1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế trung tâm y tế huyện thanh miện năm 2022

50 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế trung tâm y tế huyện Thanh Miện năm 2022
Tác giả Phạm Thị Hằng
Người hướng dẫn ThS. Đặng Thị Hân
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng Nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm bông, băng, gạc, găng tay, các chất thải không sắc nhọn khác thấm, dính, chứa máu của cơ thể, chứa vi sinh vật gây bệnh; vỏ lọ vắc xin thuộc lo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

PHẠM THỊ HẰNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ CHẤT THẢI

Y TẾ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ

HUYỆN THANH MIỆN NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

PHẠM THỊ HẰNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ CHẤT THẢI

Y TẾ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ

HUYỆN THANH MIỆN NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS ĐẶNG THỊ HÂN

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu thực hiện chuyên đề, tôi đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy/cô giáo tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và các đồng nghiệp tại Trung tâm y tế huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, gia đình và bạn bè

Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đó, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

- Ban Giám Hiệu Nhà trường, phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, các phòng ban và các thầy/cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã truyền đạt cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

- ThS Đặng Thị Hân, giảng viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người cô đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp

- Ban Giám đốc Bệnh viện, Phòng Kế hoạch - Tài chính - Điều dưỡng và các đồng nghiệp tại Trung tâm y tế huyện Thanh Miện đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện

để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, bạn bè và tập thể lớp CKI Điều dưỡng - khóa 9, chuyên ngành Nội đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Nam Định, ngày tháng năm 2022

Học viên

Phạm Thị Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “Thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế Trung tâm y tế huyện Thanh Miện năm 2022” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả khảo sát sử dụng trong chuyên đề là hoàn toàn trung thực Kết quả khảo sát này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước tới nay

Nam Định, ngày tháng năm 2022

Người cam đoan

Phạm Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

1.3 Các quy định hiện hành 16

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 17

2.1 Thông tin chung về Trung tâm y tế huyện Thanh Miện 17

2.2 Thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế 18

2.2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 18

2.2.2 Kết quả khảo sát 20

Chương 3: BÀN LUẬN 28

3.1 Thực trạng của vấn đề 28

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 28

3.1.2 Thực trạng kiến thức quản lý CTYT của NVYT tại Trung tâm y tế 29

3.2 Những thuận lợi và khóa khăn trong vấn đề quản lý CTYT của NVYT 32

3.2.1 Thuận lợi 32

3.2.2 Khó khăn 32

3.2.3 Cách giải quyết/ khắc phục vấn đề 33

KẾT LUẬN 35

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Nhân viên y tế Trung tâm y tế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2: Một số bệnh lây nhiễm, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm khi tiếp xúc

với chất thải y tế lây nhiễm 11

Bảng 2.1 Thông tin chung của NVYT 20

Bảng 2.2 Kiến thức về một số khái niệm CTYT của NVYT 21

Bảng 2.3 Kiến thức về màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chất thải y tế 22

Bảng 2.4 Kiến thức phân loại chất thải theo quy định 23

Bảng 2.5 Kiến thức về thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm 24

Bảng 2.6 Kiến thức về thời gian lưu giữ chất thải 25

Bảng 2.7 Kiến thức về Các biện pháp giảm thiểu chất thải y tế 25

Bảng 2.8 Kiến thức về chất thải rắn được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế 26

Bảng 2.9 Kiến thức về tác hại CTYT 27

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn của NVYT 21 Biểu đồ 2.2 Kiến thức về chất thải lây nhiễm bao gồm 22 Biểu đồ 2.3 Kiến thức về tần suất thu gom chất thải lây nhiễm 24

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chất thải y tế đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là “tất cả chất thải được tạo ra trong các cơ sở y tế, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm liên quan đến các thủ thuật y tế; bao gồm cả các loại rác thải tương tự phát sinh từ các nguồn và nhà phân tán khác” [16] Chất thải y tế là chất thải nguy hại, nhiều thành phần khác nhau có chứa nhiều mầm bệnh, vi khuẩn, các chất độc hại gây cháy nổ, ăn mòn da… chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra tác động xấu đối với môi trường sống Khâu xử lý phát sinh ra các khí độc hại: SOx, NOx ,CO2, dioxin, furan… Các chất này nếu không được xử lý đúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh cũng như sức khỏe của con người [2], [4]

Ngày nay, trên thế giới công tác bảo vệ môi trường sống được đặt ra như một vấn đề sống còn của loài người Riêng về lĩnh vực quản lý chất thải đã thu hút được sự chú ý của tất cả các nước Tại Nam Phi một loạt các chính sách quốc gia được áp dụng

để quản lý chất thải y tế như: đạo luật 108 năm 1996, đạo luật Chất lượng Không khí

39 năm 2004, đạo luật Chất thải 59 năm 2008 liên quan đến quá trình cấp phép cho các hoạt động chất thải cụ thể, bao gồm chất thải y tế ở Cộng hòa; tiêu chuẩn Quốc gia Nam Phi về Quản lý Chất thải Chăm sóc Sức khỏe: đề cập đến tất cả các khía cạnh của quản lý chất thải y tế từ khâu phát sinh đến xử lý chất thải và cũng bao gồm hướng dẫn đào tạo nhân viên [13]

Tại Việt Nam, Thông tư 20/2021/TT-BYT ban hành ngày 26/11/2021 quy định

về quản lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế đã hướng dẫn chi tiết về quản lý chất thải y tế [2] Đặc biệt trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid hiện nay, mới đây nhất ngày 10/5/2022 Bộ Y tế đã có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Y tế về việc tăng cường công tác quản lý chất thải y tế trong phòng chống dịch COVID-19

Trong thông tư quy định về quản lý chất thải y tế, Cục quản lý môi trường y tế

có trách nhiệm tổ chức đào tạo, tập huấn, truyền thông, phổ biến cho viên chức, người lao động và các đối tượng có liên quan các quy định về quản lý chất thải y tế [2] Thực

tế cho thấy: kiến thức, thực hành của nhân viên y tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý chất thải y tế Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy kiến thức, thực hành

Trang 10

quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế chưa cao Nghiên cứu tại một cơ sở y tế ở quận Waterberg năm 2013 cho thấy chỉ có 43% nhân viên y tế có kiến thức đầy đủ về việc quản lý chất thải y tế đúng cách [13] Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Thu năm 2021: có 10% nhân viên biết loại chất thải nào cần phải xử lý ban đầu trước khi đưa đến nơi tập trung rác thải, 56.6% nhân viên biết cách thu gom kim tiêm đúng sau sử dụng, 50% nhân viên biết thời gian lưu giữ rác thải sau sử dụng [8]

Trung tâm y tế huyện Thanh Miện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; cung cấp các dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; dân số -

kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật cho cán bộ

và nhân dân trong địa bàn huyện Thanh Miện và một số xã của các huyện lân cận như Ninh Giang, Gia Lộc, Tiên Lữ Theo số liệu thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, mỗi ngày có khoảng 320 lượt người bệnh đến khám và điều trị nội trú là 185 người

Do đó, số lượng chất thải y tế là không nhỏ, để có số liệu thống kê làm bằng chứng khoa học cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức quản lý chất thải

y tế của nhân viên y tế, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế Trung tâm y tế huyện Thanh Miện năm 2022” nhằm hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế Trung tâm y tế huyện Thanh Miện năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế Trung tâm y tế huyện Thanh Miện

Trang 11

1.1.1.2 Quản lý chất thải y tế (QLCTYT)

Là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [2]

Phân định chất thải y tế: [2]

Chất thải lây nhiễm bao gồm:

Chất thải lây nhiễm sắc nhọn bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ, các vật sắc nhọn khác đã qua sử dụng thải bỏ có dính, chứa máu của cơ thể hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm bông, băng, gạc, găng tay, các chất thải không sắc nhọn khác thấm, dính, chứa máu của cơ thể, chứa vi sinh vật gây bệnh; vỏ lọ vắc xin thuộc loại vắc xin bất hoạt hoặc giảm độc lực thải bỏ; chất thải lây nhiễm dạng lỏng (bao gồm dịch dẫn lưu sau phẫu thuật, thủ thuật y khoa, dịch thải bỏ chứa máu của cơ thể người hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh);

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;

Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm

Trang 12

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

Hóa chất thải bỏ có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất

Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;

Vỏ chai, lọ đựng thuốc hoặc hoá chất, các dụng cụ dính thuốc hoặc hoá chất thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thuỷ ngân, cadimi (Cd); pin, ắc quy thải bỏ; vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ thải bỏ

Dung dịch rửa phim X- Quang, nước thải từ thiết bị xét nghiệm, phân tích và các dung dịch thải bỏ có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại

Chất thải y tế khác có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất

Chất thải y tế rắn thông thường bao gồm:

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt thường ngày của nhân viên y tế, người bệnh, người nhà người bệnh, học viên, khách đến làm việc và các chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế (trừ chất thải sinh hoạt phát sinh từ khu vực cách ly, điều trị người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm)

Hóa chất thải bỏ không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại

Vỏ chai, lọ đựng thuốc hoặc hoá chất, dụng cụ dính thuốc hoặc hoá chất không thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc không có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất

Vỏ lọ vắc xin thải bỏ không thuộc loại vắc xin bất hoạt hoặc giảm độc lực, chất thải sắc nhọn không lây nhiễm, không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại;

Chất thải lây nhiễm sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại; tro, xỉ từ lò đốt chất thải rắn y tế không có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại

Trang 13

Nước thải y tế gồm nước thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn trong cơ sở y

tế Trường hợp nước thải sinh hoạt thải chung vào hệ thống thu gom nước thải y tế thì được quản lý như nước thải y tế

Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế: [2]

Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế quy định như sau: Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm;

Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm;

Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường; Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế

Bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không làm bằng nhựa PVC

Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng Thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng

Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu chứa sau khi đã được làm sạch và để khô

Phân loại chất thải y tế

Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:

Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;

Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa

Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm và tiếp tục thực hiện quản lý theo tính chất của chất thải sau xử lý

Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:

Tại khoa, phòng, bộ phận: bố trí vị trí phù hợp, an toàn để đặt bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa để phân loại chất thải y tế

Trang 14

Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải

Phân loại chất thải y tế lây nhiễm:

Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi

Phân loại chất thải y tế nguy hại không lây nhiễm:

Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng

có lót túi và có màu đen

Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín

Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh

Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng

Phân loại chất thải rắn thông thường:

Chất thải rắn thông thường không sử dụng để tái chế: đựng trong túi hoặc thùng hoặc thùng có lót túi và có màu xanh Chất thải sắc nhọn đựng trong dụng cụ kháng thủng; Chất thải rắn thông thường sử dụng để tái chế: đựng trong túi hoặc thùng hoặc thùng có lót túi và có màu trắng

Phân loại chất thải lỏng không nguy hại: chứa trong dụng cụ đựng chất thải lỏng có nắp đậy kín, có tên loại chất thải lưu chứa

Thu gom chất thải y tế: [2]

Thu gom chất thải lây nhiễm:

Cơ sở y tế quy định luồng đi và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp

để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở

y tế

Trang 15

Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ ở gần nơi phát sinh chất thải để loại bỏ mầm bệnh bằng thiết bị khử khuẩn Đối với cơ sở y tế không có thiết bị khử khuẩn chất thải, trước khi thu gom túi đựng chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải buộc kín miệng túi và tiếp tục bỏ vào túi đựng chất thải lây nhiễm thứ 2, buộc kín miệng túi và bỏ vào thùng thu gom chất thải lây nhiễm, bên ngoài thùng có dán nhãn

“CHẤT THẢI CÓ NGUY CƠ LÂY NHIỄM CAO”, được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải lây nhiễm để xử lý hoặc chuyển cho đơn vị có chức năng xử lý theo quy định

Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày

Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01 (một) lần/tháng Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:

Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thuỷ ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp, bảo đảm không bị rò rỉ, phát tán hơi thuỷ ngân ra môi trường

Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân: Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường

Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng

Lưu giữ chất thải y tế: [2]

Cơ sở y tế bố trí khu vực lưu giữ chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế đáp ứng các yêu cầu sau:

Trang 16

Bệnh viện và cơ sở y tế xử lý chất thải y tế theo mô hình cụm phải có khu vực lưu giữ chất thải y tế đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định

Cơ sở y tế không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a Khoản này lưu giữ chất thải y tế đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Mục B Phụ lục số 03 ban hành kèm theo Thông 20/2021 BYT - BTNMT

Từng loại chất thải phải được lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế, trừ trường hợp các loại chất thải này có cùng tính chất, không có khả năng gây phản ứng, tương tác lẫn nhau và có khả năng xử lý bằng cùng một phương pháp

Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:

Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ không quá

02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh ở nhiệt độ dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa không quá 07 ngày; Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử lý theo

mô hình cụm hoặc xử lý tập trung, phải xử lý ngay trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày;

Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín

Thời gian lưu giữ chất thải nguy hại không lây nhiễm:

Thời gian lưu giữ không quá 01 năm kể từ thời điểm phát sinh chất thải Trường hợp lưu giữ quá 01 năm do chưa có phương án vận chuyển, xử lý hoặc chưa tìm được

cơ sở xử lý chất thải nguy hại phù hợp thì cơ sở y tế phải báo cáo bằng văn bản riêng hoặc kết hợp trong báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế hằng năm của đơn vị cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 13 Thông tư này và cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật

Đối với các cơ sở y tế ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo khó khăn, không

có biện pháp xử lý phù hợp thì chất thải lây nhiễm sắc nhọn được lưu giữ an toàn trong

bể bê tông trong khuôn viên cơ sở y tế sau khi đã xử lý tiệt khuẩn chất thải và phải có biển cảnh báo tại khu vực lưu giữ chất thải

Trang 17

Giảm thiểu chất thải y tế: [2]

Cơ sở y tế phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải y tế sau đây:

Mua sắm, lắp đặt, sử dụng vật tư, thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên, vật liệu phù hợp với nhu cầu sử dụng

Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động chuyên môn y tế và các biện pháp khác để giảm thiểu phát sinh chất thải y tế

Có biện pháp, lộ trình và thực hiện hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, túi ni lông khó phân huỷ nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải nhựa

Phân loại chất thải nhựa để tái chế hoặc xử lý theo quy định của pháp luật Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải;

Quản lý chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: [2]

Chỉ được phép tái chế chất thải y tế thông thường

Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm

Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường

Quản lý, vận hành công trình, thiết bị, hệ thống xử lý chất thải y tế: [2]

Cơ sở y tế tự xử lý chất thải y tế hoặc xử lý theo mô hình cụm phải vận hành thường xuyên công trình, thiết bị, hệ thống xử lý chất thải y tế theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường và tuân thủ các quy định của pháp luật về giám sát, quan trắc môi trường

Công trình, thiết bị, hệ thống xử lý chất thải y tế phải được bảo trì, bảo dưỡng định kỳ theo hướng dẫn của nhà sản xuất và ghi đầy đủ thông tin vào Sổ nhật ký vận hành công trình, thiết bị, hệ thống xử lý chất thải y tế theo quy định tại Phụ lục số 05 ban hành kèm theo Thông tư 20/2021TTLT- BYT - BTNMT

Chuyển giao chất thải y tế: [2]

Cơ sở y tế không tự xử lý chất thải y tế phải thực hiện chuyển giao chất thải y tế theo các quy định sau đây:

Chất thải y tế nguy hại phải được chuyển giao cho đơn vị có giấy phép phù hợp theo quy định của pháp luật, số lượng chất thải sau mỗi lần chuyển giao phải được ghi

Trang 18

đầy đủ trong sổ giao nhận chất thải theo mẫu quy định tại Phụ lục số 06 ban hành kèm theo Thông tư này và sử dụng chứng từ chất thải nguy hại theo quy định;

Chất thải rắn thông thường được chuyển giao cho đơn vị có chức năng phù hợp

để vận chuyển, xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành

Đơn vị nhận chuyển giao chất thải y tế phải thực hiện vận chuyển theo quy định, không làm thất thoát chất thải y tế ra bên ngoài Chất thải y tế phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường

Cơ sở y tế thực hiện xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm do ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt; việc bàn giao chất thải y tế để

xử lý theo mô hình cụm phải được ghi vào sổ giao nhận chất thải y tế nguy hại theo mẫu quy định tại Phụ lục số 06 ban hành kèm theo Thông tư 20/2021TTLT- BYT - BTNMT

1.1.1.3 Tác hại của chất y tế [4]

Đối với sức khỏe

Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương, khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau

Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại có trong rác thải y tế

Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm

Các chất chứa đồng vị phóng xạ

Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương

Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ:

Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy

cơ tiềm tàng bao gồm những người làm trong các cơ sở y tế, những người làm nhiệm

vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong khâu quản lý và kiểm soát chất thải

Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, Viêm gan B Các tác nhân

Trang 19

này có thể thâm nhập vào cơ thể qua các cách thức sau:

Qua da, một số vết thương, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây tổn thương

Qua niêm mạc màng nhầy

Qua đường hô hấp do hít phải, qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải

Bảng 1.2: Một số bệnh lây nhiễm, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm khi tiếp

xúc với chất thải y tế lây nhiễm Bệnh lây nhiễm Tác nhân gây bệnh Đường lây nhiễm Đường tiêu hóa Salmonella, Shigella spp,

Vibrio Cholerae

Phân và / hoặc chất nôn

Đường hô hấp Mycobacterium tuberculosis,

Streptoccuc pneumoniae

Nước bọt, đường thở

Da Streptococcus spp Mủ vết thương Bệnh than Bacillus anthracis Tiếp xúc qua da Viêm màng não Nesseria meningtidis Dịch não tủy Viêm gan virus A Virus viêm gan A Phân

Viêm gan virus B,C Virus viêm gan B, C Máu và dịch cơ thể

Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:

Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc trung bình mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tốt như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế có thể xảy

ra trong lúc chuẩn bị trong quá trình điều trị các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc

ở dạng bụi hoặc ho qua đường hô hấp bị hấp thụ qua do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm độc

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kì đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp DNA hoặc quá trình phân

Trang 20

bào nguyên phân Nhiều loại thuốc có độc tính cao và gây nên hậu quả hủy hoại cục

bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây ra chóng mặt buồn nôn đau đầu hoặc viêm da

Nguy cơ từ chất thải phóng xạ:

Loại bệnh và hội chứng: gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là hội chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, nôn một cách bất thường Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm là một loại độc hại với tế bào, gen Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao Ví dụ nhu nguồn phóng xạ của các thiết bị chẩn đoán như X-Quang, máy chụp cắt lớp…có thể gây ra một loạt các thương tổn chẳng hạn như phá hủy các mô nhiều khi gây ra bỏng cấp tính

Các nguy cơ từ những loại chất thải có chứa các đồng vị có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa do khoảng thời gian lưu giữ của các loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom

và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với các chất thải có chứa các loại đồng vị phóng

xạ này là những người có nguy cơ cao

Tính nhạy cảm xã hội:

Bên cạnh việc lo ngại đối với những mới nguy cơ gây bệnh của chất thải rắn y

tế tác động đến sức khỏe, cộng đồng thường rất nhạy cảm với những ấn tượng tâm lý, đặc biệt là khi nhìn thấy chất thải thuộc về giải phẫu, các bộ phận cơ thể bị cắt bỏ trong kĩ thuật như chi, dạ dày, các loại khối u, rau thai, bào thai, máu…

Đối với môi trường:

Đối với môi trường đất:

Khi chất thải y tế được chôn lấp không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

Đối với môi trường không khí:

Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác đông xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hoặc dung môi hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý phát sinh ra các khí độc hại: NOx, SOx, Dioxin… từ lò đốt và CH4,

Trang 21

NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Trên thế giới

Quản lý chất thải y tế là một phần không thể thiếu của các chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn và vệ sinh tại các cơ sở y tế [15] Trong những năm gần đây, việc phát sinh chất thải bệnh viện đã tăng đáng kể do gia tăng dân số, số lượng các cơ sở y

tế và việc sử dụng các sản phẩm y tế dùng một lần Tuy nhiên, việc quản lý của chất thải y tế vẫn chưa được tổ chức ở hầu hết các nước đang phát triển trên toàn thế giới, nguyên nhân do thiếu nhận thức, thực hiện luật pháp yếu kém, sự tham gia của các bên liên quan còn mờ nhạt và nguồn tài chính, kỹ thuật [11] Mặc dù vậy, quản lý chất thải

y tế đã và đang thu hút sự chú ý lớn đối với các nhà chức trách những năm gần đây do nhận thức của cộng đồng ngày càng được nâng cao Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 75 đến 90% chất thải được tạo ra trong các cơ sở y tế có thể được coi

là không nguy hiểm trong khi phần còn lại 10 đến 25% bao gồm các loại chất thải truyền nhiễm, phóng xạ, độc hại hoặc chất độc di truyền yêu cầu việc xử lý phức tạp hơn Quản lý chất thải y tế an toàn và khoa học có trở nên rất quan trọng khi nói đến bảo tồn môi trường và công sức khỏe [16] Bước đầu tiên trong việc quản lý chất thải y

tế là tách chúng thành chất thải thông thường, chất thải lây nhiễm, chất thải sắc nhọn, v.v., sau đó là xử lý một cách khoa học [16] và phân loại chất thải là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quản lý chất thải Do vậy, trong khuôn khổ chuyên đề này, chúng tôi cũng tập trung tìm hiểu, đánh giá kiến thức và thực hành của NVYT về vấn đề phân loại chất thải y tế đúng như bước đầu tiên của quy trình quản lý chất thải

y tế

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 8 đến 16 triệu trường hợp mới nhiễm vi rút Viêm gan B (HBV), 2,3-4,7 triệu trường hợp nhiễm vi rút Viêm gan C (HCV) và 80.000–160.000 trường hợp nhiễm vi rút suy giảm miễn dịch ở người ( HIV) do tiêu hủy thuốc tiêm không an toàn và phần lớn là do hệ thống quản lý chất thải rất kém [15] Một đánh giá về Quản lý chất thải y tế ở các nước đang phát triển tại Châu Á đã đưa ra kết luận: Các quốc gia đang phát triển tại Châu Á thường không thực hiện quản lý chất thải y tế thích hợp Hơn nữa, tại các cơ sở y tế ở những

Trang 22

quốc gia này thiếu phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý rác thải an toàn Nghiên cứu cũng cho kết quả: sự thiếu hiểu biết của nhân viên và người xử lý đã dẫn đến việc xử lý chất thải không an toàn và gây ra các nguy cơ sức khỏe [10] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các quốc gia châu Á, chẳng hạn như Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan, thiếu các cơ sở xử lý chất thải thích hợp và các chương trình đào tạo [14] Do đó, để khắc phục tình trạng thiếu hụt này, cần có một chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức đúng đắn cho tất cả các nhân viên y tế tham gia vào quá trình xử lý và xử lý chất thải [10]

Nghiên tại một cơ sở y tế ở quận Waterberg vào năm 2013 cho thấy chỉ có 43% nhân viên y tế có kiến thức đầy đủ về việc quản lý chất thải y tế đúng cách và chỉ có 49% trong số NVYT thực hành “xử lý an toàn” chất thải y tế [13] Điều này cho thấy một thực tế kiến thức, thực hành của NVYT về quản lý chất thải y tế còn nhiều thiếu sót, cần có sự đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao kiến thức cho đối tượng trực tiếp làm công việc quản lý chất thải y tế này

1.2.2 Tại Việt Nam

Theo cục quản lý môi trường y tế, trong năm 2020; mỗi ngày các cơ sở y tế trong cả nước thải ra 800 tấn chất thải Trong đó, có khoảng 96 tấn chất thải y tế gây nguy hại Hiện nay tỷ lệ chất thải y tế rắn là 7,6 %/năm Dự tính tới 2025, lượng chất thải này sẽ tăng lên gần gấp đôi vào khoảng 1.000 tấn/ngày Lượng chất thải lỏng phát sinh tại các cơ sở y tế có giường bệnh hiện nay vào khoảng 300.000m3/ngày đêm, chưa

kể lượng nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược và sản xuất thuốc Dự tính tới năm 2025, lượng nước thải y tế sẽ tăng lên tới hơn 500.000 m3/ ngày đêm [1]

Tác giả Phan Thanh Lam nghiên cứu “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013” cho kết quả: Tỷ lệ thu gom riêng các loại chất thải đạt 57,4% Vận chuyển chất thải đúng tần suất đạt 63,6% Tất cả các đơn vị đều có khu vực lưu giữ riêng chất thải nhưng không có đơn vị nào có nơi lưu giữ đạt tiêu chuẩn, thời gian lưu giữ đúng đạt 54,1% Nghiên cứu cũng đưa ra các yếu tố thuận lợi chính trong công tác quản lý chất thải rắn y tế là có sự chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể của ngành y tế, sự ủng hộ của các cấp chính quyền, tuy nhiên, cũng còn khó khăn như cơ sở hạ tầng; kinh phí còn nhiều thiếu thốn, cần có sự quan tâm

Trang 23

đúng mực đến vấn đề này hơn nữa [6]

Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung (2012) đã đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế của NVYT tại 3 bệnh viện tuyến tỉnh và 3 bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho kết quả: công tác phân loại chất thải tại 3 bệnh viện tuyến huyện chỉ đạt tỷ lệ rất thấp từ 35%-40% so với quy định đề ra, còn tại 3 bệnh viện tuyến tỉnh tỷ lện này là 50%-70%; Các kết quả phỏng vấn cho thấy, đa phần các cán

bộ của các bệnh viện tuyến tỉnh đều đã được đào tạo về Quy chế quản lý chất thải y tế Song một số cán bộ do ít được trau dồi nên cũng không thể nhớ và thực hiện tốt được Đối với các bệnh viện tuyến huyện thì kết quả trả lời không chính xác khá cao Mội bệnh viện thường chỉ có một cán bộ được đào tạo là nắm được quy định nhưng chưa đầy đủ do không được tập huấn thường xuyên [3]

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huynh tại bệnh viện E, Hà Nội năm

2016 đánh giá việc quản lý CTYT theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT qua việc đánh giá cơ sở vật chất, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế Kết quả nghiên cứu cho thấy: về cơ sở vật chất phục vụ quản lý CTYT của bệnh viện còn thiếu, nhân viên thực hiện sai quy định Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ các chất thải chưa cao Một số khâu tỷ lệ trả lời đúng còn thấp, ví dụ như: tỷ lệ NVYT đạt kiến thức chung về QLCT là 76,3%, kiến thức về thu gom đạt 66,2%, tỷ lệ thực hành phân loại chất thải là 78,9% Về các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố: kinh phí, sự quan tâm của lãnh đạo, tập huấn, kiểm tra giám sát ảnh hưởng đến hoạt động QLCTYT [5]

Tác giả Tạ Thị Phương nghiên cứu “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021” cho kết quả:

Tỷ lệ CTRYT được phân loại ngay tại nguồn phát sinh tương đối cao với 90,0 % và tỷ

lệ CTRYT được phân loại ngay tại thời điểm phát sinh là 85,1%; có 80,8 % lượt quan sát CTRYT được phân loại đúng chung Cụ thể: kết quả tỷ lệ lượt phân loại đạt chung đối với nhóm CTRYT lây nhiễm sắc nhọn là cao nhất với 97,1%, tỷ lệ này đối với nhóm CTRYT giải phẫu là 95,2%, đối với nhóm CTRYT lây nhiễm không sắc nhọn là 91,6%, đối với nhóm CTRYT nguy hại không lây nhiễm là 71,6%, đối với nhóm CTRYT thông thường tái chế 69,6% và thấp nhất là đối với nhóm CTRYT không tái chế với 64,9% Tỷ lệ phân loại CTRYT đạt chung ở các khoa/đơn vị/trung tâm thuộc

Trang 24

khối Cấp cứu (70,0%) tiếp đến là ở khối Sản (67,5%), các khối Phụ và Trung tâm gần với tỷ lệ chung và tỷ lệ phân loại CTRYT thấp nhất ở khối Cận lâm sàng 57,8% Qua nghiên cứu cho thấy vẫn còn một số lượng khá lớn các CTYR chưa được phân loại đúng (phân loại là khâu đầu tiên trong quản lý chất thải y tế), do đó cần có sự can thiệp, biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý CTYT của NVYT [7]

Tác giả Hoàng Thị Thu (2021) nghiên cứu kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế tại Bệnh viện Bạch Mai: Đa số nhân viên y tế hiểu sai định nghĩa về chất thải y tế (73,3%) Kiến thức về phân loại đúng chất thải y tế vào dụng cụ chứa đựng còn hạn chế, đa số phân loại không chính xác Chỉ có 10% nhân viên biết loại chất thải nào cần phải xử lý ban đầu trước khi đưa đến nơi tập trung rác thải, 56,6% nhân viên biết cách thu gom kim tiêm đúng sau sử dụng Mặc dù có >70% NVYT thực hành phân loại đúng rác thải trong quy trình lấy máu làm xét nghiệm nhưng đây mới dừng lại ở 1 quy trình kỹ thuật nên cũng chưa đánh giá được thực hành quản lý chất thải của NVYT [8]

Qua những kết quả này đòi hỏi cần có những con số thống kê đầy đủ, những lớp đào tạo tập huấn nâng cao kiến thức quản lý chất thải cho NVYT, đây cũng là mục tiêu

mà chuyên đề chúng tôi nghiên cứu, qua chuyên đề này chúng tôi sẽ đưa ra các số liệu

và giải pháp nâng cao kiến thức quản lý chất thải y tế cho đội ngũ NVYT cụ thể tại Trung tâm y tế huyện Thanh Miện

kỹ thuật môi trường

Trang 25

Chương 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1 Thông tin chung về Trung tâm y tế huyện Thanh Miện

Trung tâm y tế huyện Thanh Miện là TTYT đa chức năng - trực thuộc Sở Y tế Hải Dương, được thành lập theo Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 20/6/2018 của

Ủy bân nhân dân Tỉnh Hải Dương về việc thành lập TTYT huyện Thanh Miện; trên cơ

sở sát nhập 3 đơn vị: Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện, Trung tâm Y tế dự phòng huyện Thanh Miện và Trung tâm Dân số -Kế hoạch hóa gia đình Trung tâm có chức năng khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; cung cấp các dịch vụ chuyên môn,

kỹ thuật về y tế dự phòng; dân số-kế hoạch hóa gia đình và các dịch cụ y tế khác theo quy định của pháp luật cho cán bộ và nhân dân trong địa bàn huyện Thanh Miện và một số xã của các huyện lân cận như Ninh Giang, Gia Lộc, Tiên Lữ TTYT được giao

190 giường bệnh kế hoạch, thực kê 245 giường bệnh, gồm 14 khoa/phòng và 17 trạm

Ngày đăng: 03/02/2023, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2021). Thông tư 20/2021/TT-BYT quy định quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế, ban hành ngày 26/11/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 20/2021/TT-BYT quy định quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2021
5. Nguyễn Văn Huynh (2016). Thực trạng quản lý chất thải y tế và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số trung tâm và khoa lâm sàng bệnh viện E năm 2016, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý Bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tế và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số trung tâm và khoa lâm sàng bệnh viện E năm 2016
Tác giả: Nguyễn Văn Huynh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2016
8. Hoàng Thị Thu (2021). Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai năm 2021, chuyên đề chuyên khoa 1, trường ĐH Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai năm 2021
Tác giả: Hoàng Thị Thu
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2021
11. Salman Zafar (2019). Medical waste management in developing countries, Bioenergy consult. [Accessed 12.06. 2022] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical waste management in developing countries
Tác giả: Salman Zafar
Nhà XB: Bioenergy consult
Năm: 2019
15. World Health Organization (2015). Waste from healthcare activities. (Fact Sheet No. 253). Geneva, Switzerland 2015.http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs253/en/ Link
1. Bộ Y tế, Cục Quản lý Môi trường bộ y tế (2021). Báo cáo vi phạm quy định xử lý chất thải y tế, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Thị Kim Dung (2012). Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, Luận văn thạc sĩ Khoa học môi trường, trường ĐH Khoa học tự nhiên Khác
4. Nguyễn Mạnh Dũng (2019). Kiểm soát nhiễm khuẩn, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Khác
6. Phan Thanh Lam (2013). Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế thuộc trung tâm y tế huyện gia lâm năm 2013, tạp chí y học thực hành, số 7 (876), 26-33 Khác
7. Tạ Thị Phương (2021). Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2021, Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng, trường ĐH Thăng Long Khác
10. Bilal Ahmed Khan and et al (2019). Healthcare waste management in Asian developing countries: A mini review, Waste management & research. 37(9), tr.863-875 Khác
12. Olaniyi FC, Ogola JS và Tshitangano TG (2018). A review of medical waste management in South Africa, Open Environmental Sciences. 10 (1) Khác
13. Mashao MS (2013). Knowledge and practices of health care workers on medical waste disposal at George Masebe Hospital, Waterberg District, Limpopo Province, South Africa Master’s diss Dept of Public Health, University of Limpopo, South Africa 2013; 34-6 (51) Khác
14. Ali, S, Mahmood, U, Malik, AU, et al. (2015). Current hospital waste management practices in Pakistan: Case study and curative measures. Public Health and Preventive Medicine 1: 125–129) Khác
16. WHO/UNICEF: Water, sanitation and hygiene in health care facilities: status in low- and middle-income countries. World Health Organization, Geneva, 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w