BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ------ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC TRẺ MẮC TAY CHÂN MIỆNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 T
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị TCM tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định a Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị TCM tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định b Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bà mẹ có bệnh nặng về thể chất và tinh thần
- Bà mẹ có con mắc các bệnh nặng phải hóa trị, xạ trị, lọc máu
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 02/2022- tháng 04/2022
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2021 - tháng 05/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, số 26 Hà Huy Tập, phường Trần Đăng Ninh, TP Nam Định.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
- Tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị TCM tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định trong thời gian khảo sát
Nghiên cứu tập trung vào nhóm mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi Nam Định từ tháng 02/2022 đến tháng 04/2022 Toàn bộ bà mẹ phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn, tổng cộng có 58 người, được chọn để phân tích và đánh giá.
2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
* Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ được xây dựng dựa trên đề tài nghiên cứu “Thay đổi kiến thức về bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng năm 2018” của tác giả Ngô Thị Phương Hoài, đã được sự đồng ý từ phía tác giả Bộ công cụ gồm 4 phần chính nhằm đảm bảo tính toàn diện và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Việc sử dụng bộ công cụ này giúp đo lường hiệu quả của các hoạt động giáo dục sức khỏe đối với kiến thức của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng Các phần của bộ công cụ được thiết kế rõ ràng, dễ sử dụng và phù hợp với đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu thu thập.
+ Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm 11 câu hỏi đánh số từ A1 đến A11
+ Phần B: Đánh giá kiến thức chung của bà mẹ về bệnh TCM bao gồm 12 câu hỏi: từ câu B1 đến câu B12
+ Phần C: Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc TCM từ câu C1 đến câu C7 + Phần D: Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh TCM từ câu D1 đến D7
*Nghiên cứu viên sử dụng phiếu khảo sát để phỏng vấn trực tiếp bà mẹ tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
Tiến trình thu thập số liệu
- Bước 1: Lựa chọn các bà mẹ đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Trong bước 2 của nghiên cứu, các bà mẹ được giới thiệu rõ về mục đích, ý nghĩa và phương pháp thực hiện nghiên cứu, đồng thời được truyền đạt quyền lợi khi tham gia Họ cũng được phổ biến về các hình thức tham gia khảo sát, đảm bảo hiểu rõ cách thức tham gia và hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trong phiếu khảo sát một cách chính xác và đầy đủ.
Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là khảo sát kiến thức của các bà mẹ về cách chăm sóc trẻ mắc TCM thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp Các bà mẹ sẽ tham gia phỏng vấn dựa trên phiếu khảo sát đã chuẩn bị sẵn để thu thập dữ liệu chính xác Phương pháp này giúp đánh giá mức độ hiểu biết của mẹ về cách chăm sóc trẻ mắc TCM một cách hiệu quả và toàn diện.
* Địa điểm phỏng vấn: tại buồng bệnh, thời gian phỏng vấn: 10 – 15 phút 2.2.5 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu Định nghĩa –
Loại biến Cách xác định Phương pháp TT Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Họ và tên Biến định danh Phỏng vấn
Tuổi Tính từ năm sinh đến năm 2022 dương lịch ( Biến liên tục)
Tỷ lệ % theo NT: ≤18 tuổi; 18-
Nơi cư trú Nơi sinh sống của bà mẹ (Biến định danh)
Tỷ lệ %: Thành thị và nông thôn Phỏng vấn
Cấp học cao nhất của bà mẹ (Định lượng thứ bậc)
Tỷ lệ % bà mẹ có TĐVH: Tiểu học, THCS, THPT, trung cấp – Đại học Sau đại học
Loại biến Cách xác định Phương pháp TT Nghề nghiệp
Công việc đang làm có thu nhập cao nhất (Biến định danh)
Tỷ lệ %: Nông dân, công nhân, CBCNV và khác như Tự do, nội trợ, buôn bán
Số con trong gia đình
Số trẻ hiện sống cùng bà mẹ ( Định lượng thứ bậc)
Tỷ lệ % : 1 con, 2 con, > 2 con Phỏng vấn
Hiện nay, kiến thức chung về bệnh TCM ở trẻ em cần phải bao gồm hiểu biết chính xác về nguyên nhân gây bệnh, các đường lây truyền, nhóm tuổi dễ mắc, các yếu tố nguy cơ góp phần phát triển bệnh, thời điểm trẻ thường mắc bệnh trong năm, các biểu hiện đặc trưng nhất của bệnh, cũng như nhận biết các biểu hiện nặng để có thể xử lý kịp thời.
Hiểu rõ kiến thức chăm sóc TCM của các bà mẹ là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ Các mẹ cần nhận biết dấu hiệu bệnh trở nặng để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế, đồng thời tuân thủ các biện pháp kiêng khem phù hợp Thời gian cách ly và phát hiện sớm các dấu hiệu bệnh giúp phòng tránh lây nhiễm hiệu quả Chế độ nuôi dưỡng cân đối, vệ sinh sạch sẽ và áp dụng các biện pháp phòng bệnh như rửa tay bằng xà phòng, vệ sinh đồ chơi và ăn uống hợp vệ sinh là yếu tố then chốt trong công tác chăm sóc trẻ Nắm vững kiến thức này giúp các bà mẹ chủ động bảo vệ sức khỏe trẻ em, hạn chế các biến chứng và tăng cường khả năng phòng bệnh tại nhà.
Yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh TCM bao gồm tỷ lệ phần trăm bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đạt và không đạt về phòng bệnh, dựa trên các yếu tố như độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú và số con trong gia đình Các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến mức độ nhận thức và thực hành phòng bệnh của các bà mẹ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bệnh TCM trong cộng đồng Việc tìm hiểu các yếu tố này giúp xây dựng các chiến lược tuyên truyền phù hợp, nâng cao kiến thức và thái độ của bà mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ.
Trong quá trình đánh giá kiến thức, bà mẹ tham gia trả lời phỏng vấn với mỗi ý đúng được tính 1 điểm, trong khi trả lời sai hoặc không biết được tính 0 điểm Tổng điểm kiến thức của bà mẹ sau đó được tính dựa trên số câu trả lời đúng, và điểm giới hạn để phân loại kiến thức là 60% Phương pháp đánh giá này dựa trên nghiên cứu của Hà Mạnh Tuấn [36], giúp xác định mức độ hiểu biết của bà mẹ một cách chính xác và khách quan.
Tổng điểm tối đa sau ba phần B, C, D là 45 điểm Bà mẹ đạt ít nhất 60% tổng điểm (tối thiểu 27 điểm) sẽ được xếp vào nhóm kiến thức đạt yêu cầu Ngược lại, bà mẹ có điểm thấp hơn mức này sẽ không đủ điều kiện được công nhận là có kiến thức đạt chuẩn.
< 60% (< 27 điểm ) thì được xếp vào loại kiến thức chưa đạt
Trong phần B, tổng số điểm là 15 điểm, và bà mẹ đạt kiến thức với điểm số từ 60% trở lên (ít nhất 9 điểm) sẽ được xếp vào loại kiến thức đạt, còn nếu dưới 60% (dưới 9 điểm) sẽ bị xếp vào loại kiến thức chưa đạt Phần C có tổng điểm là 14 điểm, và bà mẹ đạt từ 60% trở lên (ít nhất 8 điểm) sẽ được công nhận là có kiến thức đạt, trong khi nếu dưới 60% sẽ không đạt yêu cầu.
Điểm số dưới 8 điểm (tương đương dưới 60%) được xếp vào loại kiến thức chưa đạt, trong khi phần D có tổng điểm là 16 điểm Bà mẹ đạt kiến thức với điểm số từ 10 điểm trở lên (tương đương ≥ 60%) sẽ được xếp vào loại kiến thức đạt, còn nếu dưới 10 điểm thì sẽ không đạt Phương pháp phân tích số liệu là bước quan trọng để đánh giá chính xác mức độ hiểu biết của bà mẹ.
- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mền SPSS 16.0
- Tính các giá trị phần trăm, sử dụng các test thống kê cho các kiểm định thích hợp 2.2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng đề cương của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phê duyệt, thể hiện sự đồng ý của nhà trường đối với đề tài nghiên cứu Đồng thời, dự án nghiên cứu cũng nhận được sự chấp thuận chính thức từ Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, đảm bảo tính hợp lệ và hỗ trợ về mặt thực tiễn.
Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích của nghiên cứu cho các bà mẹ và mời họ tham gia Họ chuẩn bị sẵn mẫu đồng ý tham gia để các bà mẹ ký xác nhận, đồng thời khẳng định quyền từ chối tham gia nếu không đồng ý Nghiên cứu viên cam kết giữ bí mật thông tin và danh tính của người tham gia, trong đó tên của các bà mẹ sẽ được mã hóa bằng số để đảm bảo an toàn dữ liệu.
Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không nhằm mục đích nào khác
Quá trình nghiên cứu được thực hiện một cách an toàn, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường Các kết quả thu được chỉ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và nâng cao kiến thức của bà mẹ về bệnh tay chân miệng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi, nơi cư trú, trình độ học vấn của bà mẹ và số con Đặc tính Số lượng
Trung cấp, cao đẳng, đại học 22 37,9
Tại thời điểm nghiên cứu có 58 bà mẹ tham gia nghiên cứu, trong đó có 81% bà mẹ thuộc nhóm tuổi từ 18- 35 tuổi, 19% bà mẹ thuộc nhóm tuổi ≥ 35 tuổi
Về nơi cư trú, đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu ở nông thôn chiếm tỷ lệ là 72,4% và ở thành thị là 27,6%
Các bà mẹ có trình độ học vấn là trung cấp, cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ cao nhất 37,9%, sau đại học chiếm 13,8%
Biều đồ 3.1 Nghề nghiệp của các bà mẹ
Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ cho thấy, có khoảng 22% làm cán bộ viên chức và buôn bán, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số Các bà mẹ làm việc trong lĩnh vực khác cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, khoảng 10% Điều này phản ánh sự đa dạng trong cơ cấu nghề nghiệp của các bà mẹ, góp phần vào phân bổ nguồn lực nhân viên và ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình.
Bảng 3.2.Đặc điểm của trẻ
Nội dung Số lượng (n = 58) Tỷ lệ (%)
Số con trong gia đình
Tiêm chủng chưa đầy đủ 6 10,3
Tỷ lệ các gia đình có 1 con chiếm tỷ lệ 48,3% và các gia đình có nhiều hơn 2 con chiếm 43,1% và > 2 con chiếm 8,6%
Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ chiếm tỷ lệ cao 89,7%, tuy nhiên vẫn còn không ít trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ chiếm 10,3%
Làm nông Công nhân Cán bộ Buôn bán Nội trợ Khác
Bảng 3.3 Nguồn thông tin mẹ mong muốn được nhận Nguồn thông tin Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp 7 12,1
Thực trạng kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị TCM tại bệnh viện nhi tỉnh Nam Định
3.2.1 Kiến thức chung của các bà mẹ về bệnh TCM
Bảng 3.4 Bà mẹ đã nghe nói về TCM trước đây và sự lây lan của bệnh
Phương án trả lời Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Bà mẹ đã nghe nói về TCM trước đây
Bà mẹ cho biết bệnh TCM có lây hay không?
Trong tổng số 58.100 bà mẹ surveyed, đa số đã từng nghe nói về bệnh TCM, chiếm tỷ lệ 82,8% Ngoài ra, có đến 84,5% bà mẹ nhận thức rõ rằng bệnh TCM có tính chất lây nhiễm, cho thấy mức độ nhận thức cao về đặc điểm của bệnh trong cộng đồng.
Bảng 3.5 Kiến thức chung của bà mẹ về bệnh TCM ở trẻ
Kiến thức của bà mẹ về bệnh TCM Đúng
Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Nguyên nhân gây bệnh 17 35 Đường lây truyền 25 43,2
Lứa tuổi dễ mắc bệnh 18 31
Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy có 35% bà mẹ trả lời đúng về nguyên nhân gây bệnh, 43,2% bà mẹ hiểu chính xác về đường lây truyền của bệnh, và 31% bà mẹ nhận diện đúng lứa tuổi dễ mắc bệnh TCM.
Biểu đồ 3.2 Kiến thức đúng về yếu tố nguy cơ
Theo khảo sát, các yếu tố chính dẫn đến trẻ dễ mắc bệnh bao gồm việc đồ dùng của trẻ không vệ sinh, chiếm tỷ lệ 79,3%, và sàn nhà không đảm bảo vệ sinh với tỷ lệ 48,3% Việc giữ vệ sinh đồ dùng trẻ em là yếu tố cần thiết để giảm nguy cơ mắc bệnh cho trẻ Đồng thời, vệ sinh sàn nhà sạch sẽ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của trẻ nhỏ.
Bảng 3.6 Kiến thức về đặc trưng của bệnh TCM Dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Nổi bọng nước ở long bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông
Có rất ít bà mẹ biết “ nôn” cũng là biểu hiện đặc trưng của bệnh TCM và chiếm 12,1%
Tiếp xúc với người mắc bệnh có thể dẫn đến lây nhiễm nếu vệ sinh cá nhân không được duy trì đúng cách Các đồ dùng cá nhân của trẻ cần được giữ sạch sẽ để tránh lây nhiễm bệnh Ngoài ra, sàn nhà không đảm bảo vệ sinh cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh cho trẻ Việc duy trì vệ sinh cá nhân, đồ dùng sạch sẽ và môi trường sạch sẽ là cách phòng tránh hiệu quả các bệnh lây nhiễm cho trẻ nhỏ.
Kiến thức đúng về yếu tố làm cho trẻ dễ mắc bệnh Đúng Sai
Bảng 3.7 Kiến thức đúng về biểu hiện nặng của bệnh TCM
Biểu hiện nặng của bệnh
Viêm cơ tim, suy tim 23 39,7 35 60,3 58 100
Nghiên cứu cho thấy, kiến thức đúng về biểu hiện nặng của bệnh TCM của các bà mẹ chủ yếu liên quan đến viêm não, màng não chiếm 46,4%, và phù phổi cấp chiếm 15,5% Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức của các bà mẹ về các dấu hiệu cảnh báo nghiêm trọng của bệnh TCM để kịp thời xử lý và giảm thiểu biến chứng.
Bảng 3.8 Kiến thức về phân biệt bệnh
Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) Phân biệt bệnh TCM với loét miệng
Phân biệt bệnh TCM với các bệnh phát ban da (thủy đậu, viêm da, sốt phát ban)
Kết quả nghiên cứu trong bảng 3.8 cho thấy, kiến thức của các bà mẹ về khả năng phân biệt bệnh TCM với các bệnh khác còn hạn chế, đạt tỷ lệ 31% Đặc biệt, khả năng phân biệt bệnh TCM với các bệnh có triệu chứng phát ban như thủy đậu, viêm da, sốt phát ban còn thấp hơn, chỉ đạt 17,2%.
Bảng 3.9 Thực trạng kiến thức của các bà mẹ về kiến thức chung
Kết quả cho thấy các bà mẹ có kiến thức chung vẫn còn thấp chiếm 13,8%
3.2.2 Kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ
Bảng 3.10 Kiến thức đúng về dấu hiệu bệnh trở nặng cần đưa trẻ đến ngay đến cơ sở y tế (nX)
Dấu hiệu bệnh trở nặng cần đưa đến cơ sở y tế Đúng Sai Tổng
Sốt cao trên 39 o C, kéo dài
Trẻ giật mình khi ngủ 12 20,7 46 79,3 58 100
Trẻ vật vã li bì, đi loạng choạng, rung chi
Khó thở, tím tái, vã mồ hôi, chân tay lạnh
Nhiều bà mẹ nhận thức rõ về các dấu hiệu nặng của bệnh, trong đó sốt cao trên 39°C kéo dài trên 2 ngày chiếm đến 84,5%, cho thấy đây là dấu hiệu cảnh báo phổ biến Trong khi đó, trẻ giật mình khi ngủ là dấu hiệu ít gặp nhất, chỉ chiếm 20,7%, phản ánh nhận thức chưa đầy đủ về các biểu hiện nghiêm trọng của bệnh Ngoài ra, kiến thức đúng về chế độ kiêng khem, thời gian cách ly và xử trí khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ bệnh đang được cập nhật rõ ràng (theo bảng 3.11), góp phần nâng cao kỹ năng chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ.
Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) Chế độ kiêng khem
Thời gian cách ly trẻ bị bệnh
Kiến thức xử trí khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ bệnh Đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế 23 39,7
Theo bảng 3.11, chỉ có 6,9% bà mẹ trả lời “không kiêng gì cả” khi trẻ mắc TCM Phần lớn mẹ (53,5%) lựa chọn cách cách ly bệnh trong vòng 10-14 ngày để đảm bảo an toàn cho trẻ Ngoài ra, có 39,7% các bà mẹ chọn “đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế” khi trẻ có dấu hiệu của bệnh TCM, thể hiện sự quan tâm và ý thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ mắc bệnh.
Biểu đồ 3.3.Các biện pháp chăm sóc trẻ
Theo khảo sát, có đến 94,8% các bà mẹ thường rửa tay bằng xà phòng và nước sạch khi chăm sóc trẻ để đảm bảo vệ sinh an toàn Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ cao đến 58,6% bà mẹ thường đến quầy thuốc mua thuốc bôi da cho trẻ, thể hiện sự chủ động trong chăm sóc và phòng tránh các vấn đề về da cho bé Trong khi đó, chỉ có 1,7% bà mẹ chọn phương án không làm gì và vẫn cho trẻ sinh hoạt bình thường, cho thấy sự quan tâm lớn của các phụ huynh về sức khỏe và vệ sinh của trẻ nhỏ.
Biểu đồ 3.4 Chế độ nuôi dưỡng cho trẻ mắc TCM
Trong chế độ chăm sóc của các bà mẹ cho trẻ mắc TCM, có đến 50% ưu tiên cho chế độ ăn lỏng, mềm, chia thành nhiều bữa nhỏ để dễ tiêu hóa và giảm tình trạng khó chịu Ngoài ra, khoảng 6,9% phụ huynh chọn chế độ ăn ít hơn bình thường nhằm hạn chế triệu chứng của TCM ở trẻ.
Cho trẻ nghỉ học đến khi trẻ hết bệnh Ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, ăn chín uống sôi
Rửa tay bằng xà phòng với nước sạch khi chăm sóc trẻ
Rửa sạch đồ chơi, vận dụng, sàn nhà Đến quầy thuốc để mua thuốc bôi da cho trẻ
Không làm gì cả, vẫn cho trẻ sinh hoạt bình thường
Tỷ lệ Ăn nhiều hơn bình thường Ăn lỏng, mềm, chia nhiều bữa nhỏ Ăn ít hơn bình thường
Bảng 3.13 Thực trạng kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ
Nội dung Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ có tỷ lệ đạt tương đối cao chiếm 58,6%
3.2.3 Kiến thức về phòng bệnh TCM của các bà mẹ
Biều đồ 3.5 Kiến thức về vaccine phòng bệnh và phòng ngừa bệnh TCM (nX)
Qua khảo sát, đa số các bà mẹ biết được bệnh TCM có thể phòng ngừa được chiếm 44,8% Và 62,1% bà mẹ biết rằng TCM chưa có vaccine phòng bệnh
Có Không Đã có vaccin phòng bệnh chưaBệnh có thể phòng ngừa được không?
Bảng 3.14 Kiến thức đúng phòng bệnh về thời điểm rửa tay của các bà mẹ và trẻ
Tỷ lệ (%) Thời điểm rửa tay của mẹ
Trước khi chế biến thức ăn cho trẻ 41 70,7 17 29,3
Trước khi cho trẻ ăn 31 53,4 27 46,6
Trước khi bế ẵm trẻ 26 44,8 32 55,2
Sau khi đi vệ sinh 39 67,2 19 32,8
Sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ
Thời điểm rửa tay của trẻ
Sau khi tiếp xúc với đồ vật, đồ chơi
Sau khi ho, hắt hơi vào tay 41 70,7 16 27,6
Khi thấy trẻ tay bẩn 25 56,9 25 43,1
Hầu hết các bà mẹ đều có kiến thức về thời điểm phù hợp để rửa tay cho bà mẹ nhằm bảo vệ sức khỏe cho trẻ Tuy nhiên, chỉ có 44,8% mẹ biết rõ về thời điểm rửa tay trước khi bế ẵm trẻ để phòng tránh bệnh truyền nhiễm Việc rửa tay đúng thời điểm, đặc biệt trước khi chăm sóc hoặc bế trẻ, đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm cho trẻ nhỏ Các bà mẹ cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc rửa tay đúng cách để đảm bảo an toàn sức khỏe cho bé yêu của mình.
“Sau khi tiếp xúc với đồ chơi, đồ vật” chiếm tỷ lệ cao 86,2% và “thời điểm rửa tay cho trẻ trước khi ăn” là 55,2%
Bảng 3.15 Kiến thức về dung dịch ngâm rửa đồ dùng để phòng bệnh
Dung dịch để ngâm rửa đồ dùng
Qua khảo sát nhận thấy các bà mẹ sử dụng nước Javel làm dung dịch ngâm rửa đồ dùng cho trẻ chiếm tỷ lệ 44,8%
Biểu đồ 3.6 Kiến thức đúng về phòng bệnh cho trẻ (nX)
Bà mẹ hiện nay đã nắm được kiến thức đúng về các biện pháp phòng bệnh TCM, trong đó phổ biến nhất là lau sạch đồ chơi, vận dụng và sàn nhà bằng nước xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường chiếm tỷ lệ lần lượt là 87,9% Ngoài ra, kiến thức về việc “không dùng chung đồ cá nhân” cũng được nhiều bà mẹ hiểu rõ, chiếm tỷ lệ 56,9%, góp phần nâng cao hiệu quả phòng bệnh cho trẻ.
Bảng 3.16 Thực trạng kiến thức phòng bệnh TCM của các bà mẹ
Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Qua khảo sát, thực trạng kiến thức phòng bệnh TCM của các bà mẹ chiếm tỷ lệ khá cao là 60,3%
Cách ly trẻ bị bệnh, cho trẻ nghỉ học Không dùng chung đồ cá nhân Rửa tay bằng xà phòng nhiều lần trong ngày
Lau sạch đồ chơi, vận dụng, sàn nhà bằng nước xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường
Xử lý triệt để phân, chất thải ĐúngSai
3.2.4 Thực trạng kiến thức của ĐTNC
Bảng 3.17 Thực trạng kiến thức của ĐTNC
Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Kết quả nghiên cứu thu được: có 58,6% bà mẹ xếp loại kiến thức chưa đạt và 41,4 % bà mẹ kiến thức đạt
3.2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức với một số đặc điểm về nhân khẩu học
*Làm nông, buôn bán, nội trợ, khác…
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa tuổi của bà mẹ với kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM Tuy nhiên, trình độ học vấn, nghề nghiệp và số con của bà mẹ ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nguồn thông tin với kiến thức về cách chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ
Nguồn thông tin từ Kiến thức OR
Sách báo tờ rơi, tạp chí
Bảng 3.19 cho thấy có mối liên quan rõ ràng giữa nguồn thông tin của bà mẹ và kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM Sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy nguồn thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ.
BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi của bà mẹ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kiến thức chăm sóc trẻ sơ sinh Theo kết quả trong bảng 3.1, đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu nằm trong độ tuổi sinh đẻ từ 18-35 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là 81% Ngoài ra, nhóm tuổi trên cũng có mặt, góp phần đa dạng hóa dữ liệu về kiến thức chăm sóc trẻ của các bà mẹ trong nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, nhóm bà mẹ 35 tuổi chiếm tỷ lệ chưa đến 20%, nhưng độ tuổi này được xem là trưởng thành và nhạy bén, giúp họ dễ dàng tiếp thu thông tin về hỏi bệnh và chăm sóc trẻ mắc TCM Đề tài được thực hiện tại một bệnh viện tại thành phố, với phần lớn các bà mẹ cư trú tại thành phố và vùng lân cận, tuy nhiên, theo bảng 3.1, tỷ lệ bà mẹ sống ở nông thôn chiếm đến 72,4%, trong khi chỉ có 27,6% cư trú tại thành thị.
Trình độ học vấn của mẹ đóng vai trò quan trọng trong khả năng tiếp nhận thông tin tư vấn sức khỏe về bệnh TCM Kết quả khảo sát cho thấy, các bà mẹ có trình độ từ trung cấp, cao đẳng đến đại học chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,9% Tiếp đó, là các bà mẹ có trình độ THPT với tỷ lệ 25,9%, trình độ THCS chiếm 22,7%, và các bà mẹ sau đại học chiếm 13,8%.
Các bà mẹ trong nghiên cứu chủ yếu làm các nghề nghiệp như cán bộ công chức và buôn bán, đều chiếm tỷ lệ 22% Nội trợ chiếm 20%, trong khi đó, nghề làm nông dân và công nhân đều chiếm tỷ lệ 13%, còn các công việc khác chiếm 10% Đa số bà mẹ có từ 1 – 2 con, chiếm tỷ lệ 91,4%, thể hiện sự thành công của công tác kế hoạch hóa gia đình tại Nam Định nhằm nuôi dạy con cái tốt hơn.
Tiêm chủng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh, giúp trẻ tăng cường đề kháng và chống lại các bệnh tật Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ là 89,7%, trong khi vẫn còn 10,3% chưa tiêm chủng đầy đủ do nhiều nguyên nhân như trẻ bị ốm hoặc ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến các mẹ hạn chế cho trẻ ra ngoài Nhân viên y tế cần đẩy mạnh công tác tư vấn về lợi ích và lịch trình tiêm chủng để các mẹ chủ động cho trẻ đi tiêm sau khi khỏi bệnh Trong đó, nguồn thông tin từ cán bộ y tế được các mẹ tin tưởng và mong đợi nhất, chiếm tỷ lệ 44,8%, bởi họ có kiến thức, kỹ năng truyền đạt rõ ràng và dễ hiểu về chăm sóc trẻ mắc bệnh.
Thức trạng kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh nhi tỉnh Nam Định năm 2022
4.2.1 Kiến thức chung của các bà mẹ về bệnh TCM
Hiện nay, chưa có vắc xin phòng ngừa và thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh TCM, do đó kiến thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh và hạn chế sự lây lan trong cộng đồng Theo nghiên cứu của chúng tôi, 82,8% các bà mẹ đã từng nghe về bệnh TCM và 84,5% biết đó là bệnh truyền nhiễm, nhưng chỉ mới nghe tên bệnh mà chưa hiểu rõ về nguyên nhân, đường lây truyền, yếu tố nguy cơ, các dấu hiệu cũng như biến chứng nguy hiểm mà bệnh có thể gây ra cho trẻ nhỏ.
Bệnh TCM chủ yếu do nhóm virus đường ruột Enterovirus gây ra, đặc biệt là Coxsackie A16 và Enterovirus 71 Theo bảng 3.6, có 35% các bà mẹ nhận biết đúng nguyên nhân gây bệnh TCM là do virus, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Hoài Phương năm 2018, chỉ có 19,1% Virus gây bệnh TCM lây lan rất nhanh qua đường tiêu hóa, chủ yếu từ nước bọt, dịch tiết và phân của trẻ mắc bệnh Kết quả bảng 3.5 cho thấy 43,2% bà mẹ biết về đường lây truyền qua đường tiêu hóa, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Cao Thị Thúy Ngân với 19,2% bà mẹ không biết về cách lây truyền Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe, cần lưu ý nhà ở cũng là nguồn lây nhiễm bệnh TCM Trong số các yếu tố nguy cơ gây bệnh, 31% bà mẹ nhận biết đúng về lứa tuổi dễ mắc bệnh, đồng thời, để phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm của TCM, bà mẹ cần hiểu rõ các yếu tố nguy cơ như đồ dùng không vệ sinh (79,3%), tiếp xúc với người mắc bệnh (67,2%), vệ sinh cá nhân không đảm bảo (62,1%), và sàn nhà không sạch sẽ (48,3%) Những kết quả này đều cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Vân Hằng, cho thấy nhận thức của bà mẹ đã được nâng cao về các yếu tố nguy cơ gây bệnh TCM.
Theo nghiên cứu, các yếu tố nguy cơ phổ biến gồm tiếp xúc với người mắc bệnh (35,9%) và các yếu tố liên quan đến vệ sinh cá nhân của trẻ như không đảm bảo vệ sinh (28,2%) Gần 36% người dân nhận thức rõ về nguy cơ này, trong khi chỉ khoảng 2,56% gặp phải các yếu tố nguy cơ khác Để duy trì kiến thức dài lâu về các yếu tố nguy cơ này, việc truyền thông qua các kênh thông tin đại chúng là rất quan trọng, giúp nâng cao nhận thức của các bà mẹ về việc phòng tránh bệnh hiệu quả.
Biểu hiện đặc trưng của bệnh TCM ở trẻ thường gồm: nổi bọng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối và mông chiếm tỷ lệ cao đến 72,4%, kèm theo đó là đau họng, loét miệng với tỷ lệ 27,6%, nôn mửa chiếm 12,1%, và sốt nhẹ chỉ khoảng 8,3% Nghiên cứu cho thấy nhiều bà mẹ chưa nhận biết rõ nôn là biểu hiện đặc trưng của bệnh TCM, chủ yếu chú trọng các triệu chứng rõ ràng hơn, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ tại địa phương Việc phát hiện sớm các dấu hiệu ban đầu như nôn mửa giúp bà mẹ có thể tăng cường dinh dưỡng và tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, từ đó giảm nguy cơ bệnh trở nặng, biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.
Bệnh TCM thường không gây biến chứng nguy hiểm khi được phát hiện và điều trị kịp thời Tuy nhiên, các biến chứng như viêm não, viêm màng não chiếm tỷ lệ 46,6% ở trẻ em, cao hơn gần 1,5 lần so với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Luyện (27,5%) và (10,5%), trong khi phù phổi cấp chỉ chiếm 15,5%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 79% của nghiên cứu của Nguyễn Văn Luyện Do đó, việc giáo dục truyền thông cho các bà mẹ về các biến chứng nguy hiểm của bệnh TCM là rất cần thiết để tăng cường hiểu biết và chủ động trong công tác chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ.
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy chỉ có 31% bà mẹ có khả năng phân biệt bệnh TCM với viêm loét miệng, trong khi chỉ 17,2% bà mẹ nhận biết đúng các biểu hiện của bệnh TCM so với các bệnh phát ban da như thủy đậu, viêm da, sốt phát ban Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô Thị Hoài Phương về nhận thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng năm 2018, cho thấy tỷ lệ phân biệt bệnh TCM với các bệnh khác còn hạn chế Do đó, nâng cao kiến thức và nhận thức của bà mẹ về các biểu hiện của bệnh TCM là rất cần thiết để tránh nhầm lẫn và giúp xử trí kịp thời, hiệu quả.
Tỷ lệ này đạt 27,9% và 22,1%, phản ánh sự khác biệt do nghề nghiệp chủ yếu của hai nghiên cứu là buôn bán và cán bộ công chức Các bà mẹ trong các ngành nghề này có khả năng tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn đa dạng hơn, góp phần nâng cao mức độ hiểu biết và nhận thức về các vấn đề liên quan Understanding these patterns giúp nâng cao hiệu quả các chiến lược truyền thông và giáo dục về sức khỏe cho đối tượng mẹ đông đảo trong xã hội.
Qua 12 câu hỏi về bệnh TCM nghiên cứu đã cho kết quả: kiến thức chung về bệnh TCM của các bà mẹ còn thấp đặc biệt kiến thức về nguyên nhân, đường lây truyền, biểu hiện đặc trưng hay các biểu hiện nặng của bệnh Với kết quả nghiên cứu ở bảng 3.9 chỉ có 13,8% bà mẹ có kiến thức chung về bênh tay chân miệng đạt và có tới 86,2% bà mẹ có kiến thức chưa đạt Đây cũng là một hạn chế của đề tài, do thời gian nghiên cứu ngắn, cỡ mẫu nhỏ nên chưa thực sự có sự tư vấn cụ thể tới các bà mẹ.Với kết quả này nhóm nghiên cứu đề xuất cần có những nghiên cứu sâu hơn, với cỡ mẫu và thời gian lớn hơn để can thiệp, tư vấn, truyền thông tới các bà mẹ những kiến thức cơ bản nhất về bệnh để từ đó họ có cách phòng và chăm sóc cho trẻ tốt hơn
4.2.2 Kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM của các bà mẹ
Bệnh TCM sẽ không thực sự nguy hiểm nếu trẻ nhỏ được thăm khám và điều trị kịp thời, nhưng nếu không can thiệp sớm, có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng của trẻ Theo khảo sát, 84,5% bà mẹ biết rằng trẻ cần đi khám ngay khi sốt cao trên 39°C kéo dài hơn 2 ngày, trong khi đó 69% nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm như khó thở, tím tái, vã mồ hôi, chân tay lạnh Ngoài ra, 67,2% phát hiện khi trẻ vật vã, đi loạng choạng, rung chi, còn 48,3% nhận biết các biểu hiện nặng như nôn ói và 20,7% biết trẻ có thể giật mình khi ngủ Tuy nhiên, kết quả khảo sát này thấp hơn so với các nghiên cứu của Võ Thị Tiến và Tạ Văn Trầm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 90% trẻ mắc TCM có sốt cao, trong đó 50% mẹ biết đến triệu chứng ngủ giật mình Tuy nhiên, các dấu hiệu nặng như nôn ói và giật mình chỉ chiếm khoảng 22%, còn trẻ vật vã, đi loạng choạng, rung chi chiếm khoảng 54% Thái độ chăm sóc của mẹ đối với trẻ mắc TCM khác biệt so với các nghiên cứu trước, khi chỉ có 6,9% mẹ không kiêng cữ gì, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 30,9% của Ngô Thị Phương Hoài Nhiều mẹ kiêng tắm gội và vệ sinh hàng ngày vì nghĩ rằng điều này làm bệnh nặng hơn, mặc dù vệ sinh sạch sẽ rất cần thiết để tránh bội nhiễm nguy hiểm Ngoài ra, một số mẹ kiêng ăn do thương con, vì lo ngại các vết loét trong miệng gây đau đớn, khiến trẻ biếng ăn và dễ dẫn đến hạ đường huyết, làm bệnh chuyển biến nặng Hầu hết các bà mẹ đều nhận thức rõ việc cách ly trẻ (chiếm 91,4%), trong đó hơn 53,5% biết thời gian cách ly từ 10-14 ngày Sự khác biệt với nghiên cứu của Trần Thị Thùy Dương có thể do môi trường sống, khi phần lớn các mẹ trong nghiên cứu của cô sống ở thành phố (70%), gặp khó khăn trong việc cách ly, còn trong khảo sát này phần lớn mẹ ở nông thôn (72,4%), việc cách ly dễ thực hiện hơn Hiểu đúng về cách xử trí khi trẻ mắc TCM rất quan trọng để phòng ngừa biến chứng nặng và hạn chế lây lan bệnh Tuy nhiên, tỷ lệ mẹ đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế còn thấp (39,7%), do đó cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục để nâng cao nhận thức của các bà mẹ về biện pháp chăm sóc đúng đắn, nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ.
Các biện pháp chăm sóc khi trẻ mắc TCM phổ biến gồm có việc rửa tay bằng xà phòng và nước sạch (94,8%), vệ sinh đồ chơi, vật dụng, sàn nhà (69%), cho trẻ nghỉ học đến khi hết bệnh (62,1%), ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, chín và uống sôi (62,1%) Tuy nhiên, có đến 58,6% bà mẹ lựa chọn mua thuốc bôi da tại quầy thuốc mà không cần khám hoặc chỉ định của bác sĩ, điều này tiềm ẩn nguy cơ bị bội nhiễm da do kích ứng thuốc làm làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó của tác giả Nguyễn Vân Hằng [40], phản ánh thực trạng chăm sóc trẻ mắc TCM tại cộng đồng.
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức đề kháng cho trẻ và giúp trẻ nhanh chóng phục hồi sau bệnh Nghiên cứu cho thấy có nhiều bà mẹ hiểu rõ tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn lỏng, mềm, chia nhỏ nhiều bữa, với tỷ lệ lên đến 50%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Vân Hằng (2021), chỉ đạt 21,4% Ngoài ra, tỷ lệ bà mẹ chọn chế độ ăn ít hơn bình thường là 6,9%, thấp hơn so với 47% trẻ ăn ít hơn bình thường theo nghiên cứu của Nguyễn Vân Hằng (2021).
Bảng 3.13 cho thấy có 58,6% các bà mẹ có kiến thức chăm sóc trẻ mắc TCM đạt yêu cầu, trong khi 41,4% chưa đạt Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Mạnh Tuấn vào năm 2015 tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, khi tỷ lệ kiến thức đạt đạt tới 77,7%, cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của bà mẹ về phòng chống bệnh TCM.
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại vùng Đồng bằng Sông Hồng, nơi tỷ lệ bệnh TCM hàng năm không cao, dẫn đến công tác tuyên truyền chưa được chú trọng nhiều Trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Hà Mạnh Tuấn tại Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP Hồ Chí Minh) cho thấy bệnh TCM xảy ra với tần suất cao hàng năm, vì vậy các hoạt động tuyên truyền và cung cấp thông tin về bệnh TCM tại đây được quan tâm sát sao hơn, giúp các bà mẹ nắm bắt đầy đủ và rõ ràng về bệnh.
4.2.3 Kiến thức về phòng bệnh TCM của các bà mẹ
Bệnh TCM bùng phát mạnh nhất vào mùa chuyển mùa, đặc biệt là mùa hè khi thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho virus phát triển và gây bệnh Bệnh thường xuất hiện tại các khu vực đông người như trường học và nhà trẻ, khiến việc phòng ngừa càng trở nên cần thiết để bảo vệ trẻ nhỏ Nghiên cứu cho thấy 62,1% các bà mẹ nhận thức rằng hiện tại chưa có vaccine phòng bệnh TCM tại Việt Nam, trong khi 44,8% cho rằng bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa được Những số liệu này cho thấy nhận thức về phòng tránh bệnh TCM đã có sự nâng cao so với các nghiên cứu trước đó, góp phần thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.