Luận văn Đánh giá kết quả của bột thuốc đắp HV trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ được hoàn thành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả của “bột thuốc đắp HV” trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ; Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị.
CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 06 đến tháng 12 năm 2021 Địa điểm: Bệnh viện Châm cứu Trung ương
(Địa chỉ: 49 Thái Thịnh, phường Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội)
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp lâm sàng mở, có chứng, so sánh với trước và sau điều trị.
Cỡ mẫu
Nghiên cứu được tiến hành chọn chủ đích 60 bệnh nhân, có độ tuổi trên
Hội chứng cổ vai cánh tay có thể được chẩn đoán ở mọi đối tượng, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp Để đủ điều kiện chẩn đoán, các bệnh nhân phải đáp ứng tiêu chuẩn tại mục 2.1.1 về các triệu chứng và đặc điểm lâm sàng Đồng thời, họ không được vi phạm bất kỳ tiêu chuẩn nào trong mục 2.1.2 liên quan đến các yếu tố loại trừ hoặc các điều kiện khác Việc đảm bảo các tiêu chuẩn này giúp xác định chính xác và nhất quán về chẩn đoán hội chứng cổ vai cánh tay.
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn sẽ được chia đều về hai nhóm, mỗi nhóm 30 bệnh nhân bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên (chẵn, lẻ)
Số chẵn vào nhóm nghiên cứu, số lẻ vào nhóm chứng
- Nhóm nghiên cứu: Xoa bóp bấm huyệt kết hợp đắp “bột thuốc đắp HV”
Nhóm chứng sử dụng phương pháp xoa bóp bấm huyệt kết hợp với chiếu đèn hồng ngoại để điều trị Liệu trình diễn ra trong 20 ngày, với mỗi ngày thực hiện một lần thủ thuật, đảm bảo quá trình điều trị liên tục và hiệu quả.
Chất liệu nghiên cứu
Chất liệu nghiên cứu là “bột thuốc đắp HV” gồm 3 vị thuốc bao gồm: Ngải cứu, Địa liền, Quế chi theo công thức sau:
Bảng 2.2 Công thức cho 50g “bột thuốc đắp HV”
Tên thuốc Hàm lƣợng dùng Tiêu chuẩn
Ngải cứu Herba Artemisiae vulgaris 18g
Dược điển Việt Nam V Địa liền Kaempferia galanga L 13g
Quế chi Cinnamomum cassia Presl 9g
Các vị thuốc được bào chế theo tiêu chuẩn Dược điển V (2018) [40],
- Quy trình bào chế “Bột thuốc đắp HV” (Phụ lục 4)
- Hạn sử dụng: 6 tháng từ ngày sản xuất
- Công dụng: Khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc
- Chủ trị: Đau lưng, viêm khớp, đau vai gáy do thoái hóa khớp…
Tất cả các vị thuốc đều được nghiền nhỏ thành dạng bột mịn, đóng gói thành từng túi nhỏ 50g theo tiêu chuẩn của Bệnh viện Tuệ Tĩnh Mỗi túi bột thuốc đều có nhãn hướng dẫn sử dụng rõ ràng, đảm bảo an toàn và thuận tiện cho người dùng Dạng bào chế này giúp dễ dàng sử dụng và bảo quản thuốc, phù hợp với các quy trình sản xuất thuốc đông y chất lượng cao.
Hình 2.1 “Bột thuốc đắp HV” sử dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng công thức huyệt dựa trên phác đồ xoa bóp và bấm huyệt, được ban hành theo quyết định số 792/QĐ-BYT của Bộ Y tế, nhằm hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Châm cứu Theo mục 418, tài liệu gồm các huyệt đạo quan trọng giúp tối ưu hóa phương pháp điều trị bằng châm cứu, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.
Bảng 2.3 Công thức huyệt nghiên cứu
Tên huyệt Tên huyệt Tên huyệt
Phong trì Phong phủ Thiên trụ
Giáp tích C4-C7 Đại chùy Kiên trung du
Kiên tỉnh Kiên ngung Kiên trinh
Thiên tông Khúc trì Tiểu hải
Ngoại quan Hợp cốc Lạc chẩm
Các thủ thuật gồm: Xoa, xát, miết, vờn cơ vai gáy, day, lăn, chặt, đấm vùng vai gáy, bấm tất cả các huyệt ở trên
- Đèn hồng ngoại trị liệu 250W, Model Medilamp, Nhãn hiệu TNE, xuất xứ Việt Nam, chiều cao 170cm, đuôi đèn Ceramic E27 sử dụng nhiều loại bóng đèn
- Bát inox, que phết thuốc, ni lông bọc thực phẩm
- Ấm đun nước nóng, khay đựng dụng cụ
- Thước đo thang điểm VAS
- Thước đo tầm vận động cột sống cổ
- Cân điện tử chia thuốc
Tất cả các phương tiện và dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu đều cần được kiểm tra kỹ lưỡng trước để đảm bảo hoạt động tốt Việc kiểm tra này đảm bảo các thiết bị đáp ứng yêu cầu an toàn và kỹ thuật, tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả nghiên cứu Chỉ những phương tiện và dụng cụ đạt tiêu chuẩn mới được phép sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu Điều này giúp duy trì độ chính xác và độ tin cậy của dữ liệu thu thập, đồng thời tuân thủ các quy định an toàn và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Quy trình nghiên cứu
60 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu sẽ được thăm khám tỉ mỉ theo một mẫu bệnh án thống nhất trước khi phân nhóm nghiên cứu
- Khám lâm sàng, xác định bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn ở mục 2.1.1 và không vi phạm tiêu chuẩn mục 2.1.2
- Bệnh nhận đủ tiêu chuẩn được chia thành 2 nhóm
+ Nhóm nghiên cứu (NNC): 30 bệnh nhân được điều trị
Xoa bóp bấm huyệt 30 phút/lần /ngày X 20 ngày Đắp bột thuốc HV 30 phút/lần /ngày X 20 ngày
+ Nhóm chứng (NC): 30 bệnh nhân được điều trị
Xoa bóp bấm huyệt 30 phút/lần /ngày X 20 ngày
Chiếu đèn hồng ngoại: 30 phút/lần /ngày X 20 ngày
- Theo dõi đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu ở các thời điểm khác nhau: Trước nghiên cứu (D 0 ), sau 10 ngày (D10), sau 20 ngày (D20) điều trị
- Phân tích dữ liệu và kết luận
2.6.2 Quy trình thực hiện thủ thuật
2.6.2.1 Quy trình kỹ thuật xoa bóp bấm huyệt
- Thủ thuật: Xoa, xát, miết nhào cơ vai, gáy day, lăn chặt đấm
- Vận động khớp cổ: Bệnh nhân ngửa cổ kéo nhẹ và chậm ra trước, sau Trình tự xoa bóp:
Bệnh nhân được hướng dẫn ngồi thoải mái, bộc lộ rõ vùng vai gáy để xác định các huyệt cần can thiệp Quá trình điều trị bao gồm các thủ thuật xoa bóp, bấm huyệt như xát, lăn, day, ấn huyệt theo công thức nghiên cứu, nhằm giảm căng cứng cơ và cải thiện lưu thông khí huyết Ngoài ra, các động tác vỗ vùng vai gáy và vận động cột sống cổ giúp tăng cường sự linh hoạt, giảm đau nhức hiệu quả.
Mỗi liệu trình xoa bóp kéo dài 30 phút, mỗi ngày tiến hành một lần [25] Ghi phiếu theo dõi
2.6.2.2 Quy trình kỹ thuật đắp thuốc:
Kỹ thuật viên xác định chính xác vị trí đắp thuốc, đảm bảo bệnh nhân ở tư thế nằm sấp hoặc ngồi thoải mái nhất để thuận tiện cho việc tiếp xúc vùng vai gáy Việc chọn tối đa từ 1 đến 3 vị trí đắp thuốc giúp tăng hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
- Dùng 50g bột thuốc (đã được đóng gói sẵn tại BV Tuệ Tĩnh) chế thêm
90 ml nước ở 100 0 C khuấy đều được một hỗn hợp bột mịn mềm dẻo
- Đổ hỗn hợp lên tấm ly lông bọc thực phẩm cán mỏng thành hình đĩa dầy 0,5cm
- Để nguội đến nhiệt độ 40 0 C
Dán miếng thuốc lên vùng bị đau như cổ, vai hoặc cánh tay giúp giảm triệu chứng hiệu quả Nên đắp liên tục cùng một vị trí trong vòng 30 phút mỗi lần để đạt được kết quả tốt nhất Một liệu trình điều trị kéo dài khoảng 20 ngày, đảm bảo sự cải thiện rõ rệt và an toàn cho người sử dụng.
Hình 2.2 Đắp “bột thuốc HV”
Hết thời gian đắp, kỹ thuật viên bóc, làm sạch vùng đắp thuốc Ghi phiếu theo dõi
Yêu cầu: bệnh nhân thấy nóng vừa phải, không đau ngứa, không rát da vùng đắp thuốc Trong thời gian đắp thầy thuốc theo dõi quan sát biểu hiện
2.6.2.3 Quy trình kỹ thuật chiếu đèn hồng ngoại
Bộc lộ và kiểm tra vùng điều trị, chọn tư thế thuận lợi nằm hoặc ngồi sao cho thoải mái nhất mà vẫn bộc lộ vùng điều trị [42]
Kỹ thuật viên tiến hành chiếu đèn và điều chỉnh khoảng cách phù hợp từ đèn đến bề mặt da khoảng 40cm đến 90cm
Lưu ý: Chiếu đèn vuông góc với bề mặt da thời gian chiếu 30 phút/ 1lần/ ngày trong 20 ngày
Khi hết thời gian trị liệu phải tắt đèn và kiểm tra lại khu vực da đã chiếu Lưu ý: Đánh giá tình trạng đỏ da, bỏng, rát
Biến số và chỉ số nghiên cứu
2.7.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu
Bệnh nhân được phân loại dựa trên hai nhóm nghề nghiệp chính là lao động chân tay và lao động trí óc Lao động chân tay bao gồm các nhóm như công nhân, nông dân, giúp xác định đặc điểm sức khỏe liên quan đến công việc lao động thể chất Trong khi đó, lao động trí óc gồm nhân viên văn phòng, giáo viên, thể hiện các đặc điểm sức khỏe phù hợp với công việc đòi hỏi tư duy và làm việc trong môi trường trí tuệ Đây là phân loại quan trọng để đánh giá tác động của nghề nghiệp đến sức khỏe người lao động một cách chính xác.
Người đã về hưu thường phân chia nghề nghiệp thành hai nhóm chính: lao động chân tay và lao động trí óc, dựa trên nghề nghiệp mà họ đã làm việc lâu nhất trong quá trình hoạt động.
- Thời gian mắc bệnh: thời gian tính theo tháng và các mức tương ứng: Dưới 1 tháng và lớn hơn 3 tháng
2.7.2 Biến số, chỉ số lâm sàng
2.7.2.1 Mức độ đau theo thang điểm VAS
Mức độ đau của bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm VAS từ 1 đến
Hình 2.3 Thang đánh giá mức độ đau VAS
Thang điểm số học đánh giá mức độ đau VAS là công cụ hai mặt, trong đó một mặt gồm 11 vạch đều nhau từ 0 đến 10 điểm để đo mức độ đau của bệnh nhân Đây là phương pháp đơn giản và chính xác, giúp ghi nhận tình trạng đau một cách khách quan, thuận tiện cho việc chẩn đoán và theo dõi điều trị Sử dụng thang điểm VAS là bước quan trọng trong đánh giá mức độ đau, giúp bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả hơn.
5 hình tượng, có thể quy ước và mô tả ra các mức để bệnh nhân tự lượng giá cho đồng nhất độ đau [43]
Dựa trên bảng phân loại đã nêu trên chúng tôi xếp loại mức độ đau theo thang điểm VAS cụ thể như sau:
Bảng 2.4 Phân loại kết quả điều trị theo thang điểm VAS Điểm VAS Mức độ đau Đáp ứng điều trị
2.7.2.2 Thang điểm đánh giá chức năng sinh hoạt hàng ngày – NDI
Thang điểm đánh giá chức năng sinh hoạt hàng ngày (NDI) là công cụ gồm 10 câu hỏi liên quan đến cường độ đau, sinh hoạt cá nhân, nâng đồ vật, đọc sách, đau đầu, khả năng tập trung chú ý, làm việc, lái xe, giấc ngủ và hoạt động giải trí Mỗi câu hỏi được phân thành 6 mức độ khác nhau tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, giúp đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của bệnh lên khả năng sinh hoạt hàng ngày NDI là phương pháp hữu ích trong việc theo dõi và đánh giá chức năng sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị phù hợp.
Bảng 2.5 Phân loại kết quả điều trị theo NDI
Mức điểm Mức hạn chế Đáp ứng điều trị
0 – 14 Không hạn chế, hạn chế nhẹ Tốt
2.7.2.3 Tầm vận động cột sống cổ
Phương pháp đo tầm vận động cột sống cổ được phát triển dựa trên tiêu chuẩn đo tầm vận động khớp do Viện hàn lâm các nhà phẫu thuật chỉnh hình của Mỹ đề ra Quá trình đo tầm vận động có thể thực hiện chủ động hoặc thụ động, giúp đánh giá chính xác khả năng chuyển động của cột sống cổ.
Hình 2.4 Thước đo tầm vận động cột sống cổ
Tầm vận động khớp được đo bằng thước có gốc là mặt phẳng hình tròn, chia độ từ 0° đến 360°, gồm một cành di động và một cành cố định dài 30cm, giúp đánh giá khả năng di chuyển của khớp Bệnh nhân được hướng dẫn ngồi thẳng, tựa lưng ngang vai, với khớp gối và háng gập vuông góc, hai chân đặt trên sàn nhà và hai tay xuôi khép sát dọc thân để đảm bảo tư thế chuẩn xác cho quá trình đo Tầm vận động của cột sống cổ được đánh giá qua các động tác gấp, duỗi (cúi, ngửa), nghiêng bên và quay để xác định phạm vi chuyển động của vùng cổ.
Để đo độ gấp duỗi cổ, người đo đứng phía bên bệnh nhân, sử dụng thước đi qua đỉnh đầu và duy trì hai cành thước theo chiều thẳng đứng Bệnh nhân đứng hoặc ngồi ở tư thế thẳng góc với mặt đất, lần lượt thực hiện các động tác cúi và ngửa cổ, với cành cố định ở vị trí ban đầu và cành di động di chuyển theo đỉnh đầu Kỹ thuật này giúp xác định phạm vi gấp duỗi cổ, trong đó gấp có thể chạm tới cằm vào ngực, còn duỗi đến mức ụ chẩm nằm ngang, đáp ứng các tiêu chuẩn y học về vận động cổ.
Đo độ nghiêng bên được thực hiện bằng cách người đo đứng phía sau bệnh nhân, đặt gốc thước tại mỏm gai C7 Cành cố định của thước nằm ngang song song với mặt đất, còn cành di động trùng với trục đứng của thân Góc đo là góc tạo giữa cành cố định và cành di động, hướng theo đường nối từ điểm gốc C7 đến đỉnh đầu của bệnh nhân, giúp xác định độ nghiêng bên chính xác và phù hợp theo tiêu chuẩn y học.
Đo cử động quay được thực hiện bằng cách người đo đứng phía sau, sử dụng gốc thước là giao điểm của đường nối đỉnh vành tai hai bên cắt đường giữa thân Thước có hai cành chập lại, đặt theo hướng nối đỉnh đầu qua đỉnh mũi Khi bệnh nhân xoay đầu lần lượt sang từng bên, cành di động của thước xoay theo hướng đỉnh mũi, còn cành cố định giữ nguyên vị trí, giúp đánh giá chính xác phạm vi cử động quay của đầu.
Dựa trên các tiêu chí về tầm vận động cổ bình thường và bệnh lý, chúng tôi đã đưa ra mức phân loại kết quả điều trị cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả rõ ràng Việc xác định chính xác các tiêu chuẩn này giúp cải thiện quá trình chẩn đoán và theo dõi quá trình hồi phục của bệnh nhân Phân loại kết quả điều trị dựa trên tiêu chí này cung cấp các dữ liệu cần thiết để điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp, nâng cao tỷ lệ thành công Điều này giúp bệnh nhân hiểu rõ khả năng phục hồi và các bước cần thiết để duy trì sức khỏe cổ tối ưu.
Bảng 2.6 Phân loại kết quả điều trị theo tầm vận động cổ Động tác Đáp ứng điều trị Không hạn chế Hạn chế ít Hạn chế trung bình
Cúi ≥ 45 0 40 0 - 44 0 35 0 - 39 0 < 34 0 Ngửa ≥ 55 0 50 0 - 54 0 45 0 - 49 0 < 45 0 Nghiêng bên đau ≥ 35 0 30 0 - 34 0 25 0 - 29 0 < 25 0 Quay bên đau ≥ 55 0 50 0 - 54 0 45 0 - 49 0 < 45 0
2.7.3 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
2.7.4 Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị
Sẩn ngứa, dị ứng, đỏ da, sưng, nóng, đỏ, bỏng da, đau tăng sau tại chỗ.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được tiến hành phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 Các thuật toán sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
T-Test Student để so sánh các giá trị trung bình, trong đó: Independent T-Test Student được dùng để so sánh các giá trị trung bình giữa hai nhóm; Dependent T-Test Student được sử dụng để so sánh giá trị trung bình tại các thời điểm trước sau điều trị 10 ngày và 20 ngày;
Chi-Square được sử dụng để so sánh tỷ lệ phần trăm (%) của các biến định tính giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng;
Odd Ratio test được sử dụng để ước tính mối liên quan giữa kết quả điều trị với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu;
Sign Test được sử dụng để so sánh kết quả trước và sau điều trị trong mỗi nhóm riêng biệt
Giá trị p được coi là có ý nghĩa thống kê khi nhỏ hơn 0,05.
Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được thông qua, Hội đồng Đạo đức của Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, được sự chấp thuận của Bệnh viện Châm cứu
Trung ương trước khi tiến hành
Bệnh nhân được cung cấp thông tin rõ ràng về lợi ích và nguy cơ liên quan đến việc tham gia nghiên cứu, đảm bảo họ hiểu rõ về quá trình và mục tiêu của nghiên cứu Quá trình tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu phải được thực hiện đầy đủ, minh bạch, nhằm đảm bảo quyền tự do của bệnh nhân Ngoài ra, bệnh nhân có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không cần đưa ra lý do, thể hiện sự tôn trọng quyền tự chủ và an toàn của họ trong quá trình nghiên cứu.
- Nghiên cứu được tiến hành nhằm bổ sung thêm một loại thuốc mới trong điều trị hội cổ vai cánh tay, ngoài ra không còn mục đích nào khác
Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân hội chứng cổ vai cánh tay
Khám lâm sàng, cận lâm sàng, xác định bệnh nhân đáp ứng tiêu 2.1.1 và không vi phạm tiêu chuẩn mục 2.1.2
Giải thích bệnh nhân trước khi tham gia nghiên cứu
Chiếu đèn hồng ngoại – 30 phút/ lần
XBBH – 30 phút/lần Đắp bột thuốc HV
- 30 phút/lần Đánh giá kết quả điều trị tại thời điểm D 0 ; D 10 ; D 20
Báo cáo tổng kếtLiệu trình điều trị kéo dài 20 ngày
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả điều trị
3.2.1 Sự thay đổi mức độ đau theo thang điểm VAS
Bảng 3.8 Sự thay đổi mức độ đau theo thang điểm VAS
Nhóm chứng ( ̅ SD) p NNC-NC
> 0,05 Đau ít 4 13,33% 3 10,00% Đau vừa 26 86,67% 27 90,00% Đau nặng 0 0,00% 0 0,00%
< 0,05 Đau ít 3 10,00% 7 23,33% Đau vừa 0 0,00% 1 3,33% Đau nặng 0 0,00% 0 0,00% p 0-20 < 0,05 < 0,05
Trước điều trị, mức độ đau theo thang điểm VAS giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng không có sự khác biệt đáng kể, với các điểm số lần lượt là 5,17 ± 0,65 và 5,10 ± 0,61 Sau 10 ngày và 20 ngày điều trị, chỉ số VAS ở nhóm nghiên cứu giảm rõ rệt so với nhóm chứng, thể hiện sự cải thiện đáng kể về mức độ đau Cụ thể, tại ngày 20, điểm VAS của nhóm nghiên cứu còn 1,13 ± 1,03, trong khi nhóm chứng là 1,80 ± 1,52, cho thấy hiệu quả giảm đau tích cực của phương pháp điều trị này Thống kê cho thấy sự khác biệt trong mức giảm điểm VAS giữa hai nhóm tại các thời điểm sau điều trị là có ý nghĩa thống kê.
20 sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Trước khi bắt đầu điều trị, tỷ lệ bệnh nhân đau vừa chiếm 86,67% trong nhóm nghiên cứu và 90,00% trong nhóm chứng, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân không đau trong nhóm nghiên cứu tăng lên đáng kể đạt 90,0%, cao hơn rõ rệt so với 73,33% của nhóm chứng, với ý nghĩa thống kê rõ ràng.
3.2.2 Sự thay đổi mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày (NDI) Bảng 3.9 Sự thay đổi mức độ hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày
Không hạn chế, hạn chế nhẹ 0 0,00% 0 0,00%
Không hạn chế, hạn chế nhẹ 22 73,33% 21 70,00%
Bảng 3.9 cho thấy, trước điều trị, mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng không có khác biệt đáng kể, với điểm trung bình lần lượt là 20,60 ± 2,01 và 20,20 ± 3,19 Sau 10 ngày và 20 ngày điều trị, chỉ số NDI của nhóm nghiên cứu thấp hơn rõ rệt so với nhóm chứng, thể hiện sự cải thiện rõ rệt về chức năng sinh hoạt hàng ngày, với điểm lần lượt là 7,17 ± 5,65 và 10,20 ± 4,64 Sự giảm điểm NDI tại các mốc thời gian 10 và 20 ngày giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy hiệu quả rõ rệt của liệu pháp ở nhóm nghiên cứu.
Trước điều trị, 96,67% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và 83,33% bệnh nhân nhóm chứng gặp phải mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày ở mức độ nặng, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p > 0,05) Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân không còn hạn chế sinh hoạt trong nhóm nghiên cứu đạt 73,33%, cao hơn nhóm chứng với tỷ lệ 70,00%, tuy nhiên sự chênh lệch này cũng không có ý nghĩa thống kê.
3.2.3 Sự thay đổi góc của tầm vận động ngửa
Bảng 3.10 Sự thay đổi góc của tầm vận động ngửa
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
20 ngày tỷ lệ không hạn chế ở nhóm nghiên cứu là 76,67% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là 40,00%
3.2.4 Sự thay đổi góc của tầm vận động cúi
Bảng 3.11 Sự thay đổi góc của tầm vận động cúi
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
3.2.5 Sự thay đổi góc của tầm vận động quay
Bảng 3.12 Sự thay đổi góc của tầm vận động quay
Bảng 3.12 cho thấy trước điều trị góc của tầm vận động quay không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, với giá trị lần lượt là 39,73 ± 5,43 độ và 40,37 ± 5,37 độ Sau 10 và 20 ngày điều trị, chỉ số này ở nhóm nghiên cứu đã tăng đáng kể so với nhóm chứng, đạt 59,33 ± 3,97 độ so với 56,23 ± 2,85 độ vào ngày 20 Trong đó, sự gia tăng góc vận động quay tại thời điểm ngày 10 giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê, nhưng đến ngày 20, sự khác biệt giữa hai nhóm trở nên có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy hiệu quả của quá trình điều trị tăng góc vận động quay theo thời gian.
Trước điều trị, tỷ lệ bệnh nhân có mức độ hạn chế nhiều là 83,33% trong nhóm nghiên cứu và 80,00% trong nhóm chứng, không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê (p > 0,05) Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ không hạn chế tăng lên 93,33% trong nhóm nghiên cứu, cao hơn rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với 80,00% của nhóm chứng, cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp điều trị này.
3.2.6 Sự thay đổi mức góc của tầm vận động nghiêng
Bảng 3.13 Sự thay đổi góc của tầm vận động nghiêng
Bảng 3.13 cho thấy trước điều trị góc của tầm vận động nghiêng giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê với
Sau 10 ngày và 20 ngày điều trị, chỉ số độ nghiêng của góc vận động ở nhóm nghiên cứu cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tại thời điểm 20 ngày (37,37 ± 2,85 độ so với 33,07 ± 7,97 độ) Trong khi ở ngày 10, sự tăng góc vận động không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm, thì đến ngày 20, sự khác biệt giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đã trở nên rõ rệt và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy hiệu quả của phương pháp điều trị đối với cải thiện khả năng vận động nghiêng.
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và nhóm chứng mắc mức độ hạn chế nhiều đều là 76,67%, và không có sự khác biệt rõ ràng giữa hai nhóm (p > 0,05).
20 ngày tỷ lệ không hạn chế ở nhóm nghiên cứu là 70,00% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là 46,67%
3.2.7 Sự thay đổi triệu chứng theo y học cổ truyền
Bảng 3.14 Sự thay đổi triệu chứng theo y học cổ truyền
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng
P NNC-NC n % n % Đau cổ, vai, gáy
Cảm giác nặng nề khó vận động
Không 24 80,00 24 80,00 Đau lƣng, mỏi gối
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng
Bảng 3.14 cho thấy, sau điều trị, nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đã giảm đáng kể các triệu chứng đau cổ, vai, gáy; co cơ; và ít ngủ, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, ở các triệu chứng còn lại, sự so sánh giữa hai nhóm không cho kết quả khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.2.8 Tác dụng không mong muốn
Bảng 3.15 Một số tác dụng không mong muốn
Nhóm chứng (n = 30) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Sẩn ngứa, dị ứng tại chỗ 0 0 0 0
Bỏng da tại chỗ 0 0 0 0 Đỏ da tại chỗ 0 0 0 0
Sưng, nề, nóng, đỏ tại chỗ 0 0 0 0 Đau tăng 0 0 0 0
Sau 20 ngày điều trị, cả nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đều không ghi nhận tác dụng không mong muốn như sẩn ngứa, dị ứng, đỏ da, sưng nề, bỏng da hoặc đau tăng tại chỗ, cho thấy tính an toàn của phương pháp điều trị.
Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
3.3.1 Mối liên hệ giữa tuổi và đáp ứng điều trị
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuổi và đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị < 50 tuổi ≥ 50 tuổi OR
Bảng 3.16 thể hiện rằng bệnh nhân đáp ứng điều trị theo thang điểm VAS, mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI, cũng như khả năng vận động ngửa, cúi, nghiêng và quay không có sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa thống kê giữa nhóm người trên 50 tuổi và dưới 50 tuổi trong nghiên cứu.
3.3.2 Mối liên hệ giữa giới và đáp ứng điều trị
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa giới và đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị
Bảng 3.17 thể hiện rằng bệnh nhân đáp ứng điều trị theo thang điểm VAS và mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến giới tính của người tham gia nghiên cứu Các chỉ số về tầm vận động ngửa, cúi, nghiêng và quay cũng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giới tính Điều này cho thấy giới tính không ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị hoặc mức độ hạn chế chức năng sau điều trị.
3.3.3 Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và đáp ứng điều trị
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị
Không phải lao động trí óc OR
Bảng 3.18 cho thấy bệnh nhân đáp ứng điều trị theo thang điểm VAS và mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI Ngoài ra, các tầm vận động như ngửa, cúi, nghiêng và quay không có ý nghĩa thống kê liên quan đến số nghề nghiệp của đối tượng tham gia nghiên cứu.
3.3.4 Mối liên hệ giữa số bên bị bệnh và đáp ứng điều trị
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa số bên bị bệnh và đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị Một bên Hai bên OR
Bệnh nhân đáp ứng điều trị tích cực theo chỉ số tầm vận động cúi và nghiêng thường liên quan đến số bên bị bệnh, với nhóm bị bệnh một bên cho tỷ lệ phục hồi tốt cao hơn so với nhóm bị bệnh hai bên, điều này có ý nghĩa thống kê rõ ràng Trong khi đó, các chỉ số như điểm VAS, mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI, tầm vận động ngửa và quay không cho thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê đến số bên bị bệnh.
3.3.5 Mối liên hệ giữa thời gian bị bệnh và đáp ứng điều trị
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và đáp ứng điều trị Đáp ứng điều trị < 3 tháng ≥ 3 tháng OR
Bảng 3.20 chỉ ra rằng bệnh nhân có đáp ứng điều trị tốt dựa trên các chỉ số tầm vận động cúi, quay và nghiêng có liên quan đáng kể đến thời gian mắc bệnh, với tỷ lệ đáp ứng cao hơn ở những bệnh nhân bị dưới 3 tháng, khác biệt rõ ràng so với nhóm có bệnh trên 3 tháng Trong khi đó, các yếu tố như điểm VAS, mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI và tầm vận động ngửa không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với thời gian bị bệnh.
BÀN LUẬN
Kết quả điều trị
4.2.1 Sự thay đổi mức độ đau theo thang điểm VAS
Trước điều trị, mức độ đau theo thang điểm VAS giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với điểm số lần lượt là 5,17 ± 0,65 và 5,10 ± 0,61 Sau 10 ngày và 20 ngày điều trị, chỉ số này ở nhóm nghiên cứu giảm đáng kể so với nhóm chứng, với điểm số tại ngày 20 là 1,13 ± 1,03 và 1,80 ± 1,52, thể hiện hiệu quả giảm đau rõ rệt Trong đó, sự khác biệt về hiệu suất giảm điểm VAS tại ngày 20 giữa hai nhóm đạt ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Các kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phan Thị Hồng Giang năm 2021, ghi nhận mức điểm đau trung bình sau 15 ngày điều trị giảm từ 5,50 ± 1,38 xuống còn 1,90 ± 0,80 và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngoài ra, nghiên cứu của Lưu Thị Trang Ngân năm 2021 trên 60 bệnh nhân mắc hội chứng cổ vai cánh tay cũng cho thấy mức đau trung bình trước điều trị là 5,43 ± 1,17, sau 20 ngày giảm còn 2,70 ± 1,39, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân experiencing mức đau vừa đạt 86,67% trong nhóm nghiên cứu và 90,00% trong nhóm chứng, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ không đau của nhóm nghiên cứu tăng lên 90,00%, cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng là 73,33%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả của tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong năm 2021, cho thấy 76,67% bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều thuộc nhóm đau vừa và nặng, và sau 14 ngày điều trị, tỷ lệ không cảm thấy đau đạt 86,67% Ngoài ra, nghiên cứu của Phan Thị Hồng Giang cùng năm cho thấy trước khi điều trị, đến 73,3% bệnh nhân bị đau vừa và nặng, nhưng sau 15 ngày điều trị, có đến 96,67% bệnh nhân không đau hoặc chỉ đau ít Đắp thuốc là phương pháp dân gian lâu đời mang lại hiệu quả cao trong điều trị các bệnh lý xương khớp, với hình thức đơn giản, dễ áp dụng như dùng thuốc nam hoặc thuốc đông y giã nát, nghiền thành bột pha nước thành dạng hồ để đắp lên vùng đau, giúp thư giãn cơ, giảm tắc nghẽn, tiêu sưng, giảm đau, thanh nhiệt, giải độc và bài độc Bột thuốc đắp HV là bài thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu và hiện được sử dụng rộng rãi tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh để điều trị thoái hóa khớp, mang lại hiệu quả rõ rệt.
“Bột thuốc đắp HV” có tác dụng khu phong, trừ thấp, tán hàn, thông kinh lạc
Trong y học cổ truyền, câu "Thống thì bất thông, thông thì bất thống" nhấn mạnh rằng đau đớn xảy ra khi khí huyết bị ứ trệ, còn khi khí huyết lưu thông thì không còn cảm giác đau Hàn gây tắc nghẽn khí huyết dẫn đến đau nhức, đặc biệt là khi kinh mạch không thông suốt Bột thuốc đắp HV được tạo thành từ các loại thảo dược có tác dụng trừ phong hàn thấp, giúp trị các chứng đau nhức tại cơ biểu, vai lưng, khớp chân tay Đây là phương pháp tự nhiên, an toàn và hiệu quả trong việc giảm đau, cải thiện tuần hoàn khí huyết, thúc đẩy quá trình phục hồi.
Xoa bóp là hình thức kích thích vật lý trực tiếp tác động lên da và các cơ quan cảm thụ của da, gây ra những thay đổi về thần kinh thể dịch, nội tiết và ảnh hưởng toàn thân Thủ thuật xoa bóp bằng tay giúp tác động có hệ thống lên các cơ, hệ thần kinh và hệ tuần hoàn, hỗ trợ chữa bệnh, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe Bấm huyệt, một phương pháp trong xoa bóp, dùng ngón tay tác động vào huyệt nhằm giải tỏa căng thẳng cơ bắp, khai thông kinh mạch và cân bằng âm dương trong cơ thể Khi xoa bóp tác động trực tiếp vào da, nó ảnh hưởng đến toàn thân, đặc biệt là hệ thần kinh thực vật và hệ giao cảm, làm thay đổi hoạt động của nội tạng và mạch máu Ngoài ra, xoa bóp còn giúp tăng cường dinh dưỡng cho cơ, cải thiện độ co giãn và hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy tiết dịch trong khớp và tuần hoàn quanh khớp Xoa bóp còn tác động đến hệ bạch huyết, kích thích tiết dịch tại khớp và vùng bụng, góp phần giảm sưng phù.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương pháp điều trị sử dụng
Bột thuốc đắp HV kết hợp với xoa bóp bấm huyệt giúp cải thiện đáng kể tình trạng đau của bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả tương đương, thậm chí tốt hơn so với các phương pháp điều trị có cùng cơ chế tác động Đây là giải pháp tự nhiên, an toàn, mang lại kết quả tích cực trong việc giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
4.2.2 Sự thay mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày NDI
Bảng 3.9 cho thấy trước điều trị, mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, với điểm trung bình lần lượt là 20,60 ± 2,01 và 20,20 ± 3,19 Sau 10 và 20 ngày điều trị, chỉ số này ở nhóm nghiên cứu giảm đáng kể so với nhóm chứng, với điểm lần lượt là 7,17 ± 5,65 và 10,20 ± 4,64, thể hiện hiệu quả cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày rõ rệt Tuy nhiên, tại thời điểm 20 ngày, sự khác biệt về giảm điểm NDI giữa hai nhóm không còn ý nghĩa thống kê, trong khi tại ngày 10, sự khác biệt này vẫn đạt ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy sự tiến triển rõ ràng của nhóm nghiên cứu trong quá trình điều trị.
Trước khi bắt đầu điều trị, có đến 96,67% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và 83,33% bệnh nhân trong nhóm chứng mắc phải hạn chế chức năng sinh hoạt nặng, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau 20 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân không còn hạn chế sinh hoạt trong nhóm nghiên cứu đạt 73,33%, cao hơn so với nhóm chứng là 70,00%, tuy nhiên sự chênh lệch này vẫn không đạt ý nghĩa thống kê.
Kết quả điều trị theo chỉ số NDI cho thấy nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mức điểm NDI trung bình cao hơn so với nghiên cứu của Hoàng Thị Thắng, với điểm trung bình là 6,77 ± 2,83 Ngoài ra, có đến 70% bệnh nhân được xếp vào mức hạn chế nhẹ theo đánh giá của chỉ số NDI.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm NDI đạt 8,93 ± 2,46 khi kết thúc nghiên cứu, tương đương với kết quả của Đặng Trúc Quỳnh Phương pháp điều trị được sử dụng trong nghiên cứu mang lại hiệu quả rõ rệt và phù hợp với các kết quả đánh giá trước đó.
Bột thuốc đắp HV kết hợp xoa bóp bấm huyệt giúp cải thiện đáng kể tình trạng đau của bệnh nhân, thậm chí còn vượt trội hơn so với các phương pháp tác động tương tự Đau do hội chứng cổ vai là nguyên nhân chính gây hạn chế vận động và chức năng sinh hoạt của người bệnh, do đó việc giảm đau sẽ giúp nâng cao khả năng vận động và sinh hoạt hàng ngày, giảm điểm NDI Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức giảm đau tương đương với các nghiên cứu trước đó, qua đó giải thích tại sao điểm NDI cũng được cải thiện rõ rệt.
4.2.3 Sự thay đổi góc của tầm vận động
Sự thay đổi góc của tầm vận động ngửa
Bảng 3.10 cho thấy, trước điều trị, góc của tầm vận động ngửa giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, lần lượt là 34,13 ± 6,97 độ và 34,73 ± 6,79 độ Sau 10 và 20 ngày điều trị, chỉ số này ở nhóm nghiên cứu cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, đặc biệt tại ngày 20 với giá trị lần lượt là 65,47 ± 5,89 độ so với 58,17 ± 5,36 độ Hiệu suất tăng góc tầm vận động ngửa tại ngày 10 giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhưng tại ngày 20, sự khác biệt này trở nên có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy hiệu quả điều trị rõ rệt sau thời gian so sánh.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác giả Lưu Thị Trang Ngân năm 2021, cho thấy góc vận động ngửa trung bình của bệnh nhân mắc hội chứng cổ vai cánh tay tăng từ 47,52 ± 8,12 độ trước điều trị lên 55,17 ± 3,79 độ sau 20 ngày điều trị, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Trước khi điều trị, tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và nhóm chứng có mức độ hạn chế nhiều đều đạt 93,33%, và không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm (p > 0,05).
20 ngày tỷ lệ không hạn chế ở nhóm nghiên cứu là 76,67% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là 40,00%
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả vượt trội so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2021) sử dụng phương pháp điện châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt để điều trị hội chứng cổ vai cánh tay Kết quả cho thấy khả năng nâng tầm vận động cúi sau của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, chứng tỏ hiệu quả của phương pháp điều trị này trong việc phục hồi chức năng cổ vai.
14 ngày điều trị cải thiện tốt chiếm tỷ lệ 86,67% [67]
Sự thay đổi góc của tầm vận động cúi
Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
4.3.1 Mối liên quan giữa tuổi với đáp ứng điều trị
Bảng 3.16 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong đáp ứng của bệnh nhân theo nhóm tuổi, khi so sánh nhóm dưới 50 tuổi với nhóm từ 50 tuổi trở lên Các chỉ số đánh giá như mức độ đau theo VAS, hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI, và phạm vi vận động ngửa, cúi, quay, nghiêng đều cho kết quả không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa các nhóm tuổi.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi tăng liên quan đến khả năng đáp ứng điều trị của bệnh nhân kém hơn, mặc dù sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Theo các tài liệu y văn, lão hóa là quá trình tự nhiên của cơ thể, trong đó thoái hóa xương và khớp là nguyên nhân phổ biến gây ra các bệnh lý cơ xương khớp, đặc biệt là hội chứng cổ vai cánh tay [1] Cùng với sự gia tăng tuổi tác, bệnh nhân thường gặp nhiều tổn thương thực thể hơn, điều này có thể giải thích cho khả năng đáp ứng điều trị kém hơn, và nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận thực tế này Tuy nhiên, do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ, sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê, cần nghiên cứu mở rộng để xác định rõ hơn vai trò của tuổi tác trong điều trị các bệnh lý cơ xương khớp.
4.3.2 Mối liên quan giữa giới và đáp ứng điều trị
Bảng 3.17 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về đáp ứng điều trị giữa giới nam và nữ, bao gồm mức độ đau (VAS), hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày (NDI), và khả năng vận động như ngửa, cúi, quay, nghiêng Các phân tích cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả điều trị trong nghiên cứu này (p > 0,05).
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có mối quan hệ giới tính trong đáp ứng điều trị các bệnh lý cơ xương khớp, phù hợp với các nghiên cứu y văn ghi nhận nữ giới có nguy cơ cao hơn nam giới mắc các bệnh này ở cùng độ tuổi Nguyên nhân chủ yếu do sự giảm nhanh hormone estrogen sau giai đoạn mãn kinh, dẫn đến tăng nhanh tình trạng thoái hóa cột sống và các bệnh lý cơ xương khớp ở nữ giới Tuy nhiên, phương pháp điều trị của chúng tôi chỉ sử dụng các tác nhân vật lý, nên không có sự khác biệt về đáp ứng theo giới tính, điều này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu.
4.3.3 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và đáp ứng điều trị
Bảng 3.18 chỉ ra rằng, không có sự khác biệt đáng kể trong đáp ứng điều trị giữa nhóm bệnh nhân lao động trí óc và nhóm không phải lao động trí óc Cụ thể, các chỉ số về mức độ đau (VAS), hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày (NDI), cũng như khả năng vận động như ngửa, cúi, quay, nghiêng của hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Theo nghiên cứu, tư thế lao động cúi cổ lâu, như đánh máy hoặc làm việc trên bàn giấy với các động tác lặp đi lặp lại, khiến cổ vai gáy chịu áp lực liên tục, gây co cứng cơ, đau và hạn chế vận động của cột sống cổ Công việc lao động chân tay nặng cũng làm tăng nguy cơ vi chấn thương và thuận lợi hình thành hội chứng cổ vai cánh tay Tuy nhiên, quá trình điều trị bệnh nhân thường nhận thức và rời xa các yếu tố nguy cơ này, dẫn đến không có sự khác biệt đáng kể về kết quả điều trị giữa các nhóm.
4.3.4 Mối liên quan giữa bên bị bệnh và đáp ứng điều trị
Bảng 3.19 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về đáp ứng điều trị theo tầm vận động cúi và nghiêng giữa các đối tượng nghiên cứu mắc đau một hoặc nhiều phía (p > 0,05) Biểu đồ 3.18 cũng chỉ ra rằng số bên bị đau không có mối liên hệ ý nghĩa thống kê với kết quả điều trị dựa trên thang điểm VAS, mức độ hạn chế sinh hoạt hàng ngày theo NDI, cũng như tầm vận động ngửa và quay.
Hội chứng cổ vai cánh tay thường bắt đầu từ một bên nếu bệnh nhân không được điều trị đúng cách và các tác nhân gây tăng nặng không được loại trừ, có thể dẫn đến diễn biến xấu và ảnh hưởng hai bên Số bên bị bệnh không chỉ phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh mà còn liên quan đến mức độ nặng của bệnh, điều này cho thấy đáp ứng điều trị có mối liên hệ thống kê rõ ràng với số bên bị bệnh, giúp hiểu rõ quá trình progression của hội chứng.
4.3.5 Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và đáp ứng điều trị
Bảng 3.20 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đáp ứng điều trị theo mức độ hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày theo NDI, tầm vận động cúi, quay và nghiêng giữa các nhóm bệnh kéo dài hơn 3 tháng và ít hơn 3 tháng (p > 0,05) Đồng thời, Biểu đồ 3.19 cũng cho thấy số bên bị đau không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với đáp ứng điều trị dựa trên thang điểm VAS, tầm vận động ngửa giữa hai nhóm thời gian mắc bệnh khác nhau (p > 0,05).
Hội chứng cổ vai cánh tay thường kéo dài do đặc điểm là bệnh mạn tính, có tính chất kéo dài xen kẽ các đợt cấp, thường xuất hiện khi có sự thay đổi thời tiết hoặc chấn thương Quá trình bệnh kéo dài mà không được điều trị đúng cách có thể dẫn đến đau mạn tính, giảm hiệu quả điều trị Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Tuấn (2021), cho thấy bệnh nhân mắc bệnh dưới 3 tháng có tỷ lệ đáp ứng điều trị tốt cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng, với ý nghĩa thống kê p < 0,05.