TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN VIỆC ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHIỆP VỤ TRONG XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC TẠI CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GIẢNG[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, vai trò của thông tin với nền kinh tế tri thức là vô cùng quan trọng, khi cuộc cách mạng thông tin đã thay đổi căn bản lối sống, cách làm việc và tư duy của con người Các quốc gia muốn phát triển bền vững không chỉ dựa vào nội lực mà còn cần mở rộng hợp tác quốc tế để thúc đẩy sự phát triển, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Xu hướng toàn cầu hóa mang lại cơ hội mới cũng như thách thức lớn cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đòi hỏi họ phải thích nghi và tận dụng tối đa các cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
Trong nỗ lực chung để bắt kịp sự phát triển của thế giới, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp những chủ nhân có tri thức cao, khả năng độc lập và tư duy sáng tạo để làm chủ tương lai Thư viện không chỉ là cơ quan văn hóa và giáo dục ngoài nhà trường mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đây là nơi cung cấp công cụ chủ yếu cho việc tự học, chủ yếu thông qua sách báo, tài liệu, giúp toàn dân có thể tự nâng cao kiến thức Trong hệ thống các trường đại học, thư viện được xem là bộ phận không thể thiếu, như là "giảng đường thứ hai" của sinh viên, góp phần trực tiếp vào thành công của mục tiêu giáo dục đại học.
Một yếu tố then chốt để thúc đẩy sự hội nhập và hợp tác trong giáo dục đại học là vấn đề cập nhật và chia sẻ nguồn tin giữa các thư viện quốc tế Tiêu chuẩn hóa được xem là bước quan trọng giúp thống nhất và hợp lý hóa quy trình, sản phẩm thông tin, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp tài liệu và thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ Việc này góp phần hoàn thiện tổ chức, quản lý hoạt động thông tin, nâng cao năng suất và chất lượng lao động của cán bộ thư viện Để các thư viện đại học đảm bảo chất lượng đào tạo ngày càng cao, hệ thống thư viện cần tích cực đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ, hướng tới chuẩn hóa, hội nhập và liên kết toàn diện.
Vào ngày 7 tháng 5 năm 2007, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) ban hành văn bản số 1598/BVHTT, hướng dẫn các thư viện công cộng, thư viện chuyên ngành và đa ngành thực hiện áp dụng ba chuẩn nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động thư viện Từ ngày 1 tháng 6 năm 2007, tất cả các thư viện được khuyến cáo chính thức áp dụng chuẩn AACR2, hệ thống Phân loại Dewey (DDC) và chuẩn MARC21 để nâng cao hiệu quả quản lý và tổ chức tài liệu.
Em đã chọn đề tài "Ứng dụng cácchuẩ n nghiệp vụ trong xử lý tài liệu và biên mục tại các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội" do những lý do phù hợp Vì hạn chế về vốn tư liệu và trình độ, em không đặt mục tiêu trình bày toàn cảnh vấn đề mà tập trung mô tả, phân loại, định chủ đề, từ khóa cũng như công tác tổ chức mục lục truyền thống và biên mục đọc máy tại các thư viện đại học Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu
Hiện trạng áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu và biên mục tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội đang được đánh giá để xác định mức độ phù hợp và hiệu quả Việc nâng cao nhận thức và đào tạo về các chuẩn nghiệp vụ là yếu tố then chốt nhằm cải thiện công tác biên mục và xử lý tài liệu, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các thư viện Các kiến nghị đề xuất bao gồm việc tăng cường áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế, cập nhật các quy trình mới và nâng cao năng lực của nhân viên thư viện để đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng cao Thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dùng và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, học tập tại các trường đại học ở Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề
- Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ thư viện
- Phân tích tổng hợp, đánh giá, so sánh, xử lý các số liệu các số liệu thu thập được
Ý nghĩa của đề tài
+ Ý nghĩa lý luận: tìm hiểu và nhận xét về các chuẩn nghiệp vụ đang được áp dụng trong thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Nghiên cứu về việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong thư viện trường đại học mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng Đề tài cung cấp các cơ sở dữ liệu hỗ trợ hoàn thiện các chuẩn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện Việc nghiên cứu giúp tăng cường việc áp dụng các chuẩn này, mở rộng hiệu quả công tác quản lý và phục vụ cán bộ, sinh viên trong các thư viện trường đại học.
Bố cục của bài khóa luận
Khóa luận bao gồm các phần quan trọng như danh mục các từ viết tắt, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính được phân chia thành 3 chương, đảm bảo tổng thể rõ ràng và logic để hỗ trợ việc trình bày và nghiên cứu hiệu quả Các chương này cung cấp nền tảng kiến thức, phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên nghiệp Việc tổ chức rõ ràng các phần trong khoá luận giúp nâng cao khả năng truyền đạt ý tưởng và đạt tiêu chuẩn chất lượng học thuật cao.
Chương 1: Vai trò của việc chuẩn hóa trong công tác xử lí tài liệu và biên mục trong thư viện các trường đại học
Chương 2 tập trung vào thực trạng việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu và biên mục tại các thư viện trường đại học ở Hà Nội Báo cáo đánh giá sự tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và nội bộ trong công tác biên mục, từ đó xác định những thách thức và cơ hội cải tiến Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ giúp nâng cao chất lượng quản lý tài liệu, tăng cường khả năng truy cập và khai thác nguồn tài nguyên thông tin Tuy nhiên, nhiều thư viện còn gặp khó khăn trong việc cập nhật và thực hiện đúng các chuẩn, ảnh hưởng đến hiệu quả phục vụ người dùng Để thúc đẩy ứng dụng các chuẩn nghiệp vụ, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục, nâng cao năng lực nghiệp vụ của nhân viên thư viện và đầu tư vào công nghệ hiện đại.
Chương 3 trình bày các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lý tài liệu và biên mục tại các thư viện trường đại học ở Hà Nội Việc đề xuất hướng đi này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài liệu, đảm bảo tính đồng bộ và chính xác trong công tác biên mục Các giải pháp đã được xây dựng dựa trên phân tích thực trạng và hướng đến cải thiện chất lượng phục vụ của các thư viện, đồng thời thúc đẩy ứng dụng chuẩn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ hiện đại sẽ giúp các thư viện nâng cao năng lực tổ chức, quản lý và khai thác nguồn tài nguyên thông tin hiệu quả hơn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Vũ Dương Thúy Ngà vì đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài khoá luận Em cũng chân thành cảm ơn các cán bộ thư viện tại các trung tâm truyền thông – TV nơi em tiến hành khảo sát nhờ những ý kiến đóng góp quý báu và sự tạo điều kiện thuận lợi Ngoài ra, em rất biết ơn sự động viên và hỗ trợ của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận Do thời gian nghiên cứu hạn chế và trình độ còn hạn chế, em xin nhận thấy khoá luận có thể còn những thiếu sót, hạn chế, mong nhận được sự đóng góp và chia sẻ từ các thầy cô, bạn bè để nội dung được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
VAI TRÒ CỦA VIỆC CHUẨN HÓA TRONG CÔNG TÁC XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC
Tổng quan về công tác xử lí tài liệu
Công tác xử lý tài liệu là một bước quan trọng trong quy trình sản xuất truyền hình, đòi hỏi sự chính xác và kỹ năng cao Việc lựa chọn và xử lý thông tin cần phải đảm bảo tính khoa học, chính xác để đưa vào lưu trữ một cách hợp lý Quá trình này không thể thực hiện tùy tiện mà phải tuân thủ theo các nguyên tắc có tính trật tự, logic để đảm bảo hiệu quả và chất lượng của dự án truyền hình.
Xử lý tài liệu là quá trình phân tích, lựa chọn và trình bày các yếu tố đặc trưng về nội dung và hình thức của tài liệu nhằm mục đích đưa vào hệ thống lưu trữ và tìm kiếm Quá trình này giúp người dùng dễ dàng lựa chọn tài liệu hoặc thông tin cần thiết một cách nhanh chóng và chính xác Trong truyền thông và thư viện, xử lý tài liệu bao gồm các bước chính như mô tả, phân loại, định chủ đề, định từ khóa và tóm tắt tài liệu, nhằm tối ưu hóa khả năng truy cập và sử dụng nguồn tài nguyên thông tin.
Trong bài viết của Theo Từ Điển Tiếng Việt (2007), mô tả được định nghĩa là sử dụng ngôn ngữ, màu sắc, đường nét, nhạc điệu để giúp người đọc hình dung các sự vật, hình dáng hoặc tâm trạng của con người trong bối cảnh nhất định.
Trong lĩnh vực TV học, mô tả tài liệu là quá trình lựa chọn những dẫn liệu đặc trưng của tài liệu và trình bày chúng theo nguyên tắc hợp lý Điều này giúp người đọc có một khái niệm rõ ràng về nội dung và đặc điểm của tài liệu trước khi trực tiếp tiếp xúc hoặc nghiên cứu sâu hơn.
Công tác mô tả tài liệu ở Việt Nam xuất hiện cùng với sự ra đời của các
Trong lịch sử, TV đầu tiên ở nước ta xuất hiện từ thế kỷ XI – XII, ban đầu mang tính đơn giản, chủ yếu nhằm mục đích thống kê và bảo quản thông tin Đến thế kỷ XVIII – XIX, hai bộ thư mục lớn là “Nghệ Văn Chí” của Lê Quý Đôn và “Văn Tịch Chí” của Phan Huy Chú ra đời, cung cấp cái nhìn toàn diện về các sách vở và tài liệu từ thời Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI – XIX) Các thư mục này mô tả chi tiết các tài liệu, bao gồm tên sách, số quyển, tên người biên soạn, tiểu sử tác giả, năm viết, đặc điểm nổi bật và nội dung của từng cuốn sách, thậm chí ghi rõ tình trạng hiện còn hay mất của chúng.
Năm 1964, TVQG Việt Nam bắt đầu biên soạn một tập quy tắc mô tả sơ bộ gồm 8 yếu tố để hướng dẫn công tác biên soạn và sử dụng mẫu mã Đến năm 1976, quy tắc này đã chính thức được chỉnh sửa và biên soạn lại với tên gọi “Quy tắc mô tả mẫu dùng cho mục lục thư viện,” trong đó số yếu tố đã được rút gọn còn 7 yếu tố nhằm tăng tính hiệu quả và dễ ứng dụng trong thực tế.
Hiện nay, các TV ở Việt Nam áp dụng hai quy tắc mô tả chính là chuẩn quốc tế ISBD và quy tắc biên mục Anh – Mỹ AACR2 AACR2 được biên soạn dựa trên ISBD, do đó có nhiều điểm tương đồng về các vùng mô tả và dấu phân cách Tuy nhiên, AACR2 nổi bật với việc tạo nhiều điểm truy cập và quy định chi tiết trong lập tiêu đề cùng các yếu tố mô tả, giúp nâng cao tính đầy đủ và chính xác trong công tác biên mục.
Phân loại là thuật ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày và các ngành khoa học, giúp sắp xếp và tổ chức các sự vật, hiện tượng theo một trật tự có hệ thống Đây là hoạt động trí tuệ cơ bản của con người nhằm nhận biết và nghiên cứu các đối tượng đa dạng trong tự nhiên cũng như trong xã hội Việc phân loại đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức tri thức, giúp dễ dàng tìm kiếm, phân tích và hiểu rõ hơn về các sự vật, hiện tượng khác nhau.
Phân loại tài liệu là quá trình xử lý nội dung nhằm xác định đề tài chính của tài liệu và phản ánh thông tin về nội dung đó Quá trình này giúp phân chia tài liệu theo các môn ngành tri thức khác nhau dựa trên ký hiệu phân loại theo một bảng phân loại cụ thể Việc phân loại tài liệu không chỉ hỗ trợ tổ chức và quản lý kho dữ liệu hiệu quả mà còn cải thiện khả năng truy cập và tìm kiếm thông tin chính xác Đây là bước quan trọng trong quản trị tài liệu, giúp hệ thống hóa nội dung và phục vụ tốt hơn cho các mục đích nghiên cứu, học tập và lưu trữ lâu dài.
Phân loại tài liệu đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý thông tin tại Việt Nam và trên thế giới, giúp kiểm soát thư mục hiệu quả Quá trình phân loại này thúc đẩy việc khai thác và trao đổi thông tin một cách nhanh chóng và chính xác trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Do đó, việc phân loại tài liệu là khâu then chốt để nâng cao hiệu quả của hoạt động thư viện, lưu trữ và quản lý thông tin trong bối cảnh hiện đại.
Phân loại tài liệu đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát thư mục và tổ chức bộ máy tra cứu theo hệ thống phân loại, giúp việc biên soạn thư mục và tổ chức kho mở trở nên dễ dàng hơn Các nhà thư viện học đã khẳng định rằng, cơ sở của nghề thư viện chính là sách và nền tảng là phân loại tài liệu Việc xử lý tài liệu theo phân loại cho phép tổ chức các phương tiện tra cứu, như mục lục phân loại và cơ sở dữ liệu, một cách hiệu quả Tại các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XIX, phân loại đã trở thành công cụ chủ yếu để xếp giá trong hầu hết các thư viện, với các hệ thống phân loại như Dewey (DDC), UDC, BBK, và LCC, nhằm tối ưu hóa quá trình truy xuất thông tin.
1.1.3 Định chủ đề tài liệu Định chủ đề là quá trình xử lý nội dung tài liệu mà kết quả được thể hiện dưới dạng các đề mục chủ đề Đề mục chủ đề là một dạng ngôn ngữ tư liệu được sử dụng để mô tả một cách ngắn gọn chủ đề và góc độ nội dung của chủ đề cũng như của hình thức tài liệu Nói cách khác, đề mục chủ đề là một dạng tư liệu được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ tự nhiên có kiểm soát về mặt từ vựng và được trình bày theo nguyên tắc chính phụ Ngôn ngữ tư liệu là ngôn ngữ tìm tin do các nhà TV tạo ra để tiếp cận thông tin hay tài liệu Mỗi đề mục chủ đề có thể là tên gọi của một vấn đề, một sự vật, hiện tượng, một địa danh, một nhân vật nổi tiếng hoặc chữ viết tắt thông dụng Ở Việt Nam, công tác định chủ đề tài liệu đã bắt đầu được triển khai từ thuộc Pháp Ở các TV lớn như: TV Trung ương Đông Dương (nay là TVQG Việt Nam), TV trường Viễn Đông Bác Cổ, TV trường Đại học Y Dược, mục lục chủ đề được tổ chức cùng với mục lục tác giả Mục lục chủ đề là loại mục lục cơ bản phản ánh nội dung vốn tài liệu trong những năm đầu thế kỷ XX Ở trong các TV lớn, các đề mục chủ đề được xây dựng bằng tiếng Pháp do đối tượng sử dụng vào thời bấy giờ chủ yếu là người Pháp và các công chức phục vụ cho Pháp
Từ năm 1954 đến năm 1960, sau khi tiếp quản Hà Nội, các TV lớn ở
Hà Nội tiếp tục duy trì việc tổ chức mục lục chủ đề như là ngôn ngữ tìm tin cơ bản và duy nhất theo nội dung Trong các TV lớn, hệ thống đề mục chủ đề bằng tiếng Việt đã được xây dựng và sử dụng hiệu quả, tuy nhiên việc thực hiện còn mang tính tùy tiện và chưa được chuẩn hóa Tại TVQG Việt Nam, mục lục chủ đề được tổ chức đến năm 1960, trong khi Viện Thông tin Khoa học Xã Hội chỉ duy trì đến năm 1958 Những năm đầu thập niên 1960, nhiều TV ở miền Bắc đã ngưng định chủ đề và xây dựng mục lục chủ đề, chịu ảnh hưởng từ các nhà TV Liên Xô cho rằng mục lục phân loại là phương pháp phản ánh nội dung kho sách một cách khoa học nhất Các trung tâm lớn như TVQG, TV Khoa học Kỹ Thuật Trung Ương, và TV Khoa học Xã hội chỉ giữ lại hệ thống mục lục phân loại mà không tổ chức thêm mục lục chủ đề.
Từ năm 1980 đến nay, việc tổ chức mục lục chủ đề đã được quan tâm và phát triển đáng kể Tuy nhiên, do tính chất và đặc thù của các tạp chí chuyên ngành, cùng mục đích phục vụ cán bộ và sinh viên nghiên cứu nhiều ngành khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm kiếm theo chủ đề vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Một số tạp chí tự biên soạn bảng danh mục chủ đề riêng nhằm nâng cao khả năng tra cứu và phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực chuyên môn.
Trong các trường đại học Y dược, các chương trình đào tạo TV thường sử dụng các bảng đề mục chủ đề bằng tiếng nước ngoài, như thuốc hay các thuật ngữ chuyên ngành, mà không cần phải dịch sang tiếng Việt Điều này giúp duy trì độ chính xác và nhất quán trong nội dung giảng dạy, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Trước đây, nhiều trường đã thay thế hoặc bổ sung các đề mục này từ các nguồn nước ngoài để nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận kiến thức chuyên sâu cho sinh viên Việc sử dụng thuật ngữ bằng các ngôn ngữ nước ngoài còn góp phần nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành y dược, tạo thuận lợi cho sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu quốc tế.
Tổng quan về công tác biên mục
1.2.1 Tổ chức mục lục truyền thống
Mục lục là danh mục hoặc bảng kê các tài liệu được sắp xếp theo trình tự nhất định nhằm giới thiệu và phản ánh đặc trưng vốn tài liệu của một hoặc nhóm tài liệu Việc xây dựng mục lục rõ ràng giúp người đọc dễ dàng tra cứu, nắm bắt nội dung chính của tài liệu một cách nhanh chóng và hiệu quả Mục lục đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và quản lý tài liệu, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng và khai thác nguồn tài liệu đó.
Việc tổ chức mục lục là rất cần thiết khi kho tài liệu hoặc sưu tập phát triển đến mức không thể nhớ hoặc kiểm soát từng tư liệu một cách dễ dàng Mục đích của công tác biên mục là giúp người đọc dễ dàng tìm kiếm và truy cập các tài liệu một cách nhanh chóng và chính xác Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thông tin.
TV có thể kiểm soát và quản lý các tài liệu trong hệ thống thông tin của mình Trong các TV Việt Nam, hệ thống mục lục truyền thống đóng vai trò thiết yếu trong việc lưu trữ và truy cập thông tin, đặc biệt trước khi tin học hóa trở nên phổ biến Hệ thống này phản ánh rõ nét kho sách của TV và kết nối giữa sách, người đọc cùng đội ngũ cán bộ TV Các loại mục lục thường gặp gồm có mục lục chữ cái, mục lục phân loại, mục lục theo chủ đề, mục lục công vụ và hộp phiếu bài trích, giúp tổ chức và truy cập dữ liệu hiệu quả hơn.
Vào đầu những năm 1960, tại một số nước phát triển trên thế giới, công nghệ tin học bắt đầu được ứng dụng vào hoạt động truyền hình Đây đánh dấu bước chuyển biến lớn, làm thay đổi căn bản tính chất nghề làm truyền hình khi hoạt động này ngày càng gắn liền với lĩnh vực thông tin Hệ thống biên mục của truyền hình cũng được tự động hoá, góp phần nâng cao hiệu quả và chính xác trong quản lý nội dung.
Biên mục đọc máy (MARC) xuất hiện vào khoảng năm 1960 với khổ mẫu MARC đầu tiên là khổ mẫu biên mục đọc máy của TV Quốc hội Mỹ
MARC là viết tắt của "Machine Readable Cataloguing" (Biên mục có thể đọc bằng máy), đã trở thành công cụ không thể thiếu trong hoạt động biên mục tự động Chức năng chính của MARC là sử dụng phần mềm hoặc phân hệ biên mục của phần mềm quản trị thư viện để tạo lập biểu ghi cho cơ sở dữ liệu thư mục và xây dựng các mục lục phù hợp Để quản lý tài liệu bằng máy tính, các thư viện phải xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) chứa các thông tin thư mục được mã hoá với dữ liệu dưới dạng có thể thao tác bởi máy tính, giúp truy cập và xử lý dữ liệu nhanh chóng Các chương trình quản trị CSDL thư viện thường có ba khổ mẫu chính: khổ mẫu hiển thị và in ấn, khổ mẫu nhập tin, và khổ mẫu trao đổi; trên thế giới đã tồn tại nhiều khổ mẫu như UKMARC, USMARC, AUSMARC, INTERMARC, CAN MARC Để phù hợp với xu thế toàn cầu, các thư viện và cơ quan thông tin đã chuẩn hóa để tạo ra một khổ mẫu chung, giúp việc trao đổi, chia sẻ tài liệu đã biên mục dễ dàng hơn Trong quá trình phát triển, cùng với UNIMARC, MARC21 ra đời dựa trên USMARC và CANMARC, cấu trúc của biểu ghi MARC21 gồm có ba thành phần chính.
Phần 1: Đầu biểu (Leader) là một trường dữ liệu đặc biệt có độ dài cố định 24 ký tự chứa các thông tin về quá trình xử lý biểu ghi
Phần 2: Thư mục hay còn gọi là danh mục(directory) là phần tiếp ngay sau đầu biểu Gồm một loạt nhóm dữ liệu chỉ dẫn về các trường dữ liệu có trong biểu ghi
Phần 3: Các trường dữ liệu: là những trường của biểu ghi chứa các dữ liệu mô tả Các trường này có thể có độ dài thay đổi hoặc cố định
Biểu ghi MARC chính là bản thiết kế xác định cách dữ liệu thư viện được sắp xếp và biểu diễn một cách hiệu quả Hệ thống bảng mã hóa ký hiệu của MARC21 được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo tính thống nhất và nhất quán trong việc mã hóa thông tin Điều này giúp tối ưu hóa quá trình trao đổi dữ liệu thư viện và nâng cao khả năng quản lý thông tin một cách chính xác.
Bảng mã tên các quốc gia Bảng mã các khu vực địa lý Bảng mã ngôn ngữ và một số bảng định danh khác
Hiện nay, khổ mẫu biên mục đọc máy MARC21 là tiêu chuẩn phổ biến nhất trên thế giới, được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống quản lý thư viện tự động Đây là định dạng giúp tối ưu quá trình nhập và xử lý dữ liệu, đảm bảo sự chính xác và nhất quán trong việc tổ chức thông tin thư viện Việc sử dụng khổ mẫu MARC21 góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và dễ dàng tích hợp với các hệ thống số hóa toàn cầu.
Vai trò của việc chuẩn hoá trong công tác xử lí tài liệu và biên mục
Quy tắc mô tả là cách trình bày dữ liệu thư mục theo một quy định chặt chẽ, cùng với các dấu hiệu dùng để xác định chúng
Hiện nay trên thế giới có hai quy tắc được sử dụng nhiều nhất đó là ISBD và AACR2
ISBD, hay Tiêu chuẩn Mô tả Thư viện Quốc tế, ra đời vào những năm 1970 nhằm chuẩn hóa cách mô tả tài liệu thư viện trên toàn cầu Đến năm 1985, tiêu chuẩn ISBD chính thức được áp dụng tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng và tính thống nhất trong quản lý tài liệu thư viện trong nước.
ISBD bao gồm các vùng mô tả sau:
Vùng 1: Nhan đề và thông tin trách nhiệm Vùng 2: Lần xuất bản
Vùng 3: Địa chỉ xuất bản Vùng 4: Đặc trưng số liệu Vùng 5: Tùng thư
Vùng 7: ISBN (Chỉ số sách quốc tế - International Standard Book Number)
Giá tiền, số bản in
AACR2 là quy tắc biên mục Anh – Mỹ do các nước nói tiếng Anh biên soạn và xuất bản lần đầu vào năm 1967, nhằm chuẩn hóa quy trình biên mục thư viện Năm 1978, nhờ sự hợp tác của Tổng vụ Thư viện Quốc gia của Anh, Mỹ và Canada, quy tắc này được chính thức xuất bản và nhanh chóng áp dụng rộng rãi trong ngành thư viện AACR2 đã được in lại vào năm 1998 và tiếp tục được cập nhật, tái bản vào các năm 1999, 2001, 2002 để phù hợp với sự phát triển của ngành thư viện và công nghệ thông tin.
AACR2 có 8 vùng dữ liệu
Vùng 1: Nhan đề và xác minh về trách nhiệm Vùng 2: Lần xuất bản
Vùng 3: Vùng đặc biệt Vùng 4: Vùng xuất bản Vùng 5: Vùng mô tả vật lý Vùng 6: Vùng tùng thư
Vùng 8: Vùng tiêu chuẩn (ISBN, ISSN, điều kiện có được tài liệu)
Việc ra đời và áp dụng các quy tắc mô tả theo chuẩn cho các loại hình tư liệu của TV đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu quốc tế về thông tin thư mục Các quy tắc này cho phép các nước trao đổi biểu ghi thư mục từ các nguồn khác nhau, khắc phục rào cản địa lý và ngôn ngữ nhờ hệ thống dấu phân cách thống nhất Nhờ đó, việc chuyển đổi các biểu ghi thư mục sang dữ liệu đọc bằng máy trở nên dễ dàng hơn Ngoài ra, các quy tắc mô tả còn giúp thống nhất cách mô tả tài liệu tại các TV, hạn chế tình trạng mỗi nơi có cách mô tả riêng biệt, nâng cao hiệu quả quản lý và tra cứu thông tin thư mục quốc tế.
Khung phân loại là hệ thống dạng sơ đồ phản ánh mối quan hệ logic và đẳng cấp theo thứ bậc giữa các khái niệm trong ngành tri thức, nhằm mục đích hỗ trợ việc phân loại tài liệu một cách chính xác Trong khung phân loại tri thức (TV), toàn bộ tri thức được chia thành các đề mục rõ ràng, trong đó các khái niệm được sắp xếp theo trình tự từ chung đến riêng, từ tổng quát đến chi tiết, cũng như từ lý thuyết đến thực tiễn.
Một số khung phân loại được biết đến nhiều như: DDC, UDC, BBK, LCC
Dewey Decimal Classification (DDC) là hệ thống phân loại tài liệu phổ biến và uy tín toàn cầu, được nhiều quốc gia sử dụng nhờ những ưu điểm vượt trội như tính cập nhật nhanh chóng và phù hợp cho hệ thống OCLC Hệ thống DDC chia tri thức thành 10 lớp chính từ 000 đến 900, tạo điều kiện dễ dàng trong việc tổ chức và truy xuất thông tin hiệu quả Hiện tại, Việt Nam đã dịch và xuất bản bản rút gọn của DDC 14 ấn bản mới nhất bằng tiếng Việt, góp phần nâng cao năng lực quản lý tài liệu và thư viện trong nước.
Việt Đây là dấu hiệu cho thấy DDC là một khung phân loại đang được Việt Nam đặc biệt quan tâm
Được hoàn thành vào năm 1968, BBK ban đầu được biên soạn để phục vụ cho một số TV lớn tại Liên Xô và sau đó mở rộng đến nhiều loại TV khác Tại Việt Nam, có 3 phiên bản lớn của BBK do TV Khoa học Kỹ thuật Trung Ương, Viện Thông tin Khoa học Xã hội và TVQG Việt Nam biên soạn Các phiên bản tiếng Việt của BBK sử dụng chữ cái tiếng Việt kết hợp với chữ cái Latinh từ A đến Z để thể hiện 28 dãy cơ bản Mặc dù sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, xu hướng sử dụng BBK trên toàn cầu giảm sút, nhưng ở Việt Nam, BBK vẫn là hệ thống phân loại phổ biến trong các TV lớn, viện nghiên cứu và trường đại học.
Universal Decimal Classification (UDC) ra đời vào năm 1895 tại Bỉ dựa trên khung phân loại DDC, và đã được phát triển qua nhiều hình thức như UDC đầy đủ, UDC cỡ trung bình, UDC rút gọn và UDC chuyên ngành Hiện nay, UDC đã được dịch sang tiếng Việt, gồm bảng chính, 7 bảng trợ ký hiệu và bản tra cứu chủ đề để hỗ trợ phân loại tài liệu hiệu quả Trong bảng chính, tri thức được chia thành 10 lớp cơ bản từ 0 đến 9, giúp tổ chức và quản lý thông tin theo hệ thống rõ ràng Mặc dù UDC đáp ứng tốt yêu cầu phân loại tài liệu, nhưng so với DDC thì UDC ít phổ biến hơn trong thực tiễn sử dụng.
LCC (Lớp Chuyên Chủng) là khung phân loại TV của Quốc hội Mỹ gồm 20 lớp cơ bản, được thể hiện bằng các chữ cái từ A đến Z Mặc dù mang tính dân tộc và quốc gia cao, khung phân loại này vẫn có những ưu điểm riêng, được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học tại nhiều quốc gia Ở Việt Nam, ngoài hệ thống phân loại này, còn có bảng phân loại 19 lớp dành cho trường phổ thông và các cơ quan thông tin, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Khổ mẫu biên mục là tập hợp các quy định về cấu trúc biểu ghi của CSDL, giúp đảm bảo việc trình bày và sắp xếp dữ liệu một cách hệ thống và dễ hiểu Nó đề cao phương pháp mã hóa thông tin dựa trên phân tích sâu sắc các yếu tố thư mục, tối ưu hóa quá trình quản lý dữ liệu trong cơ sở dữ liệu Khổ mẫu biên mục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và duy trì các hệ thống quản lý dữ liệu hiệu quả, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về lưu trữ thông tin.
Hiện nay trên thế giới hình thành 2 khổ mẫu là UNIMARC và MARC
21 Cho đến nay MARC là khổ mẫu được sử dụng thông dụng hơn trong biên mục tự động
Khổ mẫu biên mục là công cụ quan trọng giúp chuẩn hóa quá trình biên mục và tổ chức lưu giữ dữ liệu thư viện Mẫu MARC cho phép máy tính sắp xếp và lựa chọn dữ liệu biên mục theo các quy tắc nhất quán, hỗ trợ in ra các dạng thức như mục lục chủ đề, tác giả và các sản phẩm thông tin thư mục Các dạng sản phẩm này giúp việc tổ chức và trao đổi dữ liệu thư mục trở nên thuận tiện hơn, đóng vai trò then chốt trong việc thống nhất hoạt động biên mục và thúc đẩy việc trao đổi dữ liệu thư mục toàn cầu Tại Việt Nam, trước đây chưa có sự thống nhất về việc sử dụng các khổ mẫu MARC, nhiều tổ chức đã tự biên soạn MARC riêng Tuy nhiên, cộng đồng thư viện Việt Nam đã thống nhất lựa chọn MARC 21 làm tiêu chuẩn chính thức để thực hiện công tác biên mục, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu thư viện quốc gia.
Các công cụ kiểm soát
Kiểm soát tính thống nhất đảm bảo sự nhất quán trong cách diễn đạt các tiêu đề hay điểm truy nhập, phản ánh mối quan hệ giữa các đối tượng như tên người, tác phẩm hoặc chủ đề core Quá trình này tuân thủ các quy tắc mô tả đối với tên người và nhan đề hoặc theo khung đề mục chủ đề, ví dụ như khung đề mục của TV quốc hội Mỹ LCSH hoặc bộ từ khoá có kiểm soát Việc tra cứu trong từ điển từ chuẩn (thesaurus), hộp phiếu hoặc tệp quy định giúp duy trì tính thống nhất trong mô tả dữ liệu.
Bảng đề mục chủ đề của TV quốc hội Mỹ được xây dựng dựa trên các đề mục chủ đề do TV soạn thảo từ năm 1898 Phiên bản đầu tiên, có tên gọi “đề mục chủ đề sử dụng cho mục lục kiểu từ điển của TV quốc hội Mỹ”, đã được phát hành vào năm 1978 với tên mới là “Đề mục chủ đề của TV quốc hội” Bảng đề mục này giúp tổ chức nội dung một cách hệ thống và dễ tra cứu, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và quản lý thông tin trong các hoạt động của quốc hội Mỹ.
Năm 1993, bảng đề mục chủ đề của TV Quốc hội lần thứ 16 được xuất bản, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thông tin Tại Việt Nam, nhiều bộ từ khóa và từ điển từ khóa đã được biên soạn để kiểm soát nội dung, bao gồm Bộ từ khóa quy ước của TVQG (được chỉnh sửa và đổi tên thành Bộ từ khóa vào năm 2005), Bộ từ khóa Khoa học và Công nghệ của TTTT KH & CNQG, cùng với Bộ từ khóa Khoa học Xã hội và Nhân văn của Viện Thông tin Khoa học Xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thông tin khoa học và kỹ thuật.
Các công cụ kiểm soát đóng vai trò then chốt trong hoạt động xử lý thông tin, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình này Chúng tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng trong việc tìm kiếm và khai thác dữ liệu, đặc biệt khi xử lý các mục lục có hàng ngàn, hàng vạn biểu ghi Nếu không có các công cụ kiểm soát, chất lượng biên mục tra cứu sẽ bị giảm, dễ gây ra hiện tượng tản mạn hoặc mất thông tin.
1.3.2 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc chuẩn hoá trong công tác xử lí tài liệu và biên mục đối với các thư viện Việt Nam
Việc thống nhất và chuẩn hóa tổ chức cũng như nghiệp vụ của Thư viện Việt Nam luôn là vấn đề được cộng đồng thư viện trong nước, các nhà nghiên cứu, ban lãnh đạo Vụ Thư viện – Bộ VHTT-DL, Thư viện Quốc gia Việt Nam và các thư viện quan tâm đề cập từ rất sớm, bắt đầu từ những năm trước Trước năm 2000, mạng lưới thư viện Việt Nam phát triển nhanh nhưng thiếu sự thống nhất về tổ chức và nghiệp vụ, từ phân loại, mô tả đến biên mục, đều thiếu chuẩn mực chung Tại hội thảo quốc tế “Hệ thống và tiêu chuẩn cho thư viện Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội năm 2001, các đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ VHTT-DL, Bộ Giáo dục – Đào tạo cùng giám đốc các thư viện và trung tâm thông tin đã nhất trí về việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ như Khung phân loại Dewey (DDC), MARC21 và AACR2 trong hoạt động thư viện Văn bản số 1598/BVHTT ngày 7/5/2007 đã khuyến cáo các thư viện nên sử dụng các tiêu chuẩn này, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan chức năng, giúp nâng cao hiệu quả xử lý tài liệu và biên mục trong hoạt động thư viện.
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHIỆP VỤ
Xu hướng áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lí tài liệu và biên mục ở Việt Nam
Hội nghị quốc tế tại Đại học Malaya, Malaysia năm 1997 và tại Đại học East Anglia, Anh Quốc năm 1998 đều khẳng định rằng thư viện thế giới ngày nay đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có Các hội nghị này nhấn mạnh sự bùng nổ về nội dung và công nghệ, góp phần thúc đẩy sự thay đổi trong cách quản lý và phục vụ thư viện Phát triển này đặc biệt rõ rệt trong các thư viện đại học, khi chuyển đổi số và áp dụng công nghệ mới đã trở thành xu hướng tất yếu Những kết luận này cho thấy sự cấp thiết của việc thích nghi với tiến trình phát triển nhanh của thư viện toàn cầu.
Sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đang tác động sâu sắc đến quản trị doanh nghiệp Cùng với sự tiến bộ của truyền hình, các công nghệ mới giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu hóa quy trình và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong tổ chức Việc tích hợp các giải pháp công nghệ hiện đại đã trở thành yếu tố quyết định thành công trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Các TV trên toàn cầu hiện đã có khả năng chia sẻ tài nguyên dễ dàng, thúc đẩy nhu cầu tiêu chuẩn hóa ở quy mô quốc gia và quốc tế Việc này là điều kiện thiết yếu để xây dựng các hệ thống TV thông tin hiệu quả và liên kết toàn cầu.
Hệ thống tiêu chuẩn trong hoạt động truyền hình thông tin ở Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều cá nhân và tổ chức Sự chuyển đổi từ mô hình hoạt động biệt lập, cát cứ sang hình thức liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan truyền hình đặt ra yêu cầu về việc xây dựng và áp dụng nhiều tiêu chuẩn phù hợp Việc áp dụng các tiêu chuẩn này giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động truyền hình, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành truyền thông tại Việt Nam.
Từ khoảng đầu những năm 2000, vấn đề về việc nghiên cứu và thiết lập hệ thống MARC Việt Nam đã trở thành trung tâm của nhiều cuộc thảo luận khoa học quy mô quốc gia và ngành Các hội thảo và đề tài nghiên cứu về US MARC (2000) cùng các diễn biến sau đó đã đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có cần thiết phải phát triển hệ thống MARC riêng hay không, đồng thời nhanh chóng chuyển sang các dự án nghiên cứu, phiên dịch và áp dụng MARC 21 Những sự kiện này đã trở thành điểm nhấn khoa học và thực tiễn nổi bật trong toàn hệ thống các tổ chức thư viện và lưu trữ của Việt Nam.
TV, cơ quan thông tin của nước ta gần đây
Từ năm 2002, khi tiêu chuẩn Dublin Core được giới thiệu, việc mô tả thư mục cho dữ liệu dạng số đã bắt đầu phổ biến tại Việt Nam Xu thế gia tăng nguồn tin số hóa ngày càng rõ rệt, và Dublin Core trở thành tiêu chuẩn quan trọng trong việc quản lý và chia sẻ dữ liệu trực tuyến Việc áp dụng tiêu chuẩn này giúp nâng cao khả năng tổ chức, truy xuất và kiểm soát thông tin số hiệu quả hơn.
Các hoạt động xây dựng, áp dụng và phổ biến các tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ trong truyền hình và cơ quan thông tin đã thu hút nguồn đầu tư đáng kể từ Chính phủ, tổ chức quốc tế và các đối tác nước ngoài Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với việc nâng cao chất lượng và sự chuyên nghiệp của ngành truyền thông Việc đầu tư này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các lĩnh vực truyền hình và thông tin, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của các cơ quan truyền thông trong khu vực và quốc tế.
Việt Nam gia nhập WTO đã thúc đẩy quá trình chuẩn hoá trở thành yêu cầu bắt buộc trong mọi ngành nghề và hoạt động của xã hội Chuẩn hoá là quá trình thiết kế và thực thi các tiêu chuẩn nhằm thiết lập quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính phù hợp cho các hoạt động và kết quả hoạt động, giúp đạt được trật tự tối ưu trong môi trường cụ thể (theo TCVN 6450:1998) Tiêu chuẩn là tài liệu được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền, nhằm đảm bảo tính lặp lại, phù hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động Chuẩn hoá là bước chuyển từ ý tưởng cá nhân sang ý tưởng chung, từ hỗn độn đến trật tự, và từ tùy hứng sang quy luật rõ ràng.
Trong ngành thư viện thông tin, quan niệm chuẩn hoá đã phát triển từ hình ảnh TV đơn độc chỉ quản lý tư liệu trong phạm vi quốc gia hoặc từng thư viện riêng lẻ, sang một hình thức mở rộng hơn theo hướng hợp tác liên kết khu vực và toàn cầu Khi nhu cầu tìm kiếm thông tin ngày càng tăng cao trong xã hội, chuẩn hoá thông tin bắt đầu dựa trên quan điểm chính trị, tôn giáo và các yếu tố khu vực, thúc đẩy sự phối hợp giữa các thư viện quốc gia và các tổ chức quốc tế Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, vai trò của cán bộ thư viện đã chuyển sang quản lý thông tin toàn diện nhằm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu về dữ liệu trong kỷ nguyên xã hội thông tin, đồng thời thúc đẩy liên kết thông tin toàn cầu để tối ưu hoá dịch vụ và chia sẻ kiến thức.
Việc chuẩn hóa hoạt động truyền thông và xử lý tài liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho người đọc và người dùng tin Trong các hoạt động của truyền thông, chuẩn hóa trong xử lý nghiệp vụ giúp đảm bảo tính nhất quán và chính xác của thông tin, bao gồm các công đoạn như mô tả, phân loại, định chủ đề, xác định từ khóa, tóm tắt và chú giải tài liệu Quá trình xử lý tài liệu là bước trung tâm trong hệ thống cung cấp thông tin, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kiểm soát thư mục, tổ chức bộ máy tra cứu, lưu trữ và tìm kiếm thông tin Chính vì thế, việc chuẩn hóa trong các khâu nghiệp vụ không chỉ giúp nâng cao chất lượng công tác truyền thông mà còn thúc đẩy tự động hóa và áp dụng công nghệ thông tin, tối ưu hoá hoạt động của các đơn vị truyền thông trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ hiện nay.
Văn bản số 1598/Bộ VHTT (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ngày 7 tháng 5 năm 2007 của Bộ Văn hóa – Thông tin là văn bản quan trọng chỉ đạo về việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lý tài liệu tại Việt Nam Theo chỉ thị của Bộ, các thư viện ở Việt Nam được khuyến khích triển khai áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế như DDC, MARC 21 và AACR2 để nâng cao hiệu quả biên mục và quản lý tài liệu Việc thực hiện các chuẩn này bắt đầu từ ngày 1 tháng 6 năm 2007, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và tiện ích trong công tác xử lý tài liệu thư viện trên toàn quốc.
Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới diễn ra song song với quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác truyền văn Đặc biệt, chuẩn biên mục MARC21 chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi máy tính đã được cài đặt đầy đủ phần mềm phù hợp Việc kết hợp này giúp nâng cao hiệu quả quản lý và chia sẻ tài liệu trong thư viện.
Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin đã có bước phát triển mạnh mẽ và được tích hợp ngày càng phổ biến trên các dòng TV, giúp thay đổi đáng kể về tính năng và diện mạo của thiết bị Các mẫu TV tích hợp khổ mẫu này mang lại trải nghiệm hình ảnh tối ưu hơn, nâng cao khả năng kết nối và cung cấp nhiều tiện ích đa dạng cho người dùng Nhờ đó, khái niệm về tivi đã trở nên đa dạng, hiện đại và phù hợp hơn với xu hướng công nghệ tiên tiến.
TV đã mở rộng nhưng theo UNESCO, thư viện vẫn được hiểu là bất kỳ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ, tài liệu đồ họa, nghe nhìn, với nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức để người đọc sử dụng, nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí.
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc chuẩn hóa các khâu công tác liên quan đến xử lý tài liệu là điều thiết yếu để các TV có thể chia sẻ và trao đổi thông tin hiệu quả Hội thảo tổng kết 8 năm thực hiện pháp lệnh TV đã đưa ra những kết quả quan trọng dựa trên khảo sát tại 42 TV, gồm 31 trường đại học, cao đẳng và 11 TV tỉnh, thành phố trên cả nước Qua đó, đã làm rõ tầm quan trọng của việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ TV nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và lưu trữ tài liệu trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế.
28 TV đã triển khai áp dụng MARC21, chiếm 66,6 %
26 TV đã triển khai áp dụng DDC, chiếm 61,9 %
10 TV đã triển khai áp dụng AACR2, chiếm 23,8 %