Luận văn Đánh giá tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. trên động vật thực nghiệm và trên người được hoàn thành với mục tiêu nhằm đánh giá tác dụng kích ứng da và ảnh hưởng của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. đến nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ của thỏ thực nghiệm; Đánh giá tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L. trên chuột thực nghiệm.
CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 CHẤT LIỆU, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Chất liệu nghiên cứu
Cây Húng quế tươi được thu hái tại Yên Xá, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội vào các tháng 5, 7 và 10 năm 2021, đảm bảo nguồn gốc rõ ràng và chất lượng cao Các mẫu cây đã được giám định bởi TS Hoàng Quỳnh Hoa, Chủ nhiệm Bộ môn Thực vật, Trường Đại học Dược, nhằm xác định thành phần và đảm bảo tiêu chuẩn an toàn Việc thu hái đúng thời điểm và kiểm định chính xác giúp duy trì chất lượng và giá trị của cây Húng quế trong sản phẩm.
Dược liệu được làm sạch và cho vào bình chiết xuất bằng thép không gỉ, bên trong chứa hơi nước Hơi nước được bơm qua dược liệu qua một cửa vào, mang theo các phân tử tinh dầu và biến chúng thành hơi Hơi này gặp lạnh ở phần bình chứa nước lạnh, ngưng tụ thành dạng lỏng và chảy vào bình ngưng Tinh dầu, nhẹ hơn nước, nổi trên mặt nước và dễ dàng thu hồi.
Tinh chế tinh dầu Húng quế bằng phương pháp cất kéo hơi nước giúp loại bỏ tạp chất và giữ lại hương thơm tự nhiên của nhựa thảo Quá trình chưng cất kết thúc khi giọt tinh dầu thu được trở nên trong suốt, thể hiện sự thành công trong việc tinh chế và đảm bảo độ tinh khiết cao Phương pháp này giúp nâng cao chất lượng tinh dầu Húng quế, phù hợp sử dụng trong các lĩnh vực từ y học cổ truyền đến mỹ phẩm thiên nhiên.
Để tách tinh dầu khỏi nước, tiến hành làm lạnh dung dịch để làm nguội hỗn hợp Tiếp theo, thêm muối NaCl tinh khiết vào để đạt đến trạng thái bão hòa, giúp tăng hiệu quả tách lớp Sau đó, chuyển hỗn hợp vào phễu chiết để để yên và phân lớp dầu khỏi nước Cuối cùng, thu giữ tinh dầu bằng cách cho vào bình tam giác 50ml sạch, có chống nhiễm khí, đảm bảo quá trình chiết diễn ra an toàn và hiệu quả.
Na 2 SO 4 khan vào bình và đun nóng nhẹ trên bếp cách thủy ở 60-70 0 C cho đến khi dịch trở nên trong suốt Rót tinh dầu đã đƣợc làm khan qua phễu có giấy lọc Tinh dầu này đƣợc dùng để thử nghiệm.
Động vật dùng trong nghiên cứu
Thỏ trưởng thành (Oryctolagus cunniculus L.) gồm 12 con, trung bình nặng 2,0 ± 0,2 kg, ở độ tuổi 2 tháng, khỏe mạnh và không phân biệt giới tính, được cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây Động vật cái đảm bảo chưa mang thai, chưa nuôi con bú và chưa qua sinh sản lần nào Thỏ được nuôi trong điều kiện ổn định và chuẩn bị tốt trong vòng 7 ngày trước khi bắt đầu nghiên cứu.
10 con chuột hamster trưởng thành, khỏe mạnh, không phân biệt giống, mỗi con có trọng lượng trung bình 110,0 ± 10 g, được cung cấp bởi Học viện Nông nghiệp Việt Nam Các con chuột này được nuôi trong điều kiện thí nghiệm nghiêm ngặt từ 5-7 ngày trước khi tiến hành nghiên cứu, đảm bảo môi trường sống phù hợp để đảm bảo độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Trong nghiên cứu, các mẫu muỗi cái gồm Aedes aegypti, Anopheles minimus và Culex tritaeniorhynchus, mỗi loại khoảng 2.100 con, có tuổi từ 5 đến 8 ngày, khỏe mạnh, đủ 6 chân và 2 cánh, có tư thế đậu bình thường và chưa hút máu Muỗi được nuôi tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương trong điều kiện thí nghiệm, sử dụng dung dịch glucose 10% để cung cấp dinh dưỡng Những con muỗi được chọn có chế độ ăn phù hợp, không quá no hoặc quá đói để đảm bảo sức khỏe tốt cho quá trình nghiên cứu.
Hình 2 1 Muỗi Aedes aegypti Hình 2 2 Muỗi Anopheles minimus
Người tình nguyện tham gia nghiên cứu
Sáu tình nguyện viên trong độ tuổi từ 18 đến 55, có sức khỏe tốt và không phân biệt giới tính, đã được phỏng vấn kỹ lưỡng về tình trạng sức khỏe cũng như tiền sử dị ứng trước khi bắt đầu nghiên cứu.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 2);
- Không sử dụng bất cứ loại nước hoa, hóa chất xua hoặc dầu bôi trên da nào trước khi thử nghiệm 12 giờ
- Có tiền sử dị ứng với các loại tinh dầu.
Thiết bị, dụng cụ dùng trong nghiên cứu
- Bình cất kéo tinh dầu
- Ống tunnel hình hộp chữ nhật bằng thủy tinh, kích thước 60 × 25 × 25 cm:
- Khung nhựa, kích thước trong 20 × 20 cm để giữ màn thử nghiệm đặt ở vị trí 1/3 chiều dài của ống tunnel
- Lồng màn, kích thước 30 × 30 cm
Mảnh vải thử nghiệm và mảnh vải đối chứng đều có kích thước 21 × 21 cm Mỗi mẫu được cắt thành 9 lỗ có đường kính 1cm, với một lỗ nằm chính giữa trung tâm mảnh, còn 8 lỗ còn lại được bố trí cách viền vải 6 cm và phân bố đều theo hàng ngang và hàng dọc, đảm bảo tính chính xác trong quá trình kiểm tra.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Tuýp bắt muỗi bằng thủy tinh thủng hai đầu, đường kính 1,2 cm; chiều dài
- Lồng muỗi, kích thước 40 × 40 × 40 cm bằng màn tuyn kích thước lỗ 32 - 36/cm 2 Cửa lồng có tay áo để ngăn không cho muỗi xông ra ngoài (hình 2.4)
- Thước dây 01 m có độ chính xác đến 01 mm để đo diện tích bôi tinh dầu trên da cánh tay người tình nguyện
- Tông đơ điện, kéo, cốc thủy tinh chia vạch, băng gạc
- Nhiệt kế thủy ngân, đồng hồ bấm giờ
- Ống nghe y tế Deluxe CK-SS601PF (Đài Loan).
Hóa chất dùng trong nghiên cứu
- Xà phòng thiên nhiên tinh khiết không mùi: No Fragrance Soap 130 g.
PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
2.2.1 Thử tác dụng kích ứng da và đánh giá ảnh hưởng của tinh dầu cây Húng quế đến nhịp thở, nhịp tim và nhiệt độ của thỏ thực nghiệm
+ Thử nghiệm tác dụng kích ứng da: được tiến hành trên thỏ theo hướng dẫn của
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Lô 1 (n = 6): Đặt lên vùng bên sườn trái mỗi thỏ 1 miếng gạc tẩm tinh dầu nguyên chất và 1 miếng gạc tẩm nước cất, cách nhau 3 cm Làm tương tự như vậy với vùng bên sườn phải Như vậy, có 12 miếng gạc tẩm tinh dầu và 12 miếng gạc tẩm nước cất
Lô 2 (n = 6): Đặt lên vùng bên sườn trái mỗi thỏ 1 miếng gạc tẩm tinh dầu pha với ethanol và 1 miếng gạc tẩm ethanol 70 0 , cách nhau 3 cm Làm tương tự như vậy với vùng bên sườn phải Như vậy, có 12 miếng gạc tẩm tinh dầu pha với ethanol và 12 miếng gạc tẩm ethanol 70 0 (hình 2.5)
Liều lượng chất thử hoặc dung môi trên mỗi miếng gạc là 0,5 ml, đảm bảo độ an toàn và hiệu quả trong quá trình xét nghiệm Tẩm mẫu thử hoặc dung môi lên miếng gạc kích thước 2,5 cm x 2,5 cm với độ dày phù hợp để tránh gây kích ứng da Sau đó, đắp miếng gạc lên da và cố định bằng băng dính không gây kích ứng, giúp giữ chặt và đảm bảo kết quả chính xác của xét nghiệm.
24 giờ Sau đó bỏ gạc và băng dính, làm sạch tinh dầu còn lại trên da thỏ bằng cách rửa với nước ấm, rồi thấm khô bằng gạc
Hình 2 5 Đặt gạc tẩm dung môi và chất thử lên da thỏ
* Quan sát và ghi điểm
Quá trình quan sát và ghi điểm phản ứng trên da đặt chất thử so với da không đặt chất thử được thực hiện tại các thời điểm 1 giờ, 4 giờ và 6 giờ sau khi làm sạch mẫu thử Phản ứng trên da được đánh giá dựa trên mức độ gây ban đỏ và phù nề theo quy định trong bảng 2.1 để đảm bảo độ chính xác và nhất quán trong kết quả kiểm nghiệm.
Bảng 2 1 Mức độ phản ứng trên da thỏ
Phản ứng Điểm đánh giá
Sự tạo vẩy và ban đỏ
- Ban đỏ rất nhẹ (vừa đủ nhận thấy) 1
- Ban đỏ nhận thấy rõ 2
- Ban đỏ vừa phải đến nặng 3
- Ban đỏ nghiêm trọng (đỏ tấy) đến tạo thành vẩy để ngăn ngừa sự tiến triển của ban đỏ
- Phù nề rất nhẹ (vừa đủ nhận thấy) 1
- Phù nề nhận thấy rõ (viền phù nề phồng lên rõ) 2
- Phù nề vừa phải (da phồng lên khoảng 1mm) 3
- Phù nề nghiêm trọng (da phồng lên trên 1mm và có lan rộng ra vùng xung quanh)
Tổng số điểm kích ứng tối đa có thể 8
Những thay đổi khác trên da sẽ đƣợc theo dõi và ghi chép đầy đủ
Điểm phản ứng trên mỗi thỏ được tính bằng tổng số điểm ở hai mức độ ban đỏ và phù nề chia cho số lần quan sát, giúp đánh giá chính xác mức độ kích ứng Điểm kích ứng của mẫu thử là trung bình cộng các điểm phản ứng của tất cả các thỏ thử nghiệm, đảm bảo tính khách quan trong kết quả Trong trường hợp sử dụng mẫu đối chứng, điểm phản ứng của mẫu thử được điều chỉnh bằng cách trừ đi điểm phản ứng của mẫu đối chứng, nâng cao độ chính xác của đánh giá mức độ phản ứng dị ứng.
Chỉ sử dụng các điểm tại thời gian quan sát 6 giờ để đánh giá kết quả thử nghiệm Các điểm kích ứng được đối chiếu với các mức độ quy định trong bảng 2.2 nhằm xác định khả năng gây kích ứng trên da thỏ của mẫu thử Phương pháp này đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá độ kích ứng của sản phẩm trên da động vật thử nghiệm.
Bảng 2 2: Phân loại các phản ứng trên da thỏ
Loại phản ứng Điểm trung bình
Kích ứng không đáng kể 0 - 0,5
Theo dõi nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ của thỏ khi thử nghiệm tinh dầu Húng quế trên da thỏ thực nghiệm
Hình 2.6 Đo nhiệt độ ở hậu môn thỏ
Đếm nhịp thở: Để thỏ yên tĩnh, tƣ thế tự nhiên ở trong lồng chuồng, quan sát và đếm nhịp dao động thành bụng trong 1 phút
Để kiểm tra nhịp tim của thỏ, bắt từng thỏ lần lượt và đặt thỏ nằm yên trên bàn Sử dụng ống nghe đặt tại điểm 1/3 từ dưới lên của xương sườn thứ 2-4 bên trái để nghe nhịp tim Đếm nhịp tim trong vòng 1 phút để có kết quả chính xác.
Hình 2.7 Đếm nhịp tim thỏ
2.2.2 Thử tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế trên chuột thực nghiệm
Chuẩn bị mỗi lô thử nghiệm và lô chứng 100 muỗi cái 5-8 ngày tuổi, chƣa hút máu, chia thành các lô nhƣ sau:
- Lô 1: 100 muỗi cái Aedes aegypti đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn không tẩm tinh dầu;
- Lô 2: 100 muỗi cái Aedes aegypti đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tẩm tinh dầu nguyên chất;
- Lô 3: 100 muỗi cái Aedes aegypti đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tẩm tinh dầu pha với ethanol 70 0 (7:3);
- Lô 4: 100 muỗi cái Anopheles minimus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn không tẩm tinh dầu;
- Lô 5: 100 muỗi cái Anopheles minimus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tinh dầu nguyên chất;
- Lô 6: 100 muỗi cái Anopheles minimus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tẩm tinh dầu pha với ethanol 70 0 (7:3);
- Lô 7: 100 muỗi cái Culex tritaeniorhynchus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn không tẩm tinh dầu;
- Lô 8: 100 muỗi cái Culex tritaeniorhynchus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tẩm tinh dầu nguyên chất;
- Lô 9: 100 muỗi cái Culex tritaeniorhynchus đƣợc nhốt trong ống tunnel với màn tẩm tinh dầu pha với ethanol 70 0 (7:3)
Dùng tuýp bắt muỗi, mỗi tuýp bắt 5 muỗi / lần Mỗi thí nghiệm trên mỗi loài muỗi đƣợc tiến hành 3 lần, mỗi lần chia thành 9 lô nhƣ trên
* Tiến hành (theo phương pháp của WHO [52])
Dùng băng dính cố định miếng vải vào khung nhựa và đặt vào khe tại vị trí 1/3 chiều dài của ống tunnel (hình 2.8) Đối với các lô chứng 1, 4 và 7, miếng vải không được tẩm tinh dầu Húng quế, trong khi các lô thử nghiệm còn lại sẽ sử dụng miếng vải đã được tẩm tinh dầu với các nồng độ khác nhau ở mỗi lần.
Cố định 1 con chuột vào tunnel bằng kẹp chuột, sau đó đƣa vào phần ngắn hơn của tunnel, buộc đầu màn ở phần ngắn hơn của ống tunnel lại
Mỗi lần, thả 100 muỗi cái đã chuẩn bị ở trên vào phần dài hơn của ống tunnel, buộc đầu màn ở phần dài hơn của ống tunnel
Sau khoảng thời gian tiếp xúc từ 12 đến 15 giờ, muỗi được hút từ từng phần của tunnel vào các lồng khác nhau bằng ống hút muỗi, giúp ghi nhận tỷ lệ muỗi chết (nếu có) và tỷ lệ muỗi đã no máu Quá trình này cho phép đánh giá chính xác mức độ hút máu và tỷ lệ tử vong của muỗi sau khi tiếp xúc, hỗ trợ nghiên cứu kiểm soát muỗi hiệu quả.
Những con muỗi đƣợc đánh giá là chết khi chúng không bay lên đƣợc
* Cách đánh giá như sau
Bảng 2 3 Một số tình huống nghiên cứu và xử trí
STT Tình huống Xử lý
1 - Nếu tỷ lệ muỗi chết trong lô đối chứng > 10% - Hủy bỏ kết quả và làm lại thử nghiệm
2 - Nếu tỷ lệ muỗi đối chứng chết trong khoảng 0%- 10%
- Tỷ lệ muỗi chết đƣợc điều chỉnh theo công thức Abbott
3 - Nếu tỷ lệ muỗi chết trong lô đối chứng 0%
- Giữ nguyên tỷ lệ chết quan sát mà không cần điều chỉnh Áp dụng cách tính tương tự với tỷ lệ muỗi bị ức chế hút máu ở lô chứng
(Số muỗi chết ở lô TN - số muỗi chết ở lô chứng) x 100
Tỷ lệ % muỗi chết 100 – số muỗi chết ở lô đối chứng
% muỗi bị ức chế hút máu (Số muỗi bị ức chế ở lô TN - số muỗi bị ức chế ở lô chứng) x 100
100 – số muỗi bị ức chế ở lô chứng
2.2.3 Thử tác dụng xua muỗi và tác dụng không mong muốn của tinh dầu cây
Tiến hành theo hướng dẫn của WHO (2009) [53]
Phòng thử nghiệm: Gồm hai phòng đƣợc duy trì nhiệt độ 25 ± 2 0 C, độ ẩm
60 - 80%, 12 giờ sáng và 12 giờ tối Phòng thử nghiệm chuyên dùng để thử tác dụng xua muỗi
Mẫu thử là tinh dầu Húng quế nguyên chất và tinh dầu pha với ethanol 70 0 (7:3)
Huấn luyện người tình nguyện lắc nhẹ tay để muỗi tiếp xúc và hạn chế khả năng hút máu của muỗi Trước khi thực hiện, cần rửa sạch cánh tay bằng xà phòng không mùi, rửa lại bằng nước để loại bỏ bụi bẩn, sau đó khử trùng bằng ethanol 70% và lau khô hoàn toàn Quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng giúp đảm bảo tính an toàn và độ chính xác của thử nghiệm.
Để đo diện tích cánh tay phù hợp để muỗi dễ dàng chạm vào, bạn cần lấy thước dây đo chiều dài cẳng tay (L), vòng cổ tay (C) và vòng khoeo khuỷu tay (K) Sau đó, tính diện tích dùng công thức S = L × (K + C : 2) cm², phù hợp với khoảng từ 300cm² đến 600cm² cho sáu người khác nhau Để tránh muỗi đốt vào các khu vực không mong muốn, bạn nên dùng găng tay cao su để bịt kín bàn tay và vải dày để bịt kín vùng khuỷu tay trái.
Mỗi tình nguyện viên sẽ sử dụng tay phải để bôi dung môi làm chứng và tay trái để thử tinh dầu Khi thử tinh dầu nguyên chất, tay phải không bôi gì, mà dùng pipette nhỏ 2 ml tinh dầu lên vùng da hở rộng 600 cm² trên tay trái Đối với hỗn hợp tinh dầu và ethanol 70°, tay phải nhỏ 2 ml ethanol lên cùng vùng da đó Sau khi bôi, để dưỡng chất khô tự nhiên trong 2-3 phút rồi mới đưa vào lồng thử nghiệm để đánh giá phản ứng.
Chuẩn bị muỗi đạt tiêu chuẩn nhƣ mô tả ở trên để thử tác dụng xua trên cả
- Thả vào mỗi lồng 200 muỗi;
CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
2.3.1 Tác dụng kích ứng da, đo nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ của tinh dầu cây Húng quế trên thỏ
- Những thay đổi bất thường trên da
- Cho điểm đánh giá sự tạo vẩy và ban đỏ:
+ Ban đỏ rất nhẹ (vừa đủ nhận thấy);
+ Ban đỏ nhận thấy rõ;
Tinh dầu cây Húng quế
Nghiên Cứu Thực Nghiệm Nghiên Cứu Lâm Sàng
Thử tác dụng kích ứng da,đo nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ trên thỏ
Thử tác dụng xua muỗi trên chuột
Thử tác dụng xua muỗi và tác dụng không mong muốn trên người
Kết luận về tác dụng xua muỗi và tính an toàn của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L trên thực nghiệm và trên người
+ Ban đỏ vừa phải đến nặng;
+ Ban đỏ nghiêm trọng (đỏ tấy) đến tạo thành vẩy để ngăn ngừa sự tiến triển của ban đỏ
- Đánh giá khả năng gây phù nề của mẫu thử:
+ Phù nề rất nhẹ (vừa đủ nhận thấy);
+ Phù nề nhận thấy rõ (viền phù nề phồng lên rõ);
+ Phù nề vừa phải (da phồng lên khoảng 1mm);
+ Phù nề nghiêm trọng (da phồng lên trên 1mm và có lan rộng ra vùng xung quanh)
- Đánh giá ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế lên thỏ thực nghiệm:
2.3.2 Thử tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế trên chuột thực nghiệm
- Tỷ lệ muỗi bị ức chế hút máu (%);
Khả năng xua hoặc diệt muỗi được đánh giá bằng tổng tỷ lệ muỗi chết cộng với tỷ lệ muỗi bị ức chế hút máu Một chế phẩm được xem là có tác dụng hiệu quả nếu khả năng xua hoặc diệt muỗi đạt từ 80% trở lên Điều này đảm bảo khả năng kiểm soát muỗi tối ưu, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn chặn các bệnh truyền nhiễm do muỗi gây ra.
2.3.3 Tác dụng xua muỗi và tác dụng không mong muốn của tinh dầu cây Húng quế trên người
- Số muỗi chạm tay tại mỗi thời điểm nghiên cứu;
- Hiệu lực xua muỗi tại các thời điểm: 0, 1, 2, 3, 4 và 6 giờ
Khi sử dụng tinh dầu, cần lưu ý các dấu hiệu không mong muốn như mùi khó chịu, hắt hơi, chảy nước mũi, đau đầu, mệt mỏi, mẩn ngứa hoặc phát ban da, sưng phồng tại nơi bôi thử Nếu gặp phải những triệu chứng này, nên ngừng sử dụng và tham khảo ý kiến chuyên gia để đảm bảo an toàn.
ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2021 tại Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương và Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả của các hợp chất tự nhiên trong việc điều trị bệnh sốt rét Các kết quả ban đầu cho thấy, các hoạt chất từ các nguồn tự nhiên có tiềm năng ứng dụng trong phát triển thuốc mới Nghiên cứu này góp phần mở rộng kiến thức về các hợp chất tự nhiên có hoạt tính chống sốt rét, đồng thời thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng y học cổ truyền trong điều trị bệnh.
XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Các giá trị thử tác dụng xua muỗi trên thực nghiệm và lâm sàng đều đƣợc tính trung bình của 3 lần thử nghiệm
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel (Microsoft XP) theo phương pháp thống kê y học, sử dụng t-test Student và Fisher’s Exact Test để so sánh các số liệu trước, trong và sau thử nghiệm cũng như giữa nhóm dùng thuốc và nhóm chứng Các khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05.
CÁCH KHẮC PHỤC SAI SỐ
Trong nghiên cứu khoa học, động vật dùng để nghiên cứu được nuôi dưỡng trong điều kiện thí nghiệm và duy trì môi trường ổn định suốt quá trình, giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và ngoại lai Các động vật tham gia nghiên cứu thường được chọn đồng đều về kích thước, lứa tuổi và sức khỏe để đảm bảo tính chính xác và hạn chế sai số liên quan đến thể trạng và tuổi tác.
Thức ăn và nước uống dùng cho động vật có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lƣợng và đồng đều giữa các cá thể ở các lô nghiên cứu
Người tình nguyện được đo và tính diện tích vùng da tay được nhỏ chất thử tương tự nhau để hạn chế sai số về số muỗi chạm tay.
ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được phê duyệt bởi Hội đồng Y đức của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, đảm bảo tính minh bạch và uy tín Người tham gia nghiên cứu có quyền từ chối hoặc dừng tham gia bất cứ lúc nào mà không cần giải thích, bảo vệ quyền tự do và quyền lợi của người tình nguyện Trước khi bắt đầu, người tham gia được huấn luyện kỹ thuật lắc tay để muỗi chỉ chạm da mà không gây đốt, đảm bảo an toàn cho sức khỏe Muỗi dùng trong thử nghiệm là loại chưa từng hút máu, khỏe mạnh và không mang mầm bệnh, phù hợp với tiêu chuẩn an toàn sinh học và phòng tránh lây nhiễm.
Nghiên cứu tuân thủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, đảm bảo quyền lợi và sự an toàn của các đối tượng tham gia Các số liệu thu thập chỉ nhằm mục đích phát triển thuốc từ dược liệu, góp phần vào tiến trình nghiên cứu y học, không nhằm vào các mục đích khác Việc tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh học là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan và đáng tin cậy của kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ ĐẾN KHẢ NĂNG KÍCH ỨNG DA, NHIỆT ĐỘ, NHỊP THỞ VÀ NHỊP TIM CỦA THỎ THỰC NGHIỆM
Trong hai lô thỏ thử nghiệm sử dụng tinh dầu nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70% (tỷ lệ 7:3), vùng da đặt thuốc thử vẫn duy trì trạng thái bình thường trong và sau quá trình theo dõi, không xuất hiện các triệu chứng như ban đỏ, kích ứng hay phù nề Kết quả cho thấy vùng da tiếp xúc với chất thử và vùng da đối chứng không có sự khác biệt rõ rệt, như hình 3.1 minh họa.
Hình 3.1 Da thỏ ở lô 1 sau đặt thuốc 24 giờ
Tại các thời điểm nghiên cứu trước thử nghiệm (TN), 1 gờ, 4 giờ, 6 giờ và
Trong vòng 24 giờ, ngoài việc quan sát da thỏ tại các vùng đặt thuốc, các chức năng sống quan trọng như thân nhiệt, nhịp thở và nhịp tim của thỏ cũng được đánh giá để kiểm tra ảnh hưởng của tinh dầu Các kết quả về tác động của tinh dầu đến các chức năng này được trình bày rõ ràng qua các bảng 3.1 - 3.3, giúp làm rõ ảnh hưởng của tinh dầu đối với sinh lý của thỏ.
Bảng 3 1: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế đến nhiệt độ cơ thể thỏ
Thân nhiệt thỏ tại các thời điểm theo dõi
TN 1 giờ 4 giờ 6 giờ 24 giờ
(1), n = 6: dùng tinh dầu nguyên chất
(2), n = 6: dùng hỗn hợp tinh dầu- ethanol (7:3)
* TB: Trung bình; SD: độ lệch chuẩn
Nhiệt độ cơ thể của thỏ trong các thời điểm nghiên cứu không có sự khác biệt thống kê so với trước khi sử dụng thuốc, cho thấy tác dụng của thuốc không gây ảnh hưởng đáng kể đến nhiệt độ cơ thể Đồng thời, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa lô thỏ dùng tinh dầu nguyên chất và lô thỏ dùng hỗn hợp tinh dầu - ethanol (7:3), với các giá trị p > 0,05, đảm bảo tính tương đồng giữa các nhóm nghiên cứu. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách cải thiện bài viết và tối ưu hóa SEO? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/osm4dJ2p?user_id=983577), bạn có thể dễ dàng tạo ra các bài viết chất lượng cao, chuẩn SEO chỉ trong vài phút, giúp bạn tiết kiệm thời gian và chi phí Ví dụ, từ câu "Nhiệt độ cơ thể của thỏ tại các thời điểm nghiên cứu thay đổi không có ý nghĩa thống kê ", chúng tôi có thể giúp bạn diễn đạt lại thành các câu văn mạch lạc và tối ưu hơn, tuân thủ mọi quy tắc SEO Điều này đặc biệt hữu ích cho các startup và doanh nghiệp muốn tăng cường sự hiện diện trực tuyến mà không tốn quá nhiều chi phí!
Bảng 3 2: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế đến nhịp thở của thỏ
Nhịp thở của thỏ tại các thời điểm theo dõi
TN 1 giờ 4 giờ 6 giờ 24 giờ
(1), n = 6: dùng tinh dầu nguyên chất
(2), n = 6: dùng hỗn hợp tinh dầu- ethanol (7:3)
Bảng 3.2 cho thấy nhịp thở của thỏ trong các thời điểm nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước khi sử dụng thuốc (p > 0,05) Ngoài ra, nhịp thở của thỏ ở nhóm 1 và nhóm 2 cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tại cùng các thời điểm nghiên cứu (các giá trị p > 0,05), cho thấy sự tác động của thuốc đối với nhịp thở của thỏ là không rõ rệt.
Bảng 3 3: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế đến nhịp tim của thỏ
Nhịp tim của thỏ tại các thời điểm theo dõi
TN 1 giờ 4 giờ 6 giờ 24 giờ
(1), n = 6: dùng tinh dầu nguyên chất
(2), n = 6: dùng hỗn hợp tinh dầu- ethanol (7:3)
Bảng 3.3 cho thấy, thỏ dùng tinh dầu Húng quế và hỗn hợp tinh dầu Húng quế - ethanol (7:3) không ghi nhận sự thay đổi ý nghĩa thống kê về nhịp tim tại các thời điểm nghiên cứu so với lúc trước khi sử dụng thuốc Ngoài ra, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm dùng thuốc tại cùng một thời điểm (giá trị p > 0,05).
TÁC DỤNG XUA MUỖI CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ TRÊN CHUỘT THỰC NGHIỆM
3.2.1 Tác dụng của tinh dầu Húng quế với loài Aedes aegypti
Tinh dầu Húng quế nguyên chất và tinh dầu pha loãng với ethanol 70 0 (7:3) đã đƣợc thử nghiệm 3 lần, với 900 muỗi Aedes aegypti Kết quả đƣợc mô tả ở bảng 3.4 - 3.7
Bảng 3 4: Ảnh hưởng của tinh dầu húng quế với Aedes aegypti (lần 1)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(3)- Tinh dầu- ethanol 70 0 , tỷ lệ
Bảng 3.4 chứng minh rằng tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu ethanol 70% (7:3) đều có khả năng ức chế hút máu của muỗi Aedes aegypti trong lần thử nghiệm đầu tiên Trong khi đó, lô chứng không chứa muỗi nào chết hoặc bị ảnh hưởng về khả năng hút máu, cho thấy tính hiệu quả của tinh dầu Húng quế trong kiểm soát muỗi truyền bệnh.
Bảng 3 5: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Aedes aegypti (lần 2)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(3)- Tinh dầu- ethanol 70 0 , tỷ lệ 7:3 (L2)
Bảng 3.5 cho thấy, ở lần thử nghiệm thứ 2, lô chứng có 01 muỗi chết (1%)
Kết quả cho thấy tỷ lệ muỗi Aedes aegypti bị ức chế hút máu và chết ở lô 2 và lô 3 lần lượt đạt 99,97% và 99,92%, cao hơn đáng kể so với lô chứng, với các giá trị p < 0,001 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Đây là những phát hiện quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp kiểm soát muỗi Aedes aegypti, góp phần giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm.
Bảng 3 6: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Aedes aegypti (lần 3)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(3)- Tinh dầu- ethanol 70 0 , tỷ lệ 7:3 (L3)
Trong lần thử nghiệm thứ 3, 100% muỗi trong lô chứng đều no máu, trong khi đó, cả hai lô thử nghiệm đều ghi nhận tỷ lệ chết và bị ức chế hút máu là 100%, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (p < 0,001) Các kết quả này cho thấy hiệu quả rõ ràng của phương pháp thử nghiệm, với các giá trị p nhỏ hơn 0,01, chứng tỏ mức độ xác thực cao trong các phát hiện Đặc biệt, các dữ liệu từ các lần thử đều thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, góp phần xác nhận tính khả thi của phương pháp kiểm tra trong thực tiễn.
Sau 3 lần thử nghiệm, kết quả trung bình của các lô thử nghiệm đƣợc tổng hợp ở bảng 3.7
Bảng 3 7: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Aedes aegypti (n = 300/lô)
Tỷ lệ trung bình muỗi chết (%) (Abbott)
Tỷ lệ trung bình muỗi bị ức chế hút máu (%)
Tỷ lệ trung bình muỗi chết + ức chế hút máu (%)
(2)- Tinh dầu nguyên chất (TB) 94,32 5,67 99,99
(3)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol 70 0 tỷ lệ 7:3 (TB)
Sau ba lần thử nghiệm, tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu ethanol 70% (tỷ lệ 7:3) cho hiệu quả đuổi muỗi Aedes aegypti lần lượt là 99,99% và 99,98%, cao hơn đáng kể so với lô chứng, với mức độ ý nghĩa thống kê p < 0,001.
3.2.2 Tác dụng của tinh dầu Húng quế với loài Anopheles minimus
Trong nghiên cứu này, đã thử nghiệm hiệu quả của tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70% (tỷ lệ 7:3) trên 900 muỗi Anopheles minimus, với các thí nghiệm được lặp lại 3 lần để đảm bảo độ chính xác Kết quả thể hiện rõ trong bảng 3.8 - 3.11, cho thấy mức độ hiệu quả khác nhau của các dạng tinh dầu đối với loại muỗi này Những kết quả này cung cấp cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm diệt muỗi từ tinh dầu tự nhiên, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống sốt rét.
Bảng 3 8: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Anopheles minimus (lần 1)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(6)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol tỷ lệ
Bảng 3.8 cho thấy, lô chứng không có muỗi chết, cả hai lô thử nghiệm 5 và
6 đều có tác dụng xua Anopheles minimus là 100%, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (p < 0,001)
Bảng 3 9: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Anopheles minimus (lần 2)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu (Abbott)
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(6)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol
< 0,05 < 0,001 Ở lần thử nghiệm thứ 2, lô chứng có 1 muỗi ngã, không hút máu đƣợc
(1%) Các lô 5 và 6 có tỷ lệ muỗi chết + ức chế hút máu tương ứng là 99,02% và 99,07%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (p < 0,001)
Bảng 3 10: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Anopheles minimus (lần 3)
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu (Abbott)
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(6)- Hỗn hợp tinh dầu- ethanol 70 0 tỷ lệ 7:3 (L3)
Trong lần thí nghiệm thứ ba, lô chứng ghi nhận một muỗi chết và một muỗi bị ức chế hút máu, cho thấy tác dụng của các điều kiện thử nghiệm Các lô 5 và 6 đạt tỷ lệ muỗi chết và bị ức chế hút máu lên đến 98,99%, cao hơn mức đáng kể về mặt thống kê so với lô chứng, với p-value < 0,001, chứng tỏ hiệu quả rõ ràng của các biện pháp thử nghiệm trong kiểm soát muỗi.
Sau 3 lần thí nghiệm, mỗi lô 4, 5 và 6 đều sử dụng 300 muỗi Giá trị trung bình của 3 lần thử nghiệm tinh dầu Húng quế với loài Anopheles minimus đƣợc thể hiện ở bảng 3.8 Lô chứng (4) có tỷ lệ muỗi chết trung bình là 0,33%, tỷ lệ muỗi bị ức chế hút máu/ngã trung bình là 0,67% Do đó tỷ lệ muỗi chết + ức chế hút máu trung bình là 1% (bảng 3.11)
Bảng 3 11: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Anopheles minimus
Tỷ lệ trung bình muỗi chết (%) (Abbott)
Tỷ lệ trung bình muỗi bị ức chế hút máu (%) (Abbott)
Tỷ lệ trung bình muỗi chết + ức chế hút máu (%)
(5)- Tinh dầu nguyên chất (TB) 96,99 2,34 99,33
(6)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol 70 0 tỷ lệ 7:3 (TB)
Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy, lô 5 và 6 đạt tỷ lệ xua muỗi Anopheles minimus là 99,33% và 99,35%, vượt xa so với lô chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Đây cho thấy hiệu quả của các lô này trong việc đẩy lùi muỗi Anopheles minimus, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát dịch bệnh sốt rét Các kết quả này chứng minh tính khả thi của phương pháp xua muỗi với tỷ lệ thành công vượt trội, giúp giảm thiểu sự đàn hồi của muỗi trong khu vực nghiên cứu.
3.2.3 Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với loài Culex tritaeniorhynchus
Thí nghiệm đƣợc tiến hành 3 lần, tổng số muỗi mỗi lô là 300 muỗi, mỗi lần
100 muỗi/lô Kết quả thí nghiệm đƣợc trình bày ở bảng 3.12 - 3.15 nhƣ sau
Bảng 3 12: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Culex tritaeniorhynchus
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(9)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol 70 0 tỷ lệ 7:3 (L1)
91 0 9 90,91 9 99,91 p (8-7), p (9-7) < 0,001 < 0,001 < 0,05 < 0,001 < 0,05 < 0,001 Ở lần thí nghiệm đầu tiên, lô chứng có 1 muỗi chết (1%) Tỷ lệ muỗi Culex tritaeniorhynchus chết + bị ức chế hút máu của các lô 7, 8 và 9 tương ứng là 1%,
99,96% và 99,91% (p lô thử nghiệm-chứng < 0,001)
Bảng 3 13: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Culex tritaeniorhynchus
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(9)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol
Trong lần thí nghiệm thứ hai, lô chứng không có muỗi chết, trong khi các lô 8 và 9 đều đạt tỷ lệ muỗi chết và bị ức chế hút máu là 100% Các kết quả này cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng, với các giá trị p < 0,001, chứng minh hiệu quả rõ rệt của các biện pháp hoặc chất thử nghiệm trong việc tiêu diệt muỗi và ngăn chặn hoạt động hút máu của chúng.
Bảng 3 14: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Culex tritaeniorhynchus
Số muỗi ngã/ bị ức chế hút máu
% muỗi bị ức chế hút máu
Tỷ lệ muỗi chết + bị ức chế hút máu (%)
(9)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol
Trong lần thử nghiệm thứ 3, bảng 3.14 cho thấy lô chứng chỉ có 2% muỗi chết, trong khi tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp 70% trong ethanol đạt hiệu quả đuổi muỗi Culex tritaeniorhynchus lần lượt là 99,9% và 99,8% Các kết quả này cho thấy tác dụng xua muỗi của hai loại tinh dầu vượt trội so với lô chứng, với ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0,001).
Giá trị trung bình của 3 lần thử nghiệm với muỗi Culex tritaeniorhynchus đƣợc thể hiện ở bảng 3.15
Bảng 3 15: Ảnh hưởng của tinh dầu Húng quế với Culex tritaeniorhynchus
Tỷ lệ trung bình muỗi chết (%) (Abbott)
Tỷ lệ trung bình muỗi bị ức chế hút máu (%)
Tỷ lệ trung bình muỗi chết + ức chế hút máu (%)
(8)- Tinh dầu nguyên chất (TB) 96,29 3,67 99,96
(9)- Hỗn hợp tinh dầu-ethanol 70 0 tỷ lệ 7:3 (TB)
Tỷ lệ muỗi chết trung bình của các lô chứng và các lô 8, 9 lần lượt là 1%, 99,96% và 99,90% Sự khác biệt giữa lô thí nghiệm và lô chứng là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, cho thấy hiệu quả rõ rệt của phương pháp thử nghiệm trong kiểm soát muỗi.
TÁC DỤNG XUA MUỖI VÀ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA
Trong nghiên cứu, đã đo đường kính cổ tay, chiều dài cẳng tay và đường kính gần khuỷu tay của 6 người tình nguyện để xác định vùng da hở có diện tích gần 600 cm², đảm bảo tính đồng nhất cho các lần thử nghiệm Diện tích vùng da thử nghiệm của mỗi người được đo chính xác và duy trì cố định trong mọi lần thử, sử dụng tinh dầu nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu ethanol (7:3) Quá trình này được thực hiện liên tục giữa các lần thử với các loài muỗi khác nhau gồm Aedes aegypti, Anopheles minimus và Culex tritaeniorhynchus, nhằm đảm bảo độ chính xác và tính khách quan của kết quả.
Bảng 3 16: Diện tích vùng da hở của NTN dùng trong thử nghiệm
NTN Đường kính cổ tay (C, cm)
Chiều dài cẳng tay (L, cm) Đường kính gần khuỷu tay (K, cm)
Diện tích da hở để thử nghiệm (cm 2 )
Diện tích vùng da hở của mỗi người tham gia nghiên cứu gần như tương đương và không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê (p > 0,05) Trong tất cả 6 người thử nghiệm, khi đưa tay phải vào lồng nhốt muỗi, lượng muỗi chạm hoặc đốt trên vùng da hở rất cao, như đã được ghi nhận trong hình 3.2 Ngược lại, khi sử dụng tay trái có phủ tinh dầu nguyên chất hoặc hỗn hợp tinh dầu – ethanol theo tỷ lệ 7:3, tỷ lệ muỗi chạm rất thấp hoặc hoàn toàn không có muỗi nào tiếp xúc.
Hình 3 2 Muỗi chạm hoặc đốt tay phải (chứng) của NTN
Hiệu lực xua muỗi của tinh dầu nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu – ethanol
70 0 (7:3) đƣợc thể hiện ở các bảng 3.17 - 3.22
Bảng 3 17: Đáp ứng của muỗi Aedes aegypti với tinh dầu Húng quế tại các thời điểm sau khi bôi mẫu thử (n = 200/giờ)
Số muỗi đậu/đốt tại các thời điểm (TB ± SD) p (giờ- chứng) Chứng 0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Bảng 3.17 cho thấy, cả tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu
- ethanol (7:3) đều có tác dụng làm giảm số muỗi chạm và đốt tại các thời điểm sau khi bôi chất thử 0, 1, 2, 3, 4 và 6 giờ so với chứng (các giá trị p < 0,001)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số muỗi chạm/đốt tại các thời điểm
Sau 0, 1, 2, 3 và 4 giờ sau khi bôi các loại chất thử, các giá trị p đều lớn hơn 0,05 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về khả năng phòng chống muỗi của các chất thử trong khoảng thời gian này Tuy nhiên, tại thời điểm 6 giờ sau khi bôi, tinh dầu Húng quế nguyên chất thể hiện khả năng ức chế muỗi chạm/đốt tốt hơn so với hỗn hợp tinh dầu - ethanol (7:3), với giá trị p < 0,05 cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3 18: Hiệu lực xua muỗi Aedes aegypti của chất thử
Hiệu lực xua muỗi (%) tại các thời điểm
0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu-ethanol (7:3) đều có hiệu lực xua muỗi Aedes aegypti rất cao; tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả giữa hai loại tại các thời điểm 0, 1, 2, 3 và 4 giờ sau khi bôi Đến 6 giờ sau khi bôi, hiệu lực xua của hỗn hợp tinh dầu-ethanol giảm đáng kể so với tinh dầu nguyên chất, với giá trị p = 0,03 Cả hai loại chất thử đều cho thấy giảm hiệu quả xua muỗi tại các giờ 3, 4 và 6 so với thời điểm ban đầu (0 giờ), với các giá trị p < 0,01, cho thấy hiệu quả xua muỗi suy giảm rõ rệt theo thời gian.
Bảng 3 19: Đáp ứng của muỗi Anopheles minimus với tinh dầu Húng quế tại các thời điểm sau khi bôi mẫu thử (n = 200/giờ)
Số muỗi đậu/đốt tại các thời điểm (TB ± SD) p (giờ- chứng) Chứng 0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Kết quả tại bảng 3.19 cho thấy, số muỗi chạm/đốt sau khi bôi tinh dầu Húng quế nguyên chất hoặc hỗn hợp tinh dầu – ethanol (7:3) đều giảm rõ rệt so với chứng, với các giá trị p < 0,001, thể hiện ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số muỗi chạm/đốt tại từng thời điểm khi sử dụng hai loại chất thử này (p > 0,05) Sau 6 giờ bôi thuốc, số muỗi Aedes aegypti chạm/đốt thấp hơn đáng kể so với muỗi Anopheles minimus đối với cả hai loại chất thử, với giá trị p < 0,01, cho thấy hiệu quả rõ rệt của tinh dầu trong việc giảm số muỗi tiếp xúc.
Bảng 3 20: Hiệu lực xua muỗi Anopheles minimus của chất thử
Hiệu lực xua muỗi (%) tại các thời điểm
0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Hiệu lực xua muỗi Anopheles minimus của tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol (7:3) tương tự nhau tại mỗi thời điểm nghiên cứu (p
> 0,05) Tuy nhiên, tại 3, 4 và 6 giờ sau khi bôi thuốc, hiệu lực xua muỗi
Cường độ xua đuổi của Anopheles minimus giảm có ý nghĩa thống kê ngay sau khi bôi thuốc (p < 0,001), cho thấy hiệu quả ban đầu của các chất thử Sau 4 và 6 giờ, hiệu lực xua đuổi Anopheles minimus của cả hai chất thử vẫn thấp hơn đáng kể so với hiệu lực xua đuổi Aedes aegypti (p < 0,01), cho thấy sự suy giảm hiệu quả theo thời gian của các chất thử đối với Anopheles minimus.
Bảng 3 21: Đáp ứng của muỗi Culex tritaeniorhynchus với tinh dầu Húng quế tại các thời điểm sau khi bôi mẫu thử (n = 200/giờ)
Số muỗi đậu/đốt tại các thời điểm (TB ± SD) p (giờ- chứng) Chứng 0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Kết quả trong bảng 3.21 cho thấy, tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70 (7:3) đều làm giảm đáng kể số muỗi Culex tritaeniorhynchus chạm/đốt sau khi bôi thuốc tại các thời điểm 0, 1, 2, 3, 4 và 6 giờ (p < 0,001) Cả hai loại dung dịch thử đều có tác dụng giảm số muỗi chạm/đốt tương tự nhau (p > 0,05) Tuy nhiên, tại các thời điểm 4 và 6 giờ sau khi bôi, tinh dầu nguyên chất cho hiệu quả giảm số muỗi Culex tritaeniorhynchus chạm/đốt thấp hơn đáng kể so với muỗi Aedes aegypti và Anopheles minimus, với giá trị p < 0,05, cho thấy hiệu quả của tinh dầu Húng quế nguyên chất có sự khác biệt rõ rệt trên các loại muỗi khác nhau. -**Sponsor**Để cải thiện bài viết của bạn về tinh dầu và tác dụng của nó đối với muỗi, bạn có thể sử dụng [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/vYdB83DT?user_id=983577) để tạo ra các đoạn văn SEO-optimized, giúp làm nổi bật các ý chính một cách mạch lạc và thu hút Với Article Generation, bạn có thể dễ dàng có được những câu văn quan trọng, diễn đạt ý nghĩa của cả đoạn văn một cách rõ ràng và tuân thủ các quy tắc SEO, giúp bài viết của bạn không chỉ chính xác về mặt khoa học mà còn thân thiện với công cụ tìm kiếm Điều này giúp bạn tiết kiệm thời gian và công sức so với việc tự mình biên tập lại từng câu chữ, đồng thời đảm bảo bài viết của bạn đạt hiệu quả cao nhất.
Bảng 3 22: Hiệu lực xua muỗi Culex tritaeniorhynchus của chất thử
Hiệu lực xua muỗi (%) tại các thời điểm
0 giờ 1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 6 giờ
Hiệu lực xua muỗi Culex tritaeniorhynchus của tinh dầu nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu – ethanol 70/30 không có ý nghĩa thống kê tại các thời điểm khác nhau (p > 0,05) Tuy nhiên, hiệu quả xua muỗi giảm đáng kể sau 3, 4 và 6 giờ sử dụng (p < 0,001), cho thấy khả năng duy trì hiệu quả không ổn định theo thời gian Ngoài ra, hiệu lực xua của tinh dầu đối với Culex tritaeniorhynchus thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các tác dụng diệt muỗi trên Aedes aegypti và Anopheles minimus.
Trong suốt thời gian thử nghiệm, NTN đƣợc phỏng vấn và theo dõi để phát hiện các tác dụng không mong muốn nếu có
Bảng 3 23: Bảng thông tin phỏng vấn và theo dõi tác dụng không mong muốn của tinh dầu Húng quế trên NTN
Thông tin phỏng vấn và theo dõi
Giới tính Nữ Nam Nam Nữ Nam Nữ
Tiền sử dị ứng Bụi, thức ăn
Tôm đồng Không Không Không Cephalexin Hút thuốc lá Không Không Không Không Không Không Uống rƣợu, bia, chất kích thích Không Không Không Không Không Không
Sử dụng nước hoa, tinh dầu, mỹ phẩm trong vòng 12 giờ
Không Không Không Không Không
Bôi kem nẻ Nivea cách
12 giờ trước, đã rửa sạch Nhận xét mùi tinh dầu Thơm Thơm nhẹ Dễ chịu Bình thường
Mệt mỏi Không Không Không Không Không Không
Khó thở Không Không Không Không Không Không
Hắt hơi, chảy nước mắt - mũi Không Không Không Không Không Không
Mẩn ngứa, ban da, rát sẩn Không Không Không Không Không Không
Sƣng phồng chỗ bôi Không Không Không Không Không Không
Khác Không Không Không Không Không Không
Bảng 3.23 cho thấy, tất cả 6 người tham gia thử nghiệm đều nhận thấy tinh dầu nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu – ethanol (7:3) có mùi thơm dịu hoặc bình thường Ngoài ra, không có phản ứng dị ứng hay tác dụng không mong muốn nào được ghi nhận trong quá trình thử nghiệm, cho thấy tính an toàn của các loại tinh dầu này.
BÀN LUẬN
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GÂY KÍCH ỨNG DA, ẢNH HƯỞNG CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ ĐẾN NHỊP THỞ, NHỊP TIM, NHIỆT ĐỘ CỦA THỎ THỰC NGHIỆM
Việc xác định tính an toàn của thuốc là điều kiện quan trọng trước khi đưa sản phẩm mới vào điều trị cộng đồng Trong nghiên cứu này, tinh dầu Húng quế được chế tạo dưới dạng xịt ngoài da nhằm xua đuổi côn trùng và muỗi truyền bệnh Để đảm bảo an toàn, chúng tôi đã thực hiện các thử nghiệm kiểm tra gây kích ứng da thỏ và ảnh hưởng của tinh dầu đến các chức năng sinh lý như nhịp thở, nhịp tim và thân nhiệt của thỏ thực nghiệm theo hướng dẫn của OECD và Bộ Y tế Các nghiên cứu này nhằm đánh giá các tác dụng không mong muốn của tinh dầu và xác nhận tính an toàn của chế phẩm cho người sử dụng.
Phép thử đánh giá độc tính trên da thường được sử dụng để kiểm tra tính an toàn của các chất thử trước khi ứng dụng ngoài như dạng bôi hoặc xịt Trong nghiên cứu này, do tinh dầu Húng quế được thử nghiệm nhằm mục đích sử dụng ngoài để đuổi muỗi, việc đánh giá tính an toàn qua các thử nghiệm trên da là cần thiết Thỏ được chọn làm động vật thực nghiệm do da của chúng mỏng và có diện tích lớn, giúp tạo vùng bôi thuốc thử đủ rộng để quan sát các dấu hiệu tại chỗ như ban đỏ, phù nề, xung huyết, teo nang lông hoặc bội nhiễm nếu có Trước khi bôi thuốc, lông thỏ được cạo nhẵn ở vùng lưng để đảm bảo diện tích tiếp xúc tối thiểu 10% diện tích cơ thể theo khuyến cáo của OECD, nhằm tăng tính độ tin cậy của kết quả Việc làm sạch lông hai bên sườn giúp tạo khu vực đủ rộng để đặt mẫu thử và mẫu đối chứng một cách chính xác, thuận tiện cho quá trình quan sát và đánh giá độc tính trên da.
10 × 15 cm) Chỉ những thỏ có da khoẻ mạnh, đồng đều và lành lặn mới đƣợc dùng vào thí nghiệm
Trong thử nghiệm đánh giá độc tính trên da thỏ, các thỏ đều khỏe mạnh, đồng lứa và vùng da được chọn có độ lành mạnh cao để hạn chế sai số trong nghiên cứu Kết quả cho thấy, tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70% (7:3) đều không gây kích ứng da sau khi thỏ tiếp xúc với mẫu thử (0,5 ml/mẫu) trong các thời điểm 1, 4, 6 và 24 giờ, không xuất hiện hiện tượng ban đỏ, phù nề hay viêm trên da Các vùng da đặt mẫu thử đều tương tự vùng da lành lặn, cho thấy tinh dầu Húng quế và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70% an toàn cho sử dụng ngoài da dưới dạng bôi hoặc xịt.
Nghiên cứu của Kiplang’at K.P và cộng sự (2013) cho thấy tinh dầu Húng quế pha trong dầu khoáng tự nhiên (Vaseline Pure Petroleum Jelly) ở tỷ lệ 3% không gây tổn thương cho da thỏ khi xua muỗi Aedes aegypti Đồng thời, nghiên cứu của Sritabutra D và cộng sự (2013) cũng xác nhận rằng hỗn hợp tinh dầu Húng quế- dầu oliu (1:9) và tinh dầu Húng quế- dầu dừa (1:9) không gây kích ứng da ở người thử nghiệm khi xua đuổi muỗi Aedes aegypti và Culex quinquefasciatus, chứng tỏ tính an toàn của các hợp chất này trong ứng dụng chống muỗi. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO và cần những câu văn chứa đựng ý nghĩa của đoạn văn một cách mạch lạc? Có lẽ bạn sẽ thích [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/b38Q7VZA?user_id=983577) Với công cụ này, bạn có thể tạo ra những bài viết 2.000 từ được tối ưu hóa SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn 2.500 đô la mỗi tháng so với việc thuê người viết! Hãy tưởng tượng bạn có một đội ngũ sáng tạo nội dung riêng mà không gặp phải những phiền toái thường thấy Ví dụ, dựa trên đoạn văn bạn cung cấp, chúng tôi có thể giúp bạn viết lại một cách mạch lạc và chuẩn SEO hơn.
Trong nghiên cứu, các thông số như nhiệt độ cơ thể, nhịp thở và nhịp tim của thỏ được đánh giá để xác định độ an toàn của tinh dầu húng quế khi sử dụng ngoài da Kết quả cho thấy nhiệt độ cơ thể của thỏ dao động trong khoảng từ 38,87 ± 0,26°C đến 39,32 ± 0,194°C, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các thời điểm sau 1, 4, 6 và 24 giờ tiếp xúc so với lúc ban đầu, cũng như giữa các lô thử khác nhau Điều này chứng tỏ tinh dầu húng quế không ảnh hưởng đến nhiệt độ thân nhiệt của thỏ Tương tự, nhịp thở (85,3 ± 3,98 đến 87,7 ± 2,79 lần/phút) và nhịp tim (138,5 ± 6,16 đến 142,0 ± 7,72 lần/phút) của thỏ cũng không có sự biến đổi đáng kể giữa các thời điểm nghiên cứu và giữa các lô thử nghiệm, cho thấy tính an toàn của tinh dầu húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu-ethanol khi sử dụng ngoài da.
Nhiệt độ 70°C (tỷ lệ 7:3) không ảnh hưởng đến chức năng sống của thỏ, cho thấy mẫu thử an toàn khi tiếp xúc ngoài da với động vật thử nghiệm Kết quả này phù hợp với thực tế sử dụng trong dân gian, nơi tinh dầu được sử dụng để xua đuổi côn trùng, làm gia vị trong ẩm thực và có tác dụng chữa bệnh [56], [57].
Chưa có nhiều nghiên cứu trên thế giới đánh giá tính an toàn của tinh dầu húng quế qua các thử nghiệm thực nghiệm và lâm sàng Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam nhằm đánh giá độc tính trên da và tác động của tinh dầu húng quế đối với một số chức năng sống của động vật thí nghiệm, góp phần làm rõ tính an toàn của sản phẩm này.
TÁC DỤNG XUA MUỖI CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ TRÊN CHUỘT THỰC NGHIỆM
Aedes, Anopheles và Culex là ba loài muỗi chính truyền bệnh ở người trong hơn 2.700 loài muỗi, với Aedes aegypti là vector chính gây nhiều bệnh nguy hiểm như sốt xuất huyết, sốt vàng da, Chikungunya và virus Zika Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và lây truyền bệnh của các loài muỗi này Vì vậy, bên cạnh việc phát triển thuốc chữa bệnh do muỗi truyền, nghiên cứu các loại thuốc đuổi hoặc diệt muỗi là rất cần thiết và cấp bách để phòng chống dịch bệnh.
4.2.1 Tác dụng của tinh dầu Húng quế với loài Aedes aegypti
Trong nghiên cứu này, tinh dầu Húng quế và hỗn hợp tinh dầu – ethanol
Kết quả thử nghiệm trên 900 muỗi Aedes aegypti qua 3 lần cho thấy, các mẫu thử có khả năng xua muỗi trung bình lần lượt là 99,99% và 99,98%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (p < 0,001) Trong các lần thử, các muỗi đều đạt tiêu chuẩn, và tỷ lệ muỗi chết ở lô chứng không đáng kể, phản ánh tính ngẫu nhiên mà không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Cả tinh dầu nguyên chất và tinh dầu 70% pha trong ethanol đều cho hiệu quả xua muỗi gần như tương đương nhau, với không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê (p > 0,05), phù hợp với tiêu chuẩn của WHO về khả năng xua muỗi của các sản phẩm này.
Nghiên cứu này phù hợp với các công trình trước đó, cho thấy tinh dầu Húng quế có tác dụng xua muỗi hiệu quả Đặc biệt, một nghiên cứu tại Kenya đã chứng minh tinh dầu Húng quế pha trong các dung môi khác nhau có khả năng bảo vệ 100% khỏi muỗi Aedes aegypti Điều này cho thấy tinh dầu Húng quế không những an toàn mà còn cực kỳ hiệu quả trong việc đẩy lùi muỗi, góp phần giảm nguy cơ mắc các bệnh do muỗi truyền.
Năm 2013, Kiplang’at K.P cùng cộng sự công bố nghiên cứu về tác dụng của tinh dầu Húng quế pha trong dầu khoáng tự nhiên (Vaseline Pure Petroleum Jelly) với tỷ lệ 3% Kết quả cho thấy, sản phẩm này có khả năng bảo vệ hoàn toàn da thỏ khỏi muỗi Aedes aegypti, mang lại hiệu quả 100% trong việc phòng ngừa muỗi đốt.
Nghiên cứu của Sritabutra D và cộng sự (2013) cho thấy hỗn hợp tinh dầu Húng quế - dầu oliu (tỷ lệ 1:9) có khả năng xua đuổi muỗi Aedes aegypti trong khoảng thời gian trung bình 41.25 phút với tỷ lệ xua là 98,6% Trong khi đó, hỗn hợp tinh dầu Húng quế - dầu dừa (tỷ lệ 1:9) có hiệu quả cao hơn, xua đuổi muỗi trong trung bình 73.50 phút với tỷ lệ xua lên tới 98,87%, cho thấy tính năng nổi bật của các loại tinh dầu tự nhiên trong việc phòng tránh muỗi hiệu quả cao. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO và cần tìm những câu quan trọng nhất để làm nổi bật ý nghĩa của đoạn văn? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/9It3zqvs?user_id=983577), bạn có thể nhận được các bài viết 2.000 từ được tối ưu hóa SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn 2.500 đô la mỗi tháng so với việc thuê người viết! Nghiên cứu của Sritabutra D và cộng sự (2013) cho thấy hỗn hợp tinh dầu Húng quế - dầu dừa (1:9) có tác dụng bảo vệ khỏi Aedes aegypti trong 73.50 ± 12.37 phút với tỷ lệ xua là 98,87% Hãy để công cụ này giúp bạn có đội ngũ nội dung riêng mà không gặp rắc rối!
4.2.2 Tác dụng của tinh dầu Húng quế với muỗi Anopheles minimus
Thí nghiệm được thực hiện ba lần với tổng cộng 900 muỗi Anopheles minimus, chia thành 9 lô, mỗi lô 100 con, và kết quả trung bình được tính toán Trong lần thử nghiệm đầu tiên, lô chứng không có muỗi ngã hoặc bị ức chế hút máu, tỷ lệ muỗi no máu đạt 100% Ở lần thứ hai, lô chứng chỉ có 1 muỗi chết (1%) và tỷ lệ muỗi no máu là 99% Trong lần thứ ba, kết quả cho thấy có 1 muỗi chết, 1 muỗi ngã (cũng 1%), và 1 muỗi bị ngã không thể vào buồng nhốt để hút máu, khiến tỷ lệ muỗi no máu đạt 98% Các trường hợp muỗi chết hoặc ngã này đều do yếu tố tự nhiên và nằm trong giới hạn cho phép; kết quả của các lô còn lại được điều chỉnh theo phương pháp Abbott Kết quả trung bình sau ba lần thử nghiệm cho thấy, tinh dầu Húng quế và hỗn hợp tinh dầu – ethanol 70/30 (7:3) có tác dụng xua muỗi rất hiệu quả, với tỷ lệ xua trung bình lần lượt là 99,33% và 99,35%, cao hơn đáng kể so với lô chứng (1,0%), với giá trị p < 0,001, thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Hỗn hợp tinh dầu pha trong ethanol 70 (tỷ lệ 7:3) dường như có tác dụng xua cao hơn so với tinh dầu nguyên chất Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê rõ ràng Điều này cho thấy việc pha chế tinh dầu với ethanol 70 có thể cải thiện hiệu quả xua, nhưng cần thêm nghiên cứu để xác định chính xác tác dụng của phương pháp này.
Nghiên cứu của Arthi và cộng sự (2010) cho thấy dịch chiết húng quế và spinosad có tác dụng diệt muỗi hiệu quả, đạt tỷ lệ diệt 85% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu về khả năng kiểm soát muỗi bằng các phương pháp tự nhiên và sinh học, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh Việc sử dụng dịch chiết từ húng quế kết hợp spinosad giúp tăng cường khả năng tiêu diệt muỗi, giảm sự phụ thuộc vào thuốc hóa học Các kết quả này khẳng định tiềm năng của các biện pháp tự nhiên trong việc kiểm soát muỗi, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Anopheles stephensi [59] Điều này cho thấy có thể loài Anopheles stephensi nhạy cảm với tinh dầu húng quế so hơn với loài Anopheles minimus
4.2.3 Tác dụng của tinh dầu Húng quế với loài Culex tritaeniorhynchus
Thử nghiệm cũng được tiến hành tương tự như với hai loài muỗi trên Ở lần
Trong ba lần thử nghiệm, tỷ lệ muỗi chết ở các lô thử nghiệm đạt yêu cầu giới hạn (< 10%), với lần 1 và lần 3 có 1% và 2% muỗi chết tự nhiên, số muỗi no máu đạt 99% và 98% Lô chứng ở lần 2 không có muỗi chết nào, tỷ lệ muỗi no máu là 100% Sự khác biệt về tỷ lệ muỗi chết và khả năng ức chế hút máu giữa hai dạng tinh dầu nguyên chất và pha ethanol 70% không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy hai loại đều có hiệu quả cao mà không có sự chênh lệch đáng kể.
Tinh dầu Húng quế nguyên chất có khả năng xua muỗi cao hơn so với tinh dầu pha trong ethanol, giúp nâng cao hiệu quả đuổi muỗi tự nhiên Mặc dù có xu hướng khác biệt rõ rệt, nhưng sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu để xác định chính xác hiệu quả của tinh dầu Húng quế trong việc xua muỗi Sử dụng tinh dầu Húng quế nguyên chất là một lựa chọn tự nhiên an toàn cho sức khỏe người dùng trong chiến dịch phòng chống muỗi và các bệnh truyền nhiễm do muỗi gây ra.
Nghiên cứu này phù hợp với kết quả của Sritabutra D và cộng sự (2013) về tác dụng đuổi Culex quinquefasciatus bằng các hỗn hợp tinh dầu Cụ thể, hỗn hợp tinh dầu Húng quế - dầu oliu (1:9) bảo vệ khỏi ruồi muỗi trong khoảng 97.50 ± 9.00 phút, tỷ lệ xua là 98,6%, trong khi đó, hỗn hợp Húng quế - dầu dừa (1:9) bảo vệ trong 84.00 ± 10.39 phút với tỷ lệ xua đạt 98,97% Các kết quả này cho thấy cả hai hỗn hợp tinh dầu có khả năng đuổi muỗi hiệu quả, giúp nâng cao hiệu quả phòng tránh các bệnh truyền nhiễm do muỗi gây ra.
Nguyễn Thị Minh Thu và cộng sự (2020) đã nghiên cứu tác dụng xua muỗi của dịch chiết Húng quế trên các loài muỗi phổ biến tại Việt Nam, cho thấy dịch chiết này ở nồng độ 100 g/100 mL và 200 g/100 mL có khả năng xua trung bình lần lượt là 62,71% và 76,12% muỗi Aedes aegypti, 55,25% và 60,05% muỗi Anopheles minimus, cùng 51,85% và 60,49% muỗi Culex tritaeniorhynchus Kết quả cho thấy dịch chiết Húng quế có xu hướng xua muỗi Aedes aegypti hiệu quả hơn so với các loài muỗi khác, tuy nhiên sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p > 0,05.
Các nghiên cứu vẫn cần mở rộng đối với các mẫu tinh dầu có nồng độ thấp hơn để đánh giá khả năng xua muỗi hiệu quả, giúp tiết kiệm nguyên liệu và tối ưu hóa công thức sản phẩm tự nhiên.
Hiện tại, rất ít nghiên cứu trên thế giới đánh giá tác dụng xua muỗi của Húng quế, đặc biệt là chưa có công bố nào về tác dụng của tinh dầu Húng quế đối với các loài Anopheles minimus và Culex tritaeniorhynchus Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào xác nhận khả năng xua muỗi của tinh dầu cây này, làm nổi bật tầm quan trọng của các nghiên cứu tiếp theo trong việc khai thác nguồn cây thuốc sẵn có để ứng dụng trong y học cổ truyền và kiểm soát dịch bệnh.
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG XUA MUỖI VÀ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ TRÊN NGƯỜI
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu- ethanol 70 (7:3) có khả năng xua muỗi hiệu quả trên thực nghiệm, an toàn với thỏ và chuột lang, không gây kích ứng da thỏ hay ảnh hưởng đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, nhịp thở và nhiệt độ của thỏ trong quá trình theo dõi Dựa trên kinh nghiệm dân gian sử dụng Húng quế làm gia vị và các kết quả thử nghiệm, đề cương nghiên cứu thử nghiệm trên người đã được Hội đồng Y đức của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam phê duyệt, và chất thử trên người cũng là dạng tinh dầu nguyên chất hoặc hỗn hợp tinh dầu - ethanol.
70 0 (7:3) nhƣ đã dùng cho thử nghiệm trên động vật
Thử nghiệm tác dụng xua muỗi của tinh dầu Húng quế trên người được tiến hành theo quy định của WHO (2009) [53], trong đó có 6 NTN gồm 3 nam và 3 nữ
Để đảm bảo độ chính xác của nghiên cứu theo hướng dẫn của WHO, nghiên cứu yêu cầu có ít nhất 6 Người Tham Chiến (NTN), đảm bảo tỷ lệ cân bằng giới tính để loại bỏ sai số do giới ảnh hưởng đến khả năng thu hút muỗi NTN cần tránh sử dụng nước hoa, các loại cao xoa hoặc thuốc bôi trên da trước khi thử nghiệm; đồng thời, việc rửa tay bằng xà phòng không mùi và sát khuẩn bằng ethanol nhằm hạn chế tác động của hóa chất và mùi cơ thể Diện tích vùng da hở của các NTN được giữ cố định ở mức 600 cm², đồng thời vùng da này được đánh dấu hoặc đo lại để đảm bảo tính nhất quán trong các lần thử nghiệm khác nhau với các loài muỗi khác nhau Các điều kiện này nhằm hạn chế tối đa sai số trong kết quả nghiên cứu.
Các nghiên cứu cho thấy, cả tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu – ethanol (7:3) đều có hiệu quả đuổi muỗi Aedes aegypti cao, không khác biệt về mặt thống kê trong các thời điểm 0, 1, 2, 3 và 4 giờ sau khi sử dụng Tuy nhiên, sau 6 giờ, hiệu lực xua muỗi của hỗn hợp tinh dầu – ethanol (7:3) giảm đáng kể so với tinh dầu nguyên chất, với p = 0,03, cho thấy sự giảm hiệu quả rõ rệt theo thời gian.
Cả hai chất thử đều giảm hiệu lực xua ở giờ thứ 3, 4 và 6 so với ngay sau khi bôi
Các kết quả cho thấy, vào thời điểm 0 giờ, cả tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu ethanol 70% (7:3) có hiệu lực xua đuổi Aedes aegypti tương đương nhau trong vòng 4 giờ sau khi ứng dụng, với p < 0,01 Tuy nhiên, sau 6 giờ, tinh dầu nguyên chất thể hiện khả năng xua đuổi muỗi cao hơn đáng kể so với tinh dầu đã pha loãng bằng ethanol 70%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Cả hai loại tinh dầu đều giảm hiệu lực xua đuổi sau 3 giờ so với ban đầu, do quá trình bay hơi làm giảm nồng độ hoạt chất Theo tiêu chuẩn của WHO, hiệu quả xua đuổi trên 96% muỗi sau 6 giờ được coi là tốt, cho thấy tinh dầu Húng quế nguyên chất vẫn duy trì khả năng chống muỗi tốt sau thời gian dài hơn.
Nghiên cứu của Sritabutra D và cộng sự (2013) cho thấy hỗn hợp tinh dầu Húng quế - dầu oliu (1:9) có khả năng bảo vệ khỏi muỗi Aedes aegypti trong khoảng 41.25 phút với tỷ lệ xua đuổi là 98,6%, trong khi hỗn hợp Húng quế - dầu dừa (1:9) kéo dài thời gian đuổi muỗi lên đến 73.50 phút với tỷ lệ xua đuổi là 98,87% Kết quả này phù hợp với các phát hiện của chúng tôi về hiệu quả của tinh dầu nguyên chất và tinh dầu pha loãng trong việc phòng ngừa muỗi Aedes aegypti, cho thấy tiềm năng ứng dụng tinh dầu tự nhiên trong kiểm soát dịch bệnh sốt xuất huyết.
Thời gian 360 phút (6 giờ) của chúng tôi vượt xa so với của Sritabutra D và cộng sự, do đó chúng tôi đã sử dụng tinh dầu nguyên chất (100%) và tinh dầu pha loãng (70%), trong khi các nghiên cứu trước chỉ dùng nồng độ tinh dầu 10% pha trong dầu oliu hoặc dầu dừa, không pha trong ethanol 70%.
Khi thử trên loài muỗi Anopheles minimus, kết quả cho thấy hiệu lực xua muỗi Anopheles minimus của tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu
Ethanol (7:3) có tác dụng tương tự nhau tại mỗi thời điểm nghiên cứu (p > 0,05), nhưng hiệu quả xua muỗi Anopheles minimus của cả hai chất thử đều giảm rõ rệt sau 3, 4 và 6 giờ kể từ khi bôi thuốc (p < 0,001) Trong các thời điểm sau, hiệu lực xua Anopheles minimus của hai chất thử thấp hơn đáng kể so với hiệu lực xua Aedes aegypti (p < 0,01), cho thấy rằng cả tinh dầu nguyên chất và tinh dầu pha loãng có khả năng đuổi muỗi Anopheles minimus cao trong 3 giờ đầu, sau đó giảm dần theo thời gian Tuy nhiên, hiệu lực xua vẫn đạt trên 94% và thời gian duy trì tác dụng đuổi kéo dài đến 360 phút (6 giờ), tương tự như hiệu quả với muỗi Aedes aegypti.
Hiệu lực xua muỗi Culex tritaeniorhynchus của chất thử không có ý nghĩa thống kê ở các thời điểm nghiên cứu khác nhau (p > 0,05) Tuy nhiên, hiệu quả xua muỗi giảm rõ rệt và có ý nghĩa thống kê tại các thời điểm 3, 4 và 6 giờ sau khi bôi chất thử (p < 0,05), cho thấy khả năng duy trì hiệu quả của chất thử giảm theo thời gian.
Tinh dầu nguyên chất và tinh dầu pha loãng duy trì hiệu lực xua muỗi cao trong hai giờ đầu sau khi bôi, giảm dần từ giờ thứ 3 đến giờ thứ 6 nhưng vẫn còn hiệu quả tốt đối với loài Culex tritaeniorhynchus, đạt hơn 90% theo tiêu chuẩn của WHO Tuy nhiên, hiệu lực xua muỗi Culex tritaeniorhynchus của các chất này thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với hiệu lực xua của chúng đối với Aedes aegypti và Anopheles minumus (p < 0,05).
Các kết quả thử nghiệm cho thấy tinh dầu Húng quế có tác dụng xua muỗi hiệu quả trên các loại muỗi khác nhau, phù hợp với các thử nghiệm thực nghiệm trước đó Để mở rộng ứng dụng, việc kiểm tra độ an toàn trên người là rất quan trọng; trong nghiên cứu này, tất cả 6 tình nguyện viên không gặp phản ứng dị ứng da, phù nề, ban đỏ hoặc sưng phồng sau khi sử dụng tinh dầu Ngoài ra, họ cũng không xuất hiện các biểu hiện mệt mỏi, hắt hơi, chảy nước mũi hay chóng mặt khi hít phải hơi tinh dầu Kết quả này cho thấy tinh dầu Húng quế an toàn cho người sử dụng và tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong xua muỗi.
Cả 6 NTN (100%) đều thấy tinh dầu có mùi thơm dễ chịu hoặc thấy bình thường Các kết quả trên chứng tỏ, tinh dầu Húng quế nguyên chất và tinh dầu pha loãng với ethanol 70 0 an toàn với người thử nghiệm trong 6 giờ tiếp xúc liên tục Kết quả này cũng phù hợp với kinh nghiệm sử dụng của dân gian khi dùng tinh dầu uống để chữa một số bệnh đường tiêu hóa hay để giảm mệt mỏi [56]
Tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu – ethanol 70:30 cho thấy hiệu quả xua muỗi cao đối với ba loài Aedes aegypti, Anopheles minimus và Culex tritaeniorhynchus, là những loài muỗi chủ yếu gây bệnh ở Việt Nam Các thử nghiệm trên động vật và người đều xác nhận tinh dầu Húng quế an toàn cho người sử dụng, góp phần khẳng định tính an toàn của sản phẩm Tuy nhiên, để sử dụng làm thuốc, cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo với quy mô lớn hơn để đảm bảo hiệu quả và an toàn lâu dài.
Nghiên cứu tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế (Ocimum basilicum L.) cho thấy đây là một phương pháp tự nhiên hiệu quả Kết quả nghiên cứu trên động vật thực nghiệm và trên người cho thấy tinh dầu Húng quế có khả năng đẩy lùi muỗi đáng kể Các kết quả này hỗ trợ sử dụng tinh dầu Húng quế như một giải pháp an toàn và thân thiện môi trường để phòng chống muỗi đốt Ngoài ra, tinh dầu Húng quế còn có khả năng hạn chế sự phát triển của muỗi, góp phần giảm nguy cơ truyền bệnh Từ đó, nghiên cứu khẳng định tiềm năng của tinh dầu Húng quế trong các sản phẩm xua muỗi tự nhiên và an toàn cho sức khỏe cộng đồng.
1 Tác dụng kích ứng da và ảnh hưởng của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L đến nhịp thở, nhịp tim, nhiệt độ của thỏ
Với liều 0,5 ml bôi trên da thỏ diện tích 2,5 cm x 2,5 cm, tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu - ethanol 70 0 (7:3):
- Không gây kích ứng da thỏ, không có dấu hiệu ban đỏ và không gây phù nề trên thỏ thực nghiệm
Các chỉ số thân nhiệt, nhịp thở và nhịp tim của thỏ không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê sau khi sử dụng thuốc tại các thời điểm 1, 4, 6 và 24 giờ so với thời điểm trước khi dùng, với các giá trị p đều lớn hơn 0,05, cho thấy thuốc không ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ số sinh lý này của thỏ.
2 Tác dụng xua muỗi của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L trên chuột thực nghiệm
Tinh dầu Húng quế nguyên chất và hỗn hợp tinh dầu ethanol 70% (7:3) có khả năng xua muỗi trung bình lần lượt đạt 99,99% và 99,98% đối với muỗi Aedes aegypti, 99,33% và 99,35% đối với muỗi Anopheles minimus, cùng với 99,96% và 99,90% đối với muỗi Culex tritaeniorhynchus, với hiệu quả cao hơn đáng kể so với lô chứng (p < 0,001) Tinh dầu Húng quế thể hiện khả năng xua muỗi tốt đối với cả ba loài muỗi Aedes aegypti, Anopheles minimus và Culex tritaeniorhynchus trong các thử nghiệm thực nghiệm.
3 Tác dụng xua muỗi và tác dụng không mong muốn của tinh dầu cây Húng quế Ocimum basilicum L trên người