1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức, thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện phụ sản tỉnh nam định năm 2022

58 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức, thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện phụ sản tỉnh Nam Định năm 2022
Tác giả Kiều Thảo Linh
Người hướng dẫn Ts.Bs Trương Tuấn Anh
Trường học Trường đại học điều dưỡng nam định
Chuyên ngành Hộ sinh
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù lợi ích của việc cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn đã được rất nhiều nghiên cứu khẳng định nhưng kiến thức và thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của nhiều bà mẹ vẫn còn hạn chế.. Hiện n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Nam Định, năm 2022

Trang 3

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

I Thông tin chung

1 Tên đề tài: “Thực trạng kiến thức, thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai

phụ đến khám tại bệnh viện Phụ sản Tỉnh Nam Định năm 2022”

2 Thời gian thực hiện: 05 tháng

Từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022

3 Nhóm sinh viên thực hiện đề tài:

Sinh viên chịu trách nhiệm chính:

Họ và tên : Kiều Thảo Linh

ĐHHS3A 16M 16M

4 Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên: TS.BS Trương Tuấn Anh

Đơn vị công tác (Bộ môn/Khoa, Phòng): Ban giám hiệu

Điện thoại: 0913290998 Email: anhtt@ndun.edu.vn

Trang 4

NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ NCBSMHT Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc WHO

THCS THPT

Tổ chức y tế Thế giới Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Trang 5

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về Nuôi con bằng sữa mẹ 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Sự tiết sữa 3

1.1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 5

1.2 Cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn 6

1.2.1 Tầm quan trọng của việc cho trẻ bú sớm sau sinh 6

1.2.2 Cách cho trẻ bú đúng cách 7

1.2.3 Bảo vệ và duy trì nguồn sữa mẹ 9

1.3 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ 10

1.3.1 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ trên thế giới 10

1.3.2 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ ở Việt Nam 11

1.4 Một số yếu tố liên quan đến việc cho con bú ngay sau khi sinh của các thai phụ 13

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 15

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn: 15

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 15

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 15

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Error! Bookmark not defined 2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp chọn mẫu: 15

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu: 15

2.3 Xử lý và phân tích số liệu 16

Trang 6

2.4.1 Những sai số trong quá trình nghiên cứu: 17

2.4.2 Cách khắc phục sai số: 17

2.5 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 17

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 18

3.2 Kiến thức của thai phụ về cho con bú sớm sau sinh 21

3.3 Thái độ của thai phụ về cho con bú sớm sau sinh 25

3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về việc cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ 27

Chương 4: BÀN LUẬN 29

4.1 Đặc điểm chung của thai phụ 29

4.2 Thực trạng kiến thức của thai phụ về cho con bú ngay sau sinh 30

quá trình nuôi con, không những vậy trẻ bú mẹ ngay sau sinh sẽ tận dụng được tối đa nguồn 4.3 Thái độ về việc cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ 33

4.3 Một số yếu tố liên quan đến việc cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ 34

Chương 5: KẾT LUẬN 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1:PHIẾU CHẤP THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 2: BỘ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC : DANH SÁCH THAM GIA NGIÊN CỨU

Trang 7

Bảng 3.1: Phân bố nơi cư trú, trình độ học vấn và mức thu nhập của thai phụ 19

Bảng 3.2: Kiến thức về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ 21

Bảng 3.3: Kiến thức về sữa non của thai phụ tham gia nghiên cứu 22

Bảng 3.4: Kiến thức về thời gian cho trẻ bú sớm của thai phụ 22

Bảng 3.5: Thái độ về việc cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ 25

Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của thai phụ tham gia nghiên cứu 18

Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của thai phụ 20

Biểu đồ 3.3 Số lần sinh của thai phụ 20

Biểu đồ 3.4 Nguồn thông tin của thai phụ 21

Biểu đồ 3.5 Kiến thức về lợi ích cho trẻ khi bú mẹ sớm của thai phụ 23

Biểu đồ 3.6 Kiến thức về lợi ích cho mẹ khi cho trẻ bú sớm của thai phụ 23

Biểu đồ 3.7 Kiến thức về nguy cơ cho trẻ khi không được bú sữa non của thai phụ 24

Biểu đồ 3.8 Kiến thức chung cho con bú ngay sau sinh của thai phụ 24

Biểu đồ 3.9 Biểu đồ thái độ chung cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ 26

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cần được hiểu như một vấn đề sức khỏe cộng đồng, cần có một chiến lược thúc đẩy mạnh mẽ và mỗi bà mẹ khi sinh con đều có hiểu biết đúng, thực hành tốt về NCBSM sẽ là biện pháp nhằm tăng cường sức khỏe, giảm tỉ

lệ suy dinh dưỡng và bệnh tật ở trẻ [6]

Trẻ được bú mẹ trong một giờ đầu sau sinh sẽ giảm được rủi ro mắc các bệnh mạn tính ở tuổi trưởng thành như tiểu đường, tăng huyết áp, tim mạch Những trẻ phải chờ lâu mới được cho bú mẹ phải đối mặt nhiều hơn với các nguy cơ có thể nguy hiểm đến tính mạng Trẻ sơ sinh được bắt đầu bú mẹ trong vòng từ 2-23 giờ sau khi sinh có nguy

cơ tử vong cao hơn 33% so với những trẻ bắt đầu bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh Với những trẻ sơ sinh bắt đầu bú sữa mẹ một ngày sau khi sinh hoặc lâu hơn nữa thì nguy cơ cao gấp 2 lần [7],[6]

Cho trẻ bú sớm sẽ cung cấp được nguồn sữa non quý giá cho trẻ Thành phần sữa non ngoài chất dinh dưỡng có nhiều kháng thể (IgA), các tế bào bạch cầu có tác dụng bảo vệ cơ thể trẻ chống nhiễm khuẩn và dị ứng Trong sữa non có các yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hóa trưởng thành, chống dị ứng và không dung nạp các thức ăn khác Sữa non có nhiều Vitamin A phòng chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt Sữa non còn

có tác dụng giúp cho việc tống phân su, đào thải bilirubin, làm trẻ đỡ vàng da Chính vì vậy người ta coi sữa mẹ như là liều vacxin đầu tiên giúp trẻ chống đỡ bệnh tật [6],[32] Mặc dù lợi ích của việc cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn đã được rất nhiều nghiên cứu khẳng định nhưng kiến thức và thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của nhiều bà

mẹ vẫn còn hạn chế Một số bà mẹ vẫn còn vắt sữa đầu trước khi cho con bú Nhiều bà

mẹ vẫn chưa tin tưởng là có thể có sữa ngay sau khi sinh nên cho bữa bú đầu thường chậm sau 1 giờ hoặc nhiều giờ sau đẻ Một số bà mẹ thường cho con ăn các thức ăn khác trước khi bú mẹ lần đầu Các thực hành này không những đã bỏ phí đi những giọt sữa non quí giá cho trẻ mà còn có ảnh hưởng không tốt đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sau này [21],[24]

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ cho con bú sau khi sinh cao nhất ở Đông và Nam Phi (65%) và thấp nhất ở Đông Á và Thái Bình Dương (32%)

Cứ 10 em bé sinh ra ở Burundi, Lanka và Vanuatu thì có gần 9 em được bú sữa mẹ ngay

Trang 9

sau khi sinh Năm 2006, tỷ lệ cho con bú sữa mẹ ngay sau khi sinh ở một số nước vẫn còn thấp cụ thể Ghama (41%), Sudan (54%), Zanbia (70%), Jordan (49,9%), Bắc Jordan (86,6%), Nepal (72,2%), Bolivia (74%), Ethiopia (52%) [2]

Theo nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự Một số yếu tố liên quan đến thực hành về việc cho con bú sớm sau sinh của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại 4 xã thuộc thành phố Nam Định năm 2018, kết quả nghiên cứu cho thấy có 58.4% bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 41.6% cho con bú sau 1 giờ [9]

Trong báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam có tỷ lệ trẻ được bú mẹ sau khi sinh giảm nhiều nhất trong giai đoạn năm 2005-2013[1] Bộ Y tế cũng chỉ ra, có 58% các bà mẹ cho con bú trong giờ đầu sau sinh và 88% bắt đầu cho con bú trong vòng 24 giờ đầu [20]

Hiện nay đã có không ít nghiên cứu về kiến thức thái độ NCBSM của bà mẹ, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều bà mẹ chưa nắm được kiến thức về NCBSM nói chung và cho trẻ bú sớm sau sinh nói riêng Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:” Thực trạng kiến thức, thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện Phụ sản Tỉnh Nam Định năm 2022” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ cho trẻ bú sớm sau sau sinh của các thai phụ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định năm 2022

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ cho con bú của các thai phụ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về Nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.1 Khái niệm

- Nuôi con bằng sữa mẹ là đứa trẻ được bú mẹ trực tiếp hoặc sữa mẹ vắt ra [1]

- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là đứa trẻ chỉ bú sữa từ mẹ hoặc vú nuôi hoặc

từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra, không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, Siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung hoặc thuốc [1]

- Sữa non: được tiết ra trong 1-3 ngày đầu sau đẻ, có màu vàng nhạt hoặc trong, sánh đặc Sữa non giúp trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn Sữa non có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân su, trẻ đỡ bị vàng da Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ song đủ cho một đứa trẻ bình thường [1]

- Cho trẻ bú sớm sau sinh: là việc trẻ được bú mẹ trong vòng 30 phút - 1giờ đầu ngay sau khi sinh

1.1.2 Sự tiết sữa

* Cơ chế tạo sữa:

- Khi trẻ bú, các xung động cảm giác từ núm vú truyền lên não, kích thích tuyến yên sản xuất prolactin Prolactin vào máu rồi đến vú, kích thích các tế bào tiết sữa sản xuất sữa Vì vậy cho trẻ bú càng nhiều vú càng sản xuất ra nhiều sữa [1]

- Phần lớn prolactin tồn tại trong máu khoảng 30 phút sau bữa bú, giúp cho vú sản xuất sữa cho bữa bú tiếp theo Bữa bú hiện tại là trẻ bú sữa đã được dự trữ sẵn trong

vú [1]

- Ngoài vai trò quan trọng là hormon tạo sữa, prolactin còn có tác dụng ức chế sự rụng trứng; prolactin được tiết ra nhiều vào ban đêm Vì vậy nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ bú mẹ vào ban đêm vừa giúp cho việc tạo nhiều sữa hơn, vừa giúp bà mẹ chậm

có thai lại [1]

- Muốn tăng khả năng tiết sữa của bà mẹ, giúp bà mẹ tạo được nhiều sữa nuôi trẻ, cần cho bà mẹ ăn uống, nghỉ ngơi đầy đủ và hợp lý, đồng thời bà mẹ phải cho trẻ bú nhiều, bú thường xuyên và bú đúng cách [1]

Trang 11

* Cơ chế tiết sữa:

- Khi trẻ bú, các xung động cảm giác sẽ đi từ núm vú lên não, kích thích tuyến yên bài tiết hormone oxytocin [1]

- Oxytocin vào máu, đến vú có tác dụng co bóp các tế bào cơ xung quanh nang sữa

- Nang sữa co lại sẽ đẩy sữa có sẵn trong các nang sữa chảy theo các ống dẫn sữa nhỏ tới những ống dẫn lớn hơn (còn gọi là xoang sữa) nằm ở phần dưới quầng đen của

vú Đây là phản xạ oxytocin còn gọi là phản xạ tống hoặc phun sữa hoặc xuống sữa [1]

- Oxytocin được sản xuất nhanh hơn prolactin, làm sữa chảy ra ngay khi trẻ bú Oxytocin có thể bắt đầu hoạt động trước khi trẻ bú, khi bà mẹ chuẩn bị cho con bú [1]

- Nếu phản xạ oxytocin hoạt động không tốt thì trẻ khó có thể bú đủ sữa Đó là hiện tượng sữa không chảy ra mặc dù các nang sữa vẫn tiết sữa [1]

- Tác dụng quan trọng khác của oxytocin là làm co hồi tử cung giúp bà mẹ giảm chảy máu sau đẻ nhưng đôi khi gây đau tử cung nhiều, bà mẹ có cảm giác người nóng bừng khi trẻ bú trong vài ngày đầu [1]

* Các yếu tố hỗ trợ cho sự tiết sữa:

- Ăn uống: phải ăn đầy đủ các chất đạm, đường, mỡ Đảm bảo năng lượng

(2700-2800 kcal/ngày) Ăn bổ sung các loại rau quả giàu vitamin, nhất là vitamin A và muối khoáng đặc biệt là sắt Uống thêm nước, nước đường, sữa…Dùng thêm các loại thực ăn dân tộc có tác dụng kích thích bài tiết sữa như chân giò, gạo nếp

- Lao động hợp lý: làm việc nặng trong thời gian mang thai dễ dẫn đến xảy thai, thai chết lưu Khi cho con bú, làm việc nhiều sẽ phải tiêu hao nhiều năng lượng, làm giảm quá trình tạo sữa

- Tinh thần thoải mái: Những bà mẹ sống thoải mái, ít lo lắng, ngủ tốt, tin tưởng

là mình đủ sữa thì vú sẽ tiết nhiều sữa, trước hết vì không tiêu hao nhiều năng lượng, mặt khác do phản xạ tiết sữa của oxytocin được tăng cường hoạt động

- Đảm bảo hết sữa (kiệt sữa) sau mỗi lần bú

- Không nịt chặt vú: khi vú bị nịt chặt sẽ ức chế quá trình tạo sữa, do vậy, phải hướng dẫn, động viên để các bà mẹ chuẩn bị áo quần cho hợp lý để mặc trong thời gian nuôi con

- Sinh đẻ có kế hoạch: những bà mẹ đẻ dày, đẻ nhiều, sức khỏe giảm sút, kinh tế

Trang 12

khó khăn, làm lụng vất vả, lo nghĩ nhiều nên có ảnh hưởng xấu đến quá trình bài tiết sữa Do đó sữa của những bà mẹ này không nhũng giảm về số lượng mà còn giảm về chất lượng

- Hạn chế dùng thuốc: Cần hạn chế dùng thuốc trong thời gian cho con bú vì: một

số thuốc làm giảm sự tạo sữa, một số thuốc bài tiết qua sữa dễ gây ngộ độc cho trẻ 1.1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

* Lợi ích đối với con:

- Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa và dễ hấp thu Sữa mẹ có các chất kháng khuẩn Sữa mẹ vô khuẩn, trẻ bú trực tiếp ngay, vi khuẩn không có điều kiện phát triển nên trẻ ít bị tiêu chảy

- Sữa mẹ có nhiều IgA chế tiết, nhất là trong sữa non IgA chế tiết thường không hấp thụ mà ở lại hoạt động trong lòng ruột để chống lại một số vi khuẩn như E.coli và virus Sữa mẹ có lactoferin (protein gắn sắt) có tác dụng kìm khuẩn: không cho các vi khuẩn cần sắt phát triển

- Sữa mẹ có lysozym với hàm lượng cao hơn hàng ngàn lần so với sữa bò, có tác dụng diệt khuẩn và virus

- Các đại thực bào trong sữa mẹ có khả năng bài tiết lysozym, lactoferin và thực bào (ăn) nấm Candida và các loại vi khuẩn, nhất là các vi khuẩn Gram âm gây viêm ruột hoại tử cho trẻ sơ sinh (clostridium, klebsiella) Do sữa mẹ có đặc tính kháng khuẩn, nên

tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của trẻ em bú mẹ thấp hơn trẻ nuôi nhân tạo

- Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng

- Gắn bó tình cảm mẹ con: NCBSM đã giúp cho bà mẹ và đứa trẻ hình thành mối quan hệ gần gũi yêu thương, trẻ ít quấy khóc Trẻ bú mẹ thường trí tuệ phát triển tốt hơn, thông minh hơn trẻ ăn sữa bò

* Lợi ích đối với mẹ:

- Động tác trẻ bú mẹ ngay sau đẻ có tác dụng co hồi tử cung, cầm máu sau đẻ thông qua cơ chế bài tiết oxytocin

- Trong thời gian cho con bú, bà mẹ ít có khả năng có thai, do prolactin có tác dụng ức chế quá tình phóng noãn

- Cho con bú có thể giảm được ung thư cổ tử cung, ung thư vú và viêm tắc tuyến sữa cho bà mẹ

Trang 13

* Lợi ích đối với gia đình:

- Cho con bú là cách nuôi con đơn giản nhất đối với các bà mẹ

- Có thể cho con bú bất cứ lúc nào, kể cả ban đêm, bất cứ ở đâu

- Không mất thời gian, phương tiện, dụng cụ pha sữa phiền phức

- Tạo điều kiện cho mẹ có thời gian nghỉ ngơi, ăn uống bồi dưỡng, đảm bảo công tác gia đình và xã hội

- Không tốn kém tiền của để mua sữa bò và các dụng cụ cần thiết để pha sữa cho con ăn

* Lợi ích đối với xã hội:

- NCBSM giúp tiết kiệm chi phí chăm sóc sức khỏe

- Kinh phí cho y tế của một đất nước mà trẻ được bú mẹ hoàn toàn thấp hơn những nước mà trẻ không được bú mẹ hoàn toàn, vì phải tốn chi phí cho khám chữa bệnh

1.2 Cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn

1.2.1 Tầm quan trọng của việc cho trẻ bú sớm sau sinh

Theo WHO, bú sớm sau sinh là trẻ được bú trong vòng 1 giờ sau đẻ và bú mẹ hoàn toàn là trẻ chỉ bú mẹ, không ăn thêm bất kỳ thức ăn nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vacxin và các thứ thuốc cần thiết do chỉ định của thầy thuốc) [30]

Cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh đã được WHO và UNICEF khuyến nghị trên toàn cầu từ năm 1989 Các nghiên cứu sau đó đã cung cấp nhiều bằng chứng

về lợi ích của việc cho con bú sớm cũng như tạo điều kiện, hỗ trợ bà mẹ thực hiện được cho con bú ngay trong vòng 1 giờ sau sinh, vì thế khuyến nghị này đã được xem xét và cập nhật vào các năm 1998, 2007 cùng với việc khuyến khích cho trẻ tiếp xúc da kề da với mẹ ngay sau khi sinh Nhiều nghiên cứu đã khẳng định với các chăm sóc này đã giúp trẻ không bị lạnh, ít quấy khóc hơn và tăng cường mối tương tác mẹ -con và kết quả trở lại là giúp việc cho con bú sớm thành công hơn [26], [28]

* Sữa non là kháng sinh tự nhiên cho trẻ sơ sinh

- Mẹ được khuyến khích cho cho trẻ bú sớm khi có thể Những giọt sữa đầu đời này không chỉ có lượng dưỡng chất hoàn hảo, sữa non còn chứa tế bào sống được gọi là

Trang 14

kháng thể, có tác dụng kích thích cơ thể tạo ra kháng thể để bảo vệ cơ thể trẻ sơ sinh chống lại các tác nhân gây hại, các loại vi-rút, các vi khuẩn nhiễm bệnh, các bệnh mãn tính

- Sữa non có tác dụng như thuốc kháng sinh nhưng lại không có tác dụng phụ,

có thể được coi như là một loại vắc xin tự nhiên tuyệt đối an toàn Trẻ sẽ phát triển toàn diện cả về tinh thần và thể chất, không gặp phải các bệnh như sởi, tiêu chảy, các bệnh

về đường hô hấp, nếu trẻ được bú sữa hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời

* Sữa non phát triển não bộ của trẻ

- Một thành phần quan trọng khác có trong sữa non là ganglioside Đây là một nhóm chất béo rất quan trọng giúp bé phát triển trí não Ganglioside không chỉ giúp cho não bộ của bé sớm phát triển mà nó còn bảo vệ hệ thống đường ruột, chống viêm nhiễm đường ruột cho trẻ khi thu hút các vi khuẩn có hại và trung hòa chúng

* Sữa non hỗ trợ hệ thống tiêu hóa của trẻ hoạt động tốt

- Sữa non chứa ít chất béo, trẻ dễ dàng tiêu hóa và hấp thụ Chức năng phân giải thức ăn của ruột lúc này cũng chỉ mới hình thành Các chất dịch cần thiết như lactase hay enzyme cũng chỉ vừa mới bắt đầu được tiết ra Chất chống oxy hóa và immunoglobulin có trong sữa non không chỉ giúp trẻ tránh khỏi các triệu chứng xuất huyết và còn bảo vệ thành ruột non yếu của trẻ Vì vậy, sữa non là thực phẩm tốt nhất dành cho trẻ sơ sinh Sữa non còn có tác dụng nhuận tràng, khuyến khích cơ thể trẻ bài tiết ra phân xu tác động đến việc đào thải bilirubin dư thừa Trẻ được ngăn ngừa được bệnh vàng da, tránh mẫn cảm và dị ứng

- Do đó, cần phải giáo dục, động viên, khuyến khích để các bà mẹ cho trẻ mới đẻ

bú loại sữa non quý hiếm này càng sớm càng tốt, trong vòng 30-60 phút sau đẻ, xóa bỏ

đi quan niệm sai lệch cho rằng đây là loại sữa chua, nhạt nên vắt bỏ đi

1.2.2 Cách cho trẻ bú đúng cách

* Thời gian cho trẻ bú

- Cho trẻ bú ngay trong vong 1 giờ đầu sau sinh để tận dụng sữa non, kích thích sữa non xuống sớm và co hồi tử cung cho mẹ

- Cho trẻ bú theo nhu cầu, mỗi bữa bú kéo dài 15-20 phút, trung bình 2-3 giờ cho trẻ bú một lần (8-12 lần/24 giờ)

- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Trang 15

- Bắt đầu cho trẻ ăn dặm từ tháng thứ 6 và tiếp tục cho bú mẹ đến 24 tháng

- Nếu trẻ ốm không bú được thì vắt sữa và cho ăn bằng thìa hoặc cốc

* Cách bế trẻ khi bú

Hình 1 Cách bế trẻ

- Toàn thân trẻ đối diện và áp sát vào mẹ (da kề da)

- Mặt trẻ gần với vú, cằm trẻ chạm vào vú mẹ

- Miệng trẻ mở rộng, môi dưới của trẻ đưa ra ngoài

- Quầng vú phía môi trên của trẻ lộ ra nhiều hơn, quần vú phía môi dưới của trẻ

lộ ra ít hơn

- Trẻ mút vú chậm và sâu, nghe thấy tiếng trẻ nuốt

- Trẻ thỏa mãn, no và không quấy khóc vào cuối bữa bú

- Bà mẹ không bị đau núm vú

* Cách nâng bầu vú khi cho trẻ bú:

- Ngón tay cái để trên vú

- Các ngón tay còn lại tựa vào ngực phía dưới vú

- Ngón tay trỏ nâng vú

* Hướng dẫn bà mẹ giúp trẻ ngậm bắt vú đúng

- Giữ cho thân và đầu trẻ thẳng

- Mặt trẻ hướng về phía vú, mũi tương ứng với núm vú

- Thân trẻ áp sát vào người mẹ

- Nâng đỡ toàn bộ thân trẻ, không chỉ nâng cổ và vai

Trang 16

- Trước khi cho trẻ bú nên vắt bỏ vài giọt sữa đầu

- Bà mẹ cho nùm vụ chạm vào miệng trẻ

- Đợi khi miệng trẻ mở rộng, chuyển nhanh núm vú vào miệng trẻ, giúp trẻ ngậm sâu tới tận quầng vú

- Mút vú có hiệu quả là mút chậm, sâu, có nghỉ

Hình 2: Cách ngậm bắt vú của trẻ 1.2.3 Bảo vệ và duy trì nguồn sữa mẹ

* Chăm sốc hai bầu vú:

- Khi mang thai phải kiểm tra 2 bầu vú, nếu đầu vú tụt thì phải lau rửa, xoa bóp nhẹ và kéo ra hằng ngày cho đến khi sinh để trẻ có thể bú mẹ được dễ dàng hơn Công việc này nên làm từ tuần thứ 38, trước khi trẻ ra đời

- Vệ sinh đầu vú sạch trước khi cho trẻ bú bằng nước ấm, không rửa đầu vú bằng cồn hay xà phòng vì dễ làm khô da, dễ nứt gây nhiễm trùng

Nếu bầu vú bị nứt thì bôi kháng sinh hay vaselin, nhưng phải lau sạch trước khi cho trẻ bú Nếu bị áp xe vú thì phải vắt sạch hoặc bơm hút sữa hằng ngày, tránh ứ đọng sữa

* Đảm bảo dinh dưỡng cho người mẹ và các thực phẩm tăng khả năng tiết sữa

- Muốn có sữa cho con bú thì người mẹ ngay trong thời kig có thai cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, có chế độ nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái, giúp người mẹ tăng cân tốt (10-12kg), đó là nguồn dự trữ mỡ để sản xuất sữa sau khi sinh

- Trong thời kì NCBSM nhất là trong 6 tháng đầu, chế độ dinh dưỡng của bà mẹ

Trang 17

cần đảm bảo cho người mẹ tiết đủ sữa với chất lượng sữa tốt để NCBSM và duy trì tình trạng sức khỏe của chính mình

+ Chế độ ăn nhiều hơn về số lượng (đủ nhu cầu) và đảm bảo tính đa dạng thực phẩm (có ít nhất 5 trong 8 món thực phẩm bữa chính) Thức ăn dễ tiêu hóa, giàu năng lượng

+ Khẩu phần ăn cả ngày của bà mẹ cho con bú nên chia nhỏ thành nhiều bữa trong ngày (3-6 bữa/ngày)

+ Thực phẩm giàu năng lượng: protein (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ…), lipit, vitamin và khoáng chất (hoa quả, rau xanh…) và uống nhiều nước để có nhiều sữa cho con

+ Nên hạn chế các thức ăn gia vị như ớt, hành, tỏi vì nó qua sữa gây mùi khó chịu, trẻ dễ bỏ bú Và tránh các chất kích thích như rượu, bia, khói thuốc lá và các đồ uống có ga

- Khi cho con bú, nên hạn chế dùng thuốc vi một số thuốc bài tiết qua sữa có thể gây ngộ độc cho trẻ và làm giảm tiết sữa

1.3 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ

1.3.1 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã thừa nhận vai trò quan trọng của việc cho con

bú sớm sau sinh Tuy nhiên tỉ lệ cho con bú sớm sau sinh ở một số nơi trên thế giới còn rất thấp Theo thống kê của UNICEF được công bố tháng 04/2018, trên toàn cầu có 45% trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu Cụ thể ở các nước Đông Âu và Trung Á là 17%,

ở các nước Châu Á Thái Bình Dương là 33% và cao nhất là ở khu vực Mỹ La tinh, Caribe, Bắc và Đông Phi với 50% [26]

Theo kết quả nghiên cứu của Ayele Lenja và Cộng sự năm 2014 trên 396 bà mẹ tại miền Nam Ethiopia cho thấy có 85,6% bà mẹ có kiến thức về thực hành bú mẹ hoàn toàn nhưng chỉ có 78% cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 80,5% cho con bú lớn hơn 8 lần/ngày, 77% cho con bú sữa non, 52% trẻ được bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [23]

Theo cuộc khảo sát sức khỏe gia đình quốc gia của Ấn Độ, tỷ lệ trẻ em bú sữa

mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh ở nông thôn Ấn Độ là 21,5% và ở nông thôn Tây Bengal

là 24,5%; trong khi đó trong nghiên cứu tại Singur, Hooghly (Tây Bengal) năm 2009 là

Trang 18

34,2% Tương tự như vậy, một tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi từ 0 -5 tháng tuổi được bú sữa

mẹ là hơn 48,3% tại nông thôn Ấn Độ và 57,1% tại nông thôn Tây Bengal [22]

Các tác giả P Vijayalakshmi, T Susheela, D Mythili, thuộc Viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe tâm thần và khoa học thần kinh Bangalore, khi tiến hành khảo sát 122

bà mẹ sau khi sinh cho con tới khám và tiêm chủng tại một trung tâm y tế ở Ấn Độ vào tháng 01/2014 cho thấy có 88,5% bà mẹ thực hiện NCBSM Tuy nhiên chỉ có 27% thực hiện NCBSMHT và chỉ có 36,9% thực hiện cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu [31] Một nghiên cứu của Ấn Độ đã chỉ ra rằng, các bà mẹ không biết về thời điểm bắt đầu cho con bú và sữa non Chỉ có 92% và 70% phụ nữ trải qua sinh thường và sinh mổ lần lượt đưa ra phản ứng chính xác về thời gian bắt đầu cho con bú Mặc dù 92% bà mẹ biết rằng nên cho con bú sữa mẹ ngay sau khi sinh, nhưng chỉ có 36% trong số họ đã thực sự làm như vậy Nó cũng cho thấy rằng 52% bà mẹ không nhận được lời khuyên nào về việc cho con bú trong thời kỳ tiền sản Một nghiên cứu tương tự được thực hiện

ở phía Đông Nepal về kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ về việc cho con bú cho thấy rằng, mặc dù tất cả các bà mẹ đêu biết rằng họ phải cho bú nhưng họ không có kiến thức về thời điểm thích hợp và về cách cho con bú Không ai trong số các bà mẹ nhận được lời khuyên liên quan đến việc cho con bú và lợi ích của sữa non [28]

Theo kết quả nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành ở phụ nữ mang thai tại một bệnh viện giảng dạy ở Nepal, tầm quan trọng của sữa no đối vơi sức khỏe của trẻ em, 41% phụ nữ tin rằng sữa non giúp cho sự phát triển đúng đắn của trẻ và chống lại nhiễm trùng, 27% cho rằng sữa non giúp tăng cường sức khỏe nhưng không biết vai trò chính xác trong khi 31% phụ nữ không biết gì về sữa non và 1% phụ nữ nghĩ rằng sữa non có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ Trong tổng số người được hỏi, 71% biết rằng thời điểm thích hợp để cho trẻ ăn sữa non là ngay sau khi sinh và 29% còn lại không có ý kiến gì về việc này, 44% số người được hỏi có con trước đó trong đó 80% cho chúng ăn sữa non Cũng theo một nghiên cứu được thực hiện tại Ai Cập: 83,7% số người tham gia biết rằng sữa non làm tăng khả năng miễn dịch của em bé và 30,2% bà

mẹ cho biết đây là lần bảo vệ đầu tiên chống lại nhiễm trùng [28]

1.3.2 Tình hình chung cho trẻ bú sớm sau sinh của các thai phụ ở Việt Nam

Theo tạp chí Dinh dưỡng (The Journal of Nutrition) vào tháng 9 năm 2014, dựa trên kết quả khảo sát của Dự án Alive & Thrive – Nuôi dưỡng và Phát triển, đã xác định

Trang 19

được “Khoảng cách giữa nhận thức và áp dụng thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong cộng đồng các bà mẹ Việt Nam, là do không có sự hỗ trợ cần thiết trong các cơ sở y tế

và các quan niệm phổ biến trong cộng đồng” Theo báo cáo có 66% các bà mẹ hiểu ý ngĩa của việc bú mẹ hoàn toàn, nhưng chỉ có 34% hiểu được nhu cầu phải cho bé bú sớm ngay sau khi sinh

Theo thống kê điều tra Dinh dưỡng 2009-2010 do viện Dinh dưỡng Quốc gia thuộc Bộ Y tế thực hiện với sự giúp đỡ của UNUCEF tỷ lệ cho trẻ bú dưới 1 Giờ sau sinh là 76,2% và tỷ lệ cho trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ là 19,6% [20]

Với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến NCBSM trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh trì, Hà Nội năm 2014”, khoảng 2/3 (68%) số bà mẹ biết nên cho trẻ bú sớm ngay sau sinh và tỷ lệ các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh cũng tương đương (66,6%) [15]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm và Văn Hiển Tài (2012) tại An Giang cho thấy

tỷ lệ nhận thức đúng về việc cho trẻ bú sớm ngay sau sinh của các bà mẹ đạt 93,7% nhưng thực tế chỉ có 75% các bà mẹ cho trẻ bú ngay sau khi sinh [14]

Kết quả nghiên cứu” Nuôi con bằng sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh của các bà mẹ tại 2 bệnh viện ở Hà Nội năm 2011” của Trịnh Bảo Ngọc và cộng sự, cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ sớm trong một giờ sau sinh là 38,1% trong đó bệnh viện phụ sản là 29,4%, bệnh viện đa khoa sinh sản là 49,9% Có 15,9% các bà mẹ vẫn vắt sữa bỏ sữa non, trong đó ở bệnh viện đa khoa sản sinh là 10,3% Có sự liên quan giữa nuôi con bằng sữa mẹ, thời gian trẻ được về với mẹ, thời gian xuống sữa sau sinh, thời gian bà mẹ cảm thấy có thể cho con bú và tình trạng trẻ khi về với mẹ [11]

Trong những năm gần đây tỷ lệ NCBSM tại Việt Nam đã tăng lên tuy nhiên tỷ lệ này vẫn thấp Theo điều tra ban đầu về kiến thức, niềm tin và thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi tại 11 tỉnh của Viện nghiên cứu Y – Xã hội học phối hợp với Alive & Thrive (2012) tỷ lệ NCBSMHT trong toàn giảm từ 41,4% ở trẻ sơ sinh dưới 1 tháng tuổi tới chỉ còn 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi [19]

Số liệu từ tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010 cho thấy, chỉ 62% trẻ sơ sinh ở Việt Nam được bú mẹ ngay sau khi sinh Việt Nam hàng năm có khoảng 1,5 triệu trẻ

em được sinh ra như vậy khoảng 600 nghìn trẻ không được bú sữa mẹ ngay sau khi sinh

Trang 20

Có thể thấy sữa mẹ trong giờ đầu – nguồn vaxcin quý cho trẻ đã bị lãng phí

1.4 Một số yếu tố liên quan đến việc cho con bú ngay sau khi sinh của các thai phụ Mặc dù Bộ Y tế đã khuyến cáo “Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” và theo nghị quyết quyết định tăng thời gian nghỉ thai 6 tháng để người mẹ có điều kiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Tuy nhiên tỷ lệ NCBSMHT vẫn còn thấp do một số rào cản vẫn tồn tại Đó chính là nhận thức sai lầm cho rằng “Bà

mẹ chưa có sữa để cho trẻ bú ngay sau sinh và không có đủ lượng sữa để cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu” của bà mẹ và người nhà Chính những nhận thức sai lầm này đã ngăn cản các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ theo khuyến cáo Thực hành NCBSM bị cản trở bởi nhiều yếu tố: sữa mẹ không đủ dinh dưỡng hoặc quan niệm sai lầm về sữa mẹ của bạn bè và gia đình; thiếu các phương tiện công cộng để giải thích tầm quan trọng của NCBSM và sự phóng đại về lợi ích của sữa công thức do nhà sản xuất đưa ra Tại một số trung tâm y tế, thậm chí ở một số bệnh viện lớn vẫn tồn tại thực trạng các bà mẹ đang mang thai hoặc sau khi sinh được nhân viên y tế khuyên nên cho trẻ sử dụng thêm sữa ngoài Và thực trạng gia đình đem theo sữa bột khi đưa thai phụ sắp sinh đến cơ sở y tế đang rất phổ biến ở hầu hết các gia đình Việt Nam hiện nay [8] Cũng theo báo cáo “Chăm sóc Mẹ & Con Philips – triển vọng toàn cầu cho con bú năm 2011”, tại các nước Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Ai Cập… về việc dừng cho trẻ

bú khi đang ở nhà là lượng sữa cung cấp giảm, việc cho trẻ bú khiến bà mẹ bị đau núm

vú, thiếu thời gian cần thiết cho con bú do phải quay trở lại làm việc, tâm lý e ngại khi phải cho con bú bên ngoài nhà,… Việc làm này vừa làm tiêu tốn kinh phí cho gia đình, vừa mất đi nguồn dinh dưỡng quý báu của đứa trẻ

Nhóm nguyên nhân cũng rất quan trọng đó chính là từ phía cộng đồng, ít người dân tin rằng bà mẹ có thể đủ sữa cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng, trong khi đó lại tin tưởng vào việc cho ăn bổ sung sớm sẽ làm cho trẻ cứng cáp Có 4 khó khăn được nêu ra làm cản trở việc NCBSMHT Theo nghiên cứu của Lưu Ngọc Hoạt, những khó khăn cản trở NCBSMHT trong 6 tháng đầu là: mẹ thiếu sữa, bà mẹ cần sự hỗ trợ của người thân để có thời gian nghỉ ngơi, tập quán NCBSM có bổ sung thêm một số loại nước uống khác và sự phóng đại của sữa công thức Khó khăn mẹ thiếu sữa có lẽ là vấn đề của nhiều địa phương chứ không riêng gì của mẫu nghiên cứu Người thân có vai trò rất lớn trong việc hỗ trỡ bà mẹ và đặc biệt là có tác động lớn đến quyết định nuôi dưỡng trẻ

Trang 21

nhỏ của bà mẹ [8]

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuống sữa ngay sau sinh của các bà mẹ như: + Trạng thái tâm lý của người mẹ: cáu giận, kích thích, lo lắng, sợ hãi và bối rối

+ Trẻ bú kém do tư thế sai, bà mẹ chưa có kiến thức về nuôi con, tự ti vì mình ít sữa nên chỉ cho trẻ bú trong một thời gian ngắn rồi cho trẻ ăn thêm sữa ngoài Hoặc do

bà mẹ mới cho trẻ bú đau rát đầu vú nên trẻ bú được một lúc rồi bà mẹ chủ động ngừng cho con bú

+ Bà mẹ đang bị căng thẳng tinh thần do các yếu tố công việc, gia đình dẫn đến

bà mẹ lo âu, căng thẳng không tập trung cho con bú

+ Đau vú hoặc tử cung khi cho trẻ bú làm mẹ ngại khi cho bú (đau núm vú, đau bụng sau sinh…)

+ Thiếu chất dinh dưỡng: bà mẹ sau sinh lo ngại về vóc dáng, ăn kiêng và có suy nghĩ tiêu cực vì sữa không đủ chất nên không cho con bú

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các thai phụ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Thai phụ đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Thai phụ có tuổi thai > 28 tuần

+ Thai phụ có khả năng nhận thức và giao tiếp tốt để trả lời các câu hỏi

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Các thai phụ từ chối tham gia nghiên cứu

+ Các thai phụ không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi

+ Các thai phụ trong tình trạng cấp cứu

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian: từ tháng 1/2022- tháng 5/2022

Địa điêm: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định 2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu:

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

Chọn 100 thai phụ đến khám tại bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định trong thời gian

từ 1/3 đến 30/3 năm 2022 đáp ứng tiêu chuẩn chọn

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu:

Công cụ thu thập số liệu

Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên các tài liệu sau:

 Bộ Y Tế (2014), “Quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ”, quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 của Bộ Y Tế

 Mai Anh Đào theo tài liệu Nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Bộ Y tế năm 2015

- Phiếu khảo sát gồm 3 phần:

 Phần I: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: từ câu A1 đến câu A9

 Phần II: Kiến thức về việc cho con bú ngay sau khi sinh: từ câu B1 đến câu B7

 Phần III: Thái độ về việc cho con bú ngay sau khi sinh: từ câu C1 đến câu C6

Trang 23

Tiến trình thu thập số liệu

- Bước 1: Lựa chọn các thai phụ đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu

- Bước 2: Các thai phụ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin phiếu khảo sát

- Bước 3: Khảo sát kiến thức và thái độ của các thai phụ về việc cho con bú ngay sau sinh bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu khảo sát Thời điểm phỏng vấn thai phụ đi khám thai định kỳ tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định Tiêu chuẩn đánh giá

Cách tính điểm dựa theo: Bùi Thị Huế “Thực trạng kiến thức thái độ cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định năm 2020” [3]

- Kiến thức về việc cho trẻ bú sớm ngay sau sinh: Thai phụ tham gia trả lời phỏng vấn với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời không đúng hoặc không biết được 0 điểm Thai phụ trả lời đúng dưới 70% (dưới 5 câu) là kiến thức chưa đạt, trả lời đúng từ 70% trở lên là kiến thức đạt

- Thái độ về việc cho trẻ bú sớm ngay sau sinh: Thai phụ tham gia trả lời phỏng vấn với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời không đúng hoặc không biết được 0 điểm Thai phụ trả lời đúng dưới 70% (dưới 4 câu) là kiến thức chưa đạt, trả lời đúng từ 70% trở lên là kiến thức đạt

- Xác định đúng/sai dựa trên những nội dung về NCBSM trong các tài liệu chính thống, hiện hành trong nước gồm:

 Tài liệu nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Bộ Y tế (2015)

 Bộ Y Tế (2014), “Quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong

và ngay sau đẻ”, quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 của Bộ

Y Tế

2.3 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mềm SPSS 16.0

- Tính các giá trị phần trăm, sử dụng các test thống kê cho các kiểm định thích hợp

Trang 24

2.4 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.4.1 Những sai số trong quá trình nghiên cứu:

- Sai số thông tin do đối tượng không hiểu rõ nội dung câu hỏi

- Sai số do quá trình nhập số liệu, xử lý số liệu bằng máy tính

2.4.2 Cách khắc phục sai số:

- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, nội dung dễ hiểu

- Điều tra viên được tập huấn kỹ thuật trước khi thu thập: phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa để đối tượng hợp tác đảm bảo tính trung thực

- Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra số liệu trước khi phân tích

- Với sai số trong quá trình nhập và xử lý số liệu: sau khi đã thu thập đầy đủ thì tiến hành làm sạch và nhập 2 lần riêng biệt sau đó so sánh với nhau tìm ra sự khác biệt

và sửa chữa

2.5 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

 Việc nghiên cứu được sự chấp thuận và cho phép của hội đồng khoa học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và lãnh đạo bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định

 Đây là nghiên cứu mô tả không ảnh hưởng tính mạng thai phụ Các thai phụ trong nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, lợi ích của nghiên cứu và ký vào bản hợp đồng chấp thuận Các thai phụ có quyền từ chối không tham gia phỏng vấn bất cứ lúc nào

 Thông tin người bệnh tham gia nghiên cứu được giữ bí mật, lưu giữ và chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của thai phụ tham gia nghiên cứu

Tại thời điểm nghiên cứu, có 100 sản phụ tham gia nghiên cứu, trong đó có 3 thai phụ nhóm tuổi dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ 3%, có 36 thai phụ nhóm tuổi từ 20-25 tuổi chiếm tỷ lệ 36%, có 44 thai phụ nhóm tuổi từ 26-30 tuổi chiếm tỷ lệ 44%, có 13 thai phụ nhóm tuổi 31-35 tuổi chiếm tỷ lệ 13%, có 4 thai phụ nhóm tuổi >35 tuổi chiếm tỷ lệ 4%

Trang 26

Bảng 3.1: Phân bố nơi cư trú, trình độ học vấn và mức thu nhập của thai phụ

Trong nghiên cứu, thai phụ có trình độ học vấn là Trung học phổ thông chiếm tỷ

lệ cao nhất 55%, sau là thai phụ có trình độ Trung cấp-Cao đẳng chiếm tỷ lệ 25%, còn lại là các thai phụ có trình độ Trung học cơ sở và Đại học- sau Đại học chiếm tỷ lệ bằng nhau là 10%

Về mức thu nhập, đa số các thai phụ tham gia nghiên cứu có mức thu nhập trung bình chiếm tỷ lệ 95%, còn lại 5% các thai phụ có mức thu nhập nghèo

Trang 27

Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của thai phụ Phân bố nghề nghiệp của thai phụ tham gia nghiên cứu, có 14 thai phụ là nông dân chiếm tỷ lệ 14%, có 55 thai phụ là công nhân chiếm tỷ lệ 55%, có 13 thai phụ là công chức, viên chức chiếm tỷ lệ 13% và tỷ lệ các thai phụ làm các công việc khác: Nội chợ, buôn bán, tự do là 18%

Biểu đồ 3.3 Số lần sinh của thai phụ

Về số lần sinh của thai phụ, đa số các thai phụ tham gia nghiên cứu là sinh con lần đầu với tỷ lệ 62%, các thai phụ sinh con lần thứ 2 chiếm 29% và còn lại 9% là các thai phụ sinh con lần thứ 3 trở lên

Trang 28

Biểu đồ 3.4 Nguồn thông tin của thai phụ Với kết quả nghiên cứu thu được, đa số nguồn thông tin tư vấn giáo dục sức khỏe

từ các bộ nhân viên y tế là nguồn thông tin các thai phụ tin tưởng và mong muốn nhận được nhiều nhất, chiếm tỷ lệ cao 49.92%, tiếp theo là từ nguồn thông tin đại chúng chiếm tỷ lệ 25,92% và cuối cùng là người thân chiếm tỷ lệ 4,56% Tuy nhiên vẫn còn không ít các thai phụ chưa được nghe hoặc chưa biết đến việc cho con bú ngay sau sinh chiếm tỷ lệ 20%

3.2 Kiến thức của thai phụ về cho con bú sớm sau sinh

3.2.1 Kiến thức về việc nuôi con bằng sữa mẹ của thai phụ

Bảng 3.2: Kiến thức về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ

Qua bảng 3.2 cho thấy: đa số các thai phụ có kiến thức đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ 74% và các thai phụ có kiến thức chưa đúng chiếm 26%

4.56

49.52 25.92

20

Người thân Nhân viên y tế Thông tin đại chúng Chưa được nghe

Trang 29

Bảng 3.3: Kiến thức về sữa non của thai phụ tham gia nghiên cứu

Sữa ngay sau khi sinh là sữa gì

Khái niệm sữa non

Sữa non được tiết ra trong 3 ngày đầu sau

sinh, sữa sánh đặc và có màu vàng nhạt

Sữa non chứa nhiều chất đạm hơn sữa

Bảng 3.4: Kiến thức về thời gian cho trẻ bú sớm của thai phụ

Ngày đăng: 03/02/2023, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bùi Thị Huế. Thực trạng kiến thức, thái độ cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện phụ sản tỉnh Nam Định (2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ cho con bú ngay sau sinh của các thai phụ đến khám tại bệnh viện phụ sản tỉnh Nam Định
Tác giả: Bùi Thị Huế
Năm: 2020
12. Nguyễn Thanh Trường và cộng sự (2019), Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2019, Tạp chí Y tế công cộng, số 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2019
Tác giả: Nguyễn Thanh Trường và cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y tế công cộng
Năm: 2019
14. Nguyễn Thị Tâm và Văn Hiển Tài (2012). Nghiên cứu tình hình NCBSM trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại Huyện Phú Tân tỉnh An Giang năm 2012, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình NCBSM trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại Huyện Phú Tân tỉnh An Giang năm 2012
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm, Văn Hiển Tài
Nhà XB: Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh An Giang
Năm: 2012
16. Phạm Văn Tùng. Thay đổi nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ của ccas bà mẹ có con từ 0-6 tháng tuổi tại Thành phố Nam Định Năm 2017 sau can thiệp giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ của ccas bà mẹ có con từ 0-6 tháng tuổi tại Thành phố Nam Định Năm 2017 sau can thiệp giáo dục
Tác giả: Phạm Văn Tùng
Năm: 2017
19. UNICEF Việt Nam và Alive & Thrive Việt Nam. “ Sữa mẹ - món quà vô giá cho cuộc sống” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sữa mẹ - món quà vô giá cho cuộc sống
21. Almroth S &Arts M, Quang ND, Hoa PT, Williams C (2008), "Exclusive breastfeeding in Vietnam: an attainable goal", Acta Paediatr, 97(8), tr. 9-1066 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exclusive breastfeeding in Vietnam: an attainable goal
Tác giả: Almroth S &Arts M, Quang ND, Hoa PT, Williams C
Năm: 2008
22. Alotaibi M.H (2012),"Impact of Work on Pattern of Breast Feeding", Middle East Journal of Family Medicine, 10(9), tr. 33-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Work on Pattern of Breast Feeding
Tác giả: Alotaibi M.H
Năm: 2012
23. Ayele Lenja, Tsegaye Demissie, BereketYohannes and Mulugeta Yohannis (2016). Determinants of exclusive breastfeeding practice to infants aged less than six months in Offa district. International Breastfeeding Journal,11-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of exclusive breastfeeding practice to infants aged less than six months in Offa district
Tác giả: Ayele Lenja, Tsegaye Demissie, Bereket Yohannes, Mulugeta Yohannis
Nhà XB: International Breastfeeding Journal
Năm: 2016
24. Bandyopadhyay M (2009), "Impact of ritual pollution on lactation and breastfeeding practices in rural West Bengal, India", International Breastfeeding Journal, 4(1), tr.27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of ritual pollution on lactation and breastfeeding practices in rural West Bengal, India
Tác giả: Bandyopadhyay M
Năm: 2009
30. Modupe Rebekah Akinyinka, Foluke Ad nike Olatona. Esther Oluwakemi Oluwole (2016). Breastfeeding Knowledge and Practices among Mothers of Children under 2 Years of Age Living in a Military Barrack in Southwest Nigeria. Int J MCH AIDS.2016; 5(1): 1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Breastfeeding Knowledge and Practices among Mothers of Children under 2 Years of Age Living in a Military Barrack in Southwest Nigeria
Tác giả: Modupe Rebekah Akinyinka, Foluke Ad nike Olatona, Esther Oluwakemi Oluwole
Nhà XB: Int J MCH AIDS
Năm: 2016
1. Bộ Y tế (2015). Tài liệu đào tạo Nuôi dưỡng trẻ nhỏ cho Cán bộ Y tế công tác trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em tại các tuyến. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác
8. Lưu Ngọc Hoạt, Lê Thị Hương, Lê Thị Thanh Xuân (2010), Kiến thức về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ Hà Nội năm 2010 – Các rào cản và yếu tố thúc đẩy. Tạp chí Y học Thực hành (723), số 6/2010 Khác
9. Mai Anh Đào và cộng sự (2018). Một số yếu tố liên quan đến thực hành về việc cho con bú sớm sau sinh của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại 4 xã thuộc thành phố Nam Định năm 2018, Tạp chí khoa học Điều dưỡng,2(3) Khác
10. Mai Thị Mai Hương (2020). Thực trạng kiến thức và thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của sản phụ tại bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2020, báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Khác
11. Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc (2013). Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật của trẻ em từ 5 – 6 tháng tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên năm 2013, Tạp chí y học thực hành (886) số 11/2013 Khác
13. Nguyễn Thị Ngọc Anh và Hoàng Thị Lan, Nghiên cứu tình hình NCBSM trong 6 tháng đầu tại thành phố Hội An, Tạp chí y dược học, Trường Đại học Y dược Huế Khác
15. Nguyễn Việt Dũng (2014). Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội, năm 2014, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Khác
17. Trương Hoàng Mối và cộng sự (2012). Khảo sát kiến thức và thực trạng về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con rạ đang điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện An Giang, Đề tài cấp cơ sở, Bệnh viện An Giang Khác
18. Từ Mai (2008). Tìm hiểu thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng Viện Dinh Dưỡng. Tạp Chí DDTPJournal Food Nutr Sci, 5(2) Khác
20. Viện Dinh dưỡng - Bộ y tế (2012). Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng 2009- 2010.Tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w