TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐỀ TÀI “Hôn nhân đồng giới theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Cơ sở lý luận về hôn nhân.
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
ĐỀ TÀI: “Hôn nhân đồng giới theo quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam”
1
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Cơ sở lý luận về hôn nhân đồng giới 2
1 Hôn nhân 2
2 Hôn nhân đồng giới 4
II Quy định của luật hôn nhân gia đình Việt Nam về hôn nhân đồng giới5 1 Kết hôn đồng giới theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 5
2 Các vấn đề pháp lý liên quan khi hôn nhân đồng giới không được thừa nhận 9
III Thực trạng, kiến nghị và giải pháp đối với vấn đề hôn nhân đồng giới hiện nay 11
1 Thực trạng vấn đề hôn nhân đồng giới hiện nay 11
2 Kiến nghị về vấn đề hôn nhân đồng giới hiện nay 14
C KẾT LUẬN 15
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
2
Trang 3A MỞ ĐẦU
Trong những nặm gần đây, vấn đề hôn nhân giữa những người đồnggiới đang được quan tâm và trở thành nội dung được đem ra thảo luận rộng rãitrên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước Một câu hỏi đặt
ra là, tại sao hôn nhân giữa những người đồng giới lại thu hút sự quan tâm của
dư luận đến thế? Theo đó, vấn đề này đã và đang đặt ra những quan điểm tráichiều liên quan đến việc ủng hộ, công nhận hoặc phản đối những người đồnggiới kết hôn với nhau Thậm chí ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia còn dẫn tớicác cuộc biểu tình nhằm đòi quyền lợi cho những người thuộc giới tính thứ ba.Những người ủng hộ cho rằng việc hợp pháp hóa kiểu hôn nhân này đảm bảonhân quyền và bình đẳng với tất cả mọi người Ngược lại, những người phảnđối hôn nhân đồng giới cho rằng kiểu hôn nhân này không bền vững, mangkhả năng suy giảm giống nòi và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.Trước những quan điểm trên vấn đề trọng tâm được đặt ra là nên hay khôngnên công nhận hôn nhân đồng giới? Và ở giai đoạn hiện nay, trong bối cảnhViệt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn thượngtôn pháp luật thì câu hỏi cần quan tâm là việc pháp luật nước ta đã có quy địnhnhư thế nào về vấn đề hôn nhân giữa những người đồng giới?
Trước nội dung cần quan tâm, để thấy được những quy định pháp luật
về vấn đề trên, em xin chọn đề tài: “Hôn nhân đồng giới theo quy định củapháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” làm đề tài tiểu luận kết thúc họcphần môn Luật hôn nhân và gia đình
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận về hôn nhân đồng giới
1 Hôn nhân
1.1 Khái niệm
Hiện nay, khái niệm hôn nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo khoản 1, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Hôn nhân
là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [1] Cụ thể, hôn nhân là việc
giữa nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống lâu dài với nhau theoquy định pháp luật, đó là sự kết hợp của các cá nhân về nhiều mặt bao gồm:tình cảm, xã hội, tôn giáo,… Hay nói cách khác, hôn nhân là quan hệ giữa vợ
và chồng sau khi thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn tại cơ quanđăng ký kết hôn nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình ấm no, tiến
bộ hạnh phúc
Việc kết hôn được quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia
đình 2014: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau
theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.” Hay đây
chính là việc nam, nữ tự nguyện xác lập quan hệ vợ, chồng và được nhà nướccông nhận Nam nữ muốn kết hôn với nhau phải thể hiện ý chí của mình bằnghành vi pháp lý cụ thể là làm Tờ khai đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kếthôn Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên làm cơ sở để cơ quan đăng ký kết hônxem xét và đăng ký kết hôn cho họ [2]
1.2 Một số quy định về hôn nhân
Quan hệ hôn nhân được xác lập tính từ sau khi đã hoàn thành việc đăng
ký kết hôn theo quy định Theo đó, luật hôn nhân và gia đình 2014 có quyđịnh như sau về hôn nhân:
* Nguyên tắc cơ bản trong chế độ hôn nhân:
- Hôn nhân cần sự tự nguyện bình đẳng, tiến bộ và một vợ một chồng.
Trang 5- Hôn nhân được tôn trọng và pháp luật bảo vệ dù là hôn nhân giữa công dân
Việt Nam mà tôn giáo, dân tộc, người theo tôn giáo – người không theo tôngiáo, công dân Việt Nam – người nước ngoài, người có tín ngưỡng – ngườikhông có tín ngưỡng
- Kế thừa cùng phát huy về truyền thống đạo đức tốt đẹp, văn hóa của dân tộcViệt Nam trong hôn nhân và gia đình
- Có trách nhiệm hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi từ các
cơ quan nhà nước, gia đình và xã hội để thực hiện quyền trong hôn nhân vàgia đình; thực hiện kế hoạch hóa gia đình; giúp đỡ bà mẹ có thể thực hiện tốt
về chức năng cao quý từ người mẹ
* Mục đích của hôn nhân: Mục đích cơ bản nhất của hôn nhân là sinh sản,
nuôi dưỡng, chăm sóc con cái của vợ, chồng Hôn nhân góp phần duy trì nòigiống, đảm bảo tương lai tồn tại của cả một dân tộc
* Điều kiện để kết hôn: Nam và nữ cần đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Đối với nữ đủ 18 tuổi trở lên, còn nam phải đủ từ 20 tuổi trở lên,
- Việc kết hôn sẽ do sự tự nguyện của hai bên là nam và nữ quyết định
- Không thuộc trường hợp là người bị mất năng lực hành vi dân sự
- Không thuộc một số trường hợp bị cấm kết hôn
* Thời điểm xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân:
- Thời kỳ hôn nhân được xác định là khoảng thời gian được tính từ ngày màthực hiện đăng ký kết hôn đến ngày mà chấm dứt hôn nhân
- Thời điểm chấm dứt mối quan hệ hôn nhân được xác lập trong một trongnhững trường hợp như sau:
+ Bị chấm dứt quan hệ hôn nhân tính từ khi quyết định, bản án ly hôn từ Tòa án
mà có hiệu lực pháp luật (Theo Điều 57 luật hôn nhân và gia đình 2014)
+ Bị chấm dứt quan hệ hôn nhân tính từ thời điểm mà chồng hoặc vợ chết Nếu người vợ hoặc người chồng chết mà thuộc trường hợp tòa án tuyên bố thì việc
Trang 6chấm dứt quan hệ hôn nhân tính từ ngày xác định chết ghi trong bản án hoặc quyết định từ Tòa án (Theo Điều 65 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
2 Hôn nhân đồng giới
2.1 Người đồng tính
Trong hôn nhân đồng giới thì những người đồng tính đóng vai trò là chủthể Theo đó, Đồng tính gọi tắt của đồng tính luyến ái là thuật ngữ chỉ việctrên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dụcchỉ bị hấp dẫn giữa những người cùng giới tính Những người đồng tính không
có cảm giác gì với người khác giới về tình yêu, sự rung động hay ham muốntình dục Trong tiếng Anh từ Gay chỉ người đồng tính nam, lesbian thườngđược đọc ngắn là les là chỉ người đồng tính nữ,…[3] Như vậy, bản chất củanhững người đồng tính là việc hai hay nhiều người cùng giới yêu nhau và cóham muốn quan hệ tình dục với nhau Đồng thời khẳng định đồng tính khôngphải là một bệnh mà nó là một xu hướng tình dục
2.2 Hôn nhân đồng giới
* Kết hôn đồng giới:
Hiện nay, pháp luật Việt Nam nói chung và luật hôn nhân gia đình nóiriêng không có quy định cụ thể về khái niệm cũng như định nghĩa về kết hônđồng giới Bởi nước ta chỉ công nhận hôn nhân giữa hai người khác giới có đủđiều kiện đăng ký kết hôn Tuy nhiên, dựa trên khái niệm về hôn nhân và kếthôn thì vẫn có thể hiểu, kết hôn đồng giới là việc xác lập quan hệ vợ, chồnggiữa hai người đều là nam hoặc đều là nữ
* Các hình thức công nhận hôn nhân đồng giới trên thế giới:
Pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa công nhận và chưa có các hìnhthức công nhận hôn nhân giữa những người khác giới Tuy nhiên, nhiều nướctrên Thế giới đã có sự nhìn nhận và quy định về vấn đề này Về cơ bản, dựavào pháp luật của các nước trên Thế Giới có thể chia sự công nhận pháp lý đối
Trang 75với
Trang 8mối quan hệ giữa hai người cùng giới tính vào ba hình thức chính là: Hônnhân; Kết đôi có đăng ký (là hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, đượccấp giấy chứng nhận “có quan hệ gia đình”; “kết đôi có đăng ký”; “kết hợpdân sự” hoặc các tên gọi tương tự khác tùy vào từng quốc gia) và Sống chungkhông có đăng ký.
II Quy định của luật hôn nhân gia đình Việt Nam về hôn nhân đồng giới
1 Kết hôn đồng giới theo quy định của Luật hôn nhân gia đình
Ở Việt Nam hiện nay, tuy không cấm việc quan hệ tình dục đồng tínhnhưng lại có nhiều quan điểm khác nhau về quan hệ hôn nhân giữa nhữngngười này Có thể nói, trong mỗi thời kỳ thì luật hôn nhân gia đình Việt Namlại có cái nhìn cũng như có các quy định khác nhau về việc kết hôn giữanhững người đồng giới Có thể thấy rõ được điều đó thông qua Luật hôn nhângia đình các năm 1986, năm 2000 và đặc biệt là Luật hôn nhân gia đình năm
2014 (luật hiện hành)
Trước hết, với luật hôn nhân gia đình năm 1986 đã không quy định việccấm hôn nhân đồng tính Trên thực tế cho thấy, thời điểm này đã có nhữngđám cưới giữa những người đồng tính được tổ chức Cụ thể, đám cưới đồngtính từng được tổ chức đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1997 [4] Tuynhiên những đám cưới này lại không nhận được sự đồng tình của dư luận
Đến luật hôn nhân gia đình năm 2000 lại có quy định cụ thể về hônnhân và việc kết hôn giữa những người đồng giới Theo đó, tại khoản 2 Điều 8
Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác
lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Đồng thời, theo khoản 5 Điều 10 của luật này cũng quy định
về các trường hợp bị cấm kết hôn: “Việc kết hôn bị cấm… giữa những người
cùng giới tính” [5] Như vậy, theo quy định của luật này đã cấm kết hôn giữa
những người đồng giới Theo đó, việc kết hôn đồng giới ở thời điểm này có
Trang 97thể bị xử phạt hành
Trang 10chính theo Điều 8, Nghị định 87/2001/NĐ-CP: “Hành vi vi phạm quy định về
cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng:
1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính; 2 Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khác Buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật đối với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này” [6] Cụ thể đối với trường hợp kết hôn, Tòa án
có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật đó khi có yêu cầu Đối với trườnghợp chung sống giữa những người đồng tính cần phát huy vai trò của các cơquan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc giáo dục, vận động các bênchấm dứt việc chung sống trái pháp luật Có thể thấy, việc luật hôn nhân giađình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới xuất phát từ quanđiểm về mục đich của hôn nhân Theo như trình bày ở phần cơ sở lý luận thìmục đích cơ bản nhất của hôn nhân là sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc concái của vợ, chồng Mục đích của hình thức hôn nhân là để tạo nên một giađình, mà gia đình có chức năng là “cái nôi nuôi dưỡng con người” như tronglời nói đầu của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã dẫn Hôn nhân gópphần duy trì nòi giống, đảm bảo tương lai tồn tại của cả một dân tộc Trongkhi đó, các cặp đôi đồng tính không thể sinh con với nhau được Từ đó khôngthể xác lập quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ với con cái Đồng thời mục đíchcủa hôn nhân sẽ không thể đạt được và có ảnh hưởng trực tiếp đến nềnmóng của xã hội Như vậy, rõ ràng không cần phải quy định hai người đồngtính sống với nhau như vợ chồng thì phải đăng kí kết hôn Chỉ những ngườikhác giới tính kết hôn với nhau mới có thể cùng nhau thực hiện được chứcnăng cơ bản đó [7]
Trước sự thay đổi của tình hình Thế giới và tác động lớn từ dư luận thìtới năm 2013 khi xem xét và biên soạn Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,Quốc hội đã bỏ việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính và thay
Trang 119bằng khoản 2, Điều 8 của luật này Theo đó, khoản 2, Điều 8 Luật Hôn nhângia đình
Trang 12năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người
cùng giới tính” Theo quy định này, mặc dù nhà nước đã bỏ quy định cấm kết
hôn giữa những người đồng giới nhưng nhà nước cũng không thừa nhận hônnhân giữa những người cùng giới tính Việc không thừa nhận này đồng nghĩavới việc các đôi cùng giới sẽ không thể đăng ký kết hôn, không được cấpchứng nhận kết hôn, hay việc chung sống của họ sẽ không được pháp luật thừanhận Tuy nhiên, với quyền công dân của mình thì những người đồng giới vẫn
có thể tổ chức đám cưới hay chung sống với nhau Đồng thời, cùng với sự rađời của Luật hôn nhân gia đình 2014 thì nghị định 87/2001/NĐ-CP trước đây
đã bị thay thế bởi Nghị định 110/2013/NĐ-CP và điều khoản phạt hành chínhviệc kết hôn đồng tính cũng đã bị loại bỏ Có thể nói, từ quy định cấm kết hôngiữa những người đồng giới đến không thừa nhận trong Luật hôn nhân giađình năm 2014 là cả bước tiến về nhận thức Pháp luật không cấm nhưng vẫnchưa thừa nhận vì hành vi đó chưa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế –
xã hội, đặc biệt là văn hóa, thuần phong mỹ tục của nước ta hiện nay Việc bãi
bỏ quy định cấm kết hôn đồng giới là phù hợp với thực tế đời sống xã hội vàrất cần thiết Bởi lẽ, so với những công dân khác thì những người đồng tínhcũng có quyền bình đẳng và được pháp luật bảo vệ Những quyền cơ bản củacon người cũng cần được đảm bảo Quy định cấm kết hôn giữa những ngườicùng giới tính sẽ vô tình tạo ra những định kiến xã hội đối với người đồngtính Vì mọi người sẽ không nhìn nhận và tôn trọng người đồng tính vớinhững kiến thức khoa học cần thiết, mà họ chỉ cần biết những gì pháp luậtcấm là xấu Phản ứng kỳ thị nảy sinh một cách rất tự nhiên nhưng lại hoàntoàn vô lý Việc bỏ quy định cấm người cùng giới kết hôn sẽ thể hiện tínhnhân văn của pháp luật, đảm bảo quyền con người, góp phần giảm bớt sự kỳthị, đảm bảo những quyền lợi của người đồng tính phát sinh liên quan đếnquan hệ tài sản, quan hệ thừa kế… [8]
Trang 13* So sánh vấn đề hôn nhân và hôn nhân của những người đồng tính theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014:
Tiêu chí Hôn nhân hợp pháp theo
quy định của Luật hôn nhân
gia đình 2014
Quyền hôn nhân giữa những người đồng giới
Luật điềuchỉnh
Luật hôn nhân gia đình quy định, điều chỉnh và có cơ chếbảo hộ
Pháp luật không thừa nhậnhôn nhân giữa những ngườiđồng giới
Căn cứpháp lý
Điều 3 của Luật hôn nhân giađình năm 2014
Khoản 2, Điều 8 Luật hônnhân gia đình năm 2014
Giới tính Hai người khác giới (một nam
và một nữ)
Hai người cùng giới tính vớinhau
Độ tuổi Theo quy định nam từ đủ 20
tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
Không quy định trong luật
Thủ tục Khi kết hôn phải tiến hành
đăng ký tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Không quy định trong luật.©
Hậu quảpháp lý
Làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp
Không làm phát sinh quan
hệ vợ chồng hợp pháp
Chức năng Thực hiện chức năng cơ bản
trong xã hội là duy trì nòigiống
Đảm bảo và thỏa mãn quyền con người của nhữngngười
đồng tính
Chấm dứthôn nhân
Trường hợp chấm dứt hônnhân theo quy định tại Điều 57
và Điều 65 Luật hôn nhân giađình năm 2014
Không được công nhận nênkhông có cơ chế chấm dứthôn nhân giữa những ngườiđồng giới
Trang 142 Các vấn đề pháp lý liên quan khi hôn nhân đồng giới không được thừa
nhận
Mặc dù pháp luật Việt Nam nói chung và Luật hôn nhân gia đình năm
2014 không công nhận hôn nhân giữa những người đồng giới Tuy nhiên, trênthực tế những người đồng tính vẫn sống chung với nhau như vợ chồng Do đó
đã làm phát sinh các quan hệ pháp luật như quan hệ nhân thân, quan hệ tàisản, quan hệ với con cái (nhận nuôi hoặc có con riêng) Mặc khác, hiện naycác quan hệ này vẫn chưa được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và giađình Việt Nam nhưng có thể nhận thấy các vấn đề sau:
2.1 Quan hệ nhân thân
Hiện nay ở nước ta, việc các cặp đôi đồng tính chung sống như vợchồng diễn ra một cách phổ biến Trong khi Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 đã có quy định về quan hệ nhân thân giữa những cặp đôi nam, nữ kếthôn hợp pháp Theo đó, các quyền nhân thân này được thể hiện ở việc bìnhđẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, cóquyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiệncác quyền, nghĩa vụ của công dân được pháp luật quy định; Bảo vệ quyền,nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng: Quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ,chồng được tôn trọng và bảo vệ;… Tuy nhiên, hiện nay khi Luật hôn nhân giađình vẫn chưa công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới thì việc những cặp đôiđồng tính có quan hệ chung sống với nhau sẽ không được hưởng các quyềnnhân thân theo quy định của pháp luật Ví dụ như trong vấn đề bảo hiểm y tếgiữa vợ và chồng thì những cặp đôi nam nữ kết hôn hợp pháp sẽ được hưởngquyền lợi có liên quan còn những cặp đôi đồng tính sẽ không được hưởng.Bên cạnh đó, một số chế độ phúc lợi liên quan đến các tổ chức công đoàn củacác cơ quan nhà nước dành cho vợ, chồng của các cán bộ cũng không thể ápdụng đối với cặp đôi đồng tính (đau ốm, hiếu hỏi,…) Điều này cho thấy, thực