Trước hết, thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ 7 về Ángười Dao, tdi nhiệt liệt chào mừng Tiến sĩ Douglas Miles, Chủ tịch Hội Quốc tế Nghiên cứu người Dao và các nhà khoa học qu
Trang 1TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
SU PHAT TRIEN VAN HOA XA HOI
CUA NGUOI DAO:
HIẾN TAI WÄ TƯƠNG LAI
HÀ NỘI - 1998
Trang 2Sự phát triển uăn hoá - xã hội
của người Dao:
Hiện tại và tương lai
Trang 3TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
rods
SU PHAT TRIEN VAN HOA - XÃ HỘI
ỦA NGƯỜI DA0: HIEN TAI VA TUONG LAI
(KỶ YẾU HỘI THẢO)
HÀ NỘI - 1998
Trang 4HỘI THẢO QUỐC TẾ
SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI DAO: HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Do
Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gía
Uy ban Dan tộc và miền núi
Hoi Dan toc hoc Viet Nam
Uy ban Nhan dan tinh Bac Thai
phối hợp tổ chức tại Thành phố Thái Nguyên
từ 12-15 tháng I2 năm 1995
Ban biên tập PHAN HỮU DẬT
NGUYÊN DUY CHIẾM - NGUYỄN DƯƠNG BÌNH
CHU THAI SON - LE SY GIAO
Trang 5BAI PHAT BIEU KHAI MAC HOI THAO
GS TS Nguyén Duy Quy
Gidm déc - Trung tam Khoa hoc xa héi-
va Nhén van quée gia
Thua quy vi dai biéu,
Thưa quý ông, quý bà
Trước hết, thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ 7 về Ángười Dao, tdi nhiệt liệt chào mừng Tiến sĩ Douglas Miles, Chủ tịch Hội Quốc tế
Nghiên cứu người Dao và các nhà khoa học quốc tế đến dự Hội thảo xây: chào
mừng các đồng chí lãnh đạo trung ương và địa phương, chac-mime cac nha khoa học Việt Nam, chào mừng các vị đại biểu là người dân tộc Dao, chào mừng các nhà báo, chào mừng tất cả các đồng chí và các bạn có mặt trong buổi khai mạc Hội thao này
Như nhiều người đã biết không kể những nơi trên thế giới mä một, số người Dao mới đến định cư trong thời hiện đại, từ rất lâu đời cộng đồng người Dao đã là một bộ phận cấu thành của cư đân các nước Đông Á và Đông Nam Á như: Trung Quếc Lào Thải Lan Mianma và Việt Nam Theo tài liệu thống kê thì hiện nay trên thế giới có khoảng gần 3 triệu người Dao Dù ở các quốc gia khác nhau và số lượng người Dao ở mỗi quốc gia không đồng đều, nhưng tất cả người Dao trên thế giới đều chung một cội nguồn lịch sử, đều gần gũi nhau về các mặt: tên tự gọi, tiếng nói, văn hoá Cố nhiên cộng đồng người Dao ở mỗi nước đều có những nét đặc thù Điều này do nhiều nguyên nhân trong đó có điều kiện địa lý môi trường sinh thái, lịch sử phát triển tộc người, cũng như do sự giao lưu kinh tế văn hoá với những dân tộc mà họ chung sông trong một thời gian dài
Theo số liệu diéu tra đân số năm 1989, ở Việt Nam có gần 500 ngan
người Dao và là một trong những đân tộc tương đối đông, đứng hàng thi
Trang 69 trong số 54 dân tộc trên lãnh thể Việt Nam Họ phân bô ở ca 3 vùng sình thái: vùng núi cao vùng giữa và vùng thấp thuộc 27 tỉnh Song tập trung nhất là ở các tỉnh biên giới phía Bắc, chủ yếu là 5 tỉnh: Hà Giang Cao Bằng, Tuyên Quang Lào Cai Yên Bái (chiếm từ 9 đến 15% dân số của từng tỉnh) Trong số 111 huyện thuộc 27 tỉnh có người Dao sinh sống ð
huyện có người Dao cư trú tập trung là: Nguyên Bình (Cao Bằng) Hàm
Yên (Tuyên Quang), Văn Yên (Yên Bái), Phong Thổ (Lai Châu) và Bắc Quang (Hà Giang) Mỗi huyện có từ 15 ngàn đến 20 ngàn người Dao Họ khéng sống riếng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác nh: Tày Nùng, Hmâng, Việt
Từ sau Cách mạng thang Tam 194ã đến nay, nhờ có đường lối chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam với 3 nguyên tắc
cơ bản là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, cũng như các đân tộc khác trong cộng đồng Việt Nam, dân tộc Dao đã có những biến đổi sâu sắc Từ địa vị người nô lệ trở thành người chủ đất nước, bình đẳng với các đân tộc anh em; mọi mặt đời sống được cải thiện rõ rệt bản sắc văn hoá dân tộc được bảo tồn
và phát huy Đội ngũ cán bộ của họ đã và đang được xây dựng không ít người đam nhiệm các cương vị quan trọng trong bộ máy chính quyền các cấp có người đã bảo vệ luận án phó tiến sĩ, trở thành nhà khoa học, văn nghệ sĩ tài năng Lịch sử đã chứng tó người Dao ở Việt Nam có những cống hiến xứng đáng trong sự nghiệp đựng nước và giữ nước
Tuy nhiên trong khó khăn chung hiện nay của đất nước, không ít vùng của đồng bào,cuộc sống còn gặp nhiều khó khắn Trong sự nghiệp đổi mới, khi thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trưởng, cuộc sông của nhân dân miền núi nói chung, đồng bào thiểu số nói riêng, trong đó có người Dao, đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết Nhà nước Việt Nam đã tăng cường đầu tư cho miền núi va ving dan tộc: đã
có những dự án phát triển kinh tế - xã hội cho vùng núi và dân tộc; đã tranh thủ được một số viện trợ của các tổ chức quốc tế, hỗ trợ cho sự phát triển kính
tế, văn hoá ở các vùng dân tộc
Những năm qua, các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao Từ năm 1986 trỏ lại đây hằng năm Hội
8
Trang 7Nghiên cứu người Dao Quếc tế đã tổ chức các hội thảo khoa học ở Hềng Kông Trung Quốc, Pháp Thái Lan Mỗi hội thảo đều có một chủ để riêng Cuộc Hội thảo Quốc tế về người Dao lần thứ 7 năm nay tổ chức ở Việt Nam với chủ đề:
"Su phát triển văn hoá, xã hội của người Dao: hiện tại và tương lai" Muc đích Hội thảo này là nhằm nêu lên hiện trạng và đánh giá về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn những tác động giữa sự phát triển kinh tế và các yếu tế văn hoá của người Dao, dựa trên kinh nghiệm của người Dao ở Việt Nam cũng như người Dao ở các quốc gia khác trên thế giới Trọng tâm của Hội thảo
lần này là:
1) Trên những nét lớn, nêu rõ những đặc điểm của người Dao ở Việt Nam (từ nguồn gốc lịch sử, tiếng nói, nhân chúng, đến các lĩnh vực văn hoá dân tộc, và mối giao lưu văn hoá giữa người Dao với các dân tộc khác)
2) Những biến chuyển về mặt kinh tế của người Dao ở Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 1986 đến nay Ở đây, một mặt nêu lên nền kinh tế cổ truyền (nương rẫy, thủ công nghiệp v.v ), mặt khác điểu chủ yếu
là nêu lên những biến chuyển mới, từ du canh du cư chuyển sang làm ruộng nước, kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp trồng rừng bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện mô hình VAC (vườn, ao, chuồng) Nói lên tác dụng trực tiếp của việc tăng trưởng kinh tế đối với việc nâng cao đời sống của người Dao hiện nay Nêu lên những điển hình tốt về tổ chức sẵn xuất làm ăn giỏi của một số đơn vị và cá nhân người Dao hiện nay
8) Tác động của sự phát triển kinh tế đối với sự biến đối văn hoá dân tộc Qua đó, nói lên sự thành công của chính sách đân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết mỗi quan hệ giữa thông nhất và đa dạng giữa truyền thống với hiện đại trên lĩnh vực văn hoá
4) Những kiến nghị để thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo xây dựng công bảng và văn minh ở vùng người Dao Chú ý những kiến nghị trên lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề bức xúc để giúp đồng bào tiến lên trong cơ chế thị trường; những biện pháp hữu hiệu để tiếp tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; những kiến nghị trên lĩnh vực giáo dục y tế, xây dựng đội ngũ cán bộ,
Trang 8Thông qua cuộc Hội thảo quan trọng này, các nhà khoa học Việt Nam sẽ
có địp trao đổi kết quả nghiên cứu, học hỏi kimxh nghiệm của các nước có người Dao cư trú: các bạn quốc tế sẽ có dịp tìm hiểu thêm về đời sống, văn hoá của người Dao ở Việt Nam Các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế qua Hội thảo
sẽ tăng cường sự biểu biết lẫn nhau, sẽ cế gắng nhiều hơu trong sự nghiệp khoa học, sáng tạo của mình thúc đẩy quan hệ hợp tác khoa học và hữu nghị
vì mục tiêu hoà bình, dân chủ và phát triển
Để cho Hội thão thành công tốt đẹp chúng tôi mong muốn các nhà khoa học tham gia Hội thảo tích cực đóng góp ý kiến, trao đổi cởi mở trên tỉnh thần khoa học và hữu ngh1
Thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ 7 về người Dao tôi xin tuyên bế khai mạc và chúc Hội thảo thành công tốt đẹp
1Ô
Trang 9Pa SOS VĂN HA XÃ HỘI
PW TERN
TƯỮNB TÃI
1 Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Quý,
Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội uà Nhân uăn quốc gia
khai mạc hội thao
Trang 10
3 Quang cảnh Hội trường
Trang 12Ty rn rr mc ir " rm BIỂU ft
WELCOME THE DELEGATES TO PARTICIPATE THE INTER
Trang 13
.——_= rv.1
¡ HỘI THÑ0 QUỐC TẾ TẠI BẮC THÁI
TIONAL WORKSHOP IN BACTHA! PROVINCE
ig ai
es
Trang 17BAI PHAT BIEU CHAO MUNG
Mai Phúc Toàn Chủ tịch
Uỷ Ban Nhân dân tỉnh Bắc Thái
Kính thưa các vị khách quý
Các quý vị đại biểu
Bắc Thái là một tỉnh miền núi gồm 1 thành phố 2 thị xã và 10 huyện, là
cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội Trên điện tích hơn 6.500 km? dat tu nhiên, có 1,2 triệu đân gồm 8 đân tộc anh em đã từ lâu cùng sinh sống bên nhau Mặc dù mãi din tộc có một tiếng nói, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, hình thức sinh hoạt riêng, nhưng đều mang đậm phong cách Á Đông, tiêu biểu cho một nền sản xuất lấy trồng trọt chăn nuôi làm chính, vì vậy cuộc sống của các dân tộc ở Bác Thái luôn gắn với thiên nhiên với núi rừng và chịu sự tác động khắc nghiệt của mỗi trường sống
Trong những tháng trầm của lịch sử đất nước, các đân tộc tỉnh Bắc Thái trong đó có đân tộc Dao đã luôn luôn đoàn kết, thống nhất thành một khối, đấu tranh với thù trong giặc ngoài, bảo vệ chủ quyền đất nước giành độc lập,
tự đo cho đân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc và công bằng xã hội Đến nay, trên đất Bắc Thái đã có hang trăm con em dân tộc Dao có trình độ trung đại học và trên đại học Hầu hết trẻ em đồng bào dân tộc Dao đều được đến trường từ 184 bản định cư Một số
em được theo học ở các trường dân tộc nội trú, đã có 14.000 người có trình độ văn hoá từ lớp 1 đến lớp 5; 7.ã30 người có trình độ lớp 6 đến lớp 9; 1.040 người có trình độ từ lớp 10 đến lớp 13 Đồng bào Dao cũng như đồng bào các dân tộc ít người ở vùng cao vùng sâu được Nhà nước cấp phát dầu thấp sáng máy phát điện nhỏ, muối 1 ốt sách vở học tập cho trẻ em và một số thuốc chữa bệnh thiết yếu Hầu hết các xã đều có trạm xá với đội ngũ y tá, y sĩ là người dân tộc ít người, thực hiện công tác chäm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
Trang 18Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội chung của tỉnh nhà đẳng bào các dân tộc ít người ở Bắc Thái đang từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho làng bản như: đường giao thông liên thôn, liên xã, các công trình thuỷ lợi nhỏ, thiết kế đổi rừng nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng thiên nhiên và hạn chế tác hại của môi trường sinh thái Hàng nghìn hecta rừng trong các bản định canh - định cư đã được trồng lại, nuôi đương và bảo vệ Hình thức đốt nương làm rẫy, độc canh cây lương thực đã được thay thế bằng thâm canh đổi rừng, vườn rừng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi trồng cây ngắn ngày và cây đài ngày tạo nên sự đa dạng hoá sản phẩm trên những đất dốc quanh làng bản Chỉ riêng 184 bản có đồng bào Dao định canh định cư đã trồng được
308 ha chè, 229 ha cây ăn quá, 91 ha cây đặc sản; nuôi dưỡng được trên 10.000 con trâu, bỏ trên 10.000 con lợn và trên 70.000 con gà vịt Có hộ nuôi được 15-20 con trâu Có 70% hộ người Dao sắm được xe máy, mua máy thuỷ điện nhỏ tìvi, Có những hộ còn có máy xay xát, máy xẻ gỗ Đó là những gương sáng của đồng bào Dao về sự cần cù, thông minh, săng tạo và tiếp thu cái mới
Phát huy những thành quả đạt được, tiếp tục thực hiện việc giao đất giao rừng, đảm bảo mỗi hộ nông dân đều có đất canh tác, phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm nhằm đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật về nông, lâm
nghiệp vào làng bản góp phần tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Đồng thời tạo nhiều nguồn vốn hỗ trợ đồng bào Dao phát triển sản xuất giúp đồng bào tiêu thụ sản phẩm để có cuộc sống ổn định, xoá đói giảm nghèo
Bắc Thái cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình văn hoá - xã hội của Nhà nước, kiên quyết chống các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến
cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người nói chung và đân tộc Dao nói riêng, Nhưng do các điều kiện khó khăn chung của đất nước, quá trình xây dựng
và phát triển trong đồng bào Dao ở Bắc Thái gặp không ít khó khăn và hạn chế, rất cần đến sự giúp đỡ của cả nước, và các tổ chức quốc tế, tạo điều kiện cho dân tộc Dao ở Bắc Thái đẩy mạnh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế văn hoá, xã hội, hoà nhập với trào lưu chung của đất nước và cộng đồng thế giới
Xin chan thanh cam on quy vi
12
Trang 19BÀI PHÁT BIEU CHAO MUNG
TS Neil Jameson Winrook International
Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban tổ chức Hội thảo đã vượt qua nhiều khó khăn để tổ chức cuộc hội thảo ngày hôm nay
Tính đa đạng của những người tham gia hội thảo này là điều đặc biệt đáng lưu ý, đáng khen ngợi
Có nhiều nhà lãnh đạo, nhiều cán bộ các cấp, từ trung ương đến địa phương Có nhiều nhà khoa học và các chuyên gia thuộc nhiều ngành, ở nhiều nơi, nhiều quốc gia, nam có nữ có, có một số dân tộc, và trong đó có không ít người Dao Đó cũng là điều rất quan trong và rất đáng mừng
Thay mặt các cơ quan phi chính phú đã góp phần hỗ trợ hội thảo này, tôi chúc hội thảo thành công và đạt được nhiều kết quả quan trọng
Tói cũng muốn nói một vài lời để giải thích tại sao bốn cơ quan phi chính phủ vui lòng ủng hộ và hỗ trợ hội thảo nay Save the Children Eund ƯK, CIDSPE Wimrock International và OXEAM UK có mục đích duy nhất là tìm con đường hữu hiệu để giúp đỡ người Dao cũng như tất cả người nghèo tạo nên một đời sống khá hơn, xoá đói, giảm nghèo bảo vệ môi trường Chúng tôi muốn khuyến khích và ủng hộ một quá trình phát triển phù hợp về mặt văn hoá, bền vững về mặt sinh thái và công bằng về mặt xã hội
Công việc này không đơn giản chút nào Đường đi rất dài, đầy khó khăn
và trở ngại Muốn thành công phải nhớ:
"Dé tram lần không dân cũng chịu,
Khó vạn lân dân liệu cũng xong"
Muốn phát triển bền vững, phải lấy dân làm gốc Nhưng thế nào là lấy dân làm gốc?
Trang 20Trước hết, lấy đân làm gốc là:
Dân bàn, dân định dân làm, đân kiểm và dân hưởng
Muốn lấy dân làm gốc thì phải coi trọng ý muốn, kiến thức của dân, tin
vào kha năng của đân
Lấy dân làm gốc, thì phải biết nhìn từ khía cạnh là dân, phải biết nhìn với con mắt hộ nghèo, phải tìm hiểu cái logic sầu sắc của mỗi một dân tộc, mỗi nền văn hoá, mỗi địa phương
Nhưng biện nay, vẫn có xu hướng đổ lỗi cho dân khi chương trình hay dự
án nào đó không thành công
"Tiên trách kỷ, hậu trách nhân"
Chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu sâu sắc hơn nhiều
Chúng ta cần có một đòng thông tìn phản hồi tích cực, một đòng thông tín toàn điện hơn, đáng tin cay hơn, để điều khiển cho việc làm của mỗi chúng ta Chúng ta, những nhà xã hội học nói chung và những nhà dân tộc học nói riêng, có một vai trò cực kỳ quan trọng mà chúng ta phải đâm nhiệm
Tình hình thực tế chưa cho phép chúng ta ngôi yên Chúng ta chưa được
tự bằng lòng
Chúng ta phải học hỏi nhiều, phải tiếp tục đổi mới và hoàn chỉnh ca dé tai
và phương pháp luận khoa học
Để có hy vọng thành công, chúng ta phải phối bợp với nhau giúp đỡ lẫn nhau Phải phát huy, cùng nhau tiến từng bước một để đạt tiêu chuẩn khoa học, để làm tròn bổn phận nặng nề và cấp bách của chúng ta,
Hội thảo này là một bước đi mới, một kinh nghiệm quý báu cho mỗi chúng ta Chúc Hội thảo thành công, chúc các đại biểu thành công
Xin cam du quý VỊ
14
Trang 21i ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC DAO Ở VIỆT NAM
Trang 22NGƯỜI DAO Ở VIỆT NAM -_
NHỮNG TRUYỀN THỐNG THỜI HIỆN ĐẠI
Bế Viết Đẳng
I Theo thống kê năm 1989, người Dao ở Việt Nam có 473.945 nhân
khẩu, chiếm 0,76% đâu số cả nước, đứng hàng thứ 9 trong các dân tộc Việt
Nam, đông vào hàng thứ 2 trong các nước có người Dao trên thế giới Quá trình đi cư của họ vào Việt Nam có thể từ thế kỷ XI, nhưng rõ rệt hơn là
ty thé ky XIII Những luồng đi cư ấy kéo dài cho đến những thập kỷ đầu của thế kỷ này Nguyên nhân của các cuộc di cư là ở những vùng sinh sống cũ thiếu đất đai làm ăn, hạn hán mất mùa, cũng như không chịu nổi
sự áp bức bác lột của địa chủ phong kiến Điều này thể hiện trong ký ức đồng bào, trong các truyện kể dân gian, trong truyện Đặng Hanh va Ban Đại Hộ còn lưu lại, được Triệu Hữu Lý dịch từ tiếng Dao ra tiếng Việt Truyện Đỡng Hành và Bàn Đại Hộ nói về quá trình đi cư của người Dao
từ thời Lý, những khả năng làm ăn sinh sống ở vùng đất mới và bảo nhau
đi cư đến đất này:
"~ Núi rừng Việt Nam nhiều gỗ quý
Gỗ quý khác nào vàng đầy kho,
- Muốn ăn cá bờ sông trực chờ,
Musén ăn quả ngon, Việt Nam có
- Thăm hết các nơi cùng, ngõ hẻm,
Đất nước đẹp thay lòng thấy vui
Báo tín họ hàng, làng xóm, Đất nước Việt Nam tốt lắm thay "
17
Trang 23Trên thực tế, từ đầu thế kỷ này trở về trước, ở Việt Nam rừng còn nhiều, đất làm nương rẫy sẵn và tốt, sản vật trên rừng cũng lắm Ở một số nơi đồng bào đã khai phá được ruộng, nương bậc thang có cơ sở sản xuất ổn định Mặt khác, ở miển núi đân thưa, việc làm ăn tương đối thuận lợi chu kỳ đu canh
du cư kéo dài nhiều năm Do đó canh tác nương rẫy là hình thức sản xuất chủ yếu, có thể đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống
Nhưng, do quá trình đi dân đến những vùng sinh sống chủ yếu hiện nay bằng nhiều con đường khác nhau, lại làm nương rẫy du canh du cư, nên tuy đân số người Dao so với nhiều dân tộc anh em không quá ít nhưng lại cư trú tất phân tán trên nhiều vùng của đất nước Nếu trước 197% đồng bào sinh sống ở 16 tỉnh, trong đó tập trung ở 7 tỉnh, 86 huyện, 165 xã thuộc miển núi
và trung du Bắc Bộ, thì sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng điện cư trú tăng lên nhiều Họ đã phân bố trên phạm vì thuộc 38 tinh, vdi 14 tinh tap trung khá đông, 88 huyện và rất nhiều xã, từ các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ: Sông Bé, Đồng Nai Song các tỉnh
tập trung người Dao vẫn là: Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang Bắc Thái Yên Bái, Lào Cai Riêng ở Tuyên quang có nhiều nhóm Dao hơn cả Như vậy, người Dao sinh sống xen kẽ với nhiều dân tộc, trên nhiều vùng sinh thái
mà đồng bào đã sớm thích ứng được với môi trường, biết tiếng nói của nhiều dân tộc anh em cùng địa phương và luôn giữ gìn bản sắc đân tộc của mình Sự
mở rộng nơi cư trú này có nhiều lý đo: tính chất du canh du cư ý thức đi tìm nơi làm ăn thuận lợi hơn (nhưng việc di chuyển xa, về phương diện nào đó, khác với cách đi chuyển trước đây), Cũng có trường hợp do nhà nước xây đựng các công trình công cộng buộc phải chuyển cư Có đặc điểm là, sự đi chuyển của đổng bào thường theo nhóm hộ gia đình, đòi hỏi điểm cw trú mới phải rộng và ít nhiều thuận lợi Đó cũng là một trong những lý đo khiến người Dao phải đi chuyển xa
Mặc dù, những điểm cư trú đã tăng lên trong nhiều môi trường sinh sống, song người Dao chủ yếu vẫn làm nông nghiệp nương rấy canh tác trên đất dốc Các hình thức nương rẫy của người Dao cũng tương tự như các dân tộc anh em khác, gầm phát đốt nương chọc lỗ tra hạt (hay dùng cuốc nhỏ bổ lỗ tra hạt); nương bằng và nương thổ canh hốc đá, có bờ giữ đất màu, làm đất bằng
Trang 24cày bừa gần đây xuất hiện thêm vườn rừng, vườn đổi cây công nghiệp, cây ăn quả Phát đốt nương chọc lỗ tra hạt của người Dao có những nét riêng Chẳng hạn, so với các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme, thì trình độ canh tác của người Dao cao hơn nhiều Điều đó, được biểu hiện ở cơ cấu cây trồng gồm: lúa ngô đậu, rau, cây lấy củ, cây công nghiệp dài ngày cây ăn quả , kỹ thuật trồng trọt và năng suất cây trồng Còn trên đất bằng hoặc nương thổ canh hốc đá được khai thác tương tự như người Hmông người Pu Páo, người Cờ Lao, với cd cấu cây trồng gồm: ngô, đậu, cây thuốc, thảo quả cây ăn quả thường thấy ở vùng cao Trồng trọt ở người Dao có đặc điểm là ngoài các loại cây lương thực, thực phẩm thường thấy còn chú ý đến việc trồng các loại cây có củ đài ngày ở bờ mương hoặc trong xóm Cây công nghiệp đài ngày cây ăn quả để sử dụng lâu đài Do đó, trước đây chỉ du canh du cư trong một khu vực Trước khi di chuyển đi nơi khác người ta còn chú ý đến việc trồng ở bản cũ các loại cây đó Ở nhiều nơi, nam nữ thanh niên sau lễ cưới còn trồng một số cây quế, rồi thỉnh thoảng lại quay về bản cữ chăm sóc cây đã trồng
Nhiều nghề thủ công đã ở trình độ phát triển khá như rèn sắt, làm giấy bản đệt, đan đồ mây tre, chưng cất dầu thực vật Nhiều sản phẩm không chỉ đùng trong gia đình mà còn bán ra thị trường ở địa phương
Ở nhiều nhóm Dao việc thu hái những cây thuốc chữa bệnh, thuốc bổ được chú trọng và đem lại nguồn thu nhập không nhỏ Hiện nay trong số 200 hộ của
xã Tân Dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có gần 5O hộ làm nghề này Họ thường đến các thị trấn thị xã và thành phố để bán thuốc và được tín nhiệm Việc xây dựng làng bản, tổ chức sản xuất và đời sống, các hình thức sinh hoạt văn hoá đã khiến cho cư dân gắn bó với nhau khá chặt chế, có tác dụng thúc đẩy sản xuất tuy trong đó nảy sinh không ít những yếu tế mê tín dị đoan Trong các quan hệ xã hội, ngoài dòng họ làng bản, các quan hệ trong khu vực có nhiều làng bản như ở người Dao Tiền tỉnh Hoà Bình còn được bao lưu đậm nét, có tác dụng tốt đến việc giữ gìn phong bục tập quán răn dạy con người làm điều thiện, chống tham ô, hủ hoá Ở hầu hết mọi nơi văn hoá truyền thống của người Dao tên tại đễ thấy thậm chí có những nơi so với mấy chục năm về trước, chưa có sự thay đổi bao nhiêu như trong cấu trúc nhà ả
Trang 25trang phục, ăn trống và ca nghỉ lễ gia đình làng bản, Điều rất quan trọng là với chữ Nôm, đồng bào không chỉ ghi chép lại các sách dàng trong cúng bái
mà còn là các bản văn truyện Nhiều sách được địch ra tiếng Việt hoặc phiên âm ra chữ Dao La tỉnh để truyền bá rộng rãi hơn Canh tác nương rẫy kiểu du canh du cư là phương thức canh tác lạc hậu, gắn liền với cư trú phần tán, xé lẻ tộc người, nghèo đói và lạc hậu, tác hại đến môi trường sinh sống Chúng ta đều biết, năng suất cây trồng trên nương rẫy du canh du cu nam sau thấp hơn năm trước, chu kỳ du canh du cư ngắn lại: mỗi lần chuyển cư là một lần tốn thất về của cải sức lao động, thế mà một đời người có khi phải chuyển cư đến một vài chục lần hoặc nhiều hơn
iJ Trong nhitng nim qua nhat 1a ttt nhtng nam 60 tré lai day do nhttng biến động về cư trú dân số kinh tế - xã hội môi trường tự nhiên canh tác
nương rẫy du canh du eư lại càng có nhiều hạn chế Theo chủ trương chính
sách của Đảng và Nhà nước, người Dao cũng như các đân tộc anh em đã sớm thực hiện định canh định cư (ĐCĐC) xây đựng cuộc sống mới, tuy gặp nhiều khó khăn song cũng đã giành được những thành tích nhất định Cho đến nay sau 22 năm, từ 1968 đến 1989, 77% cư đân người Dao thực hiện ĐCĐC, trong đó người Dao ð Quảng Ninh đã ĐCDĐC về cdø bản Tuy vậy, hiện nay đối tượng cần thực hiện ĐCDC ở người Dao vẫn còn khá lớn, có thể lên tới trên 80 ngàn người Tiếp tục thực hiện ĐCĐC trong người Dao là nhiệm vụ quan trọng và gặp không ít khó khăn Kinh nghiệm cho thấy nhiều điểm cư dân tưởng như đã hoàn thành ĐCĐC sau vài năm lại chuyển đi nơi khác do không có điều kiện phát triển sản xuất lương thực và giao lưu hàng hoá Việc
phát buy những kinh nghiệm về ĐCĐC đã có là cần thiết
Trong quá trình thực hiện DCDC ở những bản Dao đã xuất hiện điển hình khá nổi bật, là những tấm gương của lao động sáng tạo, vượt qua những khó khăn của hoàn cảnh tự nhiên Những tấm gương đó không chỉ có ý nghĩa đối với dan tộc mình mà còn đối với các đân tộc anh em Những điển hình tốt
về tổ chức sản xuất và đời sống trong những năm 60-70 là hợp tác xã (HTX) Đồng Vàng, xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hoá, tỉììh Tuyên Quang: Bản
Trang 26Chang xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng; Suối Lần, xã Eiến Thiết huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Trong những năm 70-80 là Viễn Sơn, huyện Vân Yên, tỉnh Sơn La; Quảng Lâm, huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh Còn trong thời kỳ đối mới, từ 1990 đến 1994 là xã Tân Dân, huyện Hoành Bê tinh Quang Ninh; cac x6m Mit va Ma, x4 Tu Ly va x6m Rãnh xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình Ở những nơi này, nhiều chủ nhiệm HTX đã được phong đanh hiệu anh hùng lao động như: Bàn Hông Tiên (HTX Đồng Vàng), Bàn Thượng Đức (HTX Bản Chang), Bàn Vân Minh (HTX Suối Lầm) Bàn Vân Quan (HTX Viễn Sơn) Những anh hùng lao động này thực sự
đã làm việc vì lợi ích chung của cộng đồng làng bản không có họ, có thể nói, không có những làng bản hay HTX làm ăn tốt
- Để phát triển sản xuất, nếu ở thời kỳ đầu như HTX Đồng Vàng chỉ chú trọng tạo ra điều kiện tăng năng suất ngô lúa, cây công nghiệp ngắn ngày thì sau đó một thời gian HTX Bản Chang ngoài thâm canh các cây lương thực thực phẩm, đã phát triển trẩu, trúc phục vụ cho xuất khẩu, dong riêng lam mién ban tại địa phương, xây dựng thuỷ điện dùng cho sinh hoạt và chạy máy xay xát, nghiền thức ăn gla súc
- Về c1 trú, trong khi ở Đồng Vàng là những hộ từ nơi khác xuống vùng thấp, phục hoá khai hoang ruộng nước, thì ở Suối Lìn lại chuyển từ vùng thấp lên vùng cao gần Quốc lộ 6 làm thuỷ lợi phục hoá ruộng trêng chè và dong riểng Diện không chỉ đủ dùng trong bản mà còn cho cả các bản xung quanh
- HTX Viễn Sơn đã thành công trong việc trồng quế Năm 1954, khi người Dao mới đến định cư ở đây đã phục hoá ruộng, tuy cuộc sống có khá hơn, nhưng vẫn nghèo đói Năm 1962 ông Bàn Văn Quan, người đứng đầu bản
"sực nhớ" lúc nhỏ thấy bà hàng xóm đã bóc quế đi bán khi thiếu ăn, ông xin hạt về trồng, đến năm 1969, đã bán được 6 tấn Năm 1970, ông vận động bà con trồng quế Đến năm 1989, toàn xã đã có trên 600 ha, chưa kế quế ở từng
hộ gia đình, mỗi gia đình có hơn 3 ha Từ năm 1980, Viễn Sơn mỗi năm có gần 60 tấn vẻ quế và trên 200 kg tỉnh dầu Viễn Sơn đã xây đựng các công trình thuỷ lợi trong đó có 3 ha hồ chứa nước kết hợp nuôi cá Mỗi năm thu
hoạch từ ruộng 350 tấn lúa Bên cạnh đó còn có 120 ha lúa nương, 4Ó ha ngô
230 ha sắn Viễn Sơn đã huy động hàng vạn công đắp đường ôtô dài 8 km
21
Trang 27đường liên bản 31 km, làm 2 trạm thuỷ điện 45 kw, xây dựng nhà trẻ trường học, trạm xá, trụ sở, cửa hàng, Nhiều gia đình đã trở nên giàu có, xây nhà hai tầng sắm nhiều để dùng sinh hoạt đắt tiển, mua xe máy, có nhà có ôtô Lúc đầu, Viễn Sơn mới có ngót 100 hộ, gần đây là 288 hộ, 1.781 người, 618 lao động, trong đó rất nhiều hộ mới chuyển từ nơi khác đến,
- Trong thời kỳ đổi mới thực hiện ĐCĐC gắn liền với việc đổi mới cød cấu sản xuất, tiến tới đổi mới cơ cấu kinh tế, xóm Mít, xã Tu Lý Đà Bắc, Hoà
bình có 30 hộ, 200 người đều là Dao Tiền, tuy sinh sống ở đây đã lâu nhưng
mới ĐCDC năm 1990 Năm 1991, khai phá được 7,5 ha đất bãi 3.ð ha ruộng, trồng 3.5 ha mía tím, thu 29 tấn lương thực Bình quân mỗi người thư nhập 1 triệu đồng/“măm Hiện này, các hộ gia đình vẫn đang mở rộng diện tích lúa phát triển trồng quýt mơ, mận, quế và đẩy mạnh chăn nuôi Với sự giúp đỗ của quỹ tài trợ đồng bào đã mở 6 kim đường ôtô xây 1,7 km ương nước tưới cho 10 ha ruộng, xây đựng trường học và 2 giếng nước
Còn xóm Rãnh xã Toàn Sơn cũng thuộc huyện Đà Bắc có 78 hộ 500 người chủ yếu là người Dao Quần Chẹt, đã định cư từ năm 1968, song đến năm 1989 mới định canh Trong 2 nắm 1990-1991 thu hoạch 30 tấn lúa ngô trồng 2.5 ha dưa chuột một diện tích lớn dong riểng, đậu trưởng, lạc tụ bổ và trồng 200 ha rừng, thu được 740 triệu đồng Bình quần nhân khẩu 1,4 triệu đồng/năm Với sự giúp đỡ của cơ sở sẵn xuất nông nghiệp xóm đã mở 10 km đường ôtô, xây dựng được trường lớp cho con em
Có thể nói, cư dân xóm Mit, xom Rãnh chưa giàu nhưng chỉ sau 3 nàm (1990-1999), đã có nhà ở khang trang, cư trú và đời sống ốn định Họ có lương thực ăn, thu hoạch được mía tím và các sản phẩm khác, nhờ có đường ôtô có thé ban ra dễ đàng Việc mua những nhu yếu phẩm cũng không khó Do đó người dân đã có thể tự mình mớ rộng diện tích của loại cây trồng để tiêu thụ, chăn nuôi lợn đàn theo phương pháp tiến bộ, mở rộng sản xuất, theo cơ cấu thích hợp để làm giàu
Tương tự như hai xóm trên đây là người Dao Thanh Phan 6 x4 Tan Dan, tỉnh Quảng Ninh Đồng thời với việc phát triển các loại cây lương thực thực phẩm, họ đã phát triển các loại cây để bán như cam, quýt mận, quế, tràm
(đấy nhựa và lấy quả) Nhiều người trồng cây dó để lấy trầm hương, mặc dù,
Trang 28việc trồng loại cây này rất khó một số người bán hàng xén Do đó thu nhập của đồng bào đã tăng lên Trên 40% số hộ của xã có mức thu nhập trên 60.000đ/ngươi/tháng Tuy mức thu nhập đó chưa cao, nhưng là một stf tiến bộ
rõ rệt so với trước đây khi còn ở trên núi,
Để phát triển sản xuất việc tăng độ che phủ đổi núi và bảo vệ rừng giữa một vị trí quan trọng Ở một số nơi người Dao đã tham gia các chương trình
dự án của nhà nước về việc trồng và bảo vệ rừng, song có một thực tế là trồng
và bảo vệ được ở nơi này thì lại mất đi ở nơi khác Vì vậy ở nhiều nơi, chính quyển đã buộc phải đóng cửa rừng và cấm khai thác gỗ Nếu việc trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng đem lại kết quả thì chỉ sau ð-7 năm, rừng núi lại xanh tươi nguồn nước tự nhiên, chùn muông, thú rừng trở nên nhiều, sản xuất sẽ thuận lợi như đã thấy ở nhiều nơi tại miền núi phía bắc nước ta Bảo
“*Xệ và phát triển rừng là một cơ sở để phát triển bần vững
IH Cùng với việc chuyển đối cơ cấu cây trồng, mở mang giao thông, xây dựng các cơ sở vật chất cần thiết những cơ sở của việc thực hiện ĐCĐC, xây dựng cuộc sống mới thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến tới ấm no, tiến bộ văn mình thì những nhân tế xã hội - văn hoá truyền thống cũng dần dẫn khẳng định tính tích cực, phát triển những tỉnh hoa và tiếp thu cái mới Rõ ràng là những tiến bộ về kinh tế - xã hội của người Dao nhất là ở những cơ sở sản xuất tiên tiến, là do đã phát huy được những truyền thống tốt đẹp trong thời hiện đại một cách tích cực trên mọi lĩnh vực xã hội - văn hoá
Ở gia đình, những nét đẹp trong quan hệ giữa các thành viên thể hiện ở tính dân chủ, bình đẳng, thương yêu lẫn nhau, không kể con dé hay con nudi vẫn là những nét nổi bật Mọi người trong gia đình luôn nghe lời nhau, sinh hoạt có nề nếp, nhìn nhau mà làm để có thành quả lao động xứng đáng Do
đó, tính cố kết của gia đình luôn ở mức độ cao Những cặp vợ chồng trẻ ra ở riêng thường là rất thoả đáng Đồng thời, ở hầu khấp mọi nơi người Dao thường có quan hệ bạn bè tốt với đồng bào các dân tộc anh em cùng cư trú tạo ra được những hiểu biết mới trong lao động và đời sống Quan hệ hôn nhân giữa người Dao và các đần tộc khác xuất hiện ở nhiều nơi
23
Trang 29Tính cố kết cao của từng gia đình gắn liền với tính cố kết cũng rất cao trong quan hệ họ hàng nhất là họ hàng gần Quan hệ họ hàng là những người cũng chị, chẳng hạn như họ Đặng to, có Đặng to, Đặng nhỏ mà quan hệ hôn nhân thường thấy giữa hai chì và không được có trong cùng một chỉ Chỉ
họ gần, như là những tông tộc hay gia đình lớn mới được phân chia thành những gia đình nhỏ trong phạm vì bốn năm đời Những gia đình nhỏ này có chung bàn thờ tổ tiên gọi là Hùng lầu Nhà có Hùng lầu gọi là nhà lớn, các gia đình trong đó gọi là nhà nhỏ Nhà lớn luôn có vị trí quan trọng trong mỗi quan hệ anh em, trong sản xuất, đời sống và thực hiện các nghĩ lễ gia đình, làng bản, dân tộc Các gia đình có chung Hùng lầu quan tâm đến nhau mang tính ruột thịt, cưu mang nhau lúc khó khăn Quy mô của
Hùng lâu rất khác nhau, từ ö-7 gia đình đến 20-38 gia đình cư trú gần
nhau, nhưng cũng có gia đình ở xa nhau, Tuy nhiên, sự tôn tại Hùng lâu phụ thuộc vào những thế hệ gần gũi chứ không phải quy mô của nó, người ta
tách Hùng lầu sau 5-6 thế hệ
Bản người Dao thường gồm nhiều đồng họ nhưng vẫn thường có đòng họ đông người có vai trò cố kết chính, có ảnh hưởng đến toàn bản làng Đó thường là những ho lap ban hoặc biết tra cứu sách Nôm theo phong tục hay là thầy cúng được coi là cao tay Về cư trú thì ở mỗi nơi có nhóm người có những đặc điểm riêng Người Dao Thanh Y và Dao Tiền ở Quảng Ninh, Tuyên Quang nhà ở mật tập, hầu như các nhà trong một bản của người Thanh Y đều hướng theo hướng nhà của Trưởng bẩn (truyền thống) Trong khi đó nha cửa ở người Thanh Phán cư trú lại phân tân, các gia đình trong bản xa cách nhau, Trưởng bản truyền thống ở người Thanh Ý là từ tư cách họ mà được suy tôn; còn ở người Thanh Phần do dân cử và sự linh nghiệm của thánh thần, có thể chủ trì sự làm ăn của bản làng Cho nên Trưởng bản người Thanh Phán có khi không thuộc bài cúng Khi cúng bản, tuy ông chủ trì, nhưng người khác có thể đọc lời cúng Cúng bản ở người Thanh Ÿ, người Dao Tiển có khi diễn ra ở miếu thể thần còn ở người Thanh Phán thường làm ở
nhà trưởng bản Thường trong một năm, người ta cúng bản 4 lần vào các
tháng 2 4, 7, 10, nghĩa là vào những giai đoạn khác nhau của sản xuất Việc
cúng thần thánh là để cầu mùa, cho nên ngoài việc làm lễ cúng người ta bàn
về éân xuất, thực hiện những quy định đâm bảo sản xuất Trưởng bản luôn
Trang 30thể hiện trách nhiệm cao của mình Dân làng cũng rất tin cậy họ N hitng anh hùng của các cơ sở sản xuất tiên tiến như đã nói, đều là những người đứng
đầu bản làng Trong thực tế họ bảo gì dân cũng làm theo Chẳng hạn, ở xã
Kỳ Thương huyện Hoành Bả, tỉnh Quảng Ninh một người làm Bí thư chi bộ
26 năm cũng là người am hiểu phong tục tập quán, biết cúng, giỏi Nôm sau khi thôi Bí thư chỉ bộ vẫn được coi là người đứng đầu xã
Ở người Dao Tiần trong khi khu vực nhiều bản làng còn có tổ chức gọi là Động, Sơn Động Ở huyện Đà Bắc, Động gồm hơn một chục xóm người Dao
được cố kết thành một tổ chức có nhiệm vụ bảo tổn các phong tục, tập quán, ngăn chặn tham ô, hủ hoá, góp phần phát triển sân xuất, xây đựng cuộc sống mới Tổ chức này gồm: Động trưởng hay Tổng Động chịu trách nhiệm chung Sơn Động có nhiệm vụ tập hợp va théng tin cho các bản làng: Kỷ Động giữ sổ sách và ghi chép Mỗi năm Động bọp đại biểu các xóm một lần để kiểm tra tình hình sinh hoạt của nhân dân bầu những người làm nhiệm vụ mới Di họp, người ta mang theo hai chai rượu, vài con chuột khô, tiền, gạo Những năm gần đây khi họp người ta mời cã người Dao Tiền ở Vĩnh Phú và người Dao Quan Chẹt ở địa phương và đại điện chính quyển huyện, xã tham gia Cudi nam 1894, đã xảy ra vụ phán xử và phạt có thể coi là không nhẹ nhàng, tuy vậy vẫn được coi là nhẹ nhàng hơn trước đây về đôi nam nữ ở một xóm có quan hệ bất chính với nhau kéo đài trong nhiều năm có sự chứng kiến của chính quyển xã làm cho người bị xử tốn kém không ít Đó là trường hợp vi phạm phong tục tập quán Nguyện vọng của những người ở Động không những mong muốn duy trì tổ chức này mà còn đang xúc tiến việc xây dựng một căn nhà làm nơi họp hằng năm tại nơi thuận tiện Như vậy, ngoài các quan hệ xã hội như gia đình dòng họ, bản làng còn có tổ chức khu vực gọi là Động với các công việc cụ thể của nó, trước đây việc nghiên cứu về vấn đề này chưa được chú ý nay cần được khắc phục
Trong đời sống ngoài những nghỉ lễ trong gia đình, bản làng những nghi lễ liên quan đến sản xuất còn có tục cấp sắc, tết nhảy, cúng Bàn Vương Tục cấp sắc - quá tang là tục phổ biến trong người Dao Tất cả mọi người đàn ông đều phải làm lễ này Người ta làm lễ lần lượt theo thế hệ và thứ bậc: ông bố, anh, em Những người lớn đã qua đời chưa được cấp sắc thì con cháu làm cho rồi mới
25
Trang 31được làm cho mình Những người đã được cấp sắc mới được coi là người lớn, làm được những công việc bình thường mà xã hội đồi hỏi như: cúng bái tổ tiên tham gia việc cúng Bàn Vương, giao lương đầu vụ sẵn xuất, làm được quan làng, đốt lửa và mang đồ vào nhà mới Cấp sắc là điều kiện quan trọng để trở thành thầy cúng Người ta còn phải làm lễ "thäng đèn", được cấp từ 7 đến 12 đèn nghĩa là
phải qua các lễ "Tâu slai° Trong lễ cấp sắc, người ta dạy cho thanh niên 10 độ 10
kiêng cấm 10 lời thể Những điều đạy này tuy mang ý nghĩa tôn giáo nhưng cũng là dạy cho thanh niên làm những điều thiện đững cảm, ngay thẳng, không tham tài và mê sắc, không vụ lợi và sẵn sàng giúp đỡ mợi người Cấp sắc đã trở thành tiêu chuẩn quan trọng cho người đàu ông Dao trong xã hội gợi lên những vết tích của lễ thành đỉnh xa xưa Tuy có tính chất tôn giáo, nhumg cấp sắc mang ý nghĩa
xã hội quan trọng, nên trong những năm gắn đây vẫn được tiếp tục thực hiện
Tết nhảy được gọi là "nhìang chêm đáo", cũng phổ biến ở người Dao có
mục đích cúng Bàn Vương, luyện âm binh bảo vệ cuộc sống gia đình yên vui,
Nó thường được tổ chức vào tháng chạp Am lịch Tết nhảy đòi hỏi một quả trình chuẩn bị những điều kiện vật chất thanh niên cần tập múa làm dao và súng bằng gỗ Nội dung chính của tết nhảy bắt đầu bằng điệu múa "tam nguyên an ham", tiếp đến là múa “"nhìang chồm đáo" hay còn gọi múa "ra binh vào tướng" "Nhìang chồm đáo" là điệu múa khoẻ đẹp nhịp nhàng theo tiếng trống thanh la, não bạt Sau đó là điệu múa sản xuất bắt ba ba Những điệu múa này được nhảy theo lượt nhât định Chẳng hạn múa ba ba, mỗi ngày phải múa hai lần, mỗi lần 1ð lượt Trong cả tết nhảy người ta múa
Ít ra trên 120 lượt Tết nhảy thường được tiến hành: 2 ngày, kết thúc bằng một lễ cúng tổ tiên, các thần thánh và Bàn Vương, Như vậy, tết nhảy mang màu sắc tín ngưỡng, những yếu tố văn nghệ và trình độ múa khá cao tính dân tộc rất đậm nét, hiện nay vẫn được người Dao quan tâm tổ chức vào dịp trước tết Nguyên đán
Cùng với các tập tục trên cúng Bàn Vương cũng là tục lệ khá phổ biến trong người Dao Bàn Vương được coi là thuỷ tổ của dân tộc là ma nhà và được cúng bái chung với tổ tiên của từng gia đình, đòng họ Thờ cúng Bàn Vương được coi là việc có liên quan đến vận mệnh mỗi người mỗi dòng họ và dân tộc Thường ngày Bàn Vương được cúng chung với tổ tiên và năm vi than
Trang 32khác là: thần thóc gạo, thần coi sóc ca hát, văn nghệ, thần săn bắn và 2 thần chăn nuôi Trong các nghỉ lễ: quá tang, tấu sÌai chảy chau (lễ táo mộ tượng trưng) tết nhảy, làm chay đều cúng Bàn Vương Nhưng, Bàn Vương còn được cúng riêng Tục lệ quy định đã cúng thì cúng trong 3 năm liền Trong lễ cúng, người ta phải làm các lễ: lễ khất lễ cúng, lễ tiễn đưa Sau lễ khất người
ta nuôi 2 con lợn để sau dùng cho nghỉ lễ, gọi là lợn thần Trong lễ cúng Bàn Vương, người ta kể sự tích khai thiên lập địa sự tích nạn hồng thuý truyện
quả bầu, sự tích Bàn Vương quá trình thiên di đến Việt Nam Sáu thầy cúng
ngồi trước bàn lễ, vừa đọc bài cúng vừa ăn thịt sóc xấy khô xào với măng Trong Bình Hoàng khoán điệp có có ghi: cứ 3 nằm cúng Bàn Vương một lần
Đã cúng thì cúng 8 năm liền nhưng về sau, việc cúng cũng thưa dằn Có những họ õ nầm, 9 năm, 12 năm, 20 năm, có kbi cả đời mới cúng một lần Trong những năm gần đây, việc cúng Bàn Vương riêng tuy vẫn còn, nhưng đã
it di nhiều Năm 1992 ở Tân Dân Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh thấy có lễ cúng Bàn Vương trong 3 ngày đêm Trên thực tế thì ở các nhóm Thanh Y, Áo Dài, Quần Trắng từ lâu đã chỉ cúng Bàn Vương chung với các nghi lễ khác
IV Trên lĩnh vực văn hoá, có rất nhiều yếu tố nổi bật, như kiến trúc nhà ở trang phục, thêu và 1m hoa văn, tranh thơ
Riêng lĩnh vực văn hoá tỉnh thần trong đó văn học đân gian chiếm phần rất lớn Trên nhiều mặt, việc sưu tầm và lưu trữ còn nhiều chỗ trống; song với những
tư liệu đã có, thấy rằng nó rất phong phú, và có nhiều đặc thù Ngoài các truyện kể, còn có những tác phẩm Nôm khuyết danh, dân ca, tục ngữ, câu đố Những truyện phổ biến là Ba Giai cổ truyện, Tam Chiêm cơ, Đô Nương truyện, nhất là các truyện quả bầu, truyện vượt biển, Bàn Vương, Bàn Hộ các truyện kể về đi cư như truyện Đặng Hành và Bàn Dat H6, Ly Huong ca Cứu Giang ca , trong đó truyện Bàn Hộ, Đặng Hành và Bàn Đại Hộ đã được Triệu Hữu Lý dịch ra tiếng Việt Nhiều truyện thơ nói về lao động, tình yêu nam nữ thanh niên những bài hát hát thử tài của những người có vợ hay có chồng Cũng có truyện thơ theo cốt truyện Trung Quốc, như Luong Son Ba -
27
Trang 33Chúc Anh Đài với bản sắc riêng Đối với người Dao, có thể nói, cũng nhì nhiều dân tộc truyện dân gian đã trở thành nguồn kiến thức quan trọng, thể hiện rõ nhân sinh quan và thế giới quan của đồng bào Nhiều câu tục ngữ là những châm ngôn của cuộc sông Tuy trong truyện thường có thần thánh, song luôn mang tính hiện thực Đó là mặt co bản cần được khai thác
Kế thừa những truyền thống thơ ca của dân tộc mình nhiều người Dao đã làm thơ nhưng Bàn Tài Đoàn đã viết được nhiều hơn cả Trong trường ca 7rùn Xấy Cấu, kế truyện đời, gồm 825 câu in song ngữ, Bàn Tài Đoàn kể về đời mình và cũng kế về đời sống người Dao Cồn trong Tuyến tập thơ Bàn Tòi Đoàn xuất bản năm 1992 của Nhà xuất bản Văn học giới thiệu 57 bài thơ của ông đã bao quát một giai đoạn lịch sử lâu đài:
từ năm 1946 đến năm 1989 Có người coi thở Bàn Tài Đoàn là "quá hiển lành" và "chất phác", nghĩa là viết còn để đãi, nhưng đó là bản địch Dịch thơ cũng khó như làm the vay Con đối với người Dao thì vào các chợ phiên, người ta đến thầm ông, nghe ông đọc thơ và xin ông thơ Cho nên khi Nhà xuất bắn Văn học chuẩn bị in tập thơ ông, ông nói: "hông nhất thiết m lại nhiều bài thành cuốn sách này Tình hình khó khăn về giấy về In và phát bành hiện nay nếu các anh chỉ chọn được bài nào đễ đến được với bạn đọc thì
đó là phần thưởng đối với tôi rồi Thật ra nguyện vọng của tôi và đồng bào tôi
là muốn đọc thẳng chữ Dao (chữ Dao phiên âm La tình) Tôi mong được in vài bài chữ Dao trong tuyển tập này" Ở một chỗ khác ông nói: "Bài nào chưa được m, tôi sẽ trực tiếp đưa tận tay, hoặc đọc tận tai đồng bào mình trong các ngày chợ phiên" Như vậy, người Dao luôn mong muốn có thơ ca của Bàn Tài Đoàn viết về cuộc sống của đân tộc mình và in bằng chữ La tình, để có thể đọc bằng tiếng của dân tộc mình,
Cũng cần thấy trong mấy chục năm qua, người Dao đã có những bước tiến rõ rệt về trình đệ học vấn là dân trí: Một lớp người đồng đảo đã biết chữ: một bộ phận không nhỏ đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học: một số người có trình độ cao đẳng đại học: có người đã là phó tiến sĩ Đó là điều kiện quan trọng của sự tiến bộ xã hội đối với đồng bào Các truyện thơ
1 Nông Quốc Chấn, Lời giới thiệu, Từ Trường ca Bàn Hộ đến thơ Bàn ‘Tai Hoan, trong Piven
tap tha Ban Tai Doan, Nxb Van hoa, HN - 1992
Trang 34những ấn phẩm khác bằng chữ Dao phiên âm La tỉnh rất dễ phổ biến và cũng
là nguyện vọng của người Dao
Đồng bào Dao đã tham gia các cuộc khởi nghĩa và tiến hành nhiều cuộc nổi dậy chống ách thống trị của thực đân phong kiến với ý thức cao về Tổ quốc tham gia sự nghiệp giải phóng đất nước do Đẳng Cộng sản và Chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo Nhiều người đã đứng trong hàng ngũ của những người
đi tiên phong vào những năm cuối thập kỷ 30
Trong văn hoá truyền thống và tiếng nói, bên cạnh những yếu tế chung còn
có những yếu tố riêng dé thấy ở từng nhóm dân tộc học, mà đầu những năm 7Ô
đã được coi là gồm 7 nhóm: Dao Đỏ Dao Tiền Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang hay
La Gang, Dao Lan Tén, Dao Thanh Y, Dao Quan Trang Cac nhém Dao nay lai hình thành hai nhóm lớn Nhóm thứ nhất là Dao Đỏ, Dao Tién, Dao Quan Chet Dao Lô Gang Còn nhóm thứ hai là các nhóm đân tộc học còn lại Có những điểm giống nhau giữa các nhóm đân tộc không cùng một nhóm lón Cần chú ý thêm là người Dao ở Việt Nam đều nói tiếng Dao, tuy giữa các nhóm dân tộc học vẫn có sự khác nhau ít nhiều Việc nghiên cứu các nhóm Dao còn nhiều hạn chế nhưng việc nghiên cứu đó có ý nghĩa quan trọng về lịch sử tộc người, đặc điểm văn hoá và sự phát triển của người Dao trong tương lai
Vv Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trêng, sử dụng tốt đất trống đổi trọc, thực hiện ĐCĐC., trước hết là đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm để
có cái ăn ban đầu: đồng thời từng bước phát triển các loại cây, con để bán Mặt khác mở đường giao thông, tiếp thu những biện pháp khoa học kỹ thuật tiến bộ, làm tăng thêm nguồn vốn
Việc phát triển các loại cây con theo kinh nghiệm, có vị trí quan trọng trong biến đối cơ cấu sản xuất Song nếu áp dụng rộng rãi hơn những biện pháp khoa học kỹ thuật tiến bộ, thì việc làm sẽ nhanh hơn, giảm đi những sự mày mò của người nông dân Chẳng hạn, việc nhân giống, mở rộng diện tích øleo trồng cây ăn quả ngon đã đem lại những lợi ích không nhỏ cho tiêu dùng
và xuất khẩu, tăng thu nhập Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất gắn liền với
29
Trang 35chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó trước hết là xây dựng các cơ sở chế biến sản phẩm, phát triển các dịch vụ, ngành nghề tăng năng suất lao động Nhà máy đường ở khu vực thị xã Hoà bình các huyện Lương Sơn và Đà Bắc sẽ thu hút người Dao phát triển loại mía có năng suất cao Về vốn, cùng với vốn đầu tư của Nhà nước ngày càng tăng theo các chương trình, dự án, đồng bào Dao cũng đang tạo thêm vốn bằng cách phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, lấy ngắn nuôi dài, khoanh nuôi bảo vệ rừng
Như đã thấy phát huy những truyền thống trong sản xuất kinh tế đi liền với việc phát huy những truyền thống xã hội văn hoá Quá trình từ nghèo nàn lạc hậu tiến lân xây dựng cuộc sống mới, từ du canh du cư đến ĐCĐC, từ
tự cấp tự túc đến phát triển sản xuất hàng hoá, phát huy tốt những tiểm năng, thế mạnh kinh tế của địa phương thì nhiều khi phát huy những truyền thống xã hội văn hoá lại có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Ở đây nâng cao truyền thống xã hội văn boá là phát huy những mặt tích cực và han ché dan những mặt tiêu cực Không vì hạn chế những mặt tiêu cực mà làm mất đi những truyền thống Trong quá trình tổ chức sẵn xuất trước đây, ở một số
dân tộc đã gần như mất đi các quy tắc sinh hoạt của bản làng làm hạn chế
mặt tích cực đối với sản xuất, đời sống nay phục hổi lại rất khó khăn Đó là
điều đáng tiếc, Phát huy những truyền thống xã hội, văn hoá phải đi liển với
nâng cao trình độ dân trí học vấn của nhân đân xây đựng con người mới Việc làm rõ các quá trình, những nhân tố thúc đẩy của quá trình phát triển kinh tế xã hội và văn hoá, nâng cao trình độ học vấn và dân trí, sẽ góp phần thúc đẩy người Dao những bước đi mới nhanh hơn trong phát triển sản
xuất kinh tế theo phương hướng đổi mới, tiếp tục thực hiện ĐCĐC xoá đói
giảm nghèo và làm giàu viết những bài ca mới của mình, tiếp theo bài ca Đặng Hành và Bàn Đại Hộ như Bần Tài Đoàn viết:
"Đường nào nghèo đói ta nên trúnh,
Duong nado dm no ta tiên mạnh
Phát huy hơn nữa những truyền thống trong thời hiện đại, tiếp tu nhanh cái hiện đại, gắn liển cái hiện đại với bẩn sắc của người Dao, tiến mạnh theo đường
ấm no, tiến bộ, văn mình phải là tất yếu lịch sử đối với người Dao biện nay
1 Bàn Tài Đoàn, Người Đao suy nghĩ gì, Kuyển tập thơ, xách đã dẫn, tr 113
Trang 36CỘI NGUỒN LỊCH SỬ NGƯỜI DAO
Nguyễn Đình Khoa
Người Dao có số dân không đông (473.945 người, điều tra dân số 1989), nhưng bản làng trải rộng khắp miền rừng núi phía Bắc (Cao Lạng, Bắc Thái,
Hà Giang Tuyên Quang, Lai Châu, Yên Bái Lao Cai) đến một số tỉnh trung
du (Phu Tho, Vinh Phu Hoa Binh) và miền biển (Quảng Ninh) Như vậy nơi
cư trú của người Dao thuộc ba vùng, độ cao và sinh cảnh khác nhau; vùng cao, vùng giữa và vùng núi thấp
Nước ta có nhiều nhóm Dao với những nét riêng về phong tục tập quán, biểu hiện rõ trên trang phục: Dao Đỏ (Đại Bản), Dao Tiển (Tiểu
Ban), Dao Quần Chẹt Dao Lô Gang Dao Áo Dài v.v Nhưng tiếng nói
người Dao là thống nhất, bảo đâm mối quan hệ giữa các cộng đồng Dao, tuy họ sống rất phân tán và cách biệt Cội nguồn lịch sử người Dao còn là vấn đề phải nghiên cứu
Truyện lich stt bing the Dang Hanh va Ban Dai Hộ, về quá trình di cu
của hai ngành Dao tới Việt Nam kế rằng tổ tiên họ vốn sống lâu đồi ở đất Quảng Đông (Nam Trung Quốc) Nhưng địa bàn này có thể chỉ là nơi dừng chân trong một giai đoạn lịch sử dài của một số nhóm Dao sau khi ly tán từ cái nôi cội nguồn không chỉ của người Dao mà còn của một số cộng đồng cư dân khác, vốn xưa hợp thành một khôi thống nhất, mà sau này lịch sử đã định hình qua một quá trình phức tạp, vừa phân ly, vừa hỗn hợp mọi mặt (ngôn ngữ, văn hoá, sinh học) Đây là một quan điểm mới về quá trình phát sinh tộc người (ethnogenẻse) dựa trên những bằng chứng cụ thế đã diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới (Jolh Moore 199) Việc đò tìm cái nôi này liên quan đến ba dân tộc hiện nay cư trú ở Việt Nam là Dao, Hmông, Pà Thẻn mà tiếng nói xếp vào nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao, thuộc Đông Nam Á, cùng với một số nhóm ngôn ngữ khác như Môn-Khøme, Việt-Mường Đã có một số bài viết về các dân tộc nói trên theo ngôn ngữ phong tục, tập quán, cả về hình thái nhân
31
Trang 37chủng chủ yếu nhằm phát hiện mối quan hệ giữa họ với nhau (Việt Bàng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung 1974: Võ Hưng Vũ Xuân Khôi Vũ Thị Hồng, 1976; Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn Hoài Khanh, 1977) Cũng có tài liệu người nước ngoài về lịch sử các tộc Dao, Hmông (Lư Trấn Vũ, 1952; R.F 1tr 1960) Riêng về nguồn tài liệu nhân chủng học thì còn sơ sài thường thiếu những dẫn liệu về đặc điểm mô tả (Cractéres des criptifs) như màu đa, hình tóc, đặc điểm vùng mắt, vùng miệng v.v có giá trị định chủng cao Nhằm bổ khuyết tình hình này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chỉ tiết hình thái nhân chủng hai nhóm Dao (Đại Bản, Áo Dài) ở xã Tân Lập huyện Bắc Quang
và một nhóm Hmông Trắng ở xã Xà Phìn, huyện Đẳng Văn, đều thuộc tỉnh
Hà Giang, đem so sánh với tài liệu đã công bố về tộc người Dao, Hmông và Pà Thẻn của các tác giá khác
L Hinh thái nhân chủng người Dao (Bảng 1)
Tài liệu sớm nhất về hình thái nhân chủng người Dao là của Blakis-ton (1861) Tác giả viết: "Mắt ho không xếch mũi thẳng và cao nước đa ngắm đen, không ngả về phía đa vàng" (đẫn theo H.Girard, 1908) Nhận định này gơi sự liên tưởng đến ý kiến của Vecenô về người Hmông khi cho rằng họ thuậc chủng người da trắng với những nét côcadiêng nổi bật (R.Verneau 1885) Gần đây hơn, nhà nhân học Ôlviê đã kể ra một số tộc ít người giáp biên giới Trung Quốc như Dao, Lô Lô, và ghi nhận: "Đó là những cư dân còn biết ít về mặt nhân học" (G.ÔÌiviê, 1968)
Chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu trên 177 người Dao Đại Bản (104 nam và 78 nữ) và 92 người Dao Áo Dài (55 nam và 37 nữ) với 23 số đo kèm theo chỉ sế và 33 đặc điểm mô tả, tập trung trên đầu - mặt đã công bố đây đủ trong chuyền khảo "Các dân tộc ở Việt Nam" Trong bài viết này về đặc điểm mô tả chỉ nêu lại những nét chủ yếu (Bảng 5) Ta so sánh trong bằng 1 với một số ít đặc điểm đo đạc của Gira ở nam giới (H Girard 1903) Tài liệu của Gira thu thập cách tài liệu của chúng tôi trên 70 năm, lại với một
số lượng đối tượng quá ít nên không khỏi có những khác biệt nhất định (kích thước bể rộng, bề ngang đầu, bề rộng mặt giữa hẹp hơn nhưng kích thước hàm đưới và bề rộng mũi lại lớn hơn v.v ) Nhưng xét tổng hợp các đặc điểm
và chỉ số thì đây chỉ là những biến đị hình thái nằm trong cùng một nhóm _ loại hình nhân chủng và cho phép tính giá trị trung bình các đặc điểm của
Trang 38tổng số người Dao đã nghiên cứu (230 người) Để xác định vị trí của họ trong
hệ phân loại các chẳng tộc, cần quan sát thêm những đặc điểm mô tả chủ yếu (Bang 5) mà ở tài liệu Gira thì khi khiếm khuyết Có thể nêu đặc trưng hình thái nhân chủng người Dao như sau: "Tâm người thấp (o với thang chuẩn các tộc người trên thế giới): đa ngăm trung bình; hình tóc thẳng; kích thước đầu, mặt trung bình: theo chỉ số thì dạng đầu hơi tròn (dài trung bình) và dạng mặt ngắn: khe mắt rộng vừa phải, hơi xếch (23-24%); tần xuất nếp mí góc khá cao (trên 55%); mũi rộng trung bình sống mũi không đô cao, đa số thẳng: môi tương đối dày hàm trên (hay môi trên) hơi đô" Đối chiếu với những nét đặc trưng của nhóm loại hình nhân chủng Đông Nam Á mà đại điện tiêu biểu là người Việt, người Tày, người Thái thì Dao có những nét cơ bản phù hợp Như vậy bọ thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á trong chủng tộc người Môngôlôit phương Nam Đó là cái chuẩn giúp vào việc nghiên cứu nguồn gốc người Dao Chúng tôi cho rằng cội nguồn lịch sử của họ không chỉ tính từ khi họ tách ra khỏi khối cộng đồng chung, trở thành một tộc người hoặc một dân tộc độc lập cùng với các tộc người khác trong quá trình phân chia của khối cộng đồng chung ấy Khối cộng đồng này chính là
tổ tiên chung của nhiều tộc người trong đó có Dao Hmông Pà Thên Vì vậy cần xét đến hình thái nhân chủng của người Hmông, Pà Thẻn rỗi so sánh với Đao
Bảng 1: Hình thái nhân chúng một số nhóm Dao ở Việt Nam (nam giới)
33
Trang 39IL Hình thái nhân chúng người Hmông, Pà Thẻn, so sảnh uới người Dao (Bảng 2) Người Hmông ở Việt Nam, số nhân khẩu ắt nhiều lớn hơn người Dao: đã8.053 (điều tra dân số 1989) Về họ, có tài liệu do chúng tôi thu thập trên 135 người (78 nam, 57 nữ) ở Sà Phìn, Đồng Văn: ngoài ra là một ắt sô liệu đo đạc của Itxơ @.E.Its 1960) Đã có một số nhận định về ngưởi Hmông Theo Vecnô đó là một chủng da trắng (1883) Lu Trấn Vũ một học giả Trung Quốc, coi người Hmông có nguồn gốc Ôxtralôit, tiếng Hmông đặt vào nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme (1952) Riêng Itxơ thì xem Hmông thuộc nhóm loại
hình Nam Á (sau này chúng tôi đổi thành Đông Nam Á) trong tiểu chủng
Nam Môngôlôit Chúng tôi đồng thình với ý kiến này Tuy nhiên, đẫn liệu whan chúng học về người Hinông của tác giả thì còn sơ lược
Về ngươi Pà Thẻn có tài liệu của các tác giá Võ Hưng, Vũ Xuân Khôi Nguyễn Thị Hồng (1976) Cũng thiếu loại đặc điểm mô tả Dân số của họ: 3.680 (điều tra đân số 1989)
Bang 2 minh hoa sự so sánh hình thái nhân chủng giữa các nhóm nam Hmông Pà Thên với Dao (số liệu tổng hợp} Có mấy nhận xét sau:
- Sự khác biệt giữa Dao và Hmông biểu biện trên một số đặc điểm như: Dao tầm người cao hơn: chỉ số đầu thấp bơn (tức dạng đầu dài hơn đo bề ngang đầu hẹp): kắch thước phần mặt biến đị nhiều giữa các nhóm Dao, nhưng nhìn chung Hmông có dạng mặt ắt nhiều dài hơn (chỉ số mặt hình thái từ gốc mũi (se) cao hơn; bề rộng mũi lớn hơn, theo chỉ số thì Dao và Hmông đều có dạng mũi trung bình, nhưng hình mãi Dao thiên về phắa rộng hình mũi Hmông thiên về phắa hẹp
- Sư khác biệt gitta Dao va Pa Thén: Dao cao hơn: kắch thước đầu (bề đọc
bề ngang) biến di nhiều trong các nhóm Dao khi lớn hơn, khi nhỏ hơn so với
Pa Thén nhưng theo chỉ số, đều thuộc loại hơi đài; kắch thước phần mặt ắt nhiều lớn hơn về bề dài, tương đương về bề rộng theo chỉ số đều là loại mặt ngắn, nhưng ở Pà Thên thì quá ngắn
- Sự khác biệt giữa Hmông và Pà Thẻn: Hmông có bề dọc đầu nhỏ bể ngang đầu loại lớn nên chỉ số đầu cao (dạng đầu tròn hơn); đạng mặt: loại ngắn tựa Dao, nhưng vẫn dai hon Pa Thén; mii hep hon Pi Thén về bề rộng nên chi sé mfii thap han han thién hudng dang mii hep
Trang 40Bảng 2 - Hình thái nhân chủng Hmông, Pò Thén so sánh uới Dao (nam giới)
tổng hợp | (Đồng Văn) | (Nam T Quốc) | (Nam T.Quée)
Bề dài mũi (se) (mm) | 80,4 (158) 49,0 44,0 46,5 46,0
- Rong mul (mm) 46,8 35,1 35,0 34,4 38,7 Chỉ số mũi 37,5 35,1 35,0 44,4 38,7
Sự khác biệt như đã phân tích là dựa trên các đặc điểm đo đạc, xét ở từng đặc điểm hoặc nhóm đặc điểm tách riêng Có thể sử đụng chỉ số khoảng cách penrôdøơ C311 tính tổng hợp trên các đặc điểm đo đạc và chỉ số để so sảnh các tộc người với nhau Trị số khoảng cách càng nhỏ thì so sánh càng gần gũi, nếu trị số > 1 thì chúng khác biệt Với Dao - Hmiông - Đà Thên (các nhóm nam), có
kết quả sau:
Dai Ban - Ao Dai 0.383 | Pa Thén - Dai Ban 0,37 Dai Ban - Hmong (Déng Van) 0.50 | Pa Then - Ao Dài 0.45
Áo Dài - Hmông (Đồng Van) 0,57 | Pa Thén - Hméng (Đồng Văn 0.60
Ta thấy hai nhóm Dao (Đại Bản và Áo Dài) gần nhau hơn cả (tương đồng với mức xác suất P x 0.9ãt) tiếp đó là Pà Thẻn với Dao (Đại Bản và
Áo Dài) mức xác suất giảm (P x 0,90), xa hơn cả là Dao và Pà Thên với Hmông Cần lưu ý rằng kết quả này chỉ dựa trên các đặc điểm đo đạc Nếu kết hợp thêm những đặc điểm mô tả mà chúng tôi đã thu thập từ các