

sản, tư liệu sản xuất đặc biệt, không tái tạo được, do vậy đất đai cần được sử dụng một cách khoa học, tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi người, đảm bảo đất đai được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ được phê duyệt Ngoài ra, sự can thiệp của chính quyền cấp huyện còn nhằm phát huy những tích cực và hạn chế tiêu cực Trong thực

tế, xẩy ra nhiều trường hợp mâu thuẫn về lợi ích, mà tự bản thân nó không giải quyết được, những mâu thuẫn đó thường là mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Để giải quyết được cần phải

có được sự tác động, hỗ trợ của chính quyền để bảo vệ lợi ích công cộng [32]; [33]

Hai là, Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và SDĐ Các chính sách quản lý

của Nhà nước, nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữa lợi ích thu được với chi phí phải

bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau Về nguyên tắc, Nhà nước không

để cho nhóm dân cư này gây tác hại cho nhóm dân cư khác mà không chịu sự trừng

Trang 16

phạt Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối

đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng Ngoài ra chính sách đất đai của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc SDĐ được dễ dàng [33]

Sự công bằng được thể hiện ở việc chính quyền cấp huyện đảm bảo các quyền của người SDĐ được Nhà nước cho phép Mọi người đều có cơ hội và bình đẳng trước pháp luật về đất đai Chính quyền cấp huyện thay mặt cho Nhà nước QLĐĐ và giao đất lâu dài, ổn định cho HGĐ & CN, khuyến khích họ khai thác và SDĐ theo hướng

có hiệu quả cũng như xử lý nếu sai phạm Khi cần thu hồi đất cho các mục đích KT-

XH, chính quyền cấp huyện thay mặt Nhà nước thực hiện những chính sách bồi thường thoả đáng Quyền lợi của người bị thu hồi đất được bảo đảm bù đắp những thiệt hại bị mất đi vì lợi ích chung, giúp cho người SDĐ yên tâm đầu tư phát triển đất đai

Ba là, Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước huyện Nguồn thu từ đất

hiện nay là một trong những nguồn thu chính cho ngân sách cấp huyện bao gồm: Tiền thu từ giao đất có thu tiền SDĐ, chuyển mục đích SDĐ từ đất được Nhà nước giao không thu tiền SDĐ sang đất được Nhà nước giao có thu tiền SDĐ; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ; thuế sử dụng đất, phí, lệ phí đất đai; các khoản thu nhập khác từ đất đai như: các khoản thu từ cho thuê, góp vốn bằng đất hoặc trực tiếp tham gia đầu tư và kinh doanh đất đai nhằm tạo

ra lợi nhuận từ đất; các khoản thu từ việc Nhà nước tạo ra các giá trị gia tăng về đất đai do đầu tư hạ tầng; các khoản thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và SDĐ

Chính quyền cấp huyện cần có chính sách phát huy nguồn vốn đất đai, bảo đảm các nguồn thu tài chính từ đất cho ngân sách, đồng thời cần điều tiết hợp lý các khoản thu, chi ngân sách, phần giá trị tăng thêm của đất do quy hoạch, các khoản thu

do đầu tư thu được từ đất đai [33]

1.1.4 Phương pháp quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

Phương pháp QLNN đối với đất đai là tổng thể những cách thức tác động có mục đích của Nhà nước lên hệ thống đất đai và chủ SDĐ nhằm đạt được mục tiêu đã

Trang 17

đề ra Trong QLNN đối với đất đai của chính quyền các cấp nói chung và của chính quyền cấp huyện nói riêng sử dụng 3 phương pháp chủ yếu sau:

Một là, Phương pháp hành chính Là phương thức tác động trực tiếp của chính

quyền thông qua các quyết định dứt khoát có tính chất bắt buộc tác động đến đối tượng quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu QLNN (ví dụ: quyết định giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ ) cũng như các mệnh lệnh hành chính và kiểm tra việc chấp hành các quy tắc mệnh lệnh hành chính Phương pháp hành chính có tác động ngay, có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định Chính vì vậy, phương pháp hành chính rất cần thiết trong các trường hợp chính quyền cấp huyện sử dụng công cụ hành chính để ban hành các quyết định hành chính như: phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ, thu hồi đất đai, xử lý các vi phạm trong quản lý và SDĐ Khi ra các quyết định hành chính, người ban hành cần có đủ năng lực quản lý, thu thập và phân tích thông tin nhằm đảm bảo cho quyết định hành chính được thi hành; phải dự báo được những phát triển chính, tính toán đầy đủ các các lợi ích, các khía cạnh có liên quan Khi sử dụng quyết định hành chính cần gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của người ra quyết định Mỗi cán bộ, mỗi bộ phận phải có trách nhiệm đầy đủ về việc sử dụng các quyền đó Bởi vì, cấp ra quyết định càng cao thì phạm vi ảnh hưởng của quyết định hành chính khi sai sót xảy ra càng lớn Phương pháp hành chính cần được phân biệt với kiểu quản lý hành chính quan liêu bao cấp, do việc lạm dụng các kỷ luật hành chính, sử dụng các mệnh lệnh hành chính thiếu cơ sở khoa học, theo ý muốn chủ quan, lạm dụng các quyết định hành chính trong QLNN về kinh tế Thường những quyết định, những mệnh lệnh hành chính kiểu đó dễ gây tổn thất cho hệ thống, tạo cơ hội tốt cho tham nhũng, lãng phí trong QLNN về đất đai, gây thiệt hại cho Nhà nước, làm giảm khả năng sáng tạo cho người quản lý và SDĐ [32]; [33]

Hai là, Phương pháp kinh tế Là phương thức tác động vào đối tượng SDĐ

thông qua các lợi ích kinh tế Là cách thức tác động gián tiếp của chính quyền cấp huyện lên đối tượng quản lý nhằm làm cho họ quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của hoạt động, từ đó đối tượng tự giác, chủ động thực hiện theo yêu cầu quản lý Phương pháp kinh tế chính là phương pháp tác động thông qua sự vận động của các phạm trù

Trang 18

kinh tế Chính quyền cấp huyện tác động lên đối tượng quản lý trên cơ sở vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế- kỹ thuật (ví dụ: các chính sách miễn giảm tiền SDĐ, ghi nợ tiền SDĐ; hạn mức giao đất, cho thuê đất; các chính sách về giá đất ) Các chính sách này làm cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hiệu quả nhất trong phạm vi của họ Phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thực cho đối tượng bị quản lý, cho nên tác động rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động của mỗi cá nhân và tập thể Nếu áp dụng biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được thực hiện thoả đáng thì tập thể, con người trong hệ thống sẽ quan tâm hoàn thành nhiệm vụ Điều này giúp cho các cơ quan chính quyền giảm được việc điều hành, kiểm tra đôn đốc và đất đai sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân, cộng đồng, xã hội Mặt khác đất đai là tài sản quốc gia nên nó phản ánh lợi ích chung của xã hội Chú ý đến lợi ích con người tức là phát huy đầy đủ tính tích cực sáng tạo của con người Lợi ích không chỉ là động lực mà quan trọng hơn là phương tiện quản lý Điều kiện để QLNN về đất đai có hiệu quả là chính quyền cấp huyện cần kết hợp hài hoà ba lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể

và lợi ích của xã hội bằng cách thiết lập các chiến lược phát triển KT- XH phù hợp với các quy luật phát triển; xây dựng các quy hoạch, kế hoạch SDĐ một cách hợp lý; sử dụng linh hoạt các phương pháp quản lý đồng thời thực hiện tốt công cụ luật pháp nhằm phát huy tính chủ động và sáng tạo của con người trong quản lý và SDĐ Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp kinh tế các nhà quản lý cần nghiên cứu kỹ lưỡng từng trường hợp cụ thể, từng quy luật cụ thể để đưa ra những quyết định hợp lý nhất và hạn

chế những tác động tiêu cực [32]; [33]

Ba là, Phương pháp tuyên truyền giáo dục Tuyên truyền giáo dục là biện pháp

tác động của chính quyền vào nhận thức, tình cảm của người dân và cán bộ quản lý, nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực và nhiệt tình tham gia vào các hoạt động QLNN về đất đai QLNN về đất đai của chính quyền cấp huyện chỉ có thể thành công khi nó nhận được thái độ và hành động ủng hộ, hưởng ứng của người dân Nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện là tuyên truyền, vận động, giáo dục làm cho người dân và cán bộ quản lý nâng cao tính tự giác, tính tích cực, nhiệt tình tham gia vào các hoạt động QLNN về đất đai Chẳng hạn như: tuyên truyền để người dân tham gia đóng góp

ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch SDĐ, chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước

Trang 19

khi thu hồi đất GPMB, tuyên truyền giáo dục Luật đất đai để người dân hiểu về quyền lợi nghĩa vụ trách nhiệm của họ trong quản lý và SDĐ Việc thực thi Luật đất đai tại địa phương nhằm đem lại lợi ích cho đất nước, cho đại đa số nhân dân Nhưng nếu người dân không hiểu rõ lợi ích mà Luật pháp và mục đích của các hoạt động QLNN

về đất đai đem lại, thì họ sẽ không ủng hộ và không thực hiện Khi đã hiểu, họ tự giác tham gia vào các hoạt động QLNN về đất đai thì hiệu quả của quản lý và SDĐ càng được nâng cao[32]; [33]

1.1.5 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện

Công cụ quản lý là vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình Như vậy: công cụ quản lý của nhà nước là các phương tiện hữu hình hoặc vô hình mà Nhà nước dùng để tác động lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được các ý đồ, mục tiêu của mình Công

cụ quản lý KT- XH của Nhà nước là hệ thống rất lớn và phức tạp, với những công cụ chủ yếu như: luật pháp, kế hoạch, quy hoạch, các chương trình, chính sách, tổ chức bộ máy Trong QLNN đối với đất đai, chính quyền cấp huyện cũng sử dụng những công

cụ này, tuy nhiên thấy rõ nhất ở 4 công cụ chính là: pháp luật về QLNN đối với đất đai, quy hoạch sử dụng đất, chính sách tài chính về đất đai, bộ máy QLNN về đất đai của chính quyền cấp huyện

Thứ nhất, Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai

Luật pháp là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật trước hết là một trong những yếu tố đảm bảo và bảo vệ sự ổn định xã hội QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện dựa trên nền tảng là Luật Đất đai, và các luật khác có liên quan đến đất đai như: Luật Dân sự, Luật Xây dựng, Luật BĐS, Luật Khiếu nại, Tố cáo Ngoài ra, để hướng dẫn thực hiện các luật còn có các nghị định, quyết định, các thông tư, chỉ thị của Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan đến QLNN về đất đai tạo thành hệ thống luật pháp về đất đai Đó là những quy định bắt buộc mà người quản lý

và SDĐ phải tuân theo Đất đai là yếu tố gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của các tổ chức và cá nhân Tổ chức và cá nhân SDĐ được hưởng các lợi ích từ đất nhưng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình, như nghĩa vụ thuế, hoặc phải di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục tiêu của xã hội Nhưng không phải lúc nào các

Trang 20

đối tượng này cũng tự giác chấp hành Rất nhiều trường hợp phải cần đến luật pháp để cưỡng chế bắt buộc thực hiện Điều này không những để duy trì trật tự xã hội mà còn

để các tổ chức cá nhân hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình Luật pháp về đất đai cần phải rõ ràng, đơn giản dễ áp dụng và có tính ổn định lâu dài, có các quy định buộc các đối tượng phải chấp hành Luật phải được ban hành đồng bộ cùng các văn bản hướng dẫn nhằm sớm phát huy hiệu quả Chính quyền cấp huyện chỉ là cấp thực thi các quy định của pháp luật, các văn bản của cơ quan QLNN cấp trên Nếu hệ thống pháp luật và văn bản không đồng bộ và hoàn chỉnh sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả QLNN về đất đai của chính quyền cấp huyện[32]; [33]

Thứ hai, Quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác QLNN về đất đai, vì vậy, Điều 18, Hiến pháp năm 1992

quy định "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật"[36] Quy hoạch

SDĐ được xây dựng để tổ chức không gian, cảnh quan kiến trúc, bố trí mặt bằng nơi

ở, nơi làm việc, dịch vụ giải trí, bố trí giao thông nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu cho đời sống xã hội, sự hài hoà giữa các lợi ích, sự cân bằng giữa phát triển kinh

tế với bảo vệ môi trường

Quy hoạch sử dụng đất là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý, SDĐ Khi được phê duyệt, quy hoạch là cơ sở pháp lý để định đoạt mục đích SDĐ Đây là một công việc khó khăn và tốn kém cần được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn

để thể hiện sự tổng hợp trí tuệ của xã hội, cộng đồng [32]; [33]

Thứ ba, Chính sách tài chính đất đai

Chính sách tài chính đất đai là một công cụ quan trọng trong QLNN đối với đất đai của Chính quyền cấp huyện Công cụ tài chính có tác động một cách trực tiếp đến đầu tư, phát triển và đảm bảo đưa các quy hoạch, kế hoạch SDĐ thành hiện thực Công cụ tài chính gồm các quy định về nguồn thu ngân sách từ đất đai do Nhà nước quy định có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết các nguồn lợi từ đất để thực hiện mục đích công bằng, hiệu quả trong quản lý, sử dụng đất [32]; [33]

Thứ tƣ, Bộ máy quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện

Trang 21

Chính quyền cấp huyện, gồm HĐND và UBND là chủ thể QLNN đối với đất đai trên địa bàn, là cấp quản lý trung gian giữa chính quyền tỉnh và chính quyền xã Chính quyền huyện có phòng chuyên ngành quản lý đất đai, cấp xã có từ 1 đến 2 công chức làm công tác quản lý đất đai

Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trên địa bàn, chính quyền cấp huyện thực hiện các quyền quản lý đối với đất đai thông qua phòng chuyên ngành QLNN về đất đai nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng theo đúng pháp luật và quy hoạch, kế hoạch SDĐ; khai thác và SDĐ ổn định, lâu dài và có hiệu quả cao nhất về KT- XH trên địa bàn [32]; [33]

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

Pháp luật đất đai quy định QLNN đối với đất đai gồm 13 nội dung, được áp dụng cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương Theo phân cấp quản lý, chính quyền cấp huyện chủ yếu thực hiện 9 nội dung QLNN đối với đất đai như sau:

1.2.1 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch đất đai của cấp huyện là sự tính toán, phân bổ đất đai về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện, đảm bảo cho việc sử đụng đất đạt hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất Quy hoạch đất đai luôn gắn liền với kế hoạch hoá đất đai, vì kế hoạch SDĐ chính là việc xác định các biện pháp, thời gian để SDĐ theo quy hoạch Quản lý quy hoạch sử dụng đất là nội dung thể hiện rõ nét vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai thực hiện quyền chiếm hữu đất đai của nhà nước, của chính quyền các cấp[34] Pháp luật đất đai quy định, quản lý đối với quy hoạch, kế hoạch SDĐ gồm các công việc: lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ theo thẩm quyền; quản lý, đánh giá quy hoạch, kế hoạch SDĐ

Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác QLNN đối với đất đai Quy hoạch SDĐ phù hợp sẽ phát huy được hiệu quả

sử dụng đất, mang lại lợi ích KT-XH to lớn và ngược lại nó sẽ gây thiệt hại thậm chí phá hoại nền KT-XH nếu nó bất hợp lý, không phù hợp Quy hoạch, kế hoạch SDĐ sau khi được phê duyệt có giá trị như văn bản quy phạm pháp luật, trở thành công cụ

để chính quyền cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước đối với đất đai trên địa bàn, do

Trang 22

đó chính quyền cấp huyện cần có quy hoạch SDĐ được nghiên cứu với chất lượng cao, tổng hợp, đánh giá tiềm năng đất có hệ thống, tính toán hợp lý những thay đổi trong SDĐ và các điều kiện KT- XH để chọn lọc và thực hiện các mục tiêu SDĐ tốt nhất Quy hoạch phải tối ưu hoá được cơ sở hạ tầng đô thị như: giao thông, đường xá, cấp thoát nước, sân bay bến cảng, nhà máy, khu công nghiệp, các khu đô thị và khu dân cư ; đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuất, kinh doanh; giải quyết các mối quan hệ về không gian, địa điểm giữa các khu vực, tạo điều kiện tăng khả năng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo giải quyết tốt các nhu cầu về ăn ở, làm việc, giải trí, học tập, chữa bệnh và mọi nhu cầu khác của người dân Mặt khác quy hoạch sử dụng đất còn phải bảo đảm cho đất đai được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bảo vệ môi trường, cảnh quan, di tích và bảo vệ lâu dài nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm Trong quy hoạch cần có những dự đoán về phát triển KT- XH, và tính đến kết quả phân vùng SDĐ Quy hoạch SDĐ là bài toán tổng hợp xem xét toàn bộ các vấn đề về KT- XH nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích trước mắt

Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất cụ

thể từ mục đích này sang mục đích khác”[36]

Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích

Trang 23

sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác

Quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích SDĐ là hoạt động của cơ quan QLNN thực hiện quản lý về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất; thực hiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất Đây là nội dung thể hiện rõ nét vai trò đại diện chủ

sở hữu của Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai [34] LĐĐ 2003 quy định: chính quyền cấp huyện có quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư; chỉ đạo, kiểm tra, xử lý sai phạm của chính quyền cấp xã trên địa bàn trong việc cho thuê đất nông nghiệp sử vào mục đích đất công ích [36] Để thực hiện tốt nội dung quản lý này, chính quyền huyện phải nắm chắc quỹ đất, tình hình sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ phải được thực hiện đảm bảo công bằng, đúng pháp luật, phát huy được hiệu quả SDĐ Hiện nay, quỹ đất nhìn chung đã được giao hết từ những năm trước đây, do vậy trên thực tế việc giao đất và cho thuê đất của chính quyền cấp huyện cho hộ gia đình, cá nhân gần như không còn, muốn có đất giao, cho thuê phải xem xét điều chỉnh từ các đối tượng đang quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả hoặc sử dụng lãng phí, do vậy nội dung này chỉ còn tập trung vào việc chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất GPMB và giao đất khi

Trang 24

chứng nhận QSD đất

Chính quyền cấp huyện có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý việc đăng ký đất đai trên địa bàn, cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Đây là nhóm đối tượng sử dụng đất chủ yếu ở nước ta Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp huyện cần tổ chức hệ thống đăng ký đất đai tại địa phương một cách tập trung, thống nhất từ thủ tục, biểu mẫu hồ sơ địa chính đến các sổ địa chính, sổ mục kê đất đai; coi trọng đúng mức việc lập và quản lý các giấy tờ chứng từ của quá trình thực hiện thủ tục đăng ký (gồm đơn đăng ký, các hợp đồng chuyển quyền, các văn bản về xác nhận về nguồn gốc quá trình sử dụng đất, xét duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện đăng ký, các tài liệu này được coi như hồ sơ gốc địa chính); quan tâm đến chất lượng, hiệu quả làm việc của văn phòng đăng ký QSD đất và đội ngũ công chức địa chính tại các xã

1.2.4 Quản lý tài chính đất đai

Quản lý tài chính luôn là nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với đất đai vì nó là quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu ngân sách từ đất đai Quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai là sự thể hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước trong việc thực hiện quyền sử dụng đất đai [34]

Trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp huyện hiện nay, vấn đề tài chính luôn có tính chất quyết định Nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện phải thực hiện các khoản thu và chi về đất đai theo quy định của pháp luật Nguồn tài chính được giao phải được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Để thực hiện tốt nội dung quản lý này, chính quyền cấp huyện cần chủ động tạo ra một môi trường nhằm thu hút sự đa dạng các nguồn vốn để đầu tư hạ tầng làm tăng giá trị đối với quỹ đất đang quản lý và thực hiện đấu thầu cho các tổ chức, tư nhân thuê đất Thông qua việc đầu tư, cho thuê đất sẽ tạo ra hiệu ứng tăng các khoản thu từ đất, cũng như từ thuế của các hoạt động kinh doanh, tạo nguồn vốn đầu tư cho phát triển KT-

XH, giải quyết công ăn việc làm và các vấn đề xã hội khác Các khoản thu từ đất phải được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả như: xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế và phục vụ công tác QLNN đối với đất đai Việc

Trang 25

bồi thường thiệt hại về đất chỉ thực hiện khi thu hồi và bồi thường đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế phát triển và các dự án đầu tư lớn Đối với các dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì nhà đầu tư được tự nhận chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn bằng QSDĐ của các tổ chức kinh tế, HGĐ & CN mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất Thực hiện điều tiết nguồn thu từ đất đảm bảo công bằng và hiệu quả thông qua đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển KT-XH, trong đó quan tâm đến những vùng có điều kiện khó khăn, đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các vùng miền trên địa bàn quản lý

1.2.5.Quản lý phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

Thị trường quyền sử dụng đất là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi QSD đất Thực chất của thị trường quyền sử dụng đất là thị trường chuyển quyền sử dụng đất, bao gồm các hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê hoặc cho thuê lại, thừa kế, cho tặng quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất [51] Nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện là tạo điều kiện cho thị trường BĐS phát triển một cách vững chắc, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và kinh doanh nhà đất theo quy định của Nhà nước Để thực hiện điều này, chính quyền cấp huyện cần khuyến khích việc lập quỹ nhà để bán trả chậm, trả dần, cho thuê đặc biệt là cho người người có thu nhập thấp, người nghèo; tập trung vào phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng hệ thống thông tin về đất đai hiện đại Trong giai đoạn hiện nay cần làm tốt cấp giấy CNQSD đất và hệ thống đăng ký QSD đất thuận tiện, nhằm tạo điều kiện cho hàng hóa đất đai có thể thuận lợi khi tham gia vào các hoạt động của thị trường Chính quyền cấp huyện cần hỗ trợ để tạo ra một thị trường có khả năng hoạt động một cách năng động, hiệu quả theo sự quản lý

Thị trường BĐS muốn phát triển thì một trong những yêu cầu đó là đối tượng tham gia thị trường phải nhận thức được đầy đủ về các thông tin cần thiết của hàng hoá đất đai, cũng như khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các hoạt động kinh doanh Trong

sự phát triển của kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại ngày nay, chính quyền cấp huyện cần xây dựng một hệ thống dữ liệu số về BĐS thông qua việc đăng ký giao dịch BĐS và giá giao dịch BĐS; các thông tin về đặc điểm đất đai, vị trí, hình dáng lô

Trang 26

đất, diện tích, các chủ sở hữu, thời điểm giao dịch chuyển nhượng Hệ thống thông tin này được kết nối với hệ thống thông tin từ Trung ương đến các địa phương, các ngân hàng, cơ quan thuế giúp Nhà nước kiểm soát được tình trạng SDĐ, cung và cầu về đất đai, giá cả trên thị trường, thuận tiện cho người sử dụng có nhu cầu tra cứu

Hệ thống này do một cơ quan nhà nước quản lý, thường xuyên cập nhật thông tin, cung cấp rộng rãi cho các đối tượng sử dụng là các cơ quan quản lý đất đai và người SDĐ Thông tin về đất đai cần phải công khai minh bạch, không chỉ có ích cho thị trường BĐS mà còn giúp người dân nâng thêm hiểu biết về quản lý và SDĐ, từ đó người dân sẽ có ý thức hơn trong quản lý và sử dụng đất

1.2.6 Quản lý các dịch vụ công về đất đai

Hoạt động dịch vụ công về đất đai là những hoạt động dịch vụ của cơ quan nhà nước để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong xã hội về lĩnh vực đất đai theo quy định của pháp luật Các lĩnh vực hoạt động dịch vụ trong quản lý và sử dụng đất đai bao gồm: tư vấn về giá đất; tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dịch vụ về đo đạc và lập bản đồ địa chính; dịch vụ về thông tin đất đai (thông tin về thửa đất, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và tình trạng thực hiện các quyền của người sử dụng đất) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai là việc quản lý của các cơ quan nhà nước về các hoạt động thuộc các lĩnh vực nêu trên

Chính quyền cấp huyện có thẩm quyền quản lý các dịch vụ công về đất đai trên địa bàn Việc quản lý được thực hiện thông qua việc thành lập ra các cơ quan có chức năng hoạt động dịch vụ công về đất đai như văn phòng đăng ký QSD đất, tổ chức phát triển quỹ đất??? …hoặc cho phép các tổ chức sự nghiệp có thu, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện đăng ký tham gia vào các hoạt động dịch vụ về đất đai; chỉ đạo hoạt động của các cơ quan, tổ chức dịch vụ về đất đai; kiểm tra, xử lý các vi phạm trong hoạt động dịch vụ về đất đai theo pháp luật Để thực hiện được yêu cầu quản lý, chính quyền cấp huyện phải nắm chắc loại cơ quan nào được tham gia vào hoạt động dịch vụ công về đất đai; nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của các cơ quan, tổ chức tham gia vào dịch vụ công về đất đai; những hoạt động nào trong lĩnh vực đất đai được tham gia dịch vụ công Pháp luật đất đai quy định: cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và tổ chức phát triển quỹ đất là cơ quan dịch vụ về đất đai Đồng thời pháp luật cũng quy

Trang 27

định: các tổ chức sự nghiệp có thu, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện có thể đăng ký tham gia vào các hoạt động dịch vụ về đất đai

1.2.7 Giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm quản lý chặt chẽ, uốn nắn kịp thời các sai sót, vi phạm trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Đây

là nhiệm vụ không thể thiếu trong hoạt động QLNN nói chung và QLNN đối với đất đai nói riêng Thực hiện nội dung này, chính quyền cấp huyện phải tổ chức, chỉ đạo chính quyền cấp xã làm tốt chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật đất đai của người sử dụng đất Đồng thời phải xử lý nghiêm các trường hợp người sử dụng và người quản lý vi phạm pháp luật đất đai

1.2.8 Thanh tra, kiểm tra việc quản lý, SDĐ đai; xử lý vi phạm pháp luật đất đai

Thanh tra, kiểm tra là khâu bước không thể thiếu quá trình quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về đất đai nói riêng Hoạt động thanh tra đất đai nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN về đất đai; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân SDĐ

Thanh tra, kiểm tra việc quản lý, SDĐ đai; xử lý vi phạm pháp luật đất đai là một nội dung cơ bản, quan trọng trong nhiệm vụ QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện Để thực hiện hiệu quả nội dung này, chính quyền cấp huyện cần tổ chức thường xuyên các hoạt động thanh tra, kiểm tra Việc thanh tra, kiểm tra phải đi đôi với xử lý các vi phạm, tránh tình trạng phát hiện rồi bỏ đó làm giảm sút hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra Công tác thanh tra, kiểm tra muốn có hiệu quả đòi hỏi phải có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể, phân công trách nhiệm, cũng như các mục tiêu rõ ràng Các sai phạm, thiếu sót, những vấn đề bất cập trong quản lý được phát hiện, phải phân tích rõ nguyên nhân, có biện pháp xử lý khắc phục kịp thời,

nâng cao hiệu quả QLNN đối với đất đai thông qua công tác thanh tra

Trang 28

1.2.9 Giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và SDĐ đai

Trong quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng, không tránh khỏi những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, đặc biệt, đất đai là lĩnh vực nhạy cảm, xẩy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại, tố cáo hơn các lĩnh vực khác, nên một trong những vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý đất đai hiện nay của các cấp chính quyền là giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa

vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai; chính quyền

cấp huyện có trách nhiệm giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân SDĐ Việc giải quyết tranh chấp đất đai của chính quyền cấp huyện phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp luật những trường hợp xử lý không đúng Giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân Thực chất của tranh chấp đất đai là tranh chấp về tài sản dân sự nên giải quyết tranh chấp đất đai phải theo nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng dân

sự, trong đó nêu cao việc hoà giải [49]

Để thực hiện tốt nội dung QLNN về giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết các khiếu nại, tố cáo về đất đai, chính quyền cấp huyện cần chỉ đạo, làm rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp, khiếu kiện và giải quyết triệt để, thấu tình đạt lý ngay từ đầu Có như vậy mới có thể tạo ra sự ổn định trong đời sống xã hội của địa phương Chính quyền các cấp từ huyện đến xã cần làm tốt nhiệm vụ và không né tránh, đùn đẩy trong kiểm tra, xử lý Cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan như: Tòa

án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân và chính quyền cấp trên để giải quyết kịp thời các vụ việc từ khi mới phát sinh

1.3 Vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý KT-XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo

Trang 29

ra năng xuất lao động cao Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác QLNN đối với đất đai nói chung và QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện nói riêng có vai trò hết sức quan trọng

1.3.1 QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện tạo tiền đề cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước CNH –HĐH trước hết cần một cơ sở hạ

tầng phục vụ như: hệ thống giao thông, bễn bãi, công trình nhà xưởng … để đảm bảo cho quá trình triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong công nghiệp

và cần diện tích đủ lớn để có thể triển khai các ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng xuất lao động Để có thể đáp ứng các yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính quyền cấp huyện cần thực hiện tốt chức năng chức năng QLNN đối với đất đai trên địa bàn Làm tốt công tác lập, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hình thành lên những khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo các mục tiêu KT-XH đã đặt ra; tổ chức thu hồi đất, GPMB tạo quỹ đất để xây dựng hệ thống giao thông, các công trình hạ tầng kỹ thuật, các nhà máy, xí nghiệp để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong công nghiệp; tạo điều kiện, cho phép chuyển mục đích, chuyển nhượng QSD đất tạo nên những vùng chuyên canh trong nông nghiệp để hình thành nên những vùng sản xuất cây hàng hóa có giá trị, năng suất cao và có khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; tạo môi trường thuận lợi cho thị trường QSD đất phát triển, thúc đẩy góp vốn bằng giá trị QSD đất vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn

1.3.2 Quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện góp phần

quyết định tốc độ thành công cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Có thể nói, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Sự ổn định chính trị, sự phù hợp của chính sách kinh tế vĩ mô, sự đảm bảo về tài chính … trong đó công tác quản lý nhà nước đối với đất đai là một trong những nhân tố có tính chất quyết định bởi quản lý nhà nước đối với đất đai vừa mang tính tiền đề, nền tảng, vừa là điều kiện của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đẩy nhanh tốc độ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính quyền cấp huyện cần đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, GPMB tạo quỹ đất cho phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai theo hướng gọn nhẹ, tạo điều kiện

Trang 30

thuận lợi cho DN tiếp cận và sử dụng đất một cách hiệu quả QSD đất là một trong những yếu tố cấu thành nên giá trị đầu vào của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, do đó phải tạo điều kiện để QSD đất phát huy được hiệu quả Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế của DN trong sản xuất kinh doanh, hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cũng là đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngược lại, những tồn tại, yếu kém trong công tác QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp huyện là những rào cản không nhỏ đối với sự thành công tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều này đòi hỏi các cấp chính quyền cần quan tâm khắc phục tồn tại, yếu kém trong quản lý về đất đai để công tác QLNN đối với đất đai phục vụ tốt nhất cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý đất đai của Nhà nước Nắm vững vai trò, mục đích; thực thi đảm bảo các nguyên tắc; vận dụng tốt những phương pháp và sử dụng hiệu quả công cụ trong quản lý nhà nước đối với đất đai sẽ đảm bảo cho chính quyền cấp huyện thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với đất đai trên địa bàn Để kiểm nghiệm những vấn đề lý luận nêu trên, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực tiễn ở những chương tiếp theo

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC

GIANG 2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện

Pháp luật về QLNN đối với đất đai là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định nội dung, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục trong quản lý nhà nước đối với đất đai Pháp luật quy định QLNN đối với đất đai gồm 13 nội dung, được áp dụng cho các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương Trong phạm vi Luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu 9 nhóm nội dung chủ yếu thuộc thẩm quyền trách nhiệm của chính quyền cấp huyện

2.1.1 Quy định về quản lý nhà nước đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

2.1.1.1 Lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thứ nhất, Về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 21, LĐĐ

2003 quy định, việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ phải theo những nguyên tắc cơ bản đó là: Quy hoạch, kế hoạch SDĐ phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; quy hoạch, phải được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch SDĐ phải đảm bảo SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên

và bảo vệ môi trường, bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh ở địa phương; phải đảm bảo dân chủ và công khai trong việc lập và quản lý quy hoạch [36]

Thứ hai, Về căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 22, LĐĐ 2003 quy

định: Quy hoạch, kế hoạch SDĐ được lập phải căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh của tỉnh; quy hoạch phát triển của các ngành và các xã, thị trấn trên địa bàn; hiện trạng SDĐ và nhu cầu SDĐ; định mức SDĐ; tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc SDĐ; kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng

Trang 32

đất kỳ trước Khi lập kế hoạch SDĐ phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt; kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm và hàng năm của huyện; nhu cầu SDĐ của tổ chức, HGD&CN, cộng đồng dân cư; kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ kỳ trước; khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình có SDĐ [36]

Thứ ba, Về thẩm quyền, trách nhiệm lập, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất Điều 25, 26 LĐĐ 2003 quy định: UBND huyện có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ của huyện và quy hoạch, kế hoạch SDĐ của thị trấn thuộc huyện trình HĐND huyện thông qua sau đó trình UBND tỉnh xét duyệt UBND xã

tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ của xã trình HĐND xã thông qua sau đó trình UBND huyện xét duyệt Phòng TN&MT có trách nhiệm giúp UBND huyện thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ; các phòng, ban của huyện, UBND xã có trách nhiệm phối hợp với phòng TN&MT trong việc xác định nhu cầu SDĐ của ngành, của địa phương UBND xã có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch SDĐ chi tiết của xã [36]

Thứ tư, Về nội dung cơ bản cần thể hiện trong một phương án quy hoạch sử dụng

đất Điều 23, LĐĐ 2003 quy định bao gồm: Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, KT-XH, hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai; xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch; xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; xác định các biện pháp sử dụng, bảo

vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất [36]

Thứ năm, Về nội dung kế hoạch sử dụng đất Điều 23, LĐĐ 2003 quy định bao

gồm: Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân bổ cho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn, quốc phòng, an ninh; kế hoạch chuyển diện tích đất chuyên trồng lúa nước và đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong đất nông nghiệp; kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào các mục đích; cụ thể hoá kế hoạch sử dụng đất năm năm đến từng năm; giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất [36]

Trang 33

2.1.1.2 Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ

Điều 27, LĐĐ 2003 quy định, quy hoạch sử dụng đất chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp: Có sự điều chỉnh mục tiêu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu SDĐ; do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích SDĐ trên địa bàn; có sự điều chỉnh quy hoạch SDĐ của cấp tỉnh làm ảnh hưởng tới quy hoạch SDĐ; có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương Việc điều chỉnh kế hoạch SDĐ chỉ được thực hiện khi có sự điều chỉnh quy hoạch SDĐ hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện kế hoạch SDĐ Nội dung điều chỉnh quy hoạch SDĐ là một phần của nội dung quy hoạch SDĐ; nội dung điều chỉnh kế hoạch SDĐ là một phần của nội dung kế hoạch SDĐ

Nội dung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ bao gồm: Bổ sung, điều chỉnh hoặc huỷ bỏ các công trình, dự án trong kỳ quy hoạch, kế hoạch; thay đổi cơ cấu các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp; thay đổi vị trí, diện tích các khu đất đã khoanh định theo chức năng trong nhóm đất phi nông nghiệp; thay đổi chỉ tiêu đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; thay đổi tiến độ thực hiện kế hoạch nhanh hơn hoặc chậm hơn từ 3 năm trở lên so với kế hoạch SDĐ, kế hoạch SDĐ chi tiết đã được xét duyệt; giải pháp tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ [6]; [36]

2.1.1.3 Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ

Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ được thể hiện bằng việc công bố quy hoạch, kế hoạch SDĐ Điều 28, LĐĐ 2003 và Điều 27, NĐ 181 quy định: Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch SDĐ phải được công bố công khai Phòng TN&MT huyện có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về quy hoạch, kế hoạch SDĐ của huyện đã được xét duyệt tại trụ sở

cơ quan mình trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch SDĐ UBND xã, phường, thị trấn công

bố công khai toàn bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ chi tiết, kế hoạch SDĐ chi tiết và các dự

án, công trình đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn trong suốt

kỳ quy hoạch, kế hoạch SDĐ

Toàn bộ tài liệu về điều chỉnh quy hoạch SDĐ, kế hoạch SDĐ, quy hoạch SDĐ chi tiết, kế hoạch SDĐ chi tiết đã được xét duyệt phải được công bố công khai như việc

Trang 34

công bố quy hoạch SDĐ, kế hoạch SDĐ, quy hoạch SDĐ chi tiết, kế hoạch SDĐ chi tiết Riêng hồ sơ quy hoạch, kế hoạch SDĐ và hồ sơ điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh không công bố mà được quản lý theo chế độ mật

Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ còn được thể hiện bằng việc quản lý việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ sau khi đã được phê duyệt như sau:

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ của tỉnh, thành phố mình; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ của các đơn vị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trực thuộc mình quản lý; UBND huyện tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ của huyện; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ của các xã, phường, thị trấn trực thuộc mình quản lý UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ phải theo đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được xét duyệt; chủ tịch UBND huyện có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương mình

Hàng năm, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ của địa phương đến ngày 31 tháng 12 cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trước ngày 31 tháng 1 năm sau Cơ quan TN&MT

tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch SDĐ Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ thì báo cáo UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh về nhu cầu đó

UBND xã, phường, thị trấn tổ chức, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch SDĐ tại địa phương khi phát hiện những trường hợp SDĐ không đúng quy hoạch, kế hoạch đã được công bố thì xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm chính về việc không ngăn chặn, không xử lý kịp thời, để xảy ra trường hợp SDĐ không đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được xét duyệt tại địa phương Hàng năm, UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch SDĐ của địa phương đến ngày

Trang 35

31 tháng 12 cho UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trước ngày 15 tháng 1 năm sau

Cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn tổ chức kiểm tra việc thực hiện quy hoạch,

kế hoạch SDĐ tại địa phương; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch SDĐ Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ thì báo cáo UBND xã, phường, thị trấn về nhu cầu đó [14];[36]

2.1.2 Quy định quản lý nhà nước về giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

2.1.2.1 Quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích

sử dụng đất:

Điều 37, LĐĐ 2003 quy định: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; cho phép chuyển mục đích SDĐ đối với tổ chức UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất đối với HGD&CN, cộng đồng dân cư; cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ đối với HGD&CN UBND xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ không được ủy quyền Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất có thẩm quyền quyết định điều chỉnh đối với trường hợp người SDĐ đã có quyết định giao đất, cho thuê đất trước ngày 1 tháng 7 năm 2004 [36]

2.1.2.2 Quy định về hình thức giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ: Một là, Giao đất Theo Điều 33 và 34, LĐĐ 2003, giao đất được tiến hành dưới 2

hình thức là: giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền SDĐ dựa theo nguyên tắc: những trường hợp giao đất không vào mục đích đất ở và không nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh thì giao đất không thu tiền SDĐ; những trường hợp giao đất vào mục đích đất ở (của HGD&CN) và đất nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh thì giao đất có thu tiền sử dụng đất; mặt khác, giao đất cho HGD&CN trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn

Ngày đăng: 03/02/2023, 17:18

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w