Luận văn Nguồn nhân lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người bệnh tại bệnh viện đa khoa Đan Phượng thành phố Hà Nội năm 2021 được hoàn thành với mục tiêu nhằm đánh giá nguồn nhân lực Y học cổ truyền tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội năm 2021; Khảo sát nhu cầu sử dụng y học cổ truyền và sự hài lòng của người bệnh tại khoa y học cổ truyền bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng năm 2021.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Toàn bộ nhân viên y tế thuộc khoa Y học cổ truyền bệnh viện Đa khoa Đan Phượng
- Có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, điều trị nội trú tại khoa YHCT bệnh viện Đa khoa Đan Phượng a Tiêu chuẩn chọn :
Người bệnh đồng ý tham gia
Người bệnh có khả năng đọc, hiểu và trả lời các câu hỏi b Tiêu chuẩn loại trừ :
Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh nặng không có khả năng đối thoại chính xác với thầy thuốc
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu tại khoa Y học cổ truyền bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Nghiên cứu từ tháng 01/03/2021 đến tháng 30/9/2021.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu a Đối với người bệnh đến khám và điều trị tại khoa y học cổ truyền bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Cỡ mẫu trong nghiên cứu mô tả dịch tễ học được tính theo công thức xác định cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ, đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả Công thức tính cỡ mẫu là n = Z²(1-α/2) p (1-p) / d², trong đó n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết; Z là giá trị z tương ứng với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05; p là tỷ lệ ước lượng dân số; d là khoảng sai số mong muốn Công thức giúp xác định số lượng mẫu đủ lớn để đảm bảo độ chính xác của ước lượng tỷ lệ trong các nghiên cứu dịch tễ học.
Z : Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z 2 (1- α/2) = 1,96 p: Tỷ lệ ước đoán sử dụng thuốc Y học Cổ truyền tại Việt Nam theo Karl
P, Thang Nguyen Huu, Nguyen Bach Ngoc và Supa P (2017) là 43,6%, p = 0,436 [41] d: Khoảng sai lệch cho phép, d = 0,05
➔Áp dụng công thức tính trên ta có n = 378
Từ kết quả trên để đảm bảo độ tin cậy tôi xin lấy 400 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu từ người bệnh đến khám và điều trị tại khoa
Bệnh viện Đa khoa Đan Phượng bắt đầu triển khai dịch vụ y học cổ truyền từ ngày 01/03/2021 đến ngày 30/09/2021, đáp ứng đủ số lượng hồ sơ cần thiết cho nghiên cứu Chính sách này cũng áp dụng cho cán bộ viên chức tại bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền.
Kỹ thuật chọn mẫu: Là kỹ thuật chọn mẫu toàn bộ theo các bước:
-Bước 1: Lập danh sách tất cả cán bộ hiện đang công tác tại khoa y học cổ truyền bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
-Bước 2: Xác định các cán bộ là viên chức của bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng trong năm 2021
-Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin từ hồ sơ các cán bộ đủ tiêu chuẩn
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa Đan Phượng
Phòng tổ chức cán bộ Phòng khám
Cán bộ y tế thuộc khoa YHCT Khoa Y học cổ truyền
Nhu cầu sử dụng YHCT của người bệnh Đánh giá nguồn nhân lực
Sự hài long của bệnh nhân
2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
2.3.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu định lượng, phát phiếu phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn người từ 18 tuổi trở lên là yêu cầu cần thiết để nắm vững thông tin về tình trạng sức khỏe của họ Trong trường hợp đối tượng từ chối hợp tác trả lời, điều tra viên sẽ chuyển sang phỏng vấn những đối tượng khác để đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu cần thiết cho quá trình điều tra.
Trong quá trình phỏng vấn chỉ có điều tra viên và đối tượng được phỏng vấn và 2 người đối diện nhau không có người thứ 3
Mục tiêu nghiên cứu Các biến số Loại biến số
Mục tiêu 1: Đánh giá nguồn nhân lực y học cổ truyền tại bệnh viện Đa khoa Đan
-Tỷ lệ CBYHCT/CBYT -Trình độ(Cao đẳng, đại học, sau đại học) Định lượng Thống kê
Kiến thức về YHCT +Tỷ lệ loại A, B, C Định lượng Bộ câu hỏi
- Cách đánh giá kỹ năng thực hành YHCT
+ Tỷ lệ loại A, B, C Định lượng Bộ câu hỏi
-Quan điểm phát triển YHCT +Tỉ lệ đồng ý phát triển YHCT Định lượng
Bộ câu hỏi Phỏng vấn
Nhu cầu sử dụng YHCT và sự hài lòng
Thực trạng sử dụng thuốc YCHC trước khi vào viện (chưa sử dụng bao giờ, rất ít khi, thường xuyên)
Số lượng, tỷ lệ% sử dụng thuốc
Phỏng vấn của người bệnh tại khoa
YHCT bệnh viện đa khoa Đan Phượng
Sử dụng loại thuốc dạng (viên hoàn, sắc thang, đóng túi, khác)
Số lượng, tỷ lệ% theo dạng chế phẩm
Các dạng thuốc YHCT hay dùng trong một số bệnh thông thường
Số lượng, tỷ lệ% theo bệnh
Loại thuốc dạng chế phẩm dễ sử dụng (viên hoàn, sắc thang, đóng túi, khác)
Số lượng, tỷ lệ% theo dạng chế phẩm dễ sử dụng
Lý do sử dụng thuốc YHCT (sẵn có, hiệu quả, rẻ tiền, ít tác dụng không mong muốn)
Số lượng, tỷ lệ% lý do dùng
Lý do không chọn? (bất tiện, khó uống, không tin tưởng, thiếu kiến thức YHCT)
Số lượng, tỷ lệ% lý do không dùng
Sự tín nhiệm đối với YHCT (điều trị tiếp khi có bệnh, chuyển sang thuốc YHHĐ, giới thiệu cho người thân, bạn bè điều trị bằng thuốc YHCT)
Số lượng, tỷ lệ% độ tín nhiệm
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số phiếu phỏng vấn định lượng gia đình được làm sạch trước khi nhập số liệu vào máy
Số liệu nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1
Tất cả các phiếu được vào máy tính 2 lần, sau đó sử dụng chương trình kiểm tra phát hiện và chữa những sai số do nhập số liệu
Chương trình SPSS 20.0 được sử dụng để phân tích dữ liệu một cách chính xác và hiệu quả Các kết quả phân tích được trình bày qua các bảng biểu đồ rõ ràng, gồm các thông số quan trọng như số lượng, giá trị phần trăm (giá trị%), và giá trị P để đánh giá ý nghĩa thống kê của các kết quả Việc sử dụng SPSS giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về dữ liệu, hỗ trợ đưa ra các kết luận chính xác dựa trên phân tích số liệu chặt chẽ.
2.3.4 Một số đặc điểm phân loại mức độ về kiến thức và kỹ năng thức hành của cán bộ y tế
- Trình độ: Phân loại theo bằng cấp gồm cao đẳng, đại học và sau đại học
- Tuổi đời và thâm niên công tác
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng năm tiêu chuẩn để đánh giá mức độ kiến thức của cán bộ y tế tại các cơ sở y tế công lập, bao gồm kỹ năng chỉ định phương pháp phù hợp, kiến thức về thuốc YHCT dạng thang và chế phẩm, kiến thức về châm cứu và xoa bóp bấm huyệt Đồng thời, chúng tôi cũng áp dụng bốn phương pháp phân loại kỹ năng thực hành: kỹ năng kê đơn, kỹ năng châm cứu, kỹ năng dùng ngoài và tư vấn, nhằm đưa ra đánh giá toàn diện về năng lực của cán bộ y tế trong lĩnh vực y học cổ truyền.
Để đánh giá rõ mức độ kiến thức và kỹ năng thực hành của cán bộ y tế, chúng tôi dựa trên các tài liệu tham khảo đáng tin cậy như Bài giảng YHCT và Bài giảng Nội bệnh học nội khoa [12], nhằm phân loại chính xác và nâng cao chất lượng đào tạo y tế.
- Chúng tôi phân loại kiến thức và kỹ năng thực hành làm 3 loại theo thang điểm 10 cụ thể như sau:
Loại A : Từ 7 – 10 diểm ( Khá , Giỏi)
Loại B : Từ 5 – 6 điểm ( Trung bình )
Khống chế sai số
+ Nghiên cứu được xử lý và phân tích dữ liệu bằng tay, phân tích dữ liệu theo chủ đề
Ngay sau các cuộc phỏng vấn, nghiên cứu viên ghi chép lại toàn bộ nội dung cuộc phỏng vấn, bao gồm các quan sát và cảm nhận của họ để bổ sung vào bảng dữ liệu, đảm bảo hồ sơ đầy đủ và chính xác giúp phục vụ quá trình phân tích sau này.
Cuối mỗi bảng phỏng vấn, các tóm tắt đã được mã hóa để bảo mật thông tin Những tóm tắt này tập trung vào các nội dung quan trọng, liên quan trực tiếp đến mục tiêu nghiên cứu Việc mã hóa giúp đảm bảo tính bảo mật và tính khách quan của dữ liệu Phương pháp này hỗ trợ phân tích dữ liệu một cách hiệu quả và chính xác hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Thu nhập thông tin chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu
- Phải được sự đồng ý của cơ sở đào tạo, chính quyền ngành y tế địa phương
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, việc tham gia phải được sự chấp thuận tự nguyện của các đối tượng nghiên cứu Những người không đồng ý tham gia sẽ không được đưa vào nghiên cứu và sẽ không chịu bất kỳ đối xử khác biệt nào so với các đối tượng đã đồng ý Đảm bảo sự tự nguyện và quyền tự do của từng cá nhân là nguyên tắc quan trọng trong nghiên cứu này.
Đội ngũ thu thập số liệu cần được tập huấn thống nhất về bộ câu hỏi và phương pháp điều tra để đảm bảo tính chính xác và đồng nhất trong dữ liệu Việc tổ chức đào tạo bài bản giúp nâng cao kỹ năng cho nhân viên thực địa, đồng thời giảm thiểu sai sót trong quá trình thu thập dữ liệu Ngoài ra, sự giám sát chặt chẽ của nghiên cứu viên tại hiện trường là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng và tính khách quan của dữ liệu thu thập được.
- Khách quan trong đánh giá, phân loại, cho điểm
- Trung thực trong xử lý số liệu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đánh giá nguồn nhân lực yhct tại bệnh viện đa khoa huyện đan phương 33 1 Trình độ chuyên môn và tỷ lệ cán bộ YHCT /CBYT nói chung bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
3.1.1 Trình độ chuyên môn và tỷ lệ cán bộ YHCT /CBYT nói chung bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Bảng 3.1 Trình độ chuyên môn và tỷ lệ cán bộ YHCT /CBYT nói chung tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Khác Cao Đẳng điều dưỡng 8 5,8 130 94,2 138 100
Nhìn vào số liệu, số lượng điều dưỡng làm việc tại khoa YHCT chiếm tỷ lệ thấp chỉ 5,8% so với tổng số điều dưỡng toàn viện Trong khi đó, bác sĩ YHCT chiếm tỷ lệ khá cao là 26,09%, còn số bác sĩ sau đại học đạt 6,45% Những con số này cho thấy sự phân bổ nhân lực chưa đều và còn nhiều tiềm năng để tăng cường đội ngũ điều dưỡng tại khoa YHCT nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc.
3.1.2 Tuổi đời và thâm niên công tác của cán bộ y tế chuyên ngành YHCT tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phương
Bảng 3.2 Tuổi đời và thâm niên công tác của cán bộ y tế chuyên ngành
YHCT tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Cán bộ y tế n TB tuổi
SĐH Bác sĩ CKI 2 55 26,5 ĐH
Khác Cao Đẳng điều dưỡng 8 34,5 ± 2,74 13,13 ± 2,37
Kết quả thống kê cho thấy tuổi trung bình của nhân viên khoa YHCT tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng là 35,17 ± 7,81 tuổi, trong khi tuổi nghề trung bình là 12,22 ± 6,48 năm.
3.1.3 Kiến thức và kỹ năng thực hành YHCT của cán bộ y tế bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Bảng 3.3 Kiến thức y học cổ truyền nhân viên y tế khoa YCHT tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phương
Thuốc YHCT Châm cứu Xoa bóp bấm huyệt n % n % n %
Dựa trên kết quả thống kê trong bảng 3.3, phần lớn nhân viên có kiến thức về xoa bóp bấm huyệt thuộc các loại A và B Cụ thể, loại A chiếm tỷ lệ 66,67%, thể hiện mức độ hiểu biết tốt về kỹ thuật này, trong khi đó loại B chiếm 33,33%, phản ánh kiến thức trung bình đến khá.
3.1.4 Kỹ năng thực hành YHCT của cán bộ y tế chuyên ngành YHCT tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Bảng 3.4 Kỹ năng thức hành YHCT của cán bộ y tế chuyên ngành
YHCT tại bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng
Kê đơn Châm cứu Tư vấn n % n % n %
Kết quả thống kê cho thấy kỹ năng sử dụng các phương pháp khác của nhân viên y tế chuyên ngành YHCT đạt loại C cao nhất với tỷ lệ 44,44%, trong khi đó chỉ có 11,12% đạt loại B Kỹ năng châm cứu của nhân viên y tế khá tốt, với tỷ lệ đạt loại A là 55,56% và loại B là 44,44%.
3.1.5 Quan điểm của cán bộ y tế về sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân
Bảng 3.5 Quan điểm của cán bộ y tế về sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân
Cán bộ y tế Đồng ý sử dụng Không đồng ý sử dụng n % n %
SĐH Bác sĩ CKI 2 100 0 0 ĐH
Theo bảng 3.5, có thể thấy rằng 100% cán bộ y tế tại khoa Đông y của bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng đồng ý sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Điều này cho thấy sự chấp nhận cao và tin tưởng của đội ngũ y tế địa phương đối với phương pháp điều trị bằng YHCT Việc sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu đang nhận được sự ủng hộ toàn diện từ các cán bộ y tế, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Khảo sát nhu cầu sử dụng y học cổ truyền và sự hài lòng của người bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện đan phượng
3.2.1 Thông tin chung về bệnh nhân có nhu cầu sử dụng YHCT tại khoa khám bệnh của bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng
Bảng 3.6 Phân bố đối tượng theo tuổi (n@0)
Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ(%)
Nhỏ nhất: 22 TB ± SD: 58 ± 13,5 Cao nhất: 85
Theo bảng thống kê, nhóm tuổi từ 51 đến 70 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,75% bệnh nhân, tiếp theo là nhóm 30-50 tuổi chiếm 34,25% Đối tượng trên 70 tuổi có 43 bệnh nhân, chiếm 10,75%, trong khi nhóm dưới 30 tuổi có 25 bệnh nhân, chiếm 6,25% Độ tuổi nhỏ nhất trong nhóm bệnh nhân là 22 tuổi, còn lớn nhất là 85 tuổi.
Bảng 3.7 Phân bố đối tượng theo giới và dân tộc (n@0) Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Theo số liệu thống kê, so với nam giới, nữ giới chiếm tỷ lệ vượt trội với 64,25% tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu Đa số bệnh nhân đều thuộc dân tộc Kinh, chiếm tới 98,25%, phản ánh đặc điểm nhân khẩu học của nhóm bệnh nhân được khảo sát.
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp (n@0)
Theo bảng thống kê, đối tượng phân loại theo tuổi chủ yếu thuộc nhóm Hưu trí với tỷ lệ 42,75% (171/400), cho thấy đối tượng cao tuổi chiếm đa số Tiếp theo, nhóm lao động tự do chiếm 26% (104/400), phản ánh mức độ tham gia nghề nghiệp của người trưởng thành Công nhân viên chức chiếm 18% (72/400), thể hiện sự đóng góp của lực lượng lao động trong khu vực hành chính và dịch vụ Các thành phần khác như học sinh, sinh viên, nội trợ chiếm 13,25% (53/400), cho thấy sự đa dạng trong cơ cấu đối tượng của khảo sát.
Bảng 3.8 Phân bố đối tượng theo bảo hiểm y tế (n@0)
Bảo hiểm y tế Số lượng Tỉ lệ (%)
Đối tượng đến khám và điều trị có bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ cao đến 96,25%, cho thấy rằng phần lớn người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế để đi khám bệnh Điều này phản ánh rõ ràng tầm quan trọng của bảo hiểm y tế trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đồng thời giúp giảm gánh nặng tài chính cho người dân Việc tăng cường sử dụng bảo hiểm y tế góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo quyền lợi cho người bệnh.
Bảng 3.9 Phân bố đối tượng theo điều kiện kinh tế (n@0) Điều kiện kinh tế Số lượng Tỉ lệ (%)
Dựa trên bảng dữ liệu, phần lớn bệnh nhân đều có điều kiện kinh tế trung bình, chiếm tỷ lệ 80% với 320 trên 400 bệnh nhân Khá giả và giàu có chiếm khoảng 12,75%, trong khi bệnh nhân thuộc hộ cận nghèo chiếm 5,5%, và những người nghèo chỉ chiếm 1,75% Điều này cho thấy tình hình kinh tế của đa số bệnh nhân thuộc mức trung bình, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và chi trả cho dịch vụ y tế.
3.2.2 Nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền của người bệnh tại bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng
Chưa dùng YHCT Đã dùng YHCT
Chưa dùng Dùng thường xuyên Dùng không thường xuyên
Biểu đồ 3.2 cho thấy, trong tổng số 400 bệnh nhân đến khám và điều trị bằng YHCT, có 64 bệnh nhân (16%) là lần đầu tiên sử dụng thuốc y học cổ truyền Trong tổng số 336 bệnh nhân đã từng sử dụng YHCT, có 196 người sử dụng không thường xuyên, trong khi 140 người khác sử dụng YHCT thường xuyên trong chăm sóc sức khỏe.
Bảng 3.10 Lý do không sử dụng thuốc YHCT của người bệnh (nd)
Lý không do sử dụng YHCT Số lượng Tỷ lệ (%)
Không tin tưởng vào thuốc YHCT 3 4,7
Bất tiện khi sử dụng 33 51,6
Lâu khỏi /tác dụng chậm 21 32,8
Bị dị ứng với thuốc YHCT 0 0
Thuốc YHCT giá thành cao 1 1,6
Dựa trên bảng thống kê, trong tổng số 64 bệnh nhân, nguyên nhân chính khiến họ không sử dụng YHCT là do cảm thấy bất tiện khi dùng (51,6%) và thời gian tác dụng chậm hoặc lâu khỏi (32,8%) Chỉ có 4,7% bệnh nhân không tin tưởng vào hiệu quả của thuốc YHCT, trong khi 6,2% lo sợ thuốc giả Không có trường hợp nào từ chối sử dụng YHCT do dị ứng.
Bảng 3.11 Lý do sử dụng thuốc YHCT của người bệnh (n36)
Lý do sử dụng YHCT Số lượng Tỷ lệ (%)
Sẵn có, dễ kiếm 63 18,75 Điều trị hiệu quả 105 31,25
Không có tác dụng không mong muốn 171 50,89
Dựa trên bảng thống kê, lý do chính bệnh nhân lựa chọn điều trị y học cổ truyền (YHCT) là do không gặp phải tác dụng không mong muốn, chiếm 50,89% Trong khi đó, 31,25% bệnh nhân cho biết phương pháp YHCT mang lại hiệu quả tích cực Ngoài ra, các bệnh nặng sử dụng YHCT chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 1,19%, cho thấy sự ưu tiên của bệnh nhân đối với các phương pháp điều trị này phù hợp với các trường hợp nhẹ và trung bình.
Bảng 3.12 Nguồn thông tin về thuốc y học cố truyển (n36)
Nguồn thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Hàng xóm, bạn bè giới thiệu 97 28,87
Thông tin đài phát thanh/ vô tuyến/ mạng 78 23,21
Khác (sách báo, đi học ) 5 1,5
Dựa trên bảng 3.14, nguồn thông tin về thuốc YHCT chủ yếu đến từ cán bộ y tế, chiếm tỷ lệ 45,24%, phản ánh vai trò quan trọng của ngành y tế trong cung cấp kiến thức về y học cổ truyền Các nhà thuốc gia truyền đóng góp đáng kể với tỷ lệ 31,25%, cho thấy sự tin cậy và phổ biến của phương pháp truyền thống trong cộng đồng Tuy nhiên, nguồn thông tin từ đài báo, vô tuyến, mạng internet còn hạn chế, chiếm 23,21%, và đặc biệt, thông tin từ sách báo chỉ chiếm 1,5%, cho thấy cần nâng cao việc truyền thông và tiếp cận kiến thức y học cổ truyền qua các phương tiện truyền thông đa dạng hơn để nâng cao nhận thức cộng đồng.
Bảng 3.13 Phân bố nguồn sử dụng thuốc (n36) Nguồn sử dụng thuốc Số lượng Tỷ lệ%
Mua tại hiệu thuốc đông y 150 44,64
Mua tại bệnh viện khi đi khám 97 28,87
Mọc tự nhiên/ trồng tại địa phương 23 6,8
Khác (hiệu thuốc tây y, phòng khám tư…) 7 2,08
Phân tích bảng 3.15 cho thấy nguồn cung cấp thuốc YHCT chủ yếu từ bệnh nhân mua thuốc tại các phòng khám YHCT, chiếm tỷ lệ nổi bật là 44,64% Ngoài ra, nguồn thuốc từ trạm y tế cũng đóng vai trò quan trọng với tỷ lệ 33,9%, trong khi đó, mua thuốc tại bệnh viện chiếm 28,87%, phản ánh sự phân bố phổ biến của các nguồn cung cấp thuốc YHCT trong hệ thống y tế cộng đồng.
Bảng 3.14 Mục đích sử dụng thuốc YHCT của đối tượng nghiên cứu
Mục đích sử dụng Số lượng Tỷ lệ%
Bồi bổ nâng cao sức khoẻ 66 19,6
Kết hợp chữa bệnh và bồi bổ nâng cao sức khoẻ 97 28,9 Điều trị củng cố sau khi chữa bệnh bằng YHHĐ 58 17,3
Kết quả nghiên cứu cho thấy mục đích chính của việc sử dụng thuốc YHCT là để chữa bệnh, chiếm tỷ lệ 70,5% Ngoài ra, người dùng còn sử dụng YHCT để bồi bổ, nâng cao sức khoẻ với tỷ lệ 28,9%, cũng như phòng bệnh với tỷ lệ 24,1% Đồng thời, việc sử dụng thuốc YHCT còn nhằm mục đích điều trị củng cố sau khi đã chữa bằng y học hiện đại, chiếm 17,3%, thể hiện sự tin tưởng vào hiệu quả toàn diện của y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe.
Bảng 3.15 Sử dụng thuốc YHCT theo tính chất bệnh (n36)
Tính chất bệnh Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Từ bảng 3.15 ta thấy sử dụng thuốc YHCT trong điều trị các bệnh mạn tính là chủ yếu chiếm 78% và cấp tính chiếm 27,1%, dự phòng là 25,3%
Bảng 3.16 Nhóm bệnh thường được điều trị bằng thuốc y học cố truyền
Nhóm bênh Số lượng Tỷ lệ (%)
Nghiên cứu cho thấy, nhóm bệnh thường được điều trị bằng thuốc YHCT chủ yếu là các bệnh lý xương khớp, chiếm tỷ lệ 53,3%, phản ánh hiệu quả của y học cổ truyền trong điều trị các vấn đề xương khớp Tiếp theo, các bệnh về tiêu hóa và mất ngủ lần lượt chiếm 33,3% và 32,1%, cho thấy sự quan tâm đáng kể đến các chứng rối loạn tiêu hóa và giấc ngủ bằng YHCT Trong khi đó, các bệnh lý tim mạch và các vấn đề khác có tỷ lệ rất thấp, lần lượt là 8,3% và 4,5%, chứng minh xu hướng tập trung chính vào các bệnh xương khớp, tiêu hóa và mất ngủ trong điều trị bằng y học cổ truyền.
Bảng 3.17 Các dạng chế phẩm thuốc YHCT đã sử dụng của đối tượng nghiên cứu (n36) Dạng thuốc sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%)
Dạng viên nén, hoàn, bột 152 45,54
Dạng thuốc nước đóng túi 112 33,33
Dựa trên bảng 3.17, có thể nhận thấy rằng dạng chế phẩm chủ yếu của đối tượng nghiên cứu là thuốc thang, chiếm tỷ lệ 59,82% (201/336), cho thấy sự phổ biến của phương pháp điều trị truyền thống này Tiếp theo, các dạng như viên nén, bột, hoàn góp phần lớn với tỉ lệ tổng cộng khoảng 45,54%, phản ánh xu hướng sử dụng các dạng thuốc dễ dàng tiện lợi Trong khi đó, dạng siro là ít được sử dụng nhất, chiếm khoảng 19%, cho thấy mức độ phổ biến còn hạn chế của dạng này trong quá trình điều trị.
Rất tín nhiệm Tín nhiệm Bình thường Ít tín nhiệm Không tin nhiệm
Biểu đồ 3.3 Mức độ tín nhiệm thuốc y học cổ truyền(n36)
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các đối tượng tin tưởng vào việc sử dụng Y học cổ truyền (YHCT), chiếm tỷ lệ 49,7% (167/336) Ngoài ra, tỷ lệ các người dùng có thái độ bình thường là 33,3% (112/336), trong khi đó có 13,4% (45/336) thể hiện sự tin nhiệm cao vào phương pháp này Không có trường hợp nào phản đối hoặc không tin nhiệm vào YHCT, cho thấy sự tin tưởng rộng rãi của cộng đồng đối với phương pháp điều trị truyền thống này.
3.2.3 Sự hài lòng của người bệnh nội trú tại bệnh viện
Bảng 3.18 Sự hài lòng của người bệnh về thời gian tiếp cận công tác khám chữa bệnh
Yếu tố hài lòng Số lượng
Thời gian chờ đợi để khám bệnh của bệnh nhân NB 301 là 75,25%, trong khi tỷ lệ hài lòng về thời gian chờ đợi để điều trị và chăm sóc của bệnh nhân NB 392 đạt 98% Nhận xét cho thấy, tỷ lệ người bệnh hài lòng về thời gian chờ đợi để được điều trị và chăm sóc khá cao (98%), còn tỷ lệ hài lòng về thời gian chờ khám bệnh là 75,25%, phản ánh sự cải thiện rõ rệt trong trải nghiệm của người bệnh tại các dịch vụ y tế.
Bảng 3.19 Sự hài lòng của người bệnh đối với giao tiếp và tương tác với NVYT
Yếu tố hài lòng Số lượng
Nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện đan phượng
4.2.1 Thông tin chung về bệnh nhân có nhu cầu sử dụng YHCT tại khoa khám bệnh của bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng a Phân bố theo tuổi, giới và dân tộc
Dựa trên bảng 3.6, nhóm tuổi từ 51 đến 70 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,75% số ca bệnh, cho thấy rằng việc sử dụng thuốc YHCT chủ yếu tập trung vào độ tuổi trung niên và cao tuổi Tiếp theo là nhóm tuổi từ 30 đến 50 với 34,25%, phản ánh xu hướng sử dụng thuốc trong nhóm trưởng thành Nhóm trên 70 tuổi chiếm 10,75%, trong khi nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm 6,25%, cho thấy mức độ quan tâm ít hơn ở nhóm trẻ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Thị Hồng Gấm (2019), khi tỷ lệ sử dụng thuốc YHCT trong nhóm tuổi 51–70 đạt 46,2%, củng cố thêm nhận định về xu hướng tập trung vào nhóm tuổi trung niên và cao tuổi trong việc sử dụng phương pháp điều trị này.
Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy nữ giới chiếm tỷ lệ 64,25%, cao hơn nam giới với 35,75%, trong khi dân tộc Kinh chiếm đa số với 98,25% Nghiên cứu này phù hợp với báo cáo của Lê Thị Hồng Gấm (2019), cho biết nữ giới chiếm 61,8% Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến phân bố đối tượng theo điều kiện kinh tế, nghề nghiệp và bảo hiểm y tế, nhằm hiểu rõ hơn về các đặc điểm xã hội của nhóm nghiên cứu.
Theo biểu đồ 3.1, đối tượng hưu trí chiếm tỷ lệ lớn nhất với 42,75% (171/400), phản ánh sự quan tâm đặc biệt đến nhóm này Tiếp theo là lao động tự do, chiếm 26% (104/400), thể hiện sự đa dạng trong các đối tượng tham gia Nhóm công nhân viên chức chiếm 18% (72/400), trong khi nhóm học sinh, sinh viên có tỷ lệ thấp nhất với 13,25%, góp phần làm phong phú bức tranh tổng thể về các đối tượng liên quan.
Dựa trên bảng 3.9, đa số đối tượng đều có điều kiện kinh tế bình thường chiếm 80%, trong khi đó, các hộ khá giả chiếm 12,75%, hộ cận nghèo là 5,5% và hộ nghèo là 1,75% Đặc biệt, có đến 96,25% số người bệnh đến khám và điều trị bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế, thể hiện mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và sự tiện lợi trong chi trả Nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người dân huyện Đan Phượng cũng rất cao, phản ảnh mức độ quan tâm và ưu tiên các phương pháp điều trị truyền thống trong cộng đồng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ đạt 84%, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây như của Trần Văn Khanh tại Hà Tây (72,9%) [16], Hoàng Thị Hoa Lý tại Bắc Ninh (70,9%) [15] và Trần Thủy Sóng tại Hà Nội (58,6%) [23] Tỷ lệ này còn vượt xa kết quả của Hyeun-Kyoo Shin H.K cùng các cộng sự, cho thấy sự gia tăng rõ rệt trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
(2013) đã công bố kết quả nghiên cứu về việc sử dụng các loại thuốc YHCT và trải nghiệm không mong muốn ở 2000 người tiêu dùng trong năm 2008 ở
Trong nghiên cứu tại Hàn Quốc, có tới 45,8% trong số 2.000 người tham gia đã sử dụng thuốc thảo dược hoặc nhận các liệu pháp y học cổ truyền [37], cao hơn so với tỷ lệ 43,6% ghi nhận bởi Karl Peltzer và cộng sự năm 2017 về việc sử dụng YHCT trong điều trị bệnh mãn tính tại 20 cơ sở y tế của 3 tỉnh phía Bắc Việt Nam [41] Kết quả này phản ánh sự đa dạng trong sử dụng thuốc YHCT, phần lớn do các đối tượng trong nghiên cứu sống tại Hà Nội và khu vực lân cận, nơi có điều kiện giao thông thuận lợi và dễ tiếp cận dịch vụ y tế, đặc biệt là các loại thuốc thang đòi hỏi công nghệ sắc thuốc, điều kiện nghèo khó ở các vùng núi phía Bắc khiến việc sử dụng gặp nhiều hạn chế Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu năm 2021 của chúng tôi còn cao hơn so với các nghiên cứu trước, phản ánh chính sách khuyến khích sử dụng thuốc YHCT của Đảng và Nhà nước trong những năm qua, đã thúc đẩy người dân tìm đến y học cổ truyền để chữa bệnh Điều này cho thấy mức độ phổ biến và ngày càng tăng của việc sử dụng y học cổ truyền trong cộng đồng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân (xem Biểu đồ 3.2).
Việc ít sử dụng hoặc không dùng thuốc YHCT chủ yếu xuất phát từ các lý do như bất tiện khi sử dụng (32,2%), thời gian tác dụng chậm (32,8%), và không tin tưởng vào nguồn gốc thuốc, sợ thuốc giả (6,2%), do thói quen ưu tiên sử dụng thuốc y học hiện đại dễ mua, tác dụng nhanh hơn Tình trạng thuốc YHCT giả hoặc pha trộn với thuốc YHHĐ cũng gây ảnh hưởng lớn đến việc người dân tránh dùng YHCT Ngoài ra, ý kiến của các thầy thuốc và người bán thuốc ít khuyên dùng thuốc YHCT, cùng với nguồn nhân lực còn hạn chế trong lĩnh vực này, ảnh hưởng đến khả năng chăm sóc sức khỏe cộng đồng bằng YHCT Vì vậy, cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về y học cổ truyền để nâng cao nhận thức của người dân và khuyến khích sử dụng phương pháp điều trị này hơn nữa Trong khi đó, nhóm đối tượng sử dụng thuốc cho biết lợi ích lớn nhất là thuốc an toàn, không gây tác dụng phụ (50,89%), dễ uống (35,42%), đặc biệt ở dạng viên hoàn, và hiệu quả điều trị (31,25%), phản ánh rõ các ưu điểm nổi bật của y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe.
Theo WHO, chi phí điều trị bằng YHCT khác nhau đáng kể giữa các quốc gia, với các nước phát triển có chi phí cao hơn, khiến người có thu nhập thấp khó tiếp cận Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển, việc sử dụng YHCT phổ biến hơn, giúp nhóm thu nhập thấp dễ tiếp cận hơn với các phương pháp này, trong đó Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Nam là quốc gia có nền YHCT phát triển nhờ nguồn dược liệu phong phú, giúp người dân dễ dàng tiếp cận với phương pháp điều trị này Theo nghiên cứu, 31,25% bệnh nhân tự mua và sử dụng thuốc YHCT dựa vào truyền miệng, trong khi 23,21% dựa trên quảng cáo truyền hình, và 45,24% được bác sĩ hoặc lương y chỉ định sử dụng Điều này cho thấy vai trò thiết yếu của đội ngũ y bác sĩ và lương y trong việc khám chữa bệnh bằng YHCT Chính vì vậy, việc tổ chức các lớp đào tạo thường xuyên về YHCT và YHHĐ là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Người bệnh chủ yếu là đối tượng bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh sẽ được cấp thuốc điều trị ngoại trú hoặc vào viện theo đúng chuyên khoa Tuy nhiên, điều tra cho thấy các đối tượng này chủ yếu được kê đơn bằng thuốc YHHĐ, ít khi được kê đơn bằng thuốc YHCT do bệnh nặng hoặc mạn tính phải dùng thuốc suốt đời Danh mục thuốc YHCT sử dụng trong chính sách kê đơn tại nhà hạn chế, bệnh nhân chỉ được sử dụng thuốc YHCT khi nhập viện khoa YHCT, gây ra tình trạng người bệnh phải tự mua thuốc về điều trị Điều này phản ánh công tác quản lý và sử dụng thuốc YHCT còn lỏng lẻo, tình trạng thuốc trôi nổi, kém chất lượng và dùng không đúng chỉ định ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 70,5% người dân dùng thuốc YHCT để chữa bệnh, cao hơn mức 61,3% của Trần Văn Khanh, cho thấy xu hướng sử dụng YHCT theo mục đích điều trị bệnh ngày càng tăng Trái ngược với các nghiên cứu trước đó, như của tác giả Mehta và khảo sát tại Singapore, cho thấy phần lớn người dân sử dụng YHCT để duy trì sức khỏe thay vì điều trị bệnh, kết quả này phản ánh sự thay đổi trong nhận thức và niềm tin của người dân về hiệu quả điều trị của YHCT Sự phát triển của các phương tiện truyền thông và khả năng tiếp cận thông tin đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về lợi ích của y học cổ truyền trong điều trị bệnh, cho thấy chính sách phát triển y học cổ truyền của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.
Người dân lựa chọn thuốc YHCT để điều trị các bệnh mạn tính với tỷ lệ khá cao, chiếm đến 78%, chứng tỏ tính hiệu quả và phù hợp của thuốc YHCT trong điều trị các bệnh mãn tính Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Karl Peltzer và cộng sự, trong đó các bệnh mạn tính như dạ dày, cao huyết áp, và bệnh tim mạch là những bệnh được sử dụng thuốc YHCT nhiều nhất.
Nghiên cứu năm 2016 tại Myanmar cho thấy người dân trong cộng đồng mắc các bệnh mãn tính có xu hướng sử dụng thuốc Y học cổ truyền trong vòng 12 tháng Các nghiên cứu từ Singapore, Canada và Anh cũng xác nhận rằng nhóm mắc bệnh mãn tính thường dùng nhiều thuốc bổ và thuốc thay thế hơn Một nghiên cứu của Mehta và cộng sự tại Mỹ cho thấy nhóm người gốc Á mắc một bệnh mãn tính có tỷ lệ sử dụng cao hơn so với nhóm không mắc bệnh (AOR=1,26; 95%CI: 1,20-1,32), trong khi những người mắc ít nhất hai bệnh mãn tính có xu hướng sử dụng còn cao hơn (AOR=1,29; 95%CI: 1,00-1,65) Ngoài ra, một nghiên cứu khác tại Mỹ cho thấy trẻ em mắc bệnh mãn tính có mức sử dụng thuốc gấp 3 lần so với trẻ em khỏe mạnh.
Thuốc YHCT phù hợp với đối tượng hưu trí cao tuổi thường mắc các bệnh mãn tính, trong khi thuốc YHHĐ chủ yếu điều trị các bệnh cấp tính và đợt cấp của bệnh mãn tính Các liệu pháp không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp tập trung vào điều trị theo biện chứng luận trị, chú trọng bồi bổ hệ miễn dịch, cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết nhằm nâng cao sức khỏe và chống lại bệnh tật, ví dụ như đỗ trọng, ba kích, nhân sâm, linh chi, tâm sen, tam thất Nhờ đó, thuốc YHCT giúp giảm nguy cơ bệnh, rút ngắn thời gian điều trị, hạn chế tái phát bệnh mãn tính bằng cách bồi dưỡng nội lực và tăng khả năng chống đỡ với bệnh tật, từ đó đóng vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh mãn tính.