Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 28 câu – có liên hệ Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 28 câu – có liên hệ 1 Câu 1 Phân tích vai trò của NAQ đối với sự thành lập Đảng Nêu giải pháp để phát huy va[.]
Trang 1Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 28 câu – có liên hệ Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 28 câu – có liên hệ 1
Câu 1: Phân tích vai trò của NAQ đối với sự thành lập Đảng Nêu giải pháp để phát huy vai trò của người đứng đầu cấp uỷ hiện nay 1
Câu 2: Phân tích nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên? Giá trị lý luận và thực tiễn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam? 4
Câu 3: Phân tích nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam” Nêu suy nghĩ của bản thân về vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay 6
Câu 4: Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của CMT8 năm 1945 9 Câu 5: Phân tích sự chủ động, sáng tạo của Đảng trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc (giai đoạn 1930-1945) 11 Câu 6 Phân tích nội dung đường lối của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp? Làm rõ cơ
sở xây dựng đường lối chính trị đúng đắn trong cách mạng Việt Nam của Đảng? 13
Câu 11 Phân tích ý nghĩa thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay 23 Câu 12 Phân tích những thành tựu và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng XHCN ở Miền Bắc Liên hệ với việc hoạch định xây dựng đường lối xây dựng CNXH trong bối cảnh hiện nay 28 Câu 13: Phân tích quá trình tìm tòi khảo nghiệm đổi mới từng phần (1979 - 1986) 30 Câu 14: Phân tích thành tựu, hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng XHCN từ 1975-
1986 Vận dụng liên hệ hoạch định đường lối xây dựng CNXH trong giai đoạn hiện nay? 32 Câu 16: Phân tích những điểm mới về đặc trưng xây dựng CNXH của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011) và nêu giải pháp để hiện thực hóa những đặc trưng trên tại cơ quan, đơn vị đồng chí? 37 Câu 17 Phân tích những thành tựu và hạn chế về kinh tế xã hội sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới.
40
Câu 18 Phân tích quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn 1954-1975? Trong bối cảnh hiện nay, Đảng tiếp tục phải làm gì để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? 42 Câu 20 Phân tích nội dung của mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới Làm
rõ sự cần thiết phải kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong bối cảnh hiện nay 45
Câu 21: Phân tích chủ trương của Đảng về khối Đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn 1930-1945 Trong bối cảnh hiện nay, Đảng phải làm gì để phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết dân tộc? 50Câu 22: Phân tích thành tựu chủ yếu trong quá trình Đảng lãnh đạo phát huy khối đại đoàn kết dân tộc 1930-1945 Từ thực tiễn tại địa phương nơi công tác, đề ra giải pháp xây dựng nâng cao hiệu quả khối đạiđoàn kết toàn dân tộc 52Câu 23 Phân tích chủ trương của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc giai đoạn 1945-1975 Làm gì để phát huy sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay 56Câu 24: Phân tích quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại giai đoạn 1954– 1975 Làm rõ sự cần thiết phải kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay 58Câu 25: Phân tích quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong thời kỳ đổi mới (1986-nay) Trong bối cảnh hiện nay, Đảng phải làm gì để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới 64
Câu 26 Phân tích phương pháp dự báo và dự đoán trong chớp thời cơ trong cách mạng dân tộc dân chủ Làm rõ tầm quan trọng của phương pháp trên trong bối cảnh hiện nay 68
Câu 27 Từ thực tiễn lịch sử VN trong thời kỳ kháng chiến chống TD Pháp, phân tích việc hoạch định đường lối chính trị đúng đắn là một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Làm rõ tầm quan trọng của việc hoạch định đường lối của Đảng trong giai đoạn hiện nay 70
Câu 28 Phân tích việc hoạch định đường lối đúng và bản lĩnh chính trị vững vàng là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay, cần phải có những điều kiện cơ bản nào nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam 74
Trang 2Câu 1: Phân tích vai trò của NAQ đối với sự thành lập Đảng Nêu giải pháp để phát huy vai trò của người đứng đầu cấp uỷ hiện nay.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là kết quả của sự chuẩn bị công phu và khoa học của lãnh tụNAQ trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức
1 Phân tích vai trò:
Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1-9-1858) đến những thập niênđầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh của các sĩ phu yêu nước đã liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị tànbạo của chủ nghĩa thực dân, nhưng tất cả đều thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn, thiếu một phươngpháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc
Ngày 5-6-1911, Người đã ra đi tìm con đường cứu nước
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người
đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
Tháng 7- 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản'' 1 Đó là con đường giải phóng dân
tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới.
Để biến mục tiêu, lý tưởng cách mạng thành hiện thực vấn đề được Người quan tâm hàng đầu là sớm lập
ra Đảng Cộng sản, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Vì theo Người, cách
mạng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh”
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Người vừa tiếp tục hoạt động trong ĐảngCộng sản Pháp, nghiên cứu học tập, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điềukiện cần thiết để thành lập một Đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam
Về tư tưởng: Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân
đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) nhằm làm chuyển
biến nhận thức của quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác - Lênin từngbước chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước xích dần đếnlập trường của giai cấp công nhân.
Nội dung truyền bá là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin được cụ thể hóa cho phù hợpvới trình độ của các giai tầng trong xã hội
Người đã sử dụng những phương pháp thích hợp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam: từ chỗthức tỉnh đến định hướng hành động, rồi đào tạo đội ngũ những người tuyên truyền thông qua một tổ chứcvừa tầm thích hợp Những phương pháp tuyên truyền từ thấp lên cao, phù hợp với điều kiện một nướcthuộc địa nửa phong kiến.
Về chính trị: Người phác thảo những vấn đề cơ bản của đường lối cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt
Nam, thể hiện tập trung trong những bài giảng của Người cho những cán bộ cốt cán của Hội Việt Namcách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) Năm 1927, được in thành sách lấy tên là “ĐườngCách mệnh” Những vấn đề then chốt trong tác phẩm có tác dụng lớn không chỉ đối với Việt Nam, màcòn đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Phương Đông Những vấn
đề đó là: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chủ yếu là công nông, vì vậy phải tổ chức quần chúnglại; cách mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo; phải có đường lối và phương phápcách mạng đúng; cách mạng giải phóng dân tộc phải liên hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới…Người nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam như tính chất giải phóng dân tộc của cáchmạng, những động lực chủ yếu của nó - công nhân và nông dân là “gốc cách mệnh”, “học trò, nhà buôn,
điền chủ nhỏ” là bầu bạn cách mệnh của công nông Người còn nêu quan điểm cực kỳ quan trọng: Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
Người xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Luận điểm trên
là cụ thể hóa và phát triển quan điểm của Người đã nêu trước đây về tính chủ động và khả năng thắng lợitrước của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng chính quốc Những nội dung đó đem đến cho quầnchúng niềm tin, quyết tâm chủ động đứng lên làm cách mạng cứu nước, cứu nhà.
Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị rất lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn Nó là ngọn cờ dẫn
dắt cách mạng Việt Nam trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối
Trang 3của cách mạng Việt Nam, vạch ra phương hướng cho cách mạng nước ta đi vào quỹ đạo của cách mạng
vô sản thế giới, góp phần chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng; là thành công nổi bật của Người trong chuẩn bị về chính trị và tư tưởng.
Về tổ chức: cùng với việc truyền bá lý luận chính trị để chuẩn bị cho sự ra đời của một chính Đảng, Người đã
dày công chuẩn bị về mặt tổ chức đó là huấn luyện, đào tạo cán bộ, từ các lớp huấn luyện do Người tiến hành
ở Quảng Châu (Trung Quốc) tiến tới thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925) để vừa chuẩn bịcán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là một tổ chức tiền thân có tính chất quá độ, vừa tầm, thíchhợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam bấy giờ Nó giúp cho những người Việt Nam yêu nước xuất thân từ
các thành phần, tầng lớp dễ tiếp thu tư tưởng cách mạng của Người, phản ánh tư duy sáng tạo và là thành công của Người trong chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đảng ra đời.
Vì vậy, từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930 đã có 3 tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập, gồm: Đông
Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ,
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ
Do sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽlớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong tràocách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam
Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổchức cộng sản đã diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất,
lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ngườisáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta
2 Giải pháp phát huy
2.1 Bối cảnh
Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng,
88 năm qua Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tựđổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợikhác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khókhăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụchiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng - an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại,nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế,khuyết điểm Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi cònđơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp,thậm chí có nơi mất sức chiến đấu Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém Nhiềucán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu
Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn đang đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễnbiến", "tự chuyển hoá", "phi chính trị hoá" Quân đội Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, cuộc đấutranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn lâu dài, không ít khó khăn
Nhằm thực hiện nhiệm vụ ấy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có vai trò quan trọngđặc biệt Để người đứng đầu phát huy hết vai trò tích cực cũng như trách nhiệm của mình trong công táccán bộ, thiết nghĩ cần phải triển khai những biện pháp sau:
Trang 4Trước hết, người đứng đầu phải nhận thức được vai trò, trách nhiệm bản thân mình trong thực thi nhiệm
vụ được giao, từ đó không ngừng học tập, rèn luyện để có những phẩm chất, năng lực và uy tín cần thiếtphục vụ công tác lãnh đạo, quản lý
Nghiêm túc thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của BCH TƯ Đảng về “Quy định tráchnhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viênBan Chấp hành Trung ương”
Hai là, cần phân công, phân cấp mạnh hơn về công tác cán bộ, tạo điều kiện cho người đứng đầu có vai
trò, quyền hạn và trách nhiệm nhiều hơn nữa trong công tác cán bộ
Ba là, trong công tác cán bộ, người đứng đầu phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, qua đó giữ
vững sự lãnh đạo thống nhất của cấp uỷ trong công tác cán bộ; bảo đảm tính dân chủ, khách quan, chọnđược cán bộ đủ tiêu chuẩn khi bổ nhiệm vào vị trí công tác
Bốn là, cùng tập thể cấp uỷ xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng được yêu cầu đặt ra Năm là, quan tâm bồi dưỡng đội ngũ những người đứng đầu cả về trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp
vụ và năng lực quản lý, tổ chức thực tiễn
Sáu là, cấp uỷ, người đứng đầu cấp trên cần thường xuyên kiểm tra, giám sát cấp uỷ, người đứng đầu cấp
dưới trong thực hiện công tác cán bộ; tạo điều kiện cho họ phát huy vai trò, trách nhiệm của mình cũngnhư kịp thời khắc phục những lệch lạc, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
Câu 2: Phân tích nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên? Giá trị lý luận và thực tiễn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam?
1 Nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
1.1 Hoàn cảnh ra đời:
Đầu năm 1930, trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, Nguyễn Ái Quốc với tưcách là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản lại thành mộtchính đảng duy nhất của Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc)
Hội nghị đã thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Đó là các văn kiện: Chánhcương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt củaĐảng Cộng sản Việt Nam Trong đó Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng đã phảnánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng ViệtNam Vì vậy, có thể khẳng định rằng Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng làCương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh ấy có giá trị lý luận và thực tiễn
to lớn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên các nội dung cơ bản sau:
*)Về lý luận dẫn đường, Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin Trong Điều lệ, khi đặt ra “lệ vào Đảng”, vấn đềnày được diễn đạt là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản”
*)Lực lượng cách mạng gồm toàn bộ những người Việt Nam yêu nước Cụ thể là:
- Công nhân, Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnhđạo được dân chúng”, “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp côngnhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”;
- Nông dân, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo”;
- Trí thức, tiểu tư sản, “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, TânViệt, v.v để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”, “Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phíagiai cấp vô sản”;
- Trung, tiểu địa chủ; tư bản bản xứ, “Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung”, “Đốivới tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”;
*)Về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương dùng phương pháp cách mạng bạo lực, “đánh trúc bọnđại địa chủ và phong kiến”, đánh đổ ách tư bản, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;
*)Về xây dựng xã hội mới, Đảng chủ trương:
- Về phương diện xã hội: (1) Dân chúng được tự do tổ chức; (2) Nam nữ bình quyền,v.v.; (3) Phổ thônggiáo dục theo công nông hóa
Trang 5- Về phương diện chính trị: (1) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; (2) Làm cho nướcNam được hoàn toàn độc lập; (3) Dựng ra Chính phủ công nông binh; (4) Tổ chức ra quân đội công nông.
- Về phương diện kinh tế: (1) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; (2) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp,vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý;(3) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo (người cày có ruộng); (4)
Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; (5) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp; (6) Thi hành luật ngày làm 8 giờ
*)Về quan hệ quốc tế, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng nêu rõ:
- “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liênlạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”
- “Đảng phổ biến khẩu hiệu “Việt Nam tự do” và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức vàquần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp”
2 Giá trị lý luận và thực tiễn
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn:
2.1 Giá trị lý luận
*) Cương lĩnh đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam
- Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tuy vắn tắt nhưng đã thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tựchủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ
XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giáđúng đắn, sát thực thái độ các giai cấp, tầng lớp của xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Từ đó,Cương lĩnh đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác địnhphương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiếnlược và sách lược đã đề ra
*) Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một văn kiện chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan của xã hội Việt Nam Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp
bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trìnhphát triển của cách mạng Việt Nam
*) Cương lĩnh là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa - phong kiến
Đó chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: kết hợp đúngđắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhândân với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tếtrong sáng; đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cáchmạng Việt Nam với tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thựctiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát triển trong điều kiện lịch sử mới
*) Con đường cách mạng vô sản mà Cương lĩnh đã khẳng định là con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ năm 1930
Trong bối cảnh những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng trầm trọng củaCNXH trên thế giới, ĐCS Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Cương lĩnh chính trịđầu tiên của Đảng đã nêu: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự
và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn
đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng”
Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệmcủa lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộcViệt Nam Từ khi Đảng ra đời đến nay, tinh thần của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng vẫn là ngọn
cờ dẫn dắt nhân dân Việt Nam đi lên trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.2 Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định sự đúng đắn của Cương lĩnhchính trị đầu tiên. Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt 85 năm qua dân tộc Việt Nam đã thay đổi cả vận mệnh củadân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.Những thắng lợi đó chứng tỏ đường lối quan điểm cơ bản của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; cácCương lĩnh chính trị của Đảng có giá trị to lớn và có sức sống mãnh liệt; con đường đi lên của cách mạngnước ta là phù hợp với quy luật khách quan và đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn Việt Nam
Khi đánh giá quá trình cách mạng Việt Nam hơn 80 năm thực hiện Cương lĩnh chính trị đầu tiêncủa Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ( bổ sung, phát triểnnăm 2011) đã nhận định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minhsáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt
Trang 6qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng ThángTám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâmlược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộcđổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bướcquá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.”
Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, ViệtNam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo conđường XHCN; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xãhội; đất nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, từng bước đẩy mạnh CNH, HĐH, có quan
hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới
Vận dụng những giá trị lý luận và thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng trong giai đoạnhiện nay, chúng ta cần phải nắm vững và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đây
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc luônluôn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau
Phải huy động được mọi nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân trên cơ sở liênminh giữa công nhân, nông dân và trí thức, bởi chính nhân dân là người làm nên lịch sử
Phải bảo đảm và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở
nguyên tắc tổ chức là tập trung dân chủ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đây là nhiệm vụ then chốt, có ý
nghĩa sống còn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cách mạng Phải phòng và chốngnguy cơ sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa biến chất của cán bộ, đảng viên
Hiện nay, nhân dân ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mởcửa, hội nhập, xây dựng và bảo vệ đất nước trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc.Tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh mặt thuận lợi, cũng có những khó khăn, thách thức; thậm chí
có những diễn biến phức tạp, khó lường Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là con đườngmới mẻ, chưa có tiền lệ, chúng ta phải vừa đi vừa dò đường, vừa làm vừa rút kinh nghiệm; không ít vấn
đề mới nảy sinh cần được nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ Với tinh thần đó mà Đại hội XI của Đảng(tháng 7-2011) đã xem xét, chỉnh sửa, bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dântrong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội
Hy vọng rằng, với những thành tựu và kinh nghiệm đã có, kế thừa và phát triển những di sản tư tưởng lýluận của Đảng ta trong 80 năm qua, tiếp thu, bổ sung những giá trị và nhận thức mới, chúng ta sẽ từngbước hoàn thiện quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạngtrong giai đoạn mới./
Câu 3: Phân tích nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam” Nêu suy nghĩ của bản thân về vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Phân tích nhận định
a Đảng ra đời là sự tất yếu lịch sử:
-Đó là kết quả chín muồi của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp trong thời đại lịch sử mới
-Đó là kết quả của sự chuẩn bị công phu và khoa học của lãnh tụ NAQ trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức
-Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa M-L với phong trào đấu tranh của GCCN và phongtrào yêu nước của nhân dân VN trong đầu thế kỷ XX Sự ra đời của ĐCSVN vừa thể hiện quy luật phổbiến của sự hình thành chính đảng CM của GCCN chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào công nhân vừathể hiện quy luật đặc thù VN chủ nghĩa ML kết hợp với phong trào CN và p/trào yêu nước VN
b Đảng CSVN ra đời đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng VN
-Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối gpdt "tưởng chừng không có lối ra" ở VN Mở ra 1thời kỳ mới: thời kỳ CMVN đi theo con đường CMVS, sự nghiệp gpdt gắn liền với giải phóng GCCN vàgiải phóng toàn xh, độc lập dt gắn liền với CNXH
-Kết thúc thời kỳ đấu tranh tự phát để chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác của GCCN Chứng tỏ GCCN
VN đã đến độ trưởng thành đủ sức nắm vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong cách mạng của mình
-Mở đầu 1 thời kỳ mới CMVN, đã có 1 nhân tố cơ bản nhất, quyết định nhất, để liên tục
dấy lên các cao trào cách mạng, đưa CMVN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Trang 7Phân tích
Đảng ra đời là bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng đường lối của Đảng là ngọn lửa soi
đường đưa Cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc
ta đã giành chiến thắng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và thu đượcnhững thành quả đáng kể trong công cuộc xây dựng nước nhà phát triển bền vững và giàu mạnh.
l Tình hình quốc tế và trong nước trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
a Hoàn cảnh quốc tế:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủnghĩa và mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng trở nên gay gắt Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu củacách mạng vô sản thế giới
Năm 1917, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ ra và giành thắng lợi tại Nga đã cổ vũ phong trào đấutranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt là nhân dân các nước thuộc địa.Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản II được thành lập Sự ra đời của Quốc tế cộng sản có ý nghĩa thúcđẩy phong trào đấu tranh của cộng sản và công nhân các nước trên thế giới
Năm 1920, tại Đại hội của Quốc tế Cộng sản III, trong bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương vấn
đề dân tộ và vấn đề thuộc địa của Lênin, đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộ thuộcđịa, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên lập trường của cách mạng vô sản
b Trong nước: Sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn
cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam
Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo,phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta
Về chính trị, chúng trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính sách
cai trị chuyên chế, biến một bộ phận của giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắclực, tạo nên sự cấu kết giữa chủ nghĩa đế quốc và phong kiến tay sai, đặc trưng của chế độ thuộc địa
Về kinh tế, chúng thực hiện chính sách độc quyền, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, vô nhân đạo, kể cả duy
trì bóc lột kiểu phong kiến đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng, làm cho nền kinh tế bị què quặt, lệ thuộcvào kinh tế Pháp, để lại hậu quả nghiêm trọng, kéo dài
Về văn hóa - xã hội, chúng thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hoá nô dịch, sùng Pháp,
nhằm kìm hãm nhân dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự cai trị của chúng
Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổilớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Nước ta từ chế độ phong kiến chuyểnsang chế độ thuộc địa nửa phong kiến Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toànthể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dânvới giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dânPháp Vì vậy, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai
không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân
chủ Đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra, cần được giải quyết
2 Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời
Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theonhiều khuynh hướng khác nhau, như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào CầnVương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng,Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học lãnh đạo Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùnganh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộckhởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xãhội Việt Nam Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Việc tìmmột con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhucầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ
3 Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và sự ra dời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm con đường cứu nước Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I.Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng
hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Trang 8Tháng 7- 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúngđắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản''; xác định những vấn đề cơ bản của
đường lối giải phóng dân tộc Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xãhội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới.
Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế
Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa; nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác -
Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).
Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng
1l-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh
niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) nhằm tuyên
truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước Người tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tụcchuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân
Việt Nam đón nhận như''người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn''. Nó lôi cuốn
những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh
mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đòihỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:
- Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ
- Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.
- Ngày l-l-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản tuyên bố thành lập Điều đóphản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, đồng thời sự tồn tại của ba tổchức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiếtcủa cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giaicấp công nhân và nhân dân Việt Nam
Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổchức cộng sản đã diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất,
lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước.Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấpcông nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ngườisáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta
Đảng CSVN ra đời với ngọn cờ cứu nước theo con đường vô sản đã được nhân dân, lịch sử ủng hộ, đón nhận.Đảng ra đời đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng củng cố truyền thống đoàn kết , trí tuệ kỷcương cho cả quá trình hoạt động về sau của Đảng Trước khi Đảng CSVN ra đời đã có nhiều tổ chứccộng sản nhưng giữa các đảng đó không thống nhất với nhau, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng,
Trang 9chia rẽ nhau Đó là tình trạng nguy hiểm ảnh hưởng không tốt tới phong trào cách mạng VN Do vậy sựthống nhất các tổ chức cộng sản o VN thành một ĐCS duy nhất là một điều kiện cực kỳ quan trọng trongthắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho đồng bào để tiến lên trên conđường của chủ nghĩa cộng sản.
Gần 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thốngnhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
II Suy nghĩ bản thân về vai trò của ĐCS trong tình hình hiện nay
Hiện nay, trong giai đoạn cách mạng mới, thế giới đã có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp, khó lường Trong nước, tuy đã có thành tựu và kinh nghiệm của 30 năm đổi mới, tạo ra thế và lực mới cho đất nước,nhưng "nước ta vẫn phải đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phứctạp Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại Tình trạngsuy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu,tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tựchuyển hóa" có diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện "diễn biến hòa bình", gây bạo loạnlật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta"
Trong bối cảnh, thời cơ và thách thức đan xen như hiện nay, Văn kiện Đại hội Đảng XII xác định việcPhát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; Xây dựng văn hóa con người là nềntảng tinh thần; Tăng cường quốc phòng an ninh
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tăng cường bản chấtgiai cấp công nhân và tính tiền phong để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có tầm trí tuệcao, có phương thức lãnh đạo khoa học
Xây dựng Đảng tập trung 4 nội dung: Chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức trong đó vai trò cá nhân chủyếu trong xây dựng Đảng về đạo đức ngay từ đh 11 đã xác định trong NQ 04 khóa 11 và NQ 04 khóa 12quy định 08 HNTW 8 khóa 12 trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu
Để làm tốt được các nhiệm vụ trên, cần tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau:
Một là, Đảng ta cần tiếp tục nâng tầm trí tuệ và đổi mới tư duy để lãnh đạo toàn diện đất nước phù hợp với
diễn biến nhanh chóng, mau lẹ của thực tế; phù hợp với đường lối đổi mới của cách mạng Việt Nam Mỗiđảng viên phải nhận thức đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình khi tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng
Hai là, nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy
Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội một cách toàn diện trên các
mặt phong cách, nội dung, phương pháp
Bốn là, mở rộng dân chủ ngoài xã hội; thực hành dân chủ thật sự trong Đảng Việc thực hành dân chủ
trong nội bộ Đảng rất quan trọng Trong Đảng có thật sự dân chủ thì mới có điều kiện mở rộng và pháthuy dân chủ của nhân dân
Năm là, tăng cường giữ gìn kỷ luật, tạo sự đoàn kết nhất trí của Đảng là sức mạnh vô địch của Đảng.
Đảng điều chỉnh hành vi của các tổ chức đảng, đảng viên bằng kỷ luật của mình Buông lỏng kỷ luật, sớmhay muộn Đảng sẽ bị suy yếu, tan rã
Câu 4: Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của CMT8 năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, đối với dân tộc ta cũng như đối với thời đại
1 Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm
a. Nguyên nhân thắng lợi:
- ĐCS ĐD là người tổ chức và lãnh đạo CM tháng 8 thắng lợi Đảng có đường lối CM đúng đắn, dày dặn kinhnghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởinghĩa giành chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhất, quyết đinh thắng lợi của CMT8
- Thắng lợi của CMT8 là kết quả của 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dung của nhiều đảng viêncông sản và quần chúng cách mạng đã hy sinh oanh liệt cho đọc lập, tự do của tổ quốc
- CMT8 nổ ra trong hoàn cảnh khách quan thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã
bị Liên xô và lực lượng đồng minh đánh bại, quân đội nhật ở đông dương mất hết tinh thần chiến đấu,chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã ĐCSĐD đã chớp thời cơ đó phát động nhân dân nổi dậy nên đã giànhthắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu
b. Ý nghĩa lịch sử:
- CMT8 1945 là một cuộc CM giải phóng dân tộc điển hình do ĐCSĐD lãnh đạo, lần đầu tiên giànhthắng lợi ở một nước thuộc địa Với thắng lợi của CMT8, nhân dân VN đã đập tan xiền xích nô lệ của chủnghĩa thực dân trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìnnăm, lập nên nước VNDCCH, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ
Trang 10- Thắng lợi của CMT8 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử của dân tộc CN, mở ra một kỷnguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chế độ XH mới.
- Về mặt quốc tế, CMT8 thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuojc địa của chủnghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, gópphần chống hiến lớn lao vào sự nghiệp giải trừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới
- Thắng lợi của CMT8 đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nướcthuộc địa trên thế giới
- CMT8 là thắng lợi của tư tưởng độc lập, tư do của HCM và đường lối CM giải phóng dân tộc đúng đắn,
tự chủ, sáng tạo của Đảng Nó chứng tỏ rằng: trong thời đại chúng ta, cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân
ở một nước thuộc đại do toàn dân nổi dậy dưới sự lãnh đạo của ĐCS, có đường lối CM đúng đắn, phùhợp với xu thế phát triển của thời đại thì hoàn toàn có khả năng thắng lợi
c. Một số kinh nghiệm:
CMT8 thắng lợi để lại cho Đảng và nhân dân VN nhiều kinh nghiệm có giá trị, góp phần làm phong phúthêm kho tàg lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc, đó là:
- Giương cao ngọn cờ đọc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến
- Đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất
- Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lựccách mạng một csach thích hợp
- Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ
- Xây dựng một đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo cách mạng
2 Vận dụng kinh nghiệm đó vào công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986 đến nay đã giành được những thắng lợi quan trọng:đất nước thoát khỏi khủng hoảng, trở thành nước có thu nhập trung bình; tiếp tục hội nhập ngày càng sâurộng và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiệnđại như Nghị quyết ĐHĐB toàn quốc lần thứ XII xác định
Trong quá trình đổi mới, những bài học kinh nghiệm rút ra từ CMT8/1945 vẫn còn phát huy giá trị:
*) Bài học về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tatiếp tục khẳng định giá trị bài học này Đảng ta xác định: CNXH chỉ có thể được thực hiện trong điềukiện độc lập dân tộc (ĐLDT) thực sự được đảm bảo Do đó, để đi lên CNXH trước hết phải ra sức củng
cố, bảo vệ vững chắc và phát huy cao độ giá trị của ĐLDT Coi đây là yếu tố tiên quyết, quyết định Mọi
xu hướng đi ngược lại hoặc ảnh hưởng đến ĐLDT là không thể chấp nhận Mặt khác, giá trị của ĐLDTchỉ có thể được phát huy trong điều kiện CNXH được thực hiện Do đó, gắn liền ĐLDT với CNXH là conđường tất yếu và xuyên suốt Mọi mưu toan tách rời hai giá trị này chỉ có thể bắt nguồn từ động cơ chốngphá Đảng khẳng định tiếp tục giương cao ngọn cờ ĐLDT gắn liền với CNXH là khẳng định lập trườngkiên định, nhất quán của chúng ta Mọi chiến lược, sách lược được xây dựng trong thời kỳ mới phải xoayquanh cái trục nhất quán ấy
Về mối quan hệ lợi ích Tổ quốc, dân tộc và lợi ích giai cấp, bộ phận phải được giải quyết hài hòa, đúngđắn với nguyên tắc bất biến là “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết” Lợi ích các giai cấp, tầng lớp, bộ phậnđược đối xử, giải quyết dân chủ, công bằng trong tương quan chung và phục tùng lợi ích dân tộc
Bản thân là cán bộ, đảng viên hiện nay (tùy vị trí công tác để liên hệ thêm) cần: nắm vững đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia tuyên truyền để nhân dân hiểu, cảnh giác vàchống lại các âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch bằng diễn biến hòa bình, bạo loạn lậtđổ; tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, từ đó các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp vào công việcnội bộ của đất nước, làm mất độc lập dân tộc Về vấn đề giai cấp, không ngừng nâng cao hiểu biết, cungcấp thông tin định hướng kịp thời để người lao động, đặc biệt là giai cấp công nhân đấu tranh chống lạichiêu trò dân chủ hình thức, „mị dân“ của các nước TBCN
*) Bài học về Đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất
Văn kiện ĐH XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp,vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng,Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bản thân là cán bộ, đảng viên hiện nay (tùy vị trí công tác để liên hệ thêm) cần: phát huy vai trò tiên
phong, gương mẫu của CBĐV tích cực tham gia và vận động người thân, gia đình, nhân dân tích cựctham gia các phong trào thi đua yêu nước ở cơ quan, địa phương, đơn vị như: phong trào toàn dân đoàn
Trang 11kết xây dựng đời sống văn hóa (phấn đấu đạt các danh hiệu gia đình VH, dòng họ VH, cơ quan đạt chuẩn
VH bền vững); tham gia xây dựng NTM; tự giác, gương mẫu trong việc góp ý xây dựng, chỉnh đốnĐảng bằng cách tự phê bình và phê bình theo NQTW4-XII, tạo sự thống nhất đoàn kết trong Đảng, cơquan, đơn vị; thực hiện Quyết định 217, 218 của BCT về giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và cácđoàn thể chính trị - xã hội, tạo sự đồn thuận trong xã hội thực hiện thắng lợi nghị quyết ĐH Đảng các cấp
đề ra cũng như các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị
*) Về vấn đề sử dụng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để giành và giữ chính quyền
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay đang đòi hỏi chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo bài học
về sử dụng bạo lực cách mạng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, thực hiện tốt mục tiêu,nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữvững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữvững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt độngchống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thốngmang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống
Bản thân là cán bộ, đảng viên hiện nay (tùy vị trí công tác để liên hệ thêm) cần: không ngừng học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, trên cương vị công tác tham mưu đúng, trúng trongviệc sử dụng lực lượng chức năng trong xử lý các tình huống xảy ra tại địa phương như xử lý điểm nóng,hoạt động gây rối, âm mưu bạo lạo lật đổ
*) Về nghệ thuật chọn đúng thời cơ.
Bài học này cần tiếp tục được quán triệt, vận dụng trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang hội nhập sâurộng vào các mối quan hệ quốc tế, đất nước đang đứng trước nhiều vận hội phát triển mới đồng thời cũng đốimặt với nhiều nguy cơ, thách thức khó lường Nắm vững những nguyên lý lý luận về cách mạng không ngừng
và cách mạng phải biết tự bảo vệ, phát triển tư duy biện chứng, khoa học về mối quan hệ giữa sức mạnh dântộc và sức mạnh thời đại, nhận thức sâu sắc những dự báo tình hình thế giới và trong nước những năm sắp tới
mà Đảng ta đã xác định tại Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, phân tích thấu đáo thực tiễn đất nước và những chuyểnbiến mới của tình hình khu vực, thế giới để nhận diện đúng xu thế vận động phát triển từ đó chủ động thựchiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới một cách phù hợp
*) Bài học về xây dựng Đảng vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng
Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảngkhông có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Đảng phải nắm vững, vậndụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làmgiàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết cácvấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra
Với trọng trách to lớn đó của Đảng, ĐH XII xác định 4 nguy cơ: chệch hướng XHCN, tụt hậu về kinh tế, bệnhquan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên vẫn còn tồn tại đe dọa sự tồn vong của Đảng, chế độ
Để xây dựng Đảng vững mạnh, đủ sức cầm quyền và lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, mỗi cán bộ, đảng viên:
- Phải thực sự kiên quyết, kiên trì thực hiện NQTW4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tích cựchọc tập và làm theo Chủ tịch HCM về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người một cách tự giác, thườngxuyên, thiết thực, hiệu quả nhằm khắc phục 1 trong 4 nguy cơ lớn mà Đảng ta xác định: sự suy thoái vềđạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; củng cố sự thống nhất, đoàn kết trongĐảng và niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
- Tích cực tham mưu có chất lượng việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng để lãnh đạo thựchiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị
- Không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, tự học tập lý luận chính trị, Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 23 của BCT nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên địnhcon đường, mục tiêu mà Đảng, nhân dân, dân tộc đã lựa chọn: đi lên CNXH với dân giàu, nước mạnh dânchủ, công bằng, văn minh
Có thể nói, hơn bảy thập niên trôi qua, những bài học kinh nghiệm mà Cách mạng Tháng Tám để lại cầntiếp tục được phổ biến, quán triệt, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, coi đó như những mẫu mực củachiến lược, sách lược lãnh đạo cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay
Câu 5: Phân tích sự chủ động, sáng tạo của Đảng trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc (giai đoạn 1930-1945)
1 Sự chủ động, sáng tạo của Đảng trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc:
Trang 12Sau khi được thành lập và sau phong trào đấu tranh dân chủ (1936-1939), Đảng ta đã chủ động, sáng tạo
để bổ sung, phát triển đường lối cách mạngvà dành được những thắng lợi nhất định trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc (giai đoạn 1939-1945):
Ở giai đoạn này, bối cảnh tình hình trong nước và ngoài nước có nhiều điểm thay đổi mới so với trướcđây như: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức; Sau khi Nhật xâmlược Trung Quốc (1937), chính phủ Pháp phải ký với chính phủ Nhật một Hiệp ước (30/8/1940) cho phépNhật đưa 25.000 quân vào Đông Dương Mặc dù thực dân Pháp cố ý trì hoãn, nhưng Nhật đã tiến côngquân Pháp (22/9/1940) và từng bước đặt Đông Dương vào khu vực chiếm đóng của Nhật, đã biến nước tarơi vào tỉnh cảnh “Một cổ hai tròng”.Nhân dân ta đã nổi dậy đấu tranh với ba cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ
ra như: Khởi nghĩa Bắc Sơn(1940); Nam Kỳ (1940); Cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương (1941)
Trước tình hình trên, Đảng ta đã nhận định trong thông cáo cho các đồng chí cấp bộ (9/1939) như sau:
“Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng, hoàn toàn vấn đề ấy mau hay chậm
là tùy theo tình hình thế giới và năng lực của các đồng chí” Sự chủ động, sáng tạo của Đảng trong việcchuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được thể hiện rõ nét thông qua kết quả của ba Hội nghị BCHTrung ương, đó là: Hội nghịTrung ương (11/1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định), Hội nghị Trungương (11/1940) tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) và Hội nghị Trung ương (5/1941) tại Pác Bó (Cao Bằng).Các cuộc hộinghị trên đây đã hoạch định chủ trươngvà nhiệm vụ cách mạng mới với những nội dungchính như sau: 1) Đặt nhiệm vụchống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàngđầu; 2) Đoàn kết rộng rãi lựclượngtoàn dân tộc trong Mặt trân dân tộc thống nhất;3) Giải quyết vấn đề dân tộctrong khuôn khổ từngnước; 4) Đặt công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang làmnhiệm vụ trung tâm của cách mạng Đông Dương;5) Coi trọng nhiêm vụ xâydựng Đảng.Những chủ trương đúng đắn của Trung ương Đảng thể hiện rõ sựtrưởng thành vượt bậc của Đảng về tư duy cách mạng, về lãnh đạo chính trị, độc lập, tự chủ trong xácđịnh đường lối, vượt qua những bệnh ấu trĩ, tả khuynh, giáo điều trong những năm trước đó; đặt nền tảngcho thành công của công cuộc vận động, chuẩn bị khởi nghĩa và Tổng khởi nghĩa
Sau khi xác định những chủ trương, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đảng khẩn trương lãnh đạo chuẩn bịlực lượng mọi mặt, trước hết là xây dựng các đoàn thể Việt Minh trên toàn quốc.Mặt trận Việt Minh rađời (19/5/1941), với tôn chỉ, mục đích:làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và làmcho nhândân được sung sướng, tự do nên phù hợp với ý nguyện và nhanh chóng thu hút nhân dân tham gia, tạonên đội quân cách mạng đông đảo Tiếp đó, là việc xây dựng, nhân rộng các đoàn thể cứu quốc ra cảnước,xây dựng lực lượng vũ trang Đội cứu quốc quân,đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quânđượcthành lập và sau đó trở thànhđội Việt Nam giải phóng quân Đồng thời,Đảng tạo lập các chiến khu, căn cứđịacách mạng, tiêu biểu là căn cứ địa Việ Bắc
Trên cơ sở xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phátđộng quần chúng đấu tranh chính trị tiến lên kếthợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.Phong tràođấu tranh của nông dân cùng với phong trào đấu tranh của công nhânvà phong trào của trí thức, tiểu tưsản, thanh niên,học sinh hướng tới mục tiêu cứu quốc,giải phóng dân tộc, đã tạo nên không khí cáchmạng sôi nổi trên cả nước Đảng còn đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hoá - tư tưởng.Cùng vớilãnh đạo phong trào cứu quốc, Đảng coi trọng củng cố sựthốngnhất trong Đảng, giữ vững sự thống nhất
về tư tưởng và hành động trong hàngngũ Đảng, bảo vệ và đấu tranh chống lại mọi âm mưu đánh phá của
kẻ thù; tăngcường đội ngũ cán bộ, phát triển đảng viên bảo đảm đủ lực lượng lãnh đạo cách mạng đi đếnthắng lợi Trước thời cơ thay đổi của tình hình thế giới với những thắng lợi của quân đội Liên Xô vàĐồng Minh, quân phiệt Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp mở rộng (tạiTừSơn, Bắc Ninh vào đêm 9-3-1945), phân tích tình hình và quyết định phát động cao trào khángNhật, cứu
nước làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa Tinh thần Hội nghị được thể hiện trong Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, với những nội dung chính: Xác định kẻ thù chính, cụthể, trước mắt của
nhân dân Đông Dương là phátxít Nhật; Đông Dương đang ở vào "một cuộc khủnghoảng chính trị sâusắc", tuy nhiên, "những điều kiện khởi nghĩa chưa thực chín muồi"; "Phát động một cao trào kháng Nhật,cứu nước mạnh mẽ để làm tiềnđề cho cuộc tổng khởi nghĩa và "sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởinghĩa mộtkhi đã đủ điều kiện".Với tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Chỉ thị là "phải hành động ngay,hànhđộng cương quyết nhanh chóng, sáng tạo chủ động, táo bạo" Do đó, cao trào kháng Nhật, cứu nước vàlànsóng khởi nghĩa từng phầndâng lên mạnh mẽ, diễn ra sôi nổi.Cùng với khởi nghĩa từng phần, Đảng phátđộngphong trào "Phá kho thócgiải thoát nạn đói", thổi bùng lên ngọn lửađấu tranh và khởi nghĩa trong nhândân, là cuộc đấu tranh rộng lớn và sâu sắctập dượt quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến nhữnghình thức đấu tranh cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa
Trong khi chú trọng đẩy nhanh tập hợp và tập dượt cho lực lượng chính trị, Đảng xúc tiến mạnh hơn nhữnghoạt động vũ trang hỗ trợ, hình thành khu giải phóng, phát triển các chiến khu, tăng cường lực lượng vũ trang
Trang 13chuẩn bị tổng khởi nghĩa Đồng thời với việc tích cực chuẩn bị thực lực với tinh thần chủ động, dựavào sứcmình là chính, Đảng còn chú trọng liên lạc, hợp tác quốc tế với Đồng Minh chống phátxít Nhật.Giữa lúc caotrào kháng Nhật của nhân dân ta đang phát triểnthì Nhật Bản chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minhvàongày 15-8-1945.Ngay sau đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định phát động toàn dântiến hànhTổng khởi nghĩa và giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc (Hà Nội: 19/8; Huế: 22/8; Sài Gòn: 15/8); Cáchmạng tháng Tám thành công, cùng với sự kiện Bảo Đại tuyên bố thoái vị ở Huế ngày 30/8/1945 đã chính thứcxóa bỏ Nhà nước phong kiến lập lên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 02/9/1945.
2 Bối cảnh hiện nay, Đảng phải làm gì để phát huy sự chủ động, sáng tạo trong hoạch định đường lối cách mạng
Thực tiễn cũng cho thấy trong quá trình hoạch định đường lối cách mạng ở nước ta, cứ khi nào Đảng tachủ động, sáng tạo thì khi đó đều đạt được những thắng lợi nhất định trên một số lĩnh vực
* Bối cảnh hiện nay (Trích trong Văn kiện đại hội XII)
Thuận lợi - thời cơ
Khó khăn, thách thức của tình hình thế giới và trong nước
* Những việc cần làm của Đảng để phát huy sự chủ động, sáng tạo
Tranh thủ thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức;Việc hoạch định đường lối cần phải chủ độngsáng tạo phù hợp với bối cảnh lịch sử, thực tiễn đất nước, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, trách dập khuônmáy móc.Tránh các sai lầm như trước đây, ví dụ: trước đổi mới thì kinh tế đất nước khó khăn, niềm tincủa nhân dân đối với Đảng và Nhà nước chạm đáy do lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chưa phùhợp Trong khi nhân dân còn nghèo, đói như vậy mà đường lối lúc đó lại hoạch định chủ trương là ưu tiênphát triển công nghiệp nặng tiến lên CNXH là không phù hợp.Nhân dân có cuộc sống của một nước độclập mà vẫn nghèo, đói, nên niềm tin của nhân dân giảm sút
Câu 6 Phân tích nội dung đường lối của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp? Làm rõ cơ
sở xây dựng đường lối chính trị đúng đắn trong cách mạng Việt Nam của Đảng?
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược được Đảng đề ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến vàkhông ngừng được bổ sung hoàn chỉnh trong quá trình tiến hành lãnh đạo kháng chiến
Đường lối kháng chiến của Đảng hình hành, từng bước hoàn chỉnh thông qua các văn kiện, nghị quyếtcủa Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (22/11/1945) chủ động xác địnhnhiệm vụ trong giai đoạn mới Trong Chỉ thị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh “Cuộc cáchmạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng, chỉ rõ “Kẻ thù chính của ta lúc này
là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” Nghị quyết Hội nghị quân sựtoàn quốc của Đảng (19/10/1946) nhận định “nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mìnhcũng nhất định phải đánh Pháp” Văn kiện Công việc khẩn cấp bây giờ (5/11/1946) của Chủ tịch Hồ ChíMinh nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc của cách mạng nước ta Chủ tịch Hồ ChíMinh khẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối cùng, cổ vũ toàn Đảng, toàn quân và dân ta “Cố rán sức quakhỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân” Trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12/12/1946),Đảng xác định rõ các giai đoạn, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(19/12/1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (9/1947) của Tổng Bíthư Trường Chinh nêu rõ lý do phải tiến hành kháng chiến, quyết tâm kháng chiến, xác định các nộidung kháng chiến về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, xây dựng Đảng , dự kiến các giai đoạn cuộckháng chiến sẽ trải qua Nội dung cốt lõi của đường lối và tư tưởng chỉ đạo kháng chiến là “toàn dân, toàndiện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”
Mục đích của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chế độ dân chủnhân dân, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
Tính chất của kháng chiến lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng, “cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn,
nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập
Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến được xác định ngay từ đầu “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”
Kháng chiến toàn dân: Huy động toàn thể dân tộc và các tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến Chủ
tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo,đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc, nhằmxây dựng một thế trận chiến tranh nhân dân sao cho mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi đường phố là mộtmặt trận, mỗi quốc dân là một chiến sĩ, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, làm cho địch bị động, lúng túng, cuốicùng phải chịu thất bại
Kháng chiến toàn diện: Đánh địch bằng cả quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, coi
quân sự là mặt trận đấu tranh chủ yếu, đấu tranh vũ trang đóng vai trò quyết định nhằm tạo nên sứcmạnh tổng hợp lớn hơn địch để chiến thắng kẻ thù
Trang 14Kháng chiến lâu dài: Xuất phát từ sự so sánh lực lượng, ban đầu địch mạnh, ta yếu, nên Đảng chủ
trương đánh lâu dài Vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng, đồng thời tích cực tiêu hao, tiêu diệtđịch để so sánh lực lượng dần dần có lợi cho ta và ta sẽ chuyển từ yếu thành mạnh, tiến tới đánh thắng kẻthù Đảng khẳng định đánh lâu dài về chiến lược nhưng phải tạo thế chủ động để phát triển thế và lực, tạothời cơ giành thắng lợi nhanh chóng trong từng giai đoạn kháng chiến, tiến lên giành thắng lợi quyết định
Dựa vào sức mình là chính: Là dựa vào sức lực của toàn dân, vào đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ
của Đảng, vào các điệu kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa của đất nước, đồng thời ra sức tranh thủ đồngtình, ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế để chiến thắng kẻ thù
Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược, phải thống nhất toàn dân, làm chomặt trận dân tộc thống nhất mỗi ngày một vững, mỗi ngày một rộng Phải củng cố chế độ cộng hoà dânchủ, xây dựng bộ máy kháng chiến vững mạnh, thống nhất quân, chính, dân trong toàn quốc, phát triểncác đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến toàn dân Phải cô lập kẻ thù, kéo thêmnhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các dân tộc thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta, chống lạithực dân phản động Pháp
Về quân sự, triệt để dùng “du kích vận động chiến”, tiến công địch ở khắp nơi, vừa đánh địch vừa xâydựng lực lượng; tản cư nhân dân ra xa vùng chiến sự
Về kinh tế, xây dựng nền kinh tế kháng chiến theo nguyên tắc vừa kháng chiến vừa kiến quốc, toàn dântham gia tăng gia sản xuất, tự túc tự cấp về mọi mặt, xây dựng kinh tế theo hướng “vừa kháng chiến vừakiến quốc”; ra sức phá kinh tế địch, không cho chúng lấy chiến tranh nuôi chiến tranh Kinh tế khángchiến về hình thức là kinh tế chiến tranh, về nội dung là dân chủ mới, chú trọng phát triển nông nghiệp,thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp
Về văn hoá, thực hiện hai nhiệm vụ: xoá bỏ nền văn hoá nô dịch, ngu dân, xâm lược của thực dân Pháp
và xây dựng nền văn hoá dân chủ mới, dựa trên ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá.Tất cả mọi hoạt động văn hoá lúc này phải nhằm thực hiện khẩu hiệu “yêu nước và căm thù”
Về ngoại giao, kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”.Triệt để cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bầu bạn, làm cho nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Pháphiểu, tán thành và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động biểu dươngthực lực để đưa hoạt động ngoại giao giành thắng lợi
Làm rõ cơ sở xây dựng đường lối chính trị đúng đắng trong cách mạng Việt Nam của Đảng?
Đảng CS Việt Nam đã sớm xác định đường lối kháng chiến đúng đắn và không ngừng bổ sung, hoànchỉnh trong quá trình tiến hành kháng chiến
Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng vững mạnh và đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, luôn đổi mới vàchỉnh đốn Đảng về mọi mặt
Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc và vẻ vang của Đảng
Đường lối của Đảng được xây dựng, phát triển và từng bước hoàn chỉnh qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo
cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đó là đường lối kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
Trên cơ sở xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình quốc tế, trong nước, địch, ta, Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định lực lượng kháng chiến là toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân
ba thứ quân, gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt
Để phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng tổ chức, động viên mọi tầng lớp nhân dân, khôngphân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái; đồng thời, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Phương pháp cách mạng là nhiệm vụ kháng chiến được đặt lên hàng đầu; thực hiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Phương thức tiến hành kháng chiến là kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương với chiến
tranh bằng các đơn vị bộ đội chủ lực Đây thực sự là một sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân ViệtNam – đường lối kháng chiến – mà Đảng ta với tư cách chủ thể Bởi lẽ, chiến tranh của ta là chiến tranh nhândân, do nhân dân tiến hành (mỗi người dân là một chiến sĩ), với lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt Một trong những cơ sở xây dựng đường lối kháng chiến nữa đó là sự kế thừa truyền thống, kinh nghiệmchống giặc ngoại xâm của dân tộc, nắm vững và vận dụng đúng quy luật chiến tranh trong điều kiện “lấynhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều” Đảng ta đã xác định, đây phải là cuộc kháng chiến toàn diện Bởi thựcdân Pháp tiến hành xâm lược, nô dịch nhân dân ta cả chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, do đó
ta phải đấu tranh toàn diện, lâu dài với địch, trong khi phải dựa vào sức mình là chính để giành thắng lợicho cuộc kháng chiến vĩ đại
Trong bối cảnh chúng ta vừa giành được độc lập, chính quyền từ Trung ương đến địa phương vừa đượcthiết lập; chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự, của chế độ mới đang từng bước hình thành; quan hệ
Trang 15ngoại giao mới chỉ có một số nước, như: Liên Xô, Trung Quốc Để bảo toàn lực lượng, kháng chiến lâudài, Đảng quyết định chọn Việt Bắc để xây dựng thành căn cứ địa của cuộc kháng chiến
Theo đó, các cơ quan của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân đội, các ngành, đoàn thể Trung ương lần lượtchuyển lên An toàn khu (ATK)[1] để chỉ đạo kháng chiến Đảng ta chủ trương kết hợp hai nhiệm vụ chiếnlược: kháng chiến và kiến quốc; bởi hai nhiệm vụ này có mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy nhau phát triển Thực hiện chủ trương đó, Trung ương Đảng chỉ đạo đảng bộ và chính quyền các địa phương khẩn trương xâydựng kế hoạch, ổn định tư tưởng, chuẩn bị các phương án để duy trì sản xuất, sẵn sàng chiến đấu chống địch cànquét, đánh phá Nhiều căn cứ, nhiều chiến khu, cơ sở cách mạng ở Nam Bộ và các địa phương, kể cả địa bànđịch tạm chiếm đã được xây dựng, duy trì hoạt động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu
Cùng với đó, các địa phương tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đẩy mạnh xây dựng, pháttriển lực lượng vũ trang Nhờ vậy, chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng tạo của Đảng đi vào lòng dân, đượcnhân dân phấn khởi đón nhận, nô nức động viên con em xung phong gia nhập lực lượng vũ trang Phong tràotập luyện quân sự diễn ra sôi nổi, trên khắp các vùng, miền Đến cuối năm 1947, quân số lực lượng vũ trang
đã đạt trên 12 vạn Các hoạt động khác, như: giáo dục, văn hoá, văn nghệ cũng từng bước chuyển kịp với yêucầu của thời chiến phục vụ đắc lực sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của Đảng ta
Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, Đảng chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bồi dưỡng và pháttriển Đảng Đến năm 1947, tổng số đảng viên cả nước đã có hơn 7 vạn Việc nhanh chóng chuyển đấtnước sang thời chiến, xác định đường lối, tổ chức lực lượng kháng chiến toàn dân đã tạo tiềm lực, đủ đểđánh bại từng bước các chiến lược, kế hoạch của thực dân Pháp
Câu 7: Phân tích ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp Vận
dụng kinh nghiệm trong đổi mới hiện nay
a Ý nghĩa lịch sử
- Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và can thiệp của Mỹ két thức thắng lợi đã khẳng định sức mạnh
và truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta Sức mjanh của ý chí tự lực, tự cường của một dân tộc cótruyền thống văn hiến đã đánh thắng một trong những cường quốc của thế giới hiện đại Chủ nghĩa yêunước và truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc VN đã phát huy trong thời đại mới, thời đại cáchmajgn giải phóng dân tộc gắn liền với CNXH
- Thắng lợi này là hiện thực hóa đầy sáng tạo của đường lối kháng chiến và năng lực lãnh đạo CM củađảng, của chủ tịch HCM Trước những sóng gió của lịch sử, chủ tịch HCM cùng với đảng ta đã chèo láicon thuyền CM vượt qua mội khó khan đi tới thắng lợi Từ thực tế sinh động đó, đường lối kháng chiếnđược phát triển, bổ sung phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn trong suốt cuộc kháng chiến
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ đã nói lên sức sống mãnh liệt và tiềm năng to lớn củamột chế độ xã hội mới, một thể chế chính trị tiến bộ trong lịch sử phát triển cỉa dân tộc VN
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và sự can thiệp của đế quốc mỹ đã giải phónghoàn toàn miền bắc, tạo enen căn cứ pháp lý cho sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.Đây là tiền đề to lớn nhất cho sự nghiệp CM của toàn đảng, toàn dân ta trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nướcthực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ chiến lược trên hai miền đất nước
- Làm thay đổi so sánh lực lượng giữa hai hệ thống, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cữ trên phạm
vi thế giới Việt nam – điện biên phủ - HCM đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng CM
- Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó làthắng lợi vẻ vang của nhân dân việt nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ vàCNXH trên thế giới
- Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo ngày càng vững mạnh, chiếnđấu dũng cảm, mưu lược, tài trí, là lực lượng quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường, đè bẹp ý chí xâmlược của địch, giải phóng đất đai của Tổ quốc
- Có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được giữ vững, củng cố và lớnmạnh, làm công cụ sắcbén tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới
- Có sự liên minh đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia cùngchống một kẻ thù chung; đồng thời có sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Trung Quốc, Liên Xô, các nước xãhội chủ nghĩa, các dân tộc yêuchuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp
Trang 16c Bài học kinh nghiệm về hoạch định và chỉ đạo thực hiện, lường lối:
- Đảng phải sớm xác định đường lối kháng chiến đúng đắn và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh trongquá trình tiến hành kháng chiến
- Phải biết lấy nhở thắng lớn, lấy ít địch nhiều, phát huy sức mjan hcuar phương thức chiến tranh cách mạng vànghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, tổ chức toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt
- Vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, tạo nên hậu phương vững chăc cho cuộc kháng chiến
- Chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ sự ủng hộ của các nước và nhân dân thế giới
- Tăng cường công tác xây dựng đảng về mọi mặt, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, tuyệt đối củađảng trong quá trình kháng chiến, ngang tầm với những đòi hỏi của cuộc kháng chiến
d Vận dụng trong xây dựng CNXH hiện nay
Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh suốt quá trình cách mạng Việt Nam.
Ngay từ trong quá trình đi tìm con đường cứu nước, sau khi khảo sát các cuộc cách mạng trên thế giới,
Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện: “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả haicuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” Do vậy,Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là "chủ trương làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" Gắn mục tiêu giải phóngdân tộc với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là thành quả lý luận cơ bản đã mở ra một trang sử mới chocách mạng Việt Nam Xác định đúng vị trí của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã giải quyếtđúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cáchmạng
Sau khi đất nước thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở nhiệm vụ xây dựng và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đồng thời với cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyềnlãnh thổ quốc gia, làm thất bại mọi mưu toan của các thế lực phản động quốc tế, Đảng ta đã lãnh đạo toàndân khắc phục những khó khăn và hạn chế của lịch sử, từng bước cùng nhân dân tìm tòi, khảo nghiệmcon đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn 10 năm cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội(1975-1986), sự kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã góp phần quyết định vào quá trình đưa đấtnước vượt qua mọi khó khăn, bước đầu tạo nên những tiền đề cho công cuộc đổi mới
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) cùng với nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
về con đường cách mạng Việt Nam, vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã có một bước phát triểnmới trong nhận thức của Đảng
Giữ vững độc lập dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là bảo vệ chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, cảnh giác chống mọi âm mưu "diễn biến hoà bình" của cácthế lực thù địch, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Đồng thời là quá trình phát huy ý chí tự lực tự cường,phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc, xây dựng đất nước theo mục tiêu đã lựa chọn Gắn độc lập dân tộc với những vấn đề toàn cầu,với quá trình đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tincậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”3
Trong giai đoạn cách mạng mới, chủ nghĩa xã hội cần được nhận thức và điều chỉnh để phù hợp với xuthế của thời đại Chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Từng bước đưa nước
ta thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn này là việc xác định ngày càng rõ hơn về conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện ở sự lựa chọn các bước đi, chặng đường, mô hình chủnghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn nước ta, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, sớmđưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển
Những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử của hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới chính là thànhquả của quá trình Đảng ta tiếp tục kiên định, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phù hợpvới thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển chung của thế giới Nghị quyết Đại hội X (4-2006) của Đảng đãnhấn mạnh bài học lớn đầu tiên trong 20 năm đổi mới là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh"
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật của cách mạng Việt Nam và của thời đại Độc lập dân tộckết hợp với chủ nghĩa xã hội chính là tiền đề cho một nền hòa bình, độc lập và phát triển bền vững vìnhững giá trị nhân văn cho con người Đó là quy luật của cách mạng Việt Nam và của nhân loại trên hànhtrình đi tới một xã hội văn minh
Thực tế lịch sử của nhân loại đã khẳng định, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo cho độc lập dân tộcthật sự bền vững và mới có đầy đủ các điều kiện đảm bảo tính chất triệt để cho độc lập dân tộc Đó chính
là sự thống nhất biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
Trang 17giải phóng giai cấp và giải phóng con người Trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhữngthành quả của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đã khẳng định giá trị của sự kết hợpđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta trong những năm tháng xuyên qua hai thế kỷ
Hai là , tăng cường xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh làm chủ đất nước của nhân dân.
Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh to lớn, trở thành động lực pháttriển của dân tộc trong suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Kế thừa và phát huy truyền thốngcủa dân tộc, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, coi đó là đường lốichiến lược cơ bản, lâu dài; là nguồn sức mạnh và động lực to lớn trong sự nghiệp giải phóng, giành độc lậpdân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay
Ba là, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Trong quá trình đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, Đảng tatiếp tục nêu cao chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế với đườnglối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Từ Đại hội Đảnglần thứ VII (6-1991), Đảng ta đã tuyên bố: Việt Nam muốn là bạn của các nước trên thế giới, phấn đấu vìmục tiêu hoà bình, độc lập và phát triển Đến Đại hội Đảng lần thứ X (4-2006), với vị thế mới của ViệtNam, Đảng đã tuyên bố Việt Nam là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới, phấn đấu vì mụctiêu hoà bình, độc lập và phát triển, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thể hiện ở đường lối chính trị đúng đắn và bản lĩnh chính trị của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua trong Hội nghị thành lập Đảng, do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay Cương lĩnh cách mạng ấy là đường lối chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đáp ứng đúng yêu cầu của dân tộc, vạch ra được mục tiêu, phương hướng cơ bản của cách mạng Trên cơ sở đó, Đảng tiến hành tập hợp, tổ chức, động viên toàn thể nhân dân, biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng Tinh thần cơ bản của bản Cương lĩnh ấy từng bước được phát triển, cụ thể hoá đáp ứng những nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và vững bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện ở bản lĩnh chính trị của Đảng cũng như của từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt trước những bước ngoặt khó khăn của cách mạng Trước hết, đó là sự kiên định con đường cách mạng, kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Không bi quan, dao động trước những khó khăn thử thách, giữ vững niềm tin vào lý tưởng cách mạng, con đường xã hội chủ nghĩa
và sự lãnh đạo của Đảng Bản lĩnh chính trị cũng thể hiện ở sự dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm
và quyết tâm sửa chữa vì lợi ích của nhân dân Bản lĩnh chính trị còn là tinh thần đấu tranh để bảo vệ lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam Bản lĩnh chính trị của Đảng còn thể hiện ở quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối, nhất là ở những thời điểm khó khăn, thách thức của cách mạng.
Một trong nhân tố đảm bảo năng lực lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam còn thể hiện ở chỗ trongquá trình lãnh đạo, Đảng đã biết kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc và của chính bảnthân Đảng Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất, truyền thống quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân,truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất, sẵn sàng chịu đựng hy sinh, gian khổ của nhiều thế hệ nhữngđảng viên cộng sản, truyền thống độc lập, tự chủ, sáng tạo, tự lực tự cường trong hoạch định đường lối, nhằmphát huy nội lực đất nước, nắm vững thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, khắc phục và vượt qua mọi khó khăn thử thách.Cùng với truyền thống độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, Đảng ta còn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng,thủy chung trong quan hệ với bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Những truyền thống và bài học lớn của Đảng được bắt nguồn từ lịch sử đấu tranh lâu dài, gian khổ hysinh của Đảng, từ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ quá trìnhkhông ngừng xây dựng và chỉnh đốn Đảng Những bài học và giá trị truyền thống đó góp phần làm nênsức chiến đấu của Đảng và củng cố tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện lịch sử mới. Nhận thức sâu sắc rằng, phía trước còn không ít thách thức, gian nan bởi những yếu kém vốn có của mộtnền kinh tế đang chuyển đổi, những tiêu cực xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, những mưu toan thâmđộc của các thế lực thù địch… Song, trong hành trang của dân tộc bước vào thời kỳ mới - thời kỳ toàn
Trang 18Đảng, toàn dân ta tích cực triển khai và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X, với một đảng có bề dàytruyền thống và bản lĩnh cách mạng kiên cường, với tất cả những gì toàn Đảng và toàn dân ta đã tạo dựngđược trong tám thập kỷ qua là cơ sở cực kỳ quan trọng, bồi đắp niềm tin, cổ vũ toàn thể dân tộc ta vữngvàng tiến bước trong tiến trình đổi mới Thực hiện quyết tâm: Nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàndân, toàn quân ta, triệu người như một, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức,quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiệnthành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nướctrên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại.
Câu 8 – Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 BCH TƯ Đảng khoá II (năm 1959)
Cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt Dưới ánh sángcác nghị quyết của Ðảng, nhân dân miền nam đã từ đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp
vũ trang tự vệ, giành được nhiều thắng lợi Song, với chính sách tố Cộng, diệt Cộng, Mỹ - Diệm đã gâycho ta những tổn thất nặng nề Chỉ tính từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, chúng đã giết hại, giam cầm93.362 cán bộ, đảng viên Từ 1955 đến 1958, riêng ở Nam Bộ, địch đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ,đảng viên, bắt 446.000 người
Tháng 12-1958, chúng đầu độc hàng nghìn tù chính trị ở trại giam Phú Lợi, làm chết nhiều chiến sĩ cáchmạng Tháng 4-1959, Ngô Ðình Diệm tuyên bố "đặt miền nam trong tình trạng khẩn cấp" Tháng 5-1959,Quốc hội của chính quyền Sài Gòn thông qua Luật 10/59 lê máy chém đi khắp các vùng nông thôn vàthành thị miền nam, công khai giết hại những người yêu nước, tàn sát đồng bào ta hết sức man rợ
Tình hình trên chỉ ra rằng, với chính sách khủng bố, đàn áp tàn bạo của chính quyền phát-xít Ngô ÐìnhDiệm, nhất là với các biện pháp tố Cộng, diệt Cộng ngày càng quyết liệt, thì phương châm đấu tranhchính trị đơn thuần cũng như đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ như trước đó không còn phùhợp với thực tế tình hình Ðiều này đòi hỏi Ðảng phải có sự chuyển hướng chỉ đạo kịp thời để duy trì vàphát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên và đồng bào yêu nướcmiền nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử đặt ra lúc bấy giờ, nhằm đưa sự nghiệp giải phóng miềnnam, thống nhất đất nước của nhân dân ta vượt qua thử thách hiểm nghèo
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng triệu tập Hội nghị lần thứ 15 Dưới sự chủ trì của Chủtịch Hồ Chí Minh, Hội nghị đã kiểm điểm tình hình trong nước từ khi Hiệp định Genevơ được ký kết và
đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta
Phân tích đặc điểm, tình hình nước ta từ khi hòa bình được lập lại, Hội nghị chỉ ra hai mâu thuẫn cơ bản
mà cách mạng Việt Nam phải giải quyết Ðó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc, giai cấp địa chủ phongkiến, tư sản mại bản ở miền nam với dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam và mâu thuẫn giữacon đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền bắc
Nội dung cơ bản của Hội nghị:
Hội nghị cho rằng: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: Cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam" Hai nhiệm vụchiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởngsâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiệnthống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội (1)
Về nhiệm vụ, hội nghị đề ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là: "Tăng
cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sởđộc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, ra sức củng cốmiền bắc và đưa miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độclập, dân chủ và giàu mạnh, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Ðông-Nam Á và thế giới" (2)
Ðối với cách mạng Việt Nam ở miền nam, Hội nghị xác định: "Miền nam đã trở thành thuộc địa kiểu mới
và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ Chính quyền Ngô Ðình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ,chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối" (3) Mâuthuẫn chủ yếu ở miền nam trong giai đoạn hiện nay là mâu thuẫn giữa dân tộc ta, nhân dân ta ở miền nam
và bọn đế quốc xâm lược Mỹ cùng tập đoàn thống trị Ngô Ðình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, đại diệncho bọn địa chủ, phong kiến và tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất Vì vậy, nhiệm vụ cách mạngViệt Nam ở miền nam được Hội nghị đề ra là:
- Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độclập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, gópphần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Trang 19- Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gâychiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Ðình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chínhquyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cảithiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dânchủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Ðông-Nam Á và thế giới.
- Phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng từ đấu tranh chính trị tiếnlên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; và dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa củanhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ Hội nghị chỉ rõ, con đường phát triển cơ bảncủa cách mạng Việt Nam ở miền nam là "khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình
cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lựclượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của
đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân (4)"
Hội nghị nhấn mạnh: "Vì chế độ thống trị của Mỹ - Diệm dựa vào vũ lực để tồn tại mà chúng ta thì phảidựa vào lực lượng quần chúng, lấy lực lượng quần chúng để đánh đổ chúng, cho nên muốn đạt được mụctiêu đó, cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ" (5) Trong quá trình đó "hình thức đấutranh chính trị là chủ yếu Song do quân thù quyết dìm cách mạng trong máu lửa, do nhu cầu của phongtrào cách mạng ở miền nam, cho nên trong một chừng mực nhất định và ở những địa bàn nhất định đãxuất hiện những lực lượng vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền để trợ lực cho đấu tranh chính trị Ðó
là một điều cần thiết" (6)
Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của đồng bào, chiến sĩ miền nam trong hơn bốn năm đấu tranhđầy hy sinh gian khổ và nghiên cứu cẩn trọng những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên vàmột số cấp ủy, Bộ Chính trị đã dành nhiều công sức, trí tuệ chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạngmiền nam để trình ra Ban Chấp hành Trung ương Do bối cảnh phức tạp, do tính chất đặc biệt quan trọngcủa vấn đề nghị bàn, Hội nghị đã tiến hành qua hai đợt Ðợt 1 vào tháng 1-1959, sau đó tiếp tục nghiêncứu tình hình và họp đợt 2 vào tháng 7-1959, nhằm hoàn thiện những kết luận của đợt 1 Nghị quyết Hộinghị được chính thức thông qua trong đợt 2
Ý nghĩa của Hội nghị TƯ 15
- Nghị quyết Hội nghị T.Ư 15 là một mốc lịch sử vô cùng quan trọng Nghị quyết đã đề ra một cách toàndiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam
- Hội nghị đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Ðảng ta trong sự nghiệpkháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm mục tiêu chiến lược giải phóng miền nam, thống nhất đất nước
- Những quyết sách về đường hướng phát triển của cách mạng miền nam mà Hội nghị đưa ra phản ánhđúng tình thế chín muồi của cách mạng miền nam, đáp ứng được yêu cầu bức thiết của thực tế tình hìnhcách mạng miền nam lúc bấy giờ, phù hợp với nguyện vọng tha thiết của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miềnnam và phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của cách mạng miền nam
- Nghị quyết 15 như một luồng sinh khí mới thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của quần chúng cách mạng
mà đỉnh cao là phong trào đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960, đưa cách mạng miền nam vượt quathử thách nghiêm trọng nhất, chuyển sang thế tiến công đập tan hình thức xâm lược, thống trị điển hìnhcủa chủ nghĩa thực dân mới mà đế quốc Mỹ dày công tạo dựng ở miền nam Việt Nam
-Nghị quyết 15 và tiếp đó là Nghị quyết Ðại hội toàn quốc lần thứ III của Ðảng (tháng 9-1960) đã hoànchỉnh đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam ở miềnnam nói riêng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nghị quyết cũng thể hiện tinh thần độc lập,
tự chủ và sáng tạo của Ðảng ta Nghị quyết 15 là một quyết định lịch sử
Câu 9: Phân tích ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Đảng lãnh đạo trong kháng chiến chống Mỹ? Vận dụng những kinh nghiệm đó trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam?
Trả lời:
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đãkết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta Thắng lợi vĩ đại của sựnghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sựđộc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Đường lối đó chính
là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và xu thế thời đại, được thể hiện trong các chủ trương, chínhsách mang tính hệ thống của Đảng, kết hợp những vấn đề về nguyên tắc, chiến lược với những vấn đề vềsách lược và phương pháp
1 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Đảng lãnh đạo trong kháng chiến chống Mỹ
1.1 Ý nghĩa lịch sử:
*) Đối với Việt Nam:
Trang 20- Mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dântộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng tháng 8/1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷcủa Chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, bảo vệ
và phát triển những thành quả của cách mạng XHCN trên miền Bắc, đưa cả nước tiến lên CNXH
- Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn nhất, dài ngày nhất và ác liệt nhất của ĐQ Mỹ kể từsau Chiến tranh thế giới lần thứ II, trải qua 5 đời Tổng thống Mỹ, 4 chiến lược chiến tranh (gồm: chiếntranh thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ (1954-1960); chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965);chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968); chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (từ năm 1969 đếntháng 4-1975)) với chi phí lên tới 676 tỷ USD
- Mở ra kỷ nguyên mới của cách mạng VN- kỷ nguyên cả nước có hòa bình, độc lập, thống nhất, đi lên CNXH
Đó là một trong nững thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
*) Đối với thế giới
- Đập tan cuộc phản công lớn nhất của đế quốc đầu sỏ chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau Chiếntranh thế giới lần thứ 2, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của DQ Mỹ ở ĐNÁ, làm đảo lộn chiến lượctoàn cầu phản cách mạng của chúng, mở đầu cho sự sụp đổ không thể tránh khỏi của CN thực dân kiểumới, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
- Đã có tác động mạnh đến nội tình nước Mỹ và cục diện thế giới, có ảnh hưởng và là nguồn cổ vũ to lớn đối vớiphong trào cách mạng thế giới, các dân tộc đang đấu tranh chống CNĐQ, đặc biệt là nhân dân Lào, CPChia.Đánh giá thắng lợi của cuộc k/c chống Mỹ cứu nước, ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã
khẳng định “ Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống
Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch
sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc”
1.2 Bài học kinh nghiệm
Thắng lợi của cuộc k/c chống Mỹ cứu nước đã để lại nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn:
- Đảng đã chủ động, nhạy bén, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược chiến tranh cách mạng và nghệ thuật tạo
và nắm thời cơ, giành được những thắng lợi quyết định
- Bên cạnh đó, Đảng cần luôn chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ của cách mạng
- Đánh giá không đúng bản chất phản động của tập đoàn Pôn Pốt, đồng thời, lơ là, mất cảnh giác
Có thể thấy, với việc đánh giá đúng kẻ thù, nhận định đúng về tình hình trong nước và quốc tế, có đườnglối đối ngoại mềm dẻo, phù hợp, Đảng ta đã đề ra đường lối sáng tạo và tài tình, phát huy sức mạnh tổnghợp của toàn dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nên đã giành được chiến công chói lọitrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Thắng lợi vĩ đại của dân tộc là cơ sở phát huy cao độ tiềmlực của cả nước, thực hiện chiến lược đoàn kết toàn dân tộc, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thử thách,từng bước thoát khỏi khủng hoảng, phá thế bao vây, cấm vận về kinh tế, bảo vệ Tổ quốc và làm trònnghĩa vụ quốc tế Đồng thời, thực hiện thành công đường lối đổi mới, đưa đất nước phát triển toàn diện vàmạnh mẽ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2 Vận dụng những kinh nghiệm lãnh đạo trong kháng chiến chống Mỹ của Đảng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam?
2.1 Bối cảnh
*) Thế giới
Trang 21Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực bên cạnh mặt thuận lợi, vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp,khó lường Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rất gay gắt, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định;chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, xung đột sắctộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố và các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống
có chiều hướng gia tăng, tạo ra thách thức với nhiều quốc gia
*) Trong nước
Ở trong nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực sau 30 năm đổi mới;tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường, uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao, songcũng còn nhiều khó khăn, thách thức Các thế lực thù địch vẫn đang đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoàbình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", "phi chính trị hoá" Quân đội Tình hình Biển Đông diễnbiến phức tạp, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn lâu dài, không ít khó khăn
2.2 Vận dụng:
Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta rất nặng nề, đanxen cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức Vì vậy chúng ta cần vận dụng linh hoạt và sáng tạonhững kinh nghiệm lãnh đạo trong kháng chiến chống Mỹ của Đảng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc ViệtNam Đó là bài học kiên định đường lối, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất giai cấp côngnhân và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Trên cơ sở đó, xác định đường lối, chủ trương,giải pháp lãnh đạo đúng đắn, sát yêu cầu phát triển của cách mạng; tích cực đổi mới phương thức lãnhđạo, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm ra quy luật khách quan bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảngmang lại hiệu lực, hiệu quả trên thực tế
Câu 10: Bằng thực tiễn lịch sử, phân tích ý nghĩa thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng (1930 - 1975)
Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nhân
tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam –một Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉnam cho hành động của mình
1 Đảng lãnh đạo thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc (năm 1930-1945)
Thời kỳ 1930-1945, cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản vớiCương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển theo xu thế của thời đại
Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền đã diễn ra với 3 cao trào cách mạng có ýnghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay nhândân: Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh,dân chủ (1936-1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939-1945)
Đó là quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ của Đảng và dân tộc ta và đã giành đượcnhững thắng lợi vẻ vang
Thực tiễn 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng đã đặt ra và giải quyết thành côngnhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong tràocách mạng phát triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc Thắng lợi của cuộc Cách mạngTháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật xâm lược, xóa bỏ chế
độ thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Đó là sựkiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Đó cũng là thắng lợi đầu tiên củaChủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh Đó làcuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Do
sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức mạnh đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và
Trang 22ngoài mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi”; “Chẳng những giai cấp lao động vànhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng cóthể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộcđịa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
2 Đảng lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1945-1954)
Đến cuối nǎm 1946, thực dân Pháp dã tâm cướp nước ta lần nữa Với phương châm: "Kháng chiếntoàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính"; "vừa đánh vừa vũ trang thêm, vừa đánh vừađào tạo thêm cán bộ" phải "bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài", "Kháng chiến nhất định thắng lợi",Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân ta đánh bại quân đội Pháp và sự can thiệp của Mỹ
Tháng 10/1947, địch mở đợt tấn công lên Việt Bắc, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầunão kháng chiến của ta, hòng kết thúc chiến tranh Triệt để lợi dụng yếu tố địa hình thuận lợi, bộ đội chủlực phối lực với dân quân tự vệ đã chiến đấu dũng cảm, giữ vững quyền chủ động trong từng tình huống,từng trận đánh Nhiều trận ta đánh cho địch không kịp viện binh, không kịp rút chạy Sau hơn 200 trậnđánh, chiến dịch Việt Bắc đã kết thúc thắng lợi, ta phá tan kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch.Giữa năm 1953, tiếp tục được sự viện trợ tối đa của Mỹ, thực dân Pháp vạch kế hoạch Na-va khá tỉ
mỉ, với quy mô rộng lớn nhằm chống phá cách mạng Việt Nam và Đông Dương, tiến tới "giành thắng lợiquyết định trong vòng 18 tháng để kết thúc chiến tranh" Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị thông qua kếhoạch chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 Ta chủ trương tập trung lực lượng tiến công vào các hướngchiến lược nơi địch yếu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, bảo vệ vùng tự do Hướng tiến công chính là TâyBắc và Thượng Lào Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ là điểm quyết chiếnchiến lược giữa ta và địch, quyết định tiêu diệt cǎn cứ phòng ngự kiên cố của địch
Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 là mộttrong những đỉnh cao của chiến tranh giữ nước trong thời đại Hồ Chí Minh đã chấm dứt sự thống trị củathực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toànmiền Bắc Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước
3 Đảng lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống thực dân Mỹ (1954-1975)
Đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Gơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miềnNam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng Cuộc đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập, thốngnhất trở nên hết sức gay go, phức tạp Trải qua nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chínhtrị, chủ trương chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng từng bước hình thành Đó là,đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêuchung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất Tổ quốc
Theo đường lối sáng suốt của Đảng, nhân dân miền Bắc đã hăng hái phấn đấu xây dựng hậuphương xã hội chủ nghĩa và giành được những thành tựu hết sức quan trọng Đến năm 1965, miền Bắc trởthành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước, hậu phương có tiềm lực kinh tế, quốc phòng to lớncho miền Nam Được sự chi viện của miền Bắc, với truyền thống “Thành đồng Tổ quốc”, quân dân ta ởmiền Nam đã anh dũng đấu tranh vượt qua những năm tháng khó khăn của giai đoạn đấu tranh chính trị làchính, tiến tới cuộc nổi dậy trước những năm 1960 và phong trào “Đồng Khởi” (1959 - 1960) theo Nghịquyết lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giành quyền làm chủ ở các vùng nông thôn, rừngnúi, đưa cách mạng chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Tiếp đó đã đánh bại chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 - 1965), đưa cuộc chiến đấu tiến lên mạnh mẽ, làm lung laytận gốc rễ chế độ nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai
Từ năm 1965, đế quốc Mỹ gây chiến tranh cục bộ ở miền Nam, đánh phá ra miền Bắc, Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc và đề
ra đường lối cho cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới, giai đoạn cả nước có chiến tranh Với tinh thần
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân dân miền Bắc đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chốngchiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương, đồng thời, ra sức sảnxuất, công tác tạo nên tiềm lực to lớn chi viện miền Nam với tất cả khả năng của mình Quân dân miềnNam đã tỏ rõ ý chí kiên cường giành được thắng lợi trong các chiến dịch mùa khô 1965 - 1966, 1966 -
1967 và nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) làm cho cuộc chiến tranh cục bộcủa Mỹ bị thất bại, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở hội nghị Paris Trong những năm
1969 - 1975, quân dân miền Nam đã liên tiếp đánh bại các thủ đoạn của chiến tranh “Việt Nam hoá” của
đế quốc Mỹ, đã “đánh cho Mỹ cút” và tiến tới “đánh cho nguỵ nhào” với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí
Trang 23Minh mùa Xuân 1975 Thắng lợi đánh dấu một bước ngoặt quyết định mở đường cho dân tộc Việt Namtiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do thống nhất nước nhà, quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam đãchứng minh chân lý: Sự lãnh đạo của Đảng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Câu 11 Phân tích ý nghĩa thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Dưới sự lãnhđạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, xóa bỏ hoàn toànchế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nềnđộc lập dân tộc Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã khẳng định: Đảng Cộng sản ViệtNam là người tổ chức, lãnh đạo và là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
I- SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
- Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo CửuLong (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chỉ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hội nghị nhất trí thành
lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã phản ánh sự kết hợp giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh dântộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sửcách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước Sự thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đãtrưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - HồChí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta
II- SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG
1 Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập dân tộc
a) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền
- Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chungquanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nền lực lượng cách mạng to lớn
và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc
Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh, với ba cao tràocách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939, 1939-1945); khi thời cơ đến, Đảng đã phát động cuộc Tổng khởinghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã giành lại nền độc lập của dântộc sau hơn 80 năm bị đô hộ Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc
Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên ở Đông Nam châu Á Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhândân, tiến lên chủ nghĩa xã hội
b) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)
Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối mặt với ba thứ giặc: giặcđói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Vận mệnh của đất nước trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Đảng ta,đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diệntrên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Đối với các thế lực thù địch,Đảng đã thực hiện sách lược mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa chúng, giành thời gian để củng cốlực lượng Với đường lối chính trị sáng suốt, Đảng đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc,củng cố, giữ vững chính quyền, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộckháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp
c) Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)
Bất chấp mong muốn độc lập và hòa bình của Chính phủ và nhân dân ta, mặc dù chúng ta đã nhânnhượng, thực dân Pháp vẫn ngày càng lấn tới vì chúng có dã tâm cướp nước ta một lần nữa Dân tộc tabuộc phải chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của dân tộc
Đêm ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Hưởngứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên với tinh thần
“thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Với đường lốikháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc
Trang 24Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp xâm lược bằng chiến thắng tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lănghay một Đống Đa của thế kỷ XX; góp phần phá vỡ hệ thống thuộc đại của chủ nghĩa thực dân cũ, dẫn tới
sự sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân
d) Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (1954-1975)
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, thực hiệnquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã xóa bỏ Hiệp định Giơnevơhòng chia cắt lâu dài đất nước ta Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hộiđối lập nhau Đảng xác định con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thờihai nhiệm vụ chiến lược:
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa
vững mạnh của cách mạng cả nước
Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và bè lũ
tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà
Mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triểncách mạng Việt Nam; cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vị trí quan trọng, có tác dụngtrực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng; cách mạng xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cả nước ta tiến hành cuộc
kháng chiên chống Mỹ cứu nước Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, “hễ còn một tên xâm
lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, lần lượt đánh thắng các chiếnlược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc.Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhấtđất nước, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đãlàm sáng tỏ một chân lý: Trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ bé, dưới sự lãnh đạo củachính đảng Mác - Lênin, đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh để giành độc lập và dân chủ, có thểchiến thắng một kẻ thù xâm lược
2 Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng xã hội mới (từ năm 1975 đến nay)
- Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có những thuận lợi
cơ bản, nhưng cũng gặp không ít khó khăn Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản xuất nhỏ, năng suất laođộng thấp, hậu quả nặng nền do chiến tranh để lại Trong khi đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phảnđộng bên ngoài bao vây, cấm vận…, luôn tìm mọi cách phá hoại cách mạng nước ta Bắt đầu từ cuốinhững năm 70 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều diễn biến phứctạp, đặc biệt là sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu Tình hình đó đã tácđộng, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Trong 10 năm (1975 - 1985), cách mạng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn, trở ngại, thuđược những thành tựu quan trọng Chúng ta đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọimặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trên các lĩnhvực kinh tế, văn hóa - xã hội, nhân dân ta đã có những cố gắng to lớn để khôi phục kinh tế, hàn gắn vếtthương chiến tranh, bước đầu bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, những thành tựu về kinh tế - xã hội đạt được còn thấp so vớiyêu cầu, kế hoạch và công sức bỏ ra; nền kinh tế có mặt mất cân bằng nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát caoquá mức, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội
- Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã nghiêm khắc kiểm điểm, khẳng định những mặt làm được,phản ánh tích cực những mặt sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh
đạo kinh tế Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong các nhiệm kỳ Đại hội VII (1991 1996), Đại hội VIII (1996 2001), Đại hội IX (2002 2006); Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn để phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới và lãnh đạo
Trang 25-nhân dân ta phát huy tinh thần sáng tạo, thực hiện đổi mới toàn diện đất nước Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X của Đảng (tháng 4 - 2006) đã khẳng định: Sau 30 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toànĐảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩalịch sử Điều đó được thực hiện trên cả hai mặt: những thành tựu trong thực tiễn và trong nhận thức.
Về mặt lý luận,
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới và thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam ngày càng sáng tỏ hơn Hệ thống luận điểm về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản Đó là kết quả của đổi mới
tư duy lý luận của Đảng từ Đại hội VI, từ quá trình thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và thực hiện Cươnglĩnh 1991, từ việc không ngừng tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận, tăng cường vai trò của côngtác lý luận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Đảng đã nhận thức rõ hơn mục tiêu và mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ thực tiễn đổi mới
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã nhận thức rõ hơn những vấn đề về chế độ kinh tế, chính trị, cơ cấu
xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt
để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hìnhthức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen” Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới chothấy một thực tế là hoàn toàn có thể bỏ qua chế độ tư bản để đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua sự xác lậpquan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng của chế độ tư bản và có thể kế thừa những thành quả của nhânloại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa
Đại hội XI của Đảng nhận thức rõ: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xâydựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng,văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”
Về mặt thực tiễn
Trên lĩnh vực kinh tế Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng tương nhanh
và ổn định, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện.Tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt gần 7% Tái cơ cấu nền kinh tế đạt kết quả bước đầu Thu nhậpbình quân đầu người tăng từ 200 USD năm 1990 lên 1.168 USD năm 2010 và 2.200 USD năm 2016
Hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tếnhiều thành phần Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành Nhà nướctừng bước tạo ra khung pháp lý cho các yếu tố thị trường bằng các luật khác nhau
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh Phát triển mạnh mẽ các khu côngnghiệp và hình thành các vùng kinh tế trọng điểm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới
Về văn hóa, xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt.Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện mộtbước Chú trọng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện Công tác giảiquyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả tốt
Về xây dựng hệ thống chính trị Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân đã đạt được những kết quả bước đầu Quốc hội đẩy mạnh xây dựng luậtpháp Nền hành chính quốc gia được cải cách một bước Quốc hội đã từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và phương thức hoạt động theo hình thức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Bộ máy Chính phủ và chính quyền địa phương được kiện toàn một bước
Về đối ngoại Phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đadạng hóa; giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các nước lớn và cácnước tư bản phát triển, ký kết Hiệp ước chiến lược và Hiệp ước toàn diện với nhiều nước trên thế giới
Từng bước giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ biển, đảo với các nước liên quan như:Trung Quốc, các nước ASEAN Đồng thời, tăng cường đàm phán, ký kết các Hiệp ước Thương mại tự do vớiASEAN, EU, Mỹ…Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập quốc tế
Về quốc phòng an ninh Thành tựu cơ bản, bao trùm là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, cơ bản giữvững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố an ninh, quốc
Trang 26phòng với chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phảnđộng trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, để gây mất ổn định.
Đảng đã chú trọng xây dựng, phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; xây dựng lựclượng vũ trang, đặc biệt là quân đội và công an theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xâydựng được thế trận quốc phòng toàn quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân
Về công tác xây dựng Đảng Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địchtấn công toàn diện vào Đảng và chế độ chính trị của đất nước, Đảng vẫn vững vàng, kiên định mục tiêu độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Từng bước nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trênnhững vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩatrong điều kiện mới; đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối đúng đắn; phê phán các quan điểm sai trái đòi đanguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ cực đoan, phủ nhận thành tựu của quá khứ Hệ thống tổ chức củaĐảng và Nhà nước từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối trung gian Tiến hànhđổi mới công tác cán bộ trên cơ sở lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất, nănglực của cán bộ; bước đầu đổi mới phương thức lãnh đạo trên cơ sở coi trọng lãnh đạo thể chế hóa nghị quyết,lãnh đạo xây dựng luật và pháp lệnh, khắc phục tình trạng áp đặt, bao biện, làm thay
Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp vớithực tiễn Việt Nam
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực cònhạn chế Thực tiễn 30 năm đổi mới cho thấy: Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năngcủa đất nước Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới ngàycàng hiện hữu Kinh tế phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Việc huy động
và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế Thể chế kinh tế thị trường, chất lượngnguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn hạn chế
Những tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng.Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy cao độ An ninh chính trịcòn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội, đe dọa chủ quyền quốc gia Hiệu lực, hiệu quảquản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp chưa cao, gây bức xúc trong nhân dân
Trong Đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, phai nhạt
lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu; tha hóa về lối sống, 152 quan liêu, xa rời quần chúng “Bốn nguy cơ
mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII của Đảng nêu ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biếnbiến phức tạp, như nguy cơ “diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch… (…) … và những biểu hiện “tựdiễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”57.Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí đang gây bất bình trong
xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng cũng có mặt, lĩnh vực còn yếu kém, có lúcphạm sai lầm, khuyết điểm Điều quan trọng là Đảng sớm phát hiện ra những yếu kém, sai lầm, khuyếtđiểm của mình, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời Đảng công kahi tự phê bình, nhậnkhuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả Vì vậy, Đảng ta được nhân dântin cậy, thừa nhận là người lãnh đạo chân chính, duy nhất, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhândân lao động và của cả dân tộc Việt Nam
III- SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1 Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
Cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lậpdân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, khi giai cấp tư sản vừabóc lột giai cấp công nhân ở chính quốc, vừa bóc lột nhân dân thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộcmuốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Đảng của giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa nắm lấy và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắnphong trào giải phóng dân tộc trong nước với phong trào cách mạng thế giới
Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất có thể thực hiện được nhiệm vụ đó vì Đảng tập hợp
được đông đảo quần chúng nhân dân đi theo mình Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng,
ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thànhcông, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
Vì vậy, có thể nói cách mạng giải phóng dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu
Trang 27cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trước hết là thắnglợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước
- V.I Lênin khẳng định: Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn Sau thắng lợicủa cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất có thể tập hợp được đông đảoquần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng Có được khả năng đó là do Đảng gồm những ngườitiên tiến nhất của giai cấp và dân tộc trung thành, kiên định với lợi ích của dân tộc, luôn đi đầu, sẵn sàng
hy sinh vì nền độc lập dân tộc nên được nhân dân tin và đi theo
- Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt nam có khả năng to lớn
để lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới vì con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo phù hợp với thờiđại, quy luật phát triển của xã hội Đảng không có mục đích tự thân Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân,của nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc Việt Nam, lợi ích của nhân dân tiến bộ trên thế giới, Đảngkhông có lợi ích nào khác
- Lịch sử cách mạng Việt Nam cận, hiện đại đã chứng tỏ không có một tổ chức chính trị nào cóthể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Thực tế trong quá trình đấu tranh giaicấp và giữ chính quyền, có những lực lượng chính trị tham gia cùng với Đảng, nhưng khi cách mạng gặpkhó khăn, họ đều chùn bước Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản,của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích đó Biết bao đảng viên và quần chúng của Đảng đã suốtđời phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cao cả, vì độc lập, tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội Sự lãnh đạođúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
IV- NHỮNG KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6-1991) đã tổng kếtthực tiễn hơn 60 năm cách mạng nước ta, trong đó có 5 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI
đề ra, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh đã
nêu ra năm bài học lớn của cách mạng Việt Nam
1 Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Đây là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết đểxây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Hai vấn
đề này có quan hệ hữu cơ với nhau Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tạo ra sứcmạnh to lớn của dân tộc trong đấu tranh cách mạng, giành thắng lợi
2 Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Lý luận Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng nước ta đã khẳng định một chân lý: Nhân dân làngười làm nên thắng lợi lịch sử Để phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân, sự lãnh đạo và toàn bộ hoạtđộng của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đại biểu trung thànhcho lợi ích của nhân dân
Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân là nguy
cơ dẫn đến suy yếu và mất vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và làm cho sự nghiệp cách mạng bị tổn thất
3 Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế
Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử to lớn, lâu dài của dân tộc ta đã được Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành công, tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi Phát huysức mạnh toàn dân tộc là độc lực chủ yếu để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
4 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế
Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa, quan
hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, các yếu tố bên trong và bên ngoài có quan hệ biện chứng, tác độnglẫn nhau Sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực, trong đóđoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vừa làmục tiêu vừa là động lực để phát triển đất nước Sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc tế trước hết là sứcmạnh của quy luật và xu thế phát triển không thể đảo ngược của lịch sử nhân loại; là sức mạnh của cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, của các thế lực cách mạng và tiến bộ trên thế giới
Trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ cách mạng, sức mạnh dân tộc, nguồn lực bên trong là yếu tố quyếtđịnh, đồng thời được bổ sung và nhân lên khi kết hợp được với sức mạnh thời đại và nguồn lực bên ngoài
Trang 285 Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạngnước ta Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức; thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu của tìnhhình thực tế, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra Muốn vậy, Đảng cần quán triệtnhững nội dung cơ bản sau:
- Nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng
- Xây dựng đường lối đúng đắn trên cơ sở xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, đápứng yêu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân
- Phòng, chống có hiệu quả những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự suythoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên
Trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của Đảng”, để “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiệ đại, “thực hiện bằng được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại”
Câu 12 Phân tích những thành tựu và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng XHCN ở Miền Bắc Liên hệ với việc hoạch định xây dựng đường lối xây dựng CNXH trong bối cảnh hiện nay.
Đáp án:
1 Đặc điểm của Miền Bắc khi tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1975)
- Miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một nền kinh tế kém phát triển, bị chiến tranh tàn phá
Đặc điểm lớn nhất và cũng chính là khó khăn lớn đối với miền Bắc đó là miền Bắc bước vào thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,sản xuất nhỏ là chủ yếu Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp kéo dài đã để lại những hậu quả nặng nềđối với nền kinh tế miền Bắc Sau ngày hoà bình lập lại, kinh tế miền Bắc manh mún, quy mô sản xuấtnhỏ, hiệu quả thấp kém, năng suất lao động và sản lượng thấp
Trong khi đó, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật của miền Bắc vừa ít về số lượng, vừa hạn chế vềnăng lực và kinh nghiệm điều hành, quản lý kinh tế Mặt khác, miền Bắc bị thiên tai liên tiếp
- Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau
Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết Theocác văn bản của Hiệp định, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau
Tuy nhiên, trên thực tế, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã vi phạm nghiêm trọng các điềukhoản được quy định trong Hiệp định nhằm biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địakiểu mới của đế quốc Mỹ Trước tình hình đó, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành lãnh đạo nhân dân ởhai miền thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ởmiền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Như vậy, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa có hòa bình, vừa cóchiến tranh nên bị chi phối bởi hai quy luật: quy luật xây dựng kinh tế trong thời bình và quy luật chiếntranh Miền Bắc vừa phải làm nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, dốc toàn lực chi việnsức người, sức của cho chiến trường miền Nam, vừa thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với cách mạngLào và Campuchia; đồng thời, có những thời điểm miền Bắc phải trực tiếp chiến đấu chống lại chiếntranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập của miền Bắc
- Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện quốc tế có những thuận lợi đan xen với nhiều khó khăn, thách thức
Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cùngvới sự giúp đỡ, hợp tác của hệ thống ấy là nguồn sức mạnh to lớn đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội của Việt Nam thời kỳ này Những nhân tố tích cực trên đây tạo điều kiện thuận lợi đối với miềnBắc trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội Miền Bắc Việt Nam nhận được sự giúp đỡ hiệu quả, quýbáu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, trong thời kỳ này, tình hình thế giới có một số khó khăn và phức tạp mới tác động đếncông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: Ngoài việc Việt Nam đã trở thành nơi đụng đầu lịch sửquyết liệt giữa phong trào độc lập dân tộc và chủ nghĩa đế quốc, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư
Trang 29bản, vào những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã xuấthiện những bất đồng về chính trị và những sai lầm về tư tưởng Đặc biệt, sự bất đồng về quan điểm chínhtrị, về vị thế và ảnh hưởng quốc tế giữa Trung Quốc và Liên Xô gây ra sự chia rẽ trong phong trào cộngsản và công nhân quốc tế
Tình hình đó đặt ra cho Đảng Lao động Việt Nam một yêu cầu cấp bách là phải xây dựng đượcmột đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng cả nước tiến lên phù hợp với thực tiễn của đấtnước, giải quyết những yêu cầu cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồng thời phù hợp với những mục tiêu
và xu thế chung của cách mạng thế giới
2 Thành tựu
Thành tựu của Đảng trong 21 năm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975)Một là, đánh giá thành tựu của miền Bắc trong hơn 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tháng 12-1976 khẳng định: “Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử là đã xóa bỏđược các giai cấp bóc lột và chế độ người bóc lột người, đã xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩadưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Giai cấp công nhân lớn lên cả về số lượng và chấtlượng Nông dân đã trở thành giai cấp nông dân tập thể Đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa hình thành vàngày càng phát triển”
Hai là, Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật hết sức quan trọng củachủ nghĩa xã hội, xây dựng nhiều khu công nghiệp và nhiều công trình lớn của đất nước
Ba là, sự nghiệp giáo dục, văn hóa và y tế phát triển Việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹthuật và công nhân tăng gấp nhiều lần so với khi mới giải phóng Mạng lưới y tế được mở rộng từ Trungương đến cơ sở Hoạt động văn hóa - nghệ thuật phát triển trên nhiều mặt, góp phần xây dựng nền vănhoá mới, con người mới XHCN, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn, đời sốngtinh thần của nhân dân được nâng cao
Bốn là, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của miền Bắc được giữ vững MiềnBắc đã tạo dựng được một xã hội lành mạnh, có trật tự, kỷ cương, bình đẳng và có quan hệ tốt đẹp giữangười với người, bước đầu thể hiện được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội
Năm là, Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớnmiền Nam, đồng thời hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia
Đánh giá về những thành tựu của miền Bắc trong quá trình xây dựng CNXH (1954-1975), Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976) khẳng định: Những thành tựu và biến đổi ấy còn thấp
so với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Song, trong hoàn cảnh miền Bắc phải đương đầu với hàng triệu tấn
bom đạn của đế quốc Mỹ, vừa không ngừng cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánhgiặc cứu nước, đồng thời gánh vác nghĩa vụ quốc tế, thì những thành tựu đạt được là những kỳ tích Thửthách cực kỳ nghiêm trọng của chiến tranh đã làm ngời sáng tính ưu việt và sức mạnh của chủ nghĩa xãhội Và không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xãhội chủ nghĩa… Miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế
độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc căn cứ địa cách mạng của cả nước
Hai là, trong lãnh đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng nhậnthức còn giản đơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chưa nắm bắt đúng các quyluật vận động đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ còn mang nặng tính tự cấp tự túc Vì vậy,
“những nguyên tắc cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhất là những vấn đề có tính quy luật của quátrình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa nói chung chưa được nhận thức một cách sâusắc… cần nhấn mạnh một khuyết điểm nặng trong quản lý kinh tế là lối quản lý quan liêu, hành chính,xem nhẹ hiệu quả, năng suất và chất lượng…bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện kém hiệu lực”
Trong quá trình cải tạo kinh tế, Đảng đã mắc phải sai lầm chủ quan, duy ý chí, nóng vội, muốnnhanh chóng xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa mà không tôn trọng quy luật khách quan,chưa tính đến đầy đủ, chính xác tình hình, hoàn cảnh cụ thể của đất nước và tình hình miền Bắc Trongcải tạo các thành phần kinh tế, đã đồng nhất tập thể hóa với hợp tác hóa, quá sớm để hoàn thành việc xáclập sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, với nhận thức chỉ có hai hình thức sở hữu đó mới là của chế độ xã
Trang 30hội chủ nghĩa trong khi miền Bắc mới bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Do đó, trong tiếnhành cải tạo nông nghiệp, đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, chưa tính đến tính tất yếu và yêu cầu thực sựcủa quá trình phát triển nông nghiệp; trong cải tạo công thương nghiệp, chưa quan tâm đúng mức đếnnguyên tắc cùng có lợi, chưa tìm ra cơ chế và giải pháp quản lý phù hợp, do vậy hiệu quả kinh tế thấp
Ba là, trong quá trình tiến hành cải cách ruộng đất, Đảng đã phạm phải một số sai lầm nghiêmtrọng phổ biến và kéo dài trong chỉ đạo thực hiện Do chủ quan giáo điều, không xuất phát đầy đủ từ thựctiễn, Đảng đã không thấy rõ được những thay đổi quan trọng về quan hệ giai cấp, xã hội ở nông thôn ViệtNam sau cách mạng tháng Tám, nhất là những thay đổi trong kháng chiến Do đó, trong chỉ đạo thực hiệncải cách ruộng đất, đã cường điệu hoá đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộng quá mức đốitượng đấu tranh Sử dụng hình thức phương pháp không phù hợp với đối tượng là địa chủ ở nông thônViệt Nam Trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tình hình tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn, chorằng về cơ bản đã bị địch lũng đoạn, từ đó dẫn đến xử lý oan những cán bộ, đảng viên tốt, sai lầm này gây
ra một số tổn thất đối với Đảng và quan hệ giữa Đảng và các tầng lớp nhân dân
Những khuyết điểm đó còn bắt nguồn từ phương pháp tư duy chủ quan, nóng vội, duy ý chí củaĐảng và trong quá trình lãnh đạo tổ chức xây dựng CNXH còn giáo điều, dập khuôn máy móc kinhnghiệm của nước ngoài, không tính đến hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam
Tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương, khoá II (9-1956), Đảng đã nghiêm khắc kiểmđiểm những sai lầm, công khai tự phê bình trước nhân dân và tiến hành sửa sai một cách kiên quyết, khẩntrương, thận trọng và có kế hoạch lãnh đạo chặt chẽ, vì vậy đã từng bước khắc phục được những sai lầm trongcải cách ruộng đất Thái độ chân thành tự phê bình của Đảng đã được nhân dân đồng tình ủng hộ, uy tín củaĐảng dần được khôi phục Do đó, Đảng đã nhanh chóng ổn định tình hình chính trị - xã hội, củng cố chínhquyền dân chủ nhân dân và khôi phục, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong cán bộ, đảng viên
4 Liên hệ hiện nay
Những thành tựu và hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
từ năm 1954 đến năm 1975 là những cơ sở lý luận và thực tiễn và đúc rút một số bài học kinh nghiệm choviệc hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay:
Thứ nhất, Đảng phải luôn giữ vững độc lập, tự chủ, linh hoạt, sáng tạo trong xác định đường lối
cách mạng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, Đảng phải nhận thức đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội cũng như nhận thức đúng đắn về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất
Thứ ba, trong quá trình hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện, Đảng phải luôn xuất phát từ
thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Thứ tư, phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới Học tập kinh
nghiệm bên ngoài là sự cần thiết trong quá trình hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện đường lốicách mạng XHCN ở Việt Nam Tuy nhiên, Đảng cần lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với hoàn cảnh vàđiều kiện cụ thể của Việt Nam, tránh giáo điều sách vở, rập khuôn máy móc kinh nghiệm của nước ngoài
Thứ năm, phải xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền, lãnh đạo
nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt
tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Câu 13: Phân tích quá trình tìm tòi khảo nghiệm đổi mới từng phần (1979 - 1986)
Từ năm 1979, Việt Nam thực sự lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Sản xuất trì trệ, năng suấtlao động và hiệu quả kinh tế bị giảm sút, nhiều mặt bị mất cân đối nghiêm trọng, lưu thông phân phối áchtắc, căng thẳng Lạm phát tăng với 3 con số (1976:128%, 1981: 313%) Nhà nước phải nhập khẩu lươngthực với khối lượng lớn (1978: 1,9 triệu tấn; 1979: 2,2 triệu tấn) Đời sống nhân dân, cán bộ viên chức vàlực lượng vũ trang ngày càng rất khó khăn Những nhu cầu tối thiểu như lương thực, hàng tiêu dùng thiếtyếu thiếu gay gắt Nạn đói diễn ra nhiều nơi Vấn đề công ăn việc làm, tệ nạn xã hội trở nên nhức nhối.Tình hình đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Đảng là phải tìm đường lối đổi mới, khắc phục những hạnchế của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp; điều chỉnh mục tiêu và phương pháp xâydựng chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, khắc cuộc phục khủng hoảng kinh tế - xã hộiđang diễn ra ngày càng sâu sắc
Từ ngày 15 đến ngày 23-8-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) tổ chức họp Hộinghị lần thứ 6 thông qua hai nghị quyết: Nghị quyết số 20NQ/TW về “Tình hình và nhiệm vụ cấp bách”
và Nghị quyết số 21 - NQ/TW về “Phương hướng nhiệm vụ phát triển hàng công nghiệp tiêu dùng vàcông nghiệp địa phương” Nội dung chính của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng là: Coi việc đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm đảm bảo vững chắc lương thực, thực
Trang 31phẩm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp là “nhiệm vụ trọng tâm nhất” Ban hành ngay chính sáchkhuyến khích sản xuất nông nghiệp, ổn định mức bán nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần còn lại báncho Nhà nước theo giá thoả thuận và lưu thông tự do, khuyến khích tập thể và gia đình xã viên khaihoang, phục hoá, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ Kết hợp kế hoạch với thị trường, khẳng định sự cần thiếttồn tại thị trường tự do, khuyến khích sản xuất “bung ra” đúng hướng Ở miền Nam tồn tại 5 thành phầnkinh tế: quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể, tư bản tư nhân Hội nghị chủ trương thực hiện cácnhiệm vụ trên bằng các giải pháp mới về quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa: khắc phục một bước
sự trì trệ của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp; kết hợp ba lợi ích của tập thể, cá nhân và
xã hội Hội nghị Trung ương 6 đã thể hiện bước đầu đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế, khởi đầu choquá trình tìm kiếm giải pháp tháo gỡ cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, tháo gỡ từng bước những ràngbuộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Vì vậy,Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) chính là bước đột phá đầu tiêntrong quá trình tìm đường lối đổi mới của Đảng Quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, Chính phủ đã banhành một số quyết định đánh dấu bước đầu đổi mới trên lĩnh vực kinh tế như: Quyết định ngày 16-8-1979
về việc khuyến khích tận dụng ruộng đất trong nông nghiệp vào sản xuất; Quyết định ngày 10-9-1979 vềviệc xóa bỏ các trạm kiểm soát có tính chất “ngăn sông, cấm chợ”, ngăn cản việc lưu thông hàng hóa ởcác địa phương… Những quyết định kịp thời của Chính phủ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trungương 6 bước đầu mang đến hiệu quả kinh tế Trong khi Đảng và Nhà nước đang từng bước cụ thể hóaNghị quyết Trung ước 6, ở một số địa phương và một số cơ sở công nghiệp quốc doanh đã mạnh dạn tìmcách tháo gỡ và thử nghiệm cách quản lý mới Trong nông nghiệp, những năm 1977-1979, Hợp tác xãĐoàn Xá (huyện Đồ Sơn, Hải Phòng) đã thực hiện khoán việc và khoán sản phẩm cho xã viên và nhóm xãviên Tiếp đó, một số hợp tác xã ở Vĩnh Phú, Nghệ An, tập đoàn sản xuất nông nghiệp xã Hưng Lộc(huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai)… cũng thực hiện hiệu quả khoán trong nông nghiệp Trong côngnghiệp, đầu năm 1979, một số nhà máy, xí nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện “xé rào”, tổchức lại sản xuất theo hướng tự hạch toán kinh doanh Trước thực tiễn đang diễn ra trong lĩnh vực nôngnghiệp và công nghiệp, Trung ương Đảng đã kịp thời tổng kết lý luận để soi đường cho thực tiễn pháttriển Ngày 21-10-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địa phươngkhoán thử cây lúa, khoán sản phẩm và khoán việc
Tháng 12-1980, Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương (khóa IV) chủ trương mở rộng vàhoàn thiện các hình thức khoán trong nông nghiệp Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100 CT/TW
về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác
xã nông nghiệp Nội dung cơ bản của Chỉ thị số 100 CT/TW là cải tiến mạnh mẽ các hình thức khoán củađội sản xuất đối với xã viên, mở rộng khoán sản phẩm
Trong công nghiệp, ngày 21-1-1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 25-CP về Một
số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốcdoanh Quyết định cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và thực hiện kế hoạch 3phần (phần Nhà nước giao, phần tự làm và phần sản phẩm phụ) Cùng ngày, Hội đồng Chính phủ banhành Quyết định số 26-CP về Mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thứctiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước nhằm tạo động lực cho người lao độnghăng hái lao động sản xuất Các quyết định của Trung ương Đảng và Hội đồng Chính phủ với nhữngđiểm mới trong quản lý nông nghiệp và công nghiệp, đã góp phần làm giảm tình trạng trì trệ trong sảnxuất của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và doanh nghiệp Nhà nước Năm 1981, sản xuất công nghiệpđạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5% Sản lượng lương thực năm 1981 lên18,2 đạt 15 triệu tấn năm 1985 Nhà nước huy động lương thực tăng gấp đôi
Trong khi sản xuất nông nghiệp và công nghiệp có chuyển biến tích cực thì trên mặt trận phânphối, lưu thông ngày càng rối ren Ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về cải tiếncông tác phân phối lưu thông Nghị quyết số 26 nhấn mạnh nguyên tắc giá cả phù hợp với chi phí sảnxuất và lưu thông Tích cực chuẩn bị để tiến đến xóa bỏ tem phiếu Quá trình đổi mới từng phần, theo tinhthần Hội nghị Trung ương 6 là những thử nghiệm, tìm tòi của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế,
đã bước đầu cho kết quả tốt; tuy chưa đồng bộ nhưng là cơ sở, tạo tiền đề để Đảng hoạch định đường lốiđổi mới toàn diện đất nước
Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội từ tháng tháng 3 - 1982 đến tháng 12-1986Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được tổ chức tại thủ đô Hà Nội từ ngày 27 đến ngày 31-3-
1982 Đại hội nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Việt Nam trong giai đoạn mới là: xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau Đại hội có nhận thức mới về thời kỳ quá độ của
Trang 32quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội khi xác định: quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử lâudài, trải qua nhiều chặng đường, với những bước đi cụ thể Trong đó, chặng đường trước mắt bao gồmthời kỳ 5 năm 1981-1985 và kéo dài đến năm 1990 là khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt Đạihội điều chỉnh nội dung bước đi của công nghiệp hóa, trước hết cần tập trung phát triển mạnh nôngnghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng; tiếp tục xây dựng một sốngành công nghiệp nặng quan trọng; Khẳng định trong một thời gian nhất định ở miền Nam vẫn tồn tại 5thành phần kinh tế gồm: quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản tư doanh
Đại hội V có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hộiphản ánh những tư duy đổi mới của Đảng đang được hình thành, nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận hàngđầu trong chặng đường trước mắt, coi ổn định tình hình kinh tế - xã hội là nhiệm vụ bức thiết nhất Tuynhiên, những nhận thức mới của Đảng tại Đại hội V mới chỉ diễn ra trong khuôn khổ đổi mới bộ phận,từng phần trong quá trình từng bước tìm tòi đổi mới tư duy kinh tế và chỉ đạo thực tiễn của Đảng Thựchiện Nghị quyết Đại hội V, trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp đã có chuyển biến rõ rệt Tốc độphát triển nông nghiệp năm 1985 tăng 4,9%; sản lượng nông nghiệp đạt 18.200.000 tấn Tuy nhiên, lĩnhvực phân phối, lưu thông vẫn luôn rối ren, ách tắc Lạm phát từ 125% năm 1980, tăng lên 313%, năm
1981 và 774% năm 1986 Nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng trước những khó khăn gay gắt mà thực chất làkhủng khoảng nghiêm trọng Từ ngày 1 đến ngày 7-6-1985, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa V) họp bàn về giá - lương - tiền Hội nghị khẳng định: không thể ổn định được tìnhhình kinh tế và đời sống, cân bằng được ngân sách và tiền mặt trong khi vẫn duy trì bao cấp theo giá vàlương Hội nghị chủ trương: Phải dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện đúngchế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa Nội dung cụ thể là: tính đủchi phí hợp lý trong giá thành sản phẩm; Thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá: Tiền lươngthực tế phải đảm bảo nguồn lao động sống chủ yếu bằng lương, tái sản xuất lao động, xóa bỏ tem phiếu,trả lương bằng tiền; Các tổ chức kinh tế phải chịu trách nhiệm lỗ, lãi của mình; Chuyển hẳn hoạt động củangân hàng sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa; Thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sảnxuất hàng hóa Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng là sự đổi mới trên lĩnh vực lưu thông,phân phối; tiếp tục thể hiện tư duy đổi mới của Đảng về lĩnh vực kinh tế Hội nghị đánh dấu bước đột pháthứ hai trong quá trình tìm đường lối đổi mới của Đảng Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, từngày 14-9-1985, cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền (lần thứ 2) diễn ra bằng việc đổi tiền, ban hànhmột số giá mới và chế độ tiền lương mới; thực hiện chế độ một giá kinh doanh; xóa bỏ hoàn toàn giá cungcấp và chế độ tem phiếu, chỉ giữ lại sổ gạo cho những người ăn lương Song, do chưa chuẩn bị chu đáo vềmọi mặt nên đã dẫn tới sự đảo lộn tình hình kinh tế, xã hội; lạm phát phi mã; lưu thông phân phối rối ren.Năm 1986, Nhà nước phải trở lại thực hiện chính sách hai giá Tháng 5-1986, Hội nghị lần thứ 10 BanChấp hành Trung ương Đảng (khoá V) thảo luận Dự thảo Báo cáo Chính trị chuẩn bị cho Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Tháng 8-1986, Hội nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã thảo luận vàđưa ra kết luận 3 vấn đề lớn về kinh tế thời kì quá độ:
- Về cơ cấu kinh tế: chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo hướng lấy nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng phát triển có chọn lọc
- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa: là nhiệm vụ phải tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tồn tại nhiều thành phần kinh tế;kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể) giữ vai trò chủ đạo
- Về cơ chế quản lý: lấy kế hoạch làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ, dứtkhoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, vận dụng quy luật giá trị, thực hiện cơ chế một giá
Kết luận của Bộ Chính trị là bước đột phá thứ ba, có giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn đốivới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam Trên cơ sở những quan điểm của Bộ Chính trị,tháng 11-1986, Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) đã thông qua Báo cáoChính trị trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng - xác định đường lối đổi mới Nhưvậy, từ Hội nghị Trung ương 6, khóa IV (8-1979) đến Hội nghị Trung ương 8, khóa V (6-1985), Hội nghị
Bộ Chính trị (8-1986), đã từng bước đưa ra những chủ trương có tính chất đổi mới từng phần, từng bước
đi vào thực tiễn cuộc sống, là cơ sở và tiền đề quan trọng hình thành đường lối đổi mới toàn diện đượcthông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Câu 14: Phân tích thành tựu, hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng XHCN từ
1975-1986 Vận dụng liên hệ hoạch định đường lối xây dựng CNXH trong giai đoạn hiện nay?
* Phân tích thành tựu, hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng XHCN từ 1986
Trang 331975-Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra một thời kỳ mới cho cáchmạng Việt Nam Đất nước được hòa bình, độc lập, thống nhất; tạo điều kiện quan trọng phát huy các tiềmnăng, sức mạnh của con người và thiên nhiên; tạo ra sức mạnh mới toàn diện, bảo đảm cho sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã nêu lên
ba đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới: Một là, Việt Nam đang trong quá trình từ một xã
hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa Hai là, Tổ quốc đã hoà bình, thống nhất, đi lên xây dựng CNXH có nhiều thuận lợi, song những hậu quả của 30 năm chiến tranh cũng gây nhiều khó khăn, trở ngại Ba là, hoàn cảnh quốc tế có
nhiều thuận lợi, nhưng cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng trên thế giới cònnhiều gay go và phức tạp
Trong bối cảnh, tình hình như vậy; yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng và nhân dân Việt Nam tronggiai đoạn 1975-1986 là: Phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, biên giới lãnh thổ; tiếp tục hoàn thành nhữngnhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ; nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh,khôi phục kinh tế, từng bước ổn định đời sống nhân dân; tìm mô hình và con đường quá độ lên CNXHcho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước Để hoàn thành các yêu cầu, nhiệm vụ nêu trên, tronggiai đoạn từ 1975-1986, Đảng đã từng bước lãnh đạo việc xây dựng CNXH trên cả nước đạt được nhữngthành tựu quan trọng:
Lãnh đạo xây dựng CNXH từ tháng 5/1975 đến tháng 3/1982
Từ ngày 14-20/12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã xác định đường lối
chung của cách mạng XHCN ở Việt Nam:“…tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về QHSX, cách mạng KHKT, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng KHKT là then chốt; đẩy mạnh CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới XHCN…” Đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm (1976-1980) với hai mục tiêu
cơ bản: Xây dựng một bước CSVC của CNXH, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế công nông nghiệptrên phạm vi cả nước và cải thiện một bước ĐSVC và tinh thần của nhân dân
Thứ nhất, cải tạo XHCN các thành phần kinh tế ở miền Nam: Nhà nước tiến hành tiếp quản các
CSVCKT do chế độ cũ để lại, quốc hữu hóa các CSSXKD của tư bản nước ngoài; quản lý thống nhất vềkinh tế, xóa bỏ ngân hàng tư nhân, nắm độc quyền phát hành tiền tệ, quốc hữu hóa các ngành vận tảiđường sắt, đường biển và đường hàng không, thống nhất quản lý xuất nhập khẩu, quản lý lương thực thựcphẩm và nhiều lĩnh vực kinh tế trọng yếu
Tháng 3/1977, Bộ Chính trị quyết định trong 2 năm 1977-1978 hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cảitạo XHCN đối với công thương nghiệp tư bản, tư doanh, trước hết là xoá bỏ thương nghiệp tư bản chủnghĩa Từ cuối năm 1978, ở miền Nam phong trào cải tạo XHCN trong nông nghiệp tiếp tục được đẩymạnh Mặc dù, cải tạo các thành phần kinh tế ở các tỉnh miền Nam diễn ra nhanh nhưng hiệu quả thấp;nhiều tập đoàn sản xuất, hợp tác xã ra đời nhưng nhanh chóng tan rã Cuối năm 1980, toàn miền Nam chỉcòn 173 hợp tác xã, 3.722 tập đoàn sản xuất Ở miền Trung và Tây Nguyên, đến đầu năm 1979 đã cănbản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp Ở miền Bắc tiếp tục thực hiện củng cố QHSX XHCN trong
Trang 34nông nghiệp; các hợp tác xã mở rộng quy mô, tổ chức theo hướng tập trung, chuyên môn hoá, cơ giớihoá Đến năm 1979, miền Bắc đã xây dựng 4.154 hợp tác xã quy mô toàn xã Một số địa phương hợp nhất2/3 hợp tác xã thành một hợp tác xã quy mô trên 1.000 hécta.
Thứ hai, thực hiện Kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980): Trong 5 năm, đầu tư của Nhà nước cho
nông nghiệp không ngừng tăng, 19% đến 36%, nhưng trên thực tế, năng suất lúa ngày càng giảm; bìnhquân sản lượng lương thực 5 năm không hoàn thành mục tiêu Đại hội IV đề ra Về phát triển công nghiệp,Nhà nước đầu tư phát triển các ngành công nghiệp cơ bản trên phạm vi cả nước, tuy nhiên do đầu tư dàntrải nên hiệu quả kinh tế- xã hội không cao Tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4% hàng năm, thu nhậpquốc dân chỉ tăng 0,4% Nhìn chung, các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm Đại hội IV đề ra đều không đạt Trong khi nhân dân cả nước đang nỗ lực phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hộithì tình hình biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc diễn biến ngày càng căng thẳng Ở biêngiới phía Tây Nam, từ tháng 5/1975 đến cuối năm 1977, quân Pôn Pốt đã liên tiếp gây ra các vụ xung đột
ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần đề nghị đàm phán hai bên,nhưng chính quyền Pôn Pốt đã khước từ; cuối năm 1978 đã huy động 19/23 sư đoàn mở cuộc tấn côngxâm lược với quy mô lớn vào Việt Nam Quân và dân Việt Nam đã kiên quyết tiến công, đánh đuổi hoàntoàn quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa Việt Nam Đồng thời, thực hiện sự kêu gọi giúp đỡ của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia, quântình nguyện Việt Nam đã phối hợp với quân và dân Campuchia tiến công quân Pôn Pốt, cứu dân tộcCampuchia khỏi họa diệt chủng Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng
Ở biên giới phía Bắc, từ năm 1978, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu xấu đi TrungQuốc đơn phương cắt toàn bộ viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam, rút chuyên gia về nước, côngkhai thực hiện chính sách thù địch với Việt Nam Ngày 17/2/1979, 60 vạn quân Trung Quốc (gồm 11quân đoàn chủ lực và 20 sư đoàn bộ binh) tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc ViệtNam Quân và dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa Tổ quốc Trước sự chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam và sự phản đối của dư luận thếgiới, ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân Đến ngày 18/3/1979, quân đội Trung Quốc rút hoàntoàn ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của nhân dân Việt Nam đãkết thúc thắng lợi
Có thể nói, thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, các nhiệm vụ, mục tiêu KT-XH đề ra đềukhông đạt yêu cầu Cùng với những tác động khách quan khác, đặc biệt là tác động của chiến tranh biêngiới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc đã làm cho tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam ngàycàng trở nên khó khăn Từ năm 1979, Việt Nam thực sự lâm vào khủng hoảng KT-XH Sản xuất trì trệ,năng suất lao động và hiệu quả kinh tế bị giảm sút, nhiều mặt bị mất cân đối nghiêm trọng, lưu thôngphân phối ách tắc, căng thẳng Lạm phát tăng với 3 con số (1981: 313%) Nạn đói diễn ra nhiều nơi;lương thực phải nhập khẩu với khối lượng lớn (1979: 2,2 triệu tấn) Đời sống nhân dân, cán bộ viên chức
và lực lượng vũ trang ngày càng rất khó khăn Vấn đề công ăn việc làm, tệ nạn xã hội trở nên nhức nhối Tình hình đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Đảng là phải tìm đường lối đổi mới, khắc phụcnhững hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp; điều chỉnh mục tiêu vàphương pháp xây dựng CNXH nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, khắc cuộc phục khủng hoảng KT-
XH đang diễn ra ngày càng sâu sắc
Từ ngày 15-23/8/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) tổ chức họp Hội nghị lần thứ 6
Đây là bước đột phá đầu tiên trong quá trình tìm đường lối đổi mới của Đảng Hội nghị thống nhất: coi
việc đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm đảm bảo vững chắc lương thực, thực phẩm và cungcấp nguyên liệu cho công nghiệp là “nhiệm vụ trọng tâm nhất”; ban hành ngay chính sách khuyến khíchSXNN; khẳng định sự cần thiết tồn tại thị trường tự do, khuyến khích sản xuất “bung ra” đúng hướng Ởmiền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể, tư bản tư nhân.Quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, Chính phủ đã ban hành một số quyết định đánh dấu bước đầuđổi mới trên lĩnh vực kinh tế như: khuyến khích tận dụng ruộng đất trong nông nghiệp vào sản xuất; xóa
bỏ các trạm kiểm soát có tính chất “ngăn sông, cấm chợ”, ngăn cản việc lưu thông hàng hóa ở các địaphương… bước đầu mang đến hiệu quả kinh tế
Trong khi Đảng và Nhà nước đang từng bước cụ thể hóa Nghị quyết Trung ước 6, ở một số địaphương và một số cơ sở công nghiệp quốc doanh đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ và thử nghiệm cách quản
lý mới: khoán việc và khoán sản phẩm cho xã viên và nhóm xã viên; khoán trong nông nghiệp; “xé rào”,
tổ chức lại sản xuất trong công nghiệp theo hướng tự hạch toán kinh doanh Trên cơ sở đó, Đảng đã kịpthời tổng kết thực tiễn và lý luận; kịp thời ban hành Thông báo số 22-TB/TW của Ban Bí thư ngày21/10/1980 cho phép các địa phương khoán thử cây lúa, khoán sản phẩm và khoán việc; chủ trương mở
Trang 35rộng và hoàn thiện các hình thức khoán trong nông nghiệp; ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bíthư ngày 13/1/1981 cải tiến mạnh mẽ các hình thức khoán của đội sản xuất đối với xã viên, mở rộngkhoán sản phẩm
Trong công nghiệp, ngày 21/1/1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 25/CP về Một sốchủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh
và Quyết định số 26/CP về Mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thứctiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước nhằm tạo động lực cho người lao độnghăng hái lao động sản xuất
Các quyết định của Trung ương Đảng và Hội đồng Chính phủ với những điểm mới trong quản lýnông nghiệp và công nghiệp, đã góp phần làm giảm tình trạng trì trệ trong sản xuất của các hợp tác xã,tập đoàn sản xuất và doanh nghiệp Nhà nước Năm 1981, sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng côngnghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5% Sản lượng lương thực năm 1981 lên 18,2 đạt 15 triệu tấn năm
1985 Nhà nước huy động lương thực tăng gấp đôi
Trong khi sản xuất nông nghiệp và công nghiệp có chuyển biến tích cực thì trên mặt trận phân phối,lưu thông ngày càng rối ren Ngày 23/6/1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 26/NQ/TW về cải tiến côngtác phân phối lưu thông; nhấn mạnh nguyên tắc giá cả phù hợp với chi phí sản xuất và lưu thông Tíchcực chuẩn bị để tiến đến xóa bỏ tem phiếu
Quá trình đổi mới từng phần, theo tinh thần Hội nghị Trung ương 6 là những thử nghiệm, tìm tòicủa Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, đã bước đầu cho kết quả tốt; tuy chưa đồng bộ nhưng là cơ
sở, tạo tiền đề để Đảng hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước
Lãnh đạo xây dựng CNXH từ tháng tháng 3/1982 đến tháng 12/1986
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã có nhận thức mới về thời kỳ quá độ của quá trìnhxây dựng CNXH khi xác định: quá độ lên CNXH là một thời kỳ lịch sử lâu dài, trải qua nhiều chặngđường, với những bước đi cụ thể Đây là Đại hội có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quá độ lên CNXH
ở nước ta Đại hội phản ánh những tư duy đổi mới của Đảng đang được hình thành, nhấn mạnh nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu trong chặng đường trước mắt, coi ổn định tình hình KT-XH là nhiệm vụ bứcthiết nhất Thực hiện Nghị quyết Đại hội V, trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp đã có chuyển biến
rõ rệt; tốc độ phát triển nông nghiệp năm 1985 tăng 4,9%; sản lượng nông nghiệp đạt 18.200.000 tấn Tuy nhiên, những nhận thức mới của Đảng tại Đại hội mới chỉ diễn ra trong khuôn khổ đổi mới bộphận, từng phần trong quá trình từng bước tìm tòi đổi mới tư duy kinh tế và chỉ đạo thực tiễn của Đảng
Vì vậy, lĩnh vực phân phối, lưu thông vẫn luôn rối ren, ách tắc Lạm phát từ 125% năm 1980, tăng lên313% năm 1981 và 774% năm 1986 Nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng trước những khó khăn gay gắt màthực chất là khủng khoảng nghiêm trọng
Từ ngày 1 đến ngày 7/6/1985, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V họp bàn
về giá-lương-tiền; ra chủ trương: phải dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiệnđúng chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN; trong đó: xóa bỏ tem phiếu, trảlương bằng tiền; các tổ chức kinh tế phải chịu trách nhiệm lỗ, lãi của mình; chuyển hẳn hoạt động củangân hàng sang kinh doanh XHCN; thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hànghóa Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng là sự đổi mới trên lĩnh vực lưu thông, phân
phối; tiếp tục thể hiện tư duy đổi mới của Đảng về lĩnh vực kinh tế Hội nghị đánh dấu bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm đường lối đổi mới của Đảng Song, do chưa chuẩn bị chu đáo về mọi mặt nên đã
dẫn tới sự đảo lộn tình hình kinh tế, xã hội; lạm phát phi mã; lưu thông phân phối rối ren
Năm 1986, Nhà nước phải trở lại thực hiện chính sách hai giá Tháng 5/1986, Hội nghị lần thứ 10Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) thảo luận Dự thảo Báo cáo Chính trị chuẩn bị cho Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Tháng 8/1986, Hội nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã thảo luận vàđưa ra kết luận 3 vấn đề lớn về kinh tế thời kì quá độ:
- Về cơ cấu kinh tế: chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo hướng lấy nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng phát triển có chọn lọc
- Về cải tạo XHCN: là nhiệm vụ phải tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lênCNXH Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tồn tại nhiều thành phần kinh tế; kinh tế XHCN (quốc doanh vàtập thể) giữ vai trò chủ đạo
- Về cơ chế quản lý: lấy kế hoạch làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ, dứtkhoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, vận dụng quy luật giá trị, thực hiện cơ chế một giá
Kết luận của Bộ Chính trị là bước đột phá thứ ba, có giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn đối
với sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam
Trang 36Trên cơ sở những quan điểm của Bộ Chính trị, tháng 11/1986, Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hànhTrung ương Đảng (khóa V) đã thông qua Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng - xác định đường lối đổi mới
Như vậy, trong giai đoạn từ 1975-1986, Đảng đã từng bước đưa ra những chủ trương có tính chất đổi mới từng phần, từng bước đi vào thực tiễn cuộc sống, là cơ sở và tiền đề quan trọng hình thành đường lối đổi mới toàn diện được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, nhất là
03 bước đột phá quan trọng từ Hội nghị Trung ương 6, khóa IV (8/1979) đến Hội nghị Trung ương 8, khóa V (6/1985) và Hội nghị Bộ Chính trị (8/1986) Bên cạnh những thành tưu đạt được, tình hình kinh tế
xã hội nước ta vẫn còn nhiều khó khăn: Sản xuất tăng chậm; một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm không đạt, đã ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh tế và đời sống của nhân dân; hiệu quả sản xuất
và đầu tư thấp Lạm phát tăng cao Tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật kỉ cương không nghiêm minh Cán bộ tham nhũng, lộng quyền Quần chúng suy giảm lòng tin đối với
sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước.
* Vận dụng liên hệ hoạch định đường lối xây dựng CNXH trong giai đoạn hiện nay
Từ thực tiễn lãnh đạo xây dựng CNXH ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986, chúng ta có thể đưa
ra một số kinh nghiệm; trên cơ sở đó, để vận dụng vào việc hoạch định, xây dựng CNXH ở Việt Nam giaiđoạn hiện nay?
Năm bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, Đảng phải luôn giữ vững độc lập, tự chủ, linh hoạt, sáng tạo trong xác định đường lối
cách mạng XHCN
Thứ hai, Đảng phải nhận thức đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH
cũng như nhận thức đúng đắn về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất
Thứ ba, trong quá trình hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện, cần chú trọng lựa chọn
những kinh nghiệm phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam Đảng phải luôn xuất phát
từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Thứ tư, phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Thứ năm, phải xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền, lãnh đạo
nhân dân tiến hành cách mạng XHCN Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
“lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Liên hệ hoạch định đường lối xây dựng CNXH
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trựctiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triểnvẫn là xu thế lớn Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếptục được đẩy mạnh Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộngđồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa - kinh tế - chính trị chiến lược ngày càngquan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tốbất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt
Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nướcngày càng được nâng cao Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO,tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều sovới giai đoạn trước Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, tháchthức Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các
nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ "diễn biến hoà bình" của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến
phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, đòi hỏi Đảng phảiđổi mới tư duy, kịp thời đưa ra được những quyết sách đúng đắn nhằm thực hiện mục tiêu xây dựngCNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Cụ thể như sau:
Thứ nhất, tiếp tục phát triển lý luận về đổi mới con đường XHCN Nhận thức đầy đủ, đúng đắn
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới như: mục tiêucủa đổi mới, của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đặc trưng của xã hội XHCN ở Việt Nam; về con đường đilên CNXH; nhận thức đúng và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn trong phát triển
Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận đặt ra:
Trang 37Đi lên CNXH là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam Để thực hiện thành công con đường
này, về thực tiễn, đòi hỏi các cấp, các ngành, cán bộ và nhân dân quán triệt những quan điểm của Đảng,
đồng thuận, chung sức, quyết tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của đất nước;
về lý luận, cần tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, khái quát, trả lời đầy đủ những vấn đề đặt ra: Xãhội XHCN Việt Nam là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Để trả lời và làm rõ hai câu hỏitrên, trong thời gian tới, công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về CNXH ở Việt Nam cần quantâm làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- CNXH là tất yếu trong sự phát triển của nhân loại nhưng không phải là cái đương nhiên có, thụđộng ngồi chờ mà phải thông qua sự nỗ lực hoạt động thực tiễn của Đảng, nhân dân ta để hiện thực hóamục tiêu XHCN
- CNXH là một trình độ mới trong sự phát triển của nhân loại, nó không có mô hình, con đường có sẵn
mà đòi hỏi Đảng ta, trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phải không ngừng sáng tạo, bámsát thực tiễn của đất nước và thời đại để xây dựng CNXH, đồng thời hoàn thiện lý luận về CNXH.
- Cần nhận thức rõ ràng rằng, xây dựng CNXH có tính lịch sử, cụ thể; tùy từng giai đoạn nhất định
mà xác định nội dung, phương thức phù hợp; thoát ly điều kiện thực tế, CNXH sẽ rơi vào ảo tưởng, chủquan, duy ý chí - đây là điều đã từng diễn ra trong quá trình xây dựng CNXH tại một số quốc gia, dân tộc
- Trả lời những vấn đề về xác định chặng đường, bước đi trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta;xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về mô hình và phương thức quản lý phát triển xã hội;đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị; xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam;Đảng cầm quyền; về động lực của đổi mới và phát triển ở Việt Nam trong thời kỳ mới: lợi ích, lòng yêunước, tinh thần dân tộc, dân chủ, đoàn kết, đại đoàn kết, văn hóa, đổi mới tư duy, tổ chức, cơ chế, chínhsách, tạo môi trường thuận lợi, quản lý kinh tế - xã hội, trách nhiệm giải trình,…
Thứ ba, triển khai thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp:
+ Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới bảo đảm phát huy hiệu quả mọi nguồn lực;+ Hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và tích cực hộinhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tàinguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển đất nước nhanh và bền vững;
+ Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trọng tâm là xây dựng conngười Việt Nam phát triển toàn diện;
+ Phát triển và quản lý phát triển xã hội bền vững trên nền tảng dân chủ, khoa học, thượng tôn pháp luật;+ Xây dựng nền phòng quốc toàn dân gắn với xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân và thếtrận lòng dân, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước;
+ Tiếp tục phát triển, đưa quan hệ đối ngoại vào chiều sâu; nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhậpquốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;+ Hoàn thiện và phát huy nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân; tạo sự đồng thuận xãhội vững chắc và sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
+ Tập trung xây dựng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN;+ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo - cầm quyền, sức chiến đấucủa Đảng và vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh
Câu 16: Phân tích những điểm mới về đặc trưng xây dựng CNXH của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011) và nêu giải pháp để hiện thực hóa những đặc trưng trên tại cơ quan, đơn vị đồng chí?
Trả lời:
1 KHÁI NIỆM CƯƠNG LĨNH
V.I.Lênin viết: ''Cương lĩnh là một bản tuyên ngôn vắn tắt, rõ ràng và chính xác nói lêntất cả những điều
mà đảng muốn đạt được và vì mục đích gì mà đảng đấu tranh” Theo ý nghĩa đó, Cương lĩnh chính trị là
văn bản trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạngtrong một giai đoạn nhất định Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng,
là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh chính trị để tập hợp và lãnh đạo nhân dân đấutranh giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua Chánh cươngvắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
khởi thảo Đến tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua Luận cương cách mạng tư
sản dân quyền do đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư của Đảng soạn thảo Nội dung cơ bản của Chánh
Trang 38cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Luận cương cách mạng tư sản dân quyền đãđược thông qua là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản Đó làCương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là ngọn cờ tập hợp toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc đấu tranh giành độclập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tạo tiền đề để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991), trên cơ sở tổng kết quá trình hơn 60 năm thực hiện Cương lĩnh năm
1930, phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình quốc tế và trong nước, Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991)
Trải qua 15 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết phấn đấu,vượt qua những khó khăn, thử thách, giành được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã có sựthay đổi toàn diện Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã khẳng định tính đúng đắn của Cương lĩnh 1991;điều chỉnh, bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị, phù hợp với tình hình và yêu cầu của giai đoạn cáchmạng mới, trong đó có những điểm mới về đặc trưng xây dựng CNXH
2 ĐẶC TRƯNG XÂY DỰNG CNXH ĐƯỢC XÁC ĐỊNH TRONG CƯƠNG LĨNH 1991
Cương lĩnh 1991 đã xác định Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng có 6 đặctrưng chủ yếu sau đây:
- Một là, nhân dân lao động làm chủ.
- Hai là, có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Ba là, có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Bốn là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Năm là, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Sáu là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
3 VIỆC THỰC HIỆN CƯƠNG LĨNH 1991 TRONG THỜI GIAN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2011
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA CƯƠNG LĨNH 1991 TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI
3.1 Việc thực hiện Cương lĩnh 1991 trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2011
Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởngkhá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kếttoàn dân ta được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng và an ninh được giữvững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tănglên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta ngày càngsáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản
2 Sự phát triển một số nội dung Cương lĩnh 1991 về đặc trưng xây dựng CNXH trong Nghị quyết Đại hội X
Đến Đại hội X (năm 2006), Đảng ta nhận định: “lý luận về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội đã hình thành trên những nét cơ bản” Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa được Đảng nêu
cụ thể hơn: “là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; cónền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giảiphóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộctrong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”(2)
3 Những điểm mới về đặc trưng xây dựng CNXH của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011)
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm2011) đã điều chỉnh, chuẩn hóa một số nội dung và cô đọng hóa 8 đặc trưng:
1 “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh;
Trang 392 Do nhân dân làm chủ;
3 Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;
4 Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
5 Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;
6 Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;
7 Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sảnlãnh đạo;
8 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(3)
3.1 Trong đó những điểm mới về đặc trưng xây dựng CNXH của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011) đó là:
- Đặc trưng thứ nhất: Đặc trưng bao quát nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân ta xây dựng đượcCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
khẳng định, là: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị xã hội tốt đẹp nhất, ước mơ ngàn đời của loàingười, cho nên cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa xã hội Vì vậy, đây là đặc trưng phổ quát, có tínhbản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự khác nhau căn bản, sự tiến bộ hơn hẳn của chế độ xãhội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó Xã hội tư bản có đời sống vật chất và tiện nghi rất cao;dân có thể giàu, nước có thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể cócông bằng và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có đượcbằng quan hệ bóc lột Trong xã hội như vậy, người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội
Xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” là quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ và lâu dài tronghoàn cảnh và điều kiện Việt Nam - một nước còn nghèo, đang phát triển, chưa có “nền đại công nghiệp”(điều kiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội như C.Mác đã chỉ rõ), v.v Nhưng để trở thành xã hội
xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nêu trên, không có cách nào khác là toàn Đảng, toàn dân ta phải nỗlực sáng tạo, chiếm lĩnh các đỉnh cao của xã hội Và, Việt Nam đang từng bước đạt tới các mục tiêu cần
có trong hiện thực
Đảng ta đã vạch ra phương hướng, chính sách cụ thể, có cơ sở lý luận - thực tiễn để thực hiện trong hiệnthực: “nước mạnh” gắn với “dân giàu”, “công bằng” và “văn minh”, bảo đảm “dân chủ”; đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hoàn thiện nhà nước pháp quyền với nền dânchủ xã hội chủ nghĩa; v.v
- Đặc trưng thứ bảy: “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước trên một trình độ cao và hiệu quả Nó điều hànhhoạt động của các cơ quan nhà nước và xã hội bằng pháp luật Nhưng vấn đề ở đây là pháp luật nào?Pháp luật của ai và vì ai?
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã hội bằng phápluật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân; vì vậy, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Đây là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhànước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật đó và không ngừng tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trungdân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Tiếp tụchoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đòihỏi khách quan để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa hiện nay Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể nào khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản - đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng xãhội chủ nghĩa
3.2 Một số đặc trưng xây dựng CNXH được chỉnh sửa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011) so với đó là:
- Đặc trưng thứ hai: Xã hội “do nhân dân làm chủ”, trước đây là “do nhân dân lao động làm chủ”
Cương lĩnh năm 1991 quan niệm xã hội “do nhân dân lao động làm chủ” chưa bao quát được hết tất cả các giai cấp, tầng lớp và các chủ thể nhân dân trong xã hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011) đã chỉnhsửa cụm từ “nhân dân lao động” thành “nhân dân” Có thể thấy, Chủ thể “nhân dân” rộng hơn xo với