BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHAN THỊ THANH LAN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC PHÒNG CHỐNG LOÉT CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đột quỵ não là một tình trạng thiếu sót thần kinh đột ngột do mạch máu não bị vỡ hoặc tắc nghẽn, gây ra các triệu chứng khu trú rõ ràng Đây là nguyên nhân gây ra các tổn thương thần kinh nghiêm trọng mà không liên quan đến chấn thương sọ não Hiểu rõ khái niệm về đột quỵ não giúp nhận diện các dấu hiệu sớm và nâng cao hiệu quả điều trị.
Phân loại [7] Đột quỵ não hay đột quỵ não thường được chia làm 2 loại chính là: nhồi máu não và xuất huyết não
- Nhồi máu não (Thiếu máu não cục bộ)
Nhồi máu não là tình trạng thiếu máu cục bộ khiến mô não bị hoại tử do tắc nghẽn hoàn toàn mạch máu não, thường do cục máu đông hoặc các mảng xơ vữa động mạch gây ra Đây là một dạng đột quỵ nguy hiểm đòi hỏi được phát hiện và xử lý kịp thời để giảm thiểu tổn thương cho não bộ Nguyên nhân chính của nhồi máu não bao gồm sự tích tụ của cục máu đông hoặc mảng xơ vữa làm tắc nghẽn dòng máu lên não, gây thiếu oxy và dưỡng chất cần thiết Việc hiểu rõ cơ chế bệnh giúp người bệnh và người nhà nhận biết các dấu hiệu sớm để điều trị hiệu quả, hạn chế di chứng lâu dài.
+ Loại tai biến này rất phổ biến, chiếm 80% các ca bị đột quy
- Xuất huyết não (Chảy máu não)
Đột quỵ xuất huyết chỉ chiếm khoảng 20% các trường hợp đột quỵ nhưng lại rất nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do đột quỵ Trong đó, xuất huyết não gồm hai loại chính là xuất huyết nội sọ và xuất huyết dưới nhện, đòi hỏi sự chẩn đoán và điều trị kịp thời để giảm thiểu rủi ro.
Các yếu tố nguy cơ gây ĐQN [7]
Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới đối với mọi ĐQN cần chú ý các yếu tố nguy cơ sau:
- Tăng huyết áp: Tâm thu, tâm trương, đây là yếu tố quan trọng nhất
- Đái tháo đường: nhất là đối với loại tai biến thiếu máu não phối hợp với tổn thương các mạch máu lớn
- Bệnh tim: là yếu tố quan trọng với đột quỵ não
- Béo phì: là yếu tố quan trọng đối với các bệnh tim mạch và thứ phát đối với ĐQN
Tăng lipit máu là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến thiếu máu cục bộ do tăng hàm lượng lipid trong máu gây ra xơ vữa động mạch Việc kiểm soát mức độ lipit máu đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh lý liên quan đến xơ vữa và giảm nguy cơ các biến chứng tim mạch Do đó, duy trì mức lipid máu ổn định là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe tim mạch của bạn.
- Tăng acid uric máu, nhiễm khuẩn, yếu tố di truyền và gia đình
- Có khoảng 90% người bị liệt vận động sau ĐQN
- Di chứng này gây khó khăn cho người bệnh về sinh hoạt, đi lại hàng ngày
- Người bệnh liệt nằm lâu ngày có thể gặp một số biến chứng nguy hiểm như: cứng khớp, loét các điểm tì đè…
+ Rối loạn ngôn ngữ: nói ngọng, nói lắp, âm điệu bị biến đổi,…và gặp khó khăn khi diễn đạt, thậm chí là không nói được
Suy giảm nhận thức gây ra các triệu chứng như hay quên, suy giảm trí nhớ và đầu óc lơ mơ không tỉnh táo Người bị suy giảm nhận thức thường gặp khó khăn trong việc định hướng không gian và thời gian, không nhận biết được người thân hoặc gia đình của mình, đồng thời gặp khó khăn trong việc hiểu lời nói của người khác.
+ Trầm cảm hay rối loạn cảm xúc
- Rối loạn cơ vòng có thể khiến người bệnh tiểu tiện không tự chủ
Chăm sóc và duy trì vệ sinh sạch sẽ là yếu tố quan trọng để phòng tránh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đồng thời giúp người bệnh luôn thoải mái về tinh thần Việc đảm bảo vệ sinh đúng cách không chỉ hạn chế sự phát triển của vi khuẩn mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người mắc bệnh Focus vào vệ sinh cá nhân đúng quy trình là biện pháp hiệu quả để kiểm soát và phòng ngừa các vấn đề liên quan đến đường tiết niệu.
Loét tỳ đè là tổn thương hoại tử da và mô phần mềm xảy ra do áp lực kéo dài, gây thiếu máu nuôi dưỡng và chết tế bào Tổn thương này thường xuất hiện tại các vùng xương cứng như mông, gót chân, hoặc lưng do tác động của lực ép liên tục Việc nhận biết sớm các dấu hiệu của loét tỳ đè đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và điều trị hiệu quả Các biện pháp giảm áp lực và chăm sóc đúng cách giúp hạn chế sự hình thành của các vết loét nguy hiểm này.
Loét do đè ép, còn gọi là loét giường, hình thành khi người bệnh nằm hoặc ngồi lâu gây áp lực lên vùng da và mô dưới da Cơ chế của loét bắt đầu từ sự đè ép gây co mạch máu, dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng tổ chức, rồi tiến triển thành hoại tử và nhiễm trùng Quá trình này khiến mủ và dịch thoát ra ngoài làm phá huỷ cấu trúc da, mô dưới da và các cơ xương xung quanh vùng tổn thương.
Các yếu tố nguy cơ gây loét tỳ đè
- Áp lực càng lớn và thời gian càng lâu thì tình trạng loét tỳ đè sẽ càng tiến triển
Người không có cảm giác hoặc không thể tự xoay trở như những bệnh nhân bị liệt nửa người hoặc hôn mê có nguy cơ cao mắc loét tỳ đè Việc bị đè nén liên tục và không thể điều chỉnh vị trí cơ thể làm tăng khả năng xuất hiện các vết loét nguy hiểm trên da Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc và phòng ngừa loét tỳ đè cho các đối tượng dễ bị tổn thương này.
- Khi người bệnh bị lơ mơ, hôn mê hay sử dụng các loại thuốc làm thay đổi quá trình nhận thức bình thường, họ không thể tự xoay trở
Những thay đổi về tình trạng tri giác có thể dẫn đến việc bài tiết không tự chủ và giảm khả năng tự chăm sóc bản thân Điều này làm tăng nguy cơ hình thành các tổn thương da, đặc biệt là loét, do việc chăm sóc vệ sinh không đúng cách hoặc thiếu sự giám sát phù hợp.
- Sự ẩm ướt có thể làm cho da dễ bị tồn thương
- Da tiếp xúc liên tục với sự ẩm ướt sẽ dễ bị tổn thương
+ Sự cọ sát, trầy xước
- Khi da cọ sát vào một bề mặt cứng có thể gây một vết trầy xước nhỏ, làm tăng khả năng hình thành loét
Việc bôi trơn da và duy trì việc chăm sóc đầy đủ giúp giảm thiểu tác nhân gây kích ứng, đặc biệt khi nâng đỡ, di chuyển và giữ vệ sinh cho người bệnh Chăm sóc da đúng cách không chỉ bảo vệ làn da khỏi ma sát mà còn hạn chế nguy cơ tổn thương và nhiễm trùng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
+ Dinh dưỡng và chuyển hóa
- Tình trạng dinh dưỡng bị suy giảm làm tăng nguy cơ tiến triển loét ép
- Việc mất mô và khối lượng dưới da có thể tác động đến lớp bảo vệ giữa da và xương, làm tăng nguy cơ hình thành vết loét
Thiếu oxy cục bộ do bệnh động mạch, bất thường tĩnh mạch, đái tháo đường, ung thư, nhiễm trùng, thiếu máu hoặc sốt cao là các yếu tố nguy cơ chính gây ra loét tỳ đè Những tình trạng này làm giảm lưu lượng máu và oxy đến các mô, làm tăng khả năng hình thành các vết loét trên da Đặc biệt, người mắc các bệnh mãn tính hoặc có hệ miễn dịch yếu dễ bị tổn thương da hơn, dẫn đến nguy cơ bị loét tỳ đè cao hơn Việc kiểm soát tốt các bệnh lý này đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến loét tỳ đè.
- Với trẻ sơ sinh do da non yếu, mỏng manh, sức đề kháng của da kém nên có nguy cơ bị loét tỳ đè cao hơn
Trẻ lớn tuổi hơn có nguy cơ bị loét cao hơn do trọng lượng cơ thể lớn hơn gây áp lực lớn lên các tổ chức mô, dẫn đến tăng khả năng tỳ đè và phát triển vết loét.
Người bệnh nặng, rối loạn huyết động, béo phì, bệnh về thần kinh, rối loạn chuyển hóa, người khuyết tật và suy giảm thần kinh đều có nguy cơ cao phát triển loét tỳ đè Các yếu tố này làm tăng khả năng tổn thương da và duy trì áp lực kéo dài, gây nguy hiểm cho sức khỏe người bệnh Phòng ngừa và kiểm soát các yếu tố nguy cơ này là rất quan trọng để giảm thiểu tình trạng loét tỳ đè.
Các mức độ của loét tỳ đè
Tình trạng loét tỳ đè tùy thuộc vào độ sâu, kích thước và mức độ tổn thương trầm trọng đối với các mô mà được chia thành 4 độ [2]:
Độ 1 của loét ép xuất hiện dưới dạng tử ban (đỏ) trên vùng da bị nhô xương hoặc bị dưới áp lực, thường xuyên xảy ra ở những vùng dễ bị tổn thương Phần lớn các vết loét độ 1 có thể biến mất hoàn toàn khi giảm hoặc loại bỏ áp lực đè lên vùng da đó Việc nhận biết sớm và xử lý kịp thời sẽ giúp ngăn ngừa sự nặng thêm của loét ép và bảo vệ sức khỏe người bệnh.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về dự phòng loét tỳ đè cho người bệnh đã được tiến hành, có thể điểm lại một số nghiên cứu sau:
Nghiên cứu của David R Thomas (2013) cho thấy tỷ lệ loét ép ở người cao tuổi không có suy giảm nhận thức là 16,7%, trong đó loét độ 1 chiếm 23,5%, độ 2 là 61,7%, độ 3 là 12,3%, và độ 4 là 9,9%, đồng thời có 39,5% người bệnh mắc loét kèm suy dinh dưỡng Ngược lại, 16,6% người không loét ép bị suy dinh dưỡng và 23,6% có trạng thái dinh dưỡng tốt, với BMI giảm rõ rệt ở các bệnh nhân loét ép, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa dinh dưỡng và nguy cơ loét ép Nghiên cứu của Razmus et al (2017) trên gần 40.000 bệnh nhân từ sơ sinh đến 18 tuổi tại Hoa Kỳ nhấn mạnh các biện pháp phòng ngừa loét tì đè hiệu quả như đánh giá da, sử dụng bề mặt tái phân bổ áp lực, định vị lại định kỳ, hỗ trợ dinh dưỡng và kiểm soát độ ẩm Hầu hết bệnh nhân (từ 96,7% đến 99,2%) được đánh giá da và nguy cơ loét tì đè trong vòng 24 giờ sau nhập viện, với hơn 95% bệnh nhân có nguy cơ loét tì đè đã được phòng ngừa kịp thời nhờ các biện pháp điều trị phù hợp.
Nghiên cứu của Daniel Bluestein và Ashkan Javaheri cho thấy 70% trường hợp loét ép xảy ra ở người lớn trên 65 tuổi, nhưng những người trẻ tuổi bị suy giảm thần kinh hoặc bệnh nặng cũng dễ gặp phải tình trạng này Tỷ lệ mắc loét ép trong thời gian nằm viện dao động từ 4,7% đến 32,1%, trong khi đó, tỷ lệ này trong thời gian ở nhà là 8,5% đến 22%, cho thấy loét ép không chỉ ảnh hưởng đến người cao tuổi mà còn xảy ra ở bất kỳ ai có thời gian bất động kéo dài, cả trong quá trình điều trị tại bệnh viện và khi ở nhà.
Trong nghiên cứu của Ye-Feng Lu et al (2015), phần lớn các vết loét do tỳ đè (chiếm 64,3%) đã xuất hiện ngay trong lần quan sát đầu tiên, chủ yếu tập trung tại các vị trí như vùng chẩm, xương cùng và gót chân Thang đo Q Braden góp phần giải thích khoảng 69,599% sự biến thiên của các yếu tố nguy cơ, tuy nhiên giá trị của thang đo này trong nhóm bệnh nhân Trung Quốc còn khá kém và cần được tối ưu hóa để nâng cao độ chính xác trong dự đoán nguy cơ loét tỳ đè Nghiên cứu đã theo dõi bệnh nhân trong vòng 2 tuần với tần suất quan sát 3 lần/tuần, sau đó duy trì 1 lần/tuần cho đến khi xuất viện.
Nghiên cứu của Qaddumi và Khawaldeh (2014) đánh giá kiến thức và các rào cản trong thực hành phòng ngừa loét tỳ đè của điều dưỡng tại Jordan, sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang qua bảng câu hỏi trên 194 điều dưỡng ở tám bệnh viện Kết quả cho thấy đa số (73%) điều dưỡng có kiến thức về phòng ngừa loét tỳ đè còn hạn chế, không liên quan đáng kể đến tuổi tác, kinh nghiệm lâm sàng hay trình độ học vấn hiện tại của họ Tuy nhiên, giới tính của điều dưỡng có mối liên hệ rõ ràng với kiến thức dự phòng PU, và việc phổ biến đầy đủ các hướng dẫn phòng ngừa loét tỳ đè được xem là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng thực hành Để cải thiện hiệu quả phòng ngừa PU, cần có các chiến lược đa diện hỗ trợ điều dưỡng trong thực hành dựa trên kết quả chăm sóc người bệnh Đồng thời, cần thúc đẩy các nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực phòng ngừa loét tỳ đè để tăng cường kiến thức và kỹ năng của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng đối với loét ép trên 484 người cao tuổi cho thấy tỷ lệ loét ép là 16,7%, trong đó 23,5% loét độ 1, 61,7% loét độ 2, 12,3% loét độ 3, và 9,9% loét độ 4 Có đến 39,5% người bệnh bị loét ép kèm theo suy dinh dưỡng, trong khi chỉ 2,5% có tình trạng dinh dưỡng tốt; ngược lại, 16,6% người không loét ép mắc suy dinh dưỡng và 23,6% có dinh dưỡng tốt BMI giảm đáng kể ở những người mắc loét ép, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tình trạng dinh dưỡng và nguy cơ loét ép trên bệnh nhân cao tuổi.
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên (2016) trên 62 người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định cho thấy, 74,2% là nữ giới Độ tuổi của những người chăm sóc chủ yếu nằm trong nhóm 31-60 tuổi, chiếm tỷ lệ 65%.
Chủ yếu, tỷ lệ người chăm sóc chính có trình độ học vấn trung học cơ sở là cao nhất với 51,6%, trong khi trình độ tiểu học là thấp nhất đạt 9,7% Tuy nhiên, kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây loét ép còn nhiều hạn chế, chỉ có 3,4% đối tượng trả lời đúng các yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng loét ép cho người bệnh, và hơn 90% có kiến thức trung bình hoặc yếu về vấn đề này Ngoài ra, kiến thức chung về dự phòng loét ép của người chăm sóc còn hạn chế: hơn 20% trả lời đúng về thời gian cần thiết để thay đổi tư thế cho người bệnh, trong khi chỉ 24,2% trả lời đúng về chế độ dinh dưỡng phù hợp Đặc biệt, kiến thức về vệ sinh và vận động cho người bệnh rất thấp, chỉ có 1,8% có kiến thức tốt về vệ sinh và không có đối tượng nào có kiến thức tốt về vận động Đa số người chăm sóc chưa nhận thức rõ vai trò của việc giữ vệ sinh thân thể hoặc nâng cao vận động cho người bệnh nhằm hạn chế nguy cơ loét ép, đồng thời còn có quan niệm sai lầm rằng loét ép chỉ xảy ra ở người bất động hoàn toàn, và việc giữ da sạch khô, lau rửa sau mỗi lần đi vệ sinh là không cần thiết.
Nghiên cứu của Vũ Thị Phượng (2017) trên 350 người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ cho thấy phần lớn đối tượng tham gia là nam giới (81,1%) và nhóm tuổi từ 18-30 chiếm tỷ lệ cao nhất (52,9%) Chỉ có 46% người chăm sóc có kiến thức chung về đột quỵ não, trong đó kiến thức về hậu quả của đột quỵ chiếm tỷ lệ cao nhất (86,9%), còn kiến thức về đột quỵ theo giới tính rất thấp (35,4%) Khoảng 53,7% người chăm sóc còn chưa hiểu rõ các triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo đột quỵ, nhưng kiến thức về biện pháp giảm nguy cơ đột quỵ lại khá tốt, đạt 74,6%, trong đó kiểm soát huyết áp là biện pháp phổ biến nhất (20,5%) Người chăm sóc thường biết đến các triệu chứng như yếu liệt nửa người (21,5%), nói ngọng hoặc khó hiểu lời nói (17,9%), suy giảm trí nhớ (15,8%), tiêu, tiểu không tự chủ (13,8%), và giảm thị lực (12,5%) Đặc biệt, tỷ lệ nhận thức rằng đột quỵ gây tử vong cao cũng khá lớn (14,8%), và kiến thức về hậu quả của đột quỵ đều khá đồng đều, phản ánh sự hiểu biết khá toàn diện về các triệu chứng và hậu quả của bệnh trong nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu của Võ Thị Nhu và cộng sự (2013) cho thấy, mẫu nghiên cứu gồm 136 người, trong đó 56,6% là nữ, tuổi trung bình khoảng 39,34 tuổi, chủ yếu ở nông thôn (103/136) Khi vào viện, chỉ có 47,1% biết về bệnh lý đột quỵ não, nhưng sau khi ra viện, tất cả đều hiểu cơ bản về đột quỵ Trong phản ứng với người nhà bị tai biến, đa số (86%) đã đưa bệnh nhân đến bệnh viện, trong khi chỉ rất ít người tự mua thuốc hoặc nghỉ ngơi cho bệnh nhân tại nhà Về nhận thức về nguy cơ tai biến, lúc nhập viện, 79,4% không biết nguy cơ gây bệnh, còn khi ra viện, 19,1% vẫn không biết về nguy cơ này; đồng thời, có tới 45,6% không biết vệ sinh răng miệng đúng cách vào thời điểm nhập viện, nhưng tỷ lệ này giảm còn 5,1% sau khi ra viện Thêm vào đó, không có người nhà nào biết cách bơm ăn uống qua sonde dạ dày khi nhập viện, nhưng sau điều trị, tất cả đều nắm rõ kỹ năng này Việc xoay trở bệnh nhân cũng được cải thiện rõ rệt, từ 40,4% không biết vào thời điểm nhập viện chỉ còn 11,8% không biết sau ra viện Cuối cùng, nhận thức về việc chăm sóc nước tiểu được nâng cao từ 3,7% không chú ý đến đến 100% sau điều trị, cho thấy nhận thức của người nhà về việc chăm sóc bệnh nhân đột quỵ ngày càng được nâng cao sau khi điều trị.
Nghiên cứu của Trần Văn Oánh và cộng sự (2016) trên 57 bệnh nhân tại phòng hồi sức khoa Nội - Hồi sức thần kinh Bệnh viện Hà Nội Việt Đức chỉ ra rằng 25% bệnh nhân mắc loét tỳ đè sau 4 ngày điều trị, cho thấy việc phòng ngừa loét tỳ đè là rất quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh Các bệnh nhân tham gia có độ tuổi trung bình là 42,8±18 tuổi, điểm Glasgow trung bình 5,4±1,25 và điểm Braden trung bình 16±2,04, phản ánh tình trạng sức khỏe của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu Qua phân tích hồ sơ điều dưỡng ghi chép về chăm sóc dự phòng loét tỳ đè, nhóm điều dưỡng tại khoa đã tổ chức các hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu nguy cơ loét, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân trong khu vực hồi sức nội thần kinh.
Trong quá trình thảo luận nhóm, các thành viên và điều dưỡng viên của khoa đã xác định nguyên nhân chính gây ra thực trạng loét là do người bệnh không nhận được sự chăm sóc dự phòng loét liên tục và đầy đủ Nguyên nhân còn xuất phát từ việc các điều dưỡng viên, đặc biệt là các điều dưỡng mới, chưa có đủ thông tin và kiến thức cần thiết về các biện pháp chăm sóc dự phòng loét cho người bệnh Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và cập nhật kiến thức cho đội ngũ điều dưỡng nhằm giảm thiểu nguy cơ loét.
Nghiên cứu của Đoàn Chí Thanh và cộng sự (2014) chỉ ra rằng tình trạng loét do tỳ đè chủ yếu gặp ở nam giới (76,36%) trong độ tuổi lao động (81,82%), với 90,91% bệnh nhân có liên quan đến liệt hoặc hạn chế vận động chi, trung bình từ 1 đến 4 ổ loét, đa số là vết loét mới (83,64%) và tập trung nhiều nhất ở vùng cùng cụt (52,85%) và ụ ngồi (39,99%) Thời gian điều trị trung bình cho loét ép là 45 ngày (±20,61), phản ánh mức độ nguy hiểm và ảnh hưởng lớn đến người bệnh, gây đau đớn thể chất và chi phí điều trị tăng cao Trong khi đó, nghiên cứu của Cầm Bá Thức (2011) tại Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương ghi nhận tỷ lệ nam mắc loét cao gấp 3,8 lần nữ, độ tuổi 20-49 chiếm 57,2%, với 42% bệnh nhân có liệt tủy hoàn toàn, thời gian nằm viện trung bình khoảng 59 ngày, trong đó 68,4% loét độ IV, phần lớn bệnh nhân loét nặng thuộc nhóm ASIA A và B (57,9%) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nguyên nhân tổn thương tủy và vị trí liệt với loét (p > 0,05), nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa co cứng, nhiễm trùng tiết niệu và loét (p < 0,05); trong số 19 bệnh nhân có loét, 47,4% đã khỏi hoàn toàn, trong khi 52,6% vẫn đang loét chưa lành.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Giới thiệu về Bệnh viên Đa khoa tỉnh Bắc Giang và Khoa Nội tim mạch
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang được thành lập từ tháng 6 năm 1907, trải qua hơn một thế kỷ phát triển Trong quá trình phát triển, bệnh viện đã vượt qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và không ngừng nâng cao quy mô, số lượng giường bệnh, cùng trình độ chuyên môn và chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang là một trung tâm y tế hàng đầu, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân địa phương và khu vực.
Trong quá trình phát triển, bệnh viện đã đạt mốc 1000 giường bệnh và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế thông qua đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc và dụng cụ y tế hiện đại Sự trưởng thành của bệnh viện luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ từ Bộ Y tế, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Y tế cùng các ban ngành trong tỉnh, với nhiều cá nhân và tập thể nhận các phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước Đặc biệt, đã có 40 y, bác sĩ, dược sĩ được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú” bởi Chủ tịch nước qua các thời kỳ Bệnh viện ngày nay chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lương y phải như từ mẫu”, tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu, học hàm, học vị cao, kỹ thuật viên và điều dưỡng giỏi, đồng thời tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Khoa Nội tim mạch được thành lập từ năm 1998 khi tách ra từ khoa Nội chung, gồm hai khoa là Khoa Nội Tim mạch và Khoa Nội Tổng hợp Hiện tại, khoa có quy mô 70 giường bệnh, tiếp nhận điều trị hàng ngày từ 75 đến 85 bệnh nhân mắc các bệnh lý về tim mạch Đơn vị đảm nhận chức năng điều trị nội trú các bệnh về mạch vành, đột quỵ não, suy tim, các bệnh lý mạch máu ngoại vi, rối loạn nhịp tim và cấp cứu tim mạch Khoa còn là nơi thực hành thực tập cho sinh viên Trường trung cấp y tế Bắc Giang và các trường Đại học Y, đồng thời thực hiện công tác chỉ đạo tuyến theo chương trình 1816 của bệnh viện Ngoài ra, đơn vị điều trị tăng huyết áp ngoại trú khám bệnh và cấp thuốc hàng ngày cho từ 50 đến 85 bệnh nhân, đảm bảo chăm sóc và điều trị liên tục cho người bệnh.
80 người bệnh ngoại trú tăng huyết áp, suy tim do tăng huyết áp, người bệnh sau đặt stent động mạch vành…
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não đang điều trị tại khoa Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 7/2022
Người chăm sóc chính cho người bệnh đột quỵ não đảm nhận trách nhiệm chăm sóc trực tiếp trong thời gian người bệnh nằm viện và sau khi xuất viện về nhà Họ có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ sinh hoạt cá nhân hàng ngày của người bệnh, đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi và an toàn.
- Người có khả năng nghe, nói, đọc, viết bằng Tiếng Việt
- Những người đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những người có rối loạn nhận thức
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2022, trong đó thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2022 Địa điểm diễn ra nghiên cứu là tại khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
2.2.3 Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu: n= 𝑍 ( / ) ( ) Trong đó: n: số người chăm sóc chính tham gia nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, giá trị Z tương ứng với mức độ ý nghĩa 𝛼=0,05 là 1,96 theo bảng Z, giúp xác định khoảng tin cậy Tỷ lệ người chăm sóc chính có kiến thức về phòng chống loét cho người bệnh đột quỵ não là 10% (p=0,1), dựa trên nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên Sai số cho phép (d) được chọn là 0,05 để đảm bảo độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Thay vào công thức trên có n= 138
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ Theo số liệu thống kê của Phòng
Kế hoạch nghiên cứu dự kiến sẽ thu thập dữ liệu từ khoảng 70 bệnh nhân đột quỵ não điều trị tại khoa mỗi tháng Để đảm bảo tính chính xác, nhóm nghiên cứu đã chọn toàn bộ người chăm sóc chính của các bệnh nhân đột quỵ não nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2022 Trong khoảng thời gian này, có tổng cộng 142 bệnh nhân nội trú cùng 142 người chăm sóc chính tương ứng, trong đó nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 138 người đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng Bộ công cụ được xây dựng dựa trên các cơ sở:
Nghiên cứu “Thay đổi kiến thức dự phòng loét ép của người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2016” của tác giả Phạm Thị Thúy Liên nhằm đánh giá sự nâng cao kiến thức của người chăm sóc về phòng ngừa loét ép ở bệnh nhân đột quỵ não Kết quả cho thấy tổng thể kiến thức của người chăm sóc đã được cải thiện rõ rệt sau các hoạt động giáo dục, giúp giảm nguy cơ loét ép và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho người chăm sóc để phòng ngừa các biến chứng liên quan đến đột quỵ não Các chiến lược giáo dục phù hợp đã góp phần nâng cao kiến thức dự phòng loét ép, từ đó giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.
+ Hướng dẫn của Bộ Y tế về chăm sóc và dự phòng loét tỳ đè
- Các bước thu thập số liệu
+ Bước 1: Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn
Bước 2 trong quá trình nghiên cứu là giới thiệu rõ mục đích, ý nghĩa, phương pháp thực hiện và quyền lợi của người tham gia để đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ và tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu Khi đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia, họ sẽ ký vào bản đồng thuận nhằm xác nhận sự đồng ý của mình Ngoài ra, các thông tin về hình thức tham gia nghiên cứu cũng được phổ biến để đảm bảo tính minh bạch và chuẩn bị tốt cho quá trình thực hiện nghiên cứu.
Bước 3 tập trung vào việc đánh giá kiến thức chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh đột quỵ não của người chăm sóc chính Quá trình đánh giá được thực hiện ngay sau 01 ngày khi người bệnh nhập viện, thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp từng trường hợp để đảm bảo độ chính xác và hiệu quả của việc khảo sát.
Chúng tôi thực hiện phỏng vấn từng người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ não ngay tại khoa phòng nơi người bệnh đang điều trị Mỗi cuộc phỏng vấn diễn ra trong khoảng 15 phút để đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin cần thiết.
2.2.6 Các biến số nghiên cứu
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu gồm: Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
- Thực trạng dự phòng loét tỳ đè cho người bệnh đột quỵ não của người chăm sóc chính:
+ Kiến thức chung về loét ép
+ Kiến thức về thay đổi tư thế cho người bệnh
+ Kiến thức về chế độ dinh dưỡng
+ Kiến thức về chế độ vệ sinh
+ Kiến thức về chế độ vận động
2.2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Bộ công cụ được xây dựng và phát triển dựa trên nghiên cứu “Thay đổi kiến thức dự phòng loét ép của người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2016” do tác giả Phạm Thị Thúy Liên thực hiện, cùng với hướng dẫn của Bộ Y tế về chăm sóc và dự phòng loét tỳ đè Công cụ này nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc bệnh nhân đột quỵ để phòng ngừa loét tỳ đè hiệu quả Việc áp dụng bộ công cụ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh, giảm thiểu biến chứng loét ép và nâng cao hiệu quả điều trị.
Bộ công cụ gồm 3 phần:
- Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Gồm 4 câu hỏi nhằm mục đích tìm hiểu các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu
- Phần 2: Kiến thức chung về loét ép của người chăm sóc chính
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Phần 3: Thực trạng kiến thức chăm sóc phòng chống loét của người chăm sóc chính
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời phiếu điều tra với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai không được điểm
- Tổng điểm kiến thức tối đa là 21
- Phân loại kiến thức của người bệnh [9]
+ Kiến thức kém: điểm kiến thức 15 điểm)
2.2.8 Phương pháp phân tích số liệu
- Nhập liệu, làm sạch và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
- Phân tích mô tả tần số và tỷ lệ %.
Kết quả nghiên cứu
2.3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Số liệu sau khi làm sạch nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0; chúng tôi thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính (n8)
Từ biểu đồ 2.1 cho thấy có 30 đối tượng nghiên cứu là nữ chiếm tỷ lệ 93,7% và
2 ĐTNC là nam chiếm tỷ lệ 6,3%
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm chung (n8) Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Trong tổng số người chăm sóc chính, đa số nằm trong độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi chiếm đến 70,3%, phản ánh nhóm tuổi trung niên là chủ yếu trong công tác chăm sóc Hơn nữa, phần lớn các đối tượng nghiên cứu sống tại vùng nông thôn, chiếm tỷ lệ 81,2%, cao hơn nhiều so với ở thành phố (18,8%), cho thấy rõ sự phân bố về địa lý Đặc biệt, người chăm sóc chính chủ yếu là nông dân, chiếm đến 61,6%, nhấn mạnh vai trò của các hộ nông nghiệp trong hoạt động chăm sóc.
Trong phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn, người chăm sóc chính có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất đến 48,6% Ngược lại, số người chăm sóc chính có trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ thấp nhất với chỉ 3,6%.
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung cấp, CĐ, ĐH, SĐH 3.6%
2.3.2 Kiến thức về dự phòng loét ép cho NB ĐQN của người chăm sóc chính Bảng 2.2 Thực trạng kiến thức chung về loét ép của người chăm sóc chính (n8)
Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%)
Các yếu tố nguy cơ loét ép 52 37,7 86 62,3
Dấu hiệu của loét ép 48 34,8 90 65,2
Vị trí dễ bị loét ép 69 50 69 50
Số người CSC trả lời đúng về các yếu tố nguy cơ gây loét, nguyên nhân, dấu hiệu và vị trí dễ bị loét ép lần lượt là 37,7%; 52,9%; 34,8% và 50%
Biểu đồ 2.3 cho thấy tầm quan trọng của việc chăm sóc phòng ngừa loét, trong đó có đến 56,5% người chăm sóc (CSC) cho biết cần thực hiện ngay các biện pháp phòng chống loét khi người bệnh bị đột quỵ não Phần lớn người CSC (67,4%) tin rằng trách nhiệm phòng chống loét ép cho người bệnh là của điều dưỡng Tuy nhiên, hơn 50% người CSC chưa nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc phòng chống loét ép, cho thấy cần nâng cao kiến thức và ý thức về công tác này để đảm bảo chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân.
Bảng 2.3 Kiến thức về thay đổi tư thế cho người bệnh (n8)
Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%)
Thời điểm phòng chống loét Trách nhiệm phòng chống loét Tầm quan trọng phòng chống loét
Trả lời đúng Trả lời sai
Sử dụng đệm nước giúp phòng chống loét 102 73,9 36 26,1
Thay đổi tư thế cho NB ngồi xe lăn
Thay đổi tư thế cho NB nằm ít nhất
Có đến 73,9% số người được khảo sát hiểu rõ rằng việc sử dụng đệm nước giúp phòng chống loét Bên cạnh đó, 61,6% cho biết biết thời gian cần thiết để thay đổi tư thế cho người bệnh khi ngồi trên xe lăn, trong khi 57,2% xác nhận hiểu rõ về thời gian cần thiết để thay đổi tư thế khi người bệnh nằm trên giường Những tỷ lệ này phản ánh nhận thức đúng về chăm sóc và phòng ngừa loét do thiếu vận động ở bệnh nhân.
Bảng 2.4 Kiến thức về chế độ dinh dưỡng phòng loét ép (n8)
Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) Vai trò của dinh dưỡng trong dự phòng loét ép 91 65,9 47 34,1
Uống đủ nước để giữ cho da có độ ẩm thích hợp 67 48,6 71 51,4
Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng giúp phòng chống loét 92 66,7 46 33,3
Kết quả từ bảng 2.4 cho thấy, 65,9% người chăm sóc sức khỏe nhận thức rõ vai trò của dinh dưỡng trong phòng ngừa loét ép, trong đó 66,7% đồng thuận rằng việc cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt protein và vitamin A, C, là yếu tố thiết yếu để phòng chống loét Ngoài ra, kiến thức về chế độ vệ sinh cho người bệnh nhằm phòng loét ép cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc và dự phòng bệnh.
Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%)
Vệ sinh da bằng nước nóng và xà phòng giúp hạn chế loét 58 42 80 58
Kiểm tra da thường xuyên cho người bệnh tiểu tiện không tự chủ 86 62,3 52 37,7
Sử dụng quẩn áo thích hợp với người bệnh 76 55,1 62 44,9
Chỉ có 58% người chăm sóc sức khỏe (CSC) trả lời đúng việc vệ sinh da bằng nước nóng và xà phòng giúp hạn chế loét da Phần lớn người CSC nhận thức rõ rằng kiểm tra da thường xuyên cho người bệnh tiểu tiện không tự chủ là biện pháp phòng ngừa loét hiệu quả, chiếm đến 62,3% Ngoài ra, việc sử dụng quần áo thích hợp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ loét, được nhận thức bởi 55,1% người CSC.
Bảng 2.6 Kiến thức về xoa bóp vận động cho người bệnh để phòng loét ép (n8)
Khi đề cập đến việc xoa bóp và vận động cho người bệnh, có 42,8% người chăm sóc sức khỏe nhận thấy tầm quan trọng của việc mát-xa vùng da sát xương thường xuyên nhằm giảm áp lực lên da và phòng ngừa loét ép Đồng thời, 68,8% các cán bộ y tế và người chăm sóc hiểu rõ rằng việc xoa bóp các vùng nhạy cảm, hay bị tỳ đè trong vòng 10-15 phút mỗi lần, 2-3 lần/ngày, là biện pháp thiết yếu để giảm nguy cơ loét do tỳ đè ở người bệnh.
Biểu đồ 2.4 Phân loại kiến thức về dự phòng loét ép của người chăm sóc chính
(n8) Nhận xét: Phần lớn người chăm sóc chính có kiến thức kém và trung bình trong dự phong loét ép cho người bệnh ĐQN chiếm 91,3%
Kiến thức kém Kiến thức trung bình Kiến thức tốt
Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) Mát xa vùng da sát xương thường xuyên 59 42,8 79 57,2
Vai trò của tập vận động sau ĐQN 106 76,8 32 23,2 Tần suất xoa bóp vùng tỳ đè để phòng chống loét 95 68,8 43 31,2
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 138 người chăm sóc chính cho bệnh nhân ĐQN tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang, nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và sự hiểu biết về bệnh lý Các dữ liệu thu thập giúp xác định những khó khăn, thách thức trong quá trình chăm sóc, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức cho người chăm sóc, tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu các biến chứng cho bệnh nhân.
Trong nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2022 với 138 người chăm sóc người bệnh (CSC), tỷ lệ nữ chiếm đa số (93,7%) phản ánh vai trò truyền thống của phụ nữ trong việc chăm sóc và phục vụ gia đình theo văn hóa Á Đông Đối tượng chăm sóc chính phần lớn nằm trong độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi (70,3%), do đây là nhóm tuổi khỏe mạnh nhất trong gia đình, có khả năng chăm sóc người bệnh hiệu quả Nhóm người trên 51 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (5,8%) do tuổi cao khiến khả năng linh hoạt và sức khỏe giảm sút, hạn chế khả năng chăm sóc người bệnh tai biến Người dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp do còn đang trong độ tuổi học tập, chưa lập gia đình và thiếu kinh nghiệm chăm sóc người bệnh đột quỵ não Các kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên (2016), cho thấy độ tuổi chăm sóc tập trung nhiều nhất ở nhóm 31-60 tuổi, chiếm hơn 65%.
Trong nghiên cứu này, đa số đối tượng nghiên cứu sống tại khu vực nông thôn chiếm 81,2%, cao hơn so với thành phố là 18,8%, phù hợp với nghề nghiệp của họ, trong đó nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,6% Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên, cho thấy 74,2% đối tượng sinh sống ở khu vực nông thôn và 25,8% ở thành thị Người chăm sóc chủ yếu là nông dân (56,4%), trong khi tỷ lệ viên chức thấp nhất với 9,8%, lý do chính là do nhóm nông dân không bị ràng buộc thời gian như viên chức hay công nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc người bệnh theo sự bố trí của gia đình Về trình độ học vấn, người chăm sóc chính có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất (48,6%), còn thấp nhất là trình độ tiểu học với 3,6%, đây là điều kiện thuận lợi để họ tiếp thu kiến thức hướng dẫn chăm sóc từ nhân viên y tế.
3.2 Kiến thức chăm sóc phòng chống loét cho NB ĐQN của người CSC
Người chăm sóc chính đóng vai trò quan trọng trong việc trực tiếp chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ não, từ khi điều trị tại bệnh viện cho đến khi người bệnh có thể tự lập trong sinh hoạt hàng ngày Việc này bao gồm cả công tác phòng chống loét ép, giúp người bệnh giảm thiểu các biến chứng và nâng cao khả năng hồi phục Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, có tới 91,3% người chăm sóc còn có kiến thức về chăm sóc và phòng chống loét ở mức độ kém hoặc trung bình, cho thấy cần nâng cao kiến thức và kỹ năng для người chăm sóc để đảm bảo chăm sóc toàn diện và hiệu quả hơn.
Kiến thức chung về loét ép của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 37,7% người trả lời đúng các yếu tố nguy cơ gây loét ép và 52,9% nhận biết được nguyên nhân gây loét ép, trong khi chỉ 34,8% nhận biết được các dấu hiệu sớm của bệnh Đa số người chăm sóc hiểu rằng nằm lâu ở một tư thế có thể dẫn đến loét ép, nhưng chưa thể xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh cho người thân của mình Họ thường nghĩ rằng thời gian nằm cần kéo dài tới tháng mới xảy ra loét ép, cho thấy nhận thức về các yếu tố nguy cơ còn hạn chế Thiếu kiến thức này là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ loét ép ở người bệnh, đòi hỏi nhân viên y tế cần triển khai các biện pháp tư vấn, hướng dẫn kịp thời để nâng cao nhận thức của người chăm sóc.
Chỉ có 34,8% người chăm sóc sức khỏe nhận biết các dấu hiệu sớm của loét ép, chủ yếu là các vết ban hồng xuất hiện trên vùng da bị tỳ đè, phù hợp với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên (2016) khi có 30,6% người trả lời đúng dấu hiệu nhận biết loét ép Việc nhận biết sớm các dấu hiệu của loét ép đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng ngừa, vì nó quyết định khả năng làm chủ tình trạng và hạn chế sự tiến triển của loét Cung cấp kiến thức cho người chăm sóc về các dấu hiệu cảnh báo giúp họ có khả năng quan sát, nhận định các nguy cơ và phối hợp hiệu quả với điều dưỡng để đảm bảo chăm sóc tốt nhất cho người bệnh.
Chăm sóc phòng chống loét là yếu tố quyết định trong quá trình điều trị và hồi phục của người bệnh, đặc biệt là khi người bệnh bị đột quỵ não hoặc nằm bất động lâu dài Nhiều người chăm sóc chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc dự phòng loét ép, điều này khiến họ chưa chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa kịp thời Theo nghiên cứu, chỉ có 56,5% người chăm sóc xem phòng chống loét cần được thực hiện ngay sau khi người bệnh đột quỵ, trong khi phần lớn trách nhiệm này được đổ dồn cho điều dưỡng (67,4%) Ngoài ra, hơn 50% người chăm sóc chưa nhận thức rõ vai trò của mình trong việc phòng ngừa loét, do đó họ còn tồn tại quan niệm sai lầm rằng loét chỉ xảy ra trên các bệnh nhân nặng hoặc hôn mê lâu dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình điều trị và phục hồi của người bệnh Việc thiếu ý thức này làm tăng nguy cơ mắc loét ép, gây kéo dài thời gian điều trị và ảnh hưởng xấu đến chất lượng chăm sóc.
Kiến thức về thay đổi tư thế cho người bệnh
Để phòng ngừa loét ép, theo khuyến cáo của Bộ Y tế, cần thay đổi tư thế thường xuyên cho người bệnh để giảm sức ép lên vùng da bị đè cấn Người bệnh nên thay đổi tư thế ít nhất mỗi 2 giờ và cố gắng thay đổi nhiều tư thế khác nhau để phân tán áp lực đều hơn, như nghiêng trái, nằm sấp, nghiêng phải và nằm ngửa, phù hợp với từng vị trí Đối với người ngồi xe lăn, cần nhấc mông lên mỗi 30 phút nhằm hạn chế áp lực liên tục trên da Ngoài ra, đệm nước là công cụ hiệu quả giúp phòng chống loét tì đè, với nguyên lý hoạt động là nước luân chuyển liên tục giữa các múi đệm, giúp giảm lực tác động lên da Nếu không có đệm nước, người nhà có thể sử dụng gối để kê dưới cơ thể và thay đổi vị trí gối thường xuyên nhằm đảm bảo vùng da tiếp xúc với bề mặt giường được thay đổi liên tục Theo khảo sát, có đến 61,6% người biết thời gian phù hợp để thay đổi tư thế khi người bệnh nằm trên giường và 57,2% khi bệnh nhân ở tư thế ngồi trên xe lăn; đồng thời, 73,9% nhận thức rõ về tác dụng của đệm nước trong phòng chống loét ép, kết quả này đã cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó của Phạm Thị Thúy.
Liên (2016) chỉ ra rằng hơn 20% đối tượng trả lời đúng về thời gian cần thiết để thay đổi tư thế cho người bệnh, cho thấy ngày càng nhiều nhân viên chăm sóc người bệnh chú trọng đến vấn đề này Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả chăm sóc, vẫn cần tăng cường công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành trong chăm sóc người bệnh.
Kiến thức về chế độ dinh dưỡng phòng loét ép
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể, giúp tăng cường hệ miễn dịch và cải thiện sức khỏe tổng thể Một chế độ dinh dưỡng hợp lý không những hỗ trợ phát triển thể chất mà còn làm rút ngắn thời gian điều trị, giảm thiểu biến chứng và nguy cơ tử vong cho người bệnh Đối với người bệnh ĐQN, việc duy trì chế độ dinh dưỡng khoa học là cần thiết để nâng cao sức khỏe và phòng ngừa các thương tật thứ cấp thường gặp Để phòng ngừa loét ép, bên cạnh việc thay đổi tư thế thường xuyên, người bệnh cần bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng quan trọng như protein, vitamin A, vitamin D, giúp duy trì sức khỏe lành mạnh và hỗ trợ quá trình phục hồi.
Việc uống đủ nước giúp duy trì độ ẩm phù hợp của da là rất cần thiết, tuy nhiên, chỉ có 66,7% người CSC có kiến thức đúng về lĩnh vực này Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Liên, khi chỉ có 24,2% người CSC hiểu về vai trò của dinh dưỡng trong phòng tránh loét ép cho người bệnh ĐQN Điều này cho thấy nhiều người CSC vẫn chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của dinh dưỡng trong quá trình điều trị bệnh, ảnh hưởng đến khả năng hồi phục của người bệnh.
Kiến thức về chế độ vệ sinh phòng loét ép
Theo khuyến cáo của Bộ Y Tế về dự phòng loét ép, người chăm sóc cần thay quần áo và vải trải giường cho người bệnh mỗi khi ẩm ướt, vệ sinh da hàng ngày và giữ cho da người bệnh luôn sạch sẽ Sử dụng các dụng cụ quản lý nước tiểu và phân đúng cách khi người bệnh không tự chủ trong đại tiểu tiện là rất quan trọng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy 58% người chăm sóc sai lầm khi cho rằng vệ sinh da bằng nước nóng và xà phòng giúp hạn chế loét, trong khi chỉ có 62,3% và 55,1% nhận thức đúng về việc kiểm tra da thường xuyên và sử dụng quần áo thích hợp để phòng ngừa loét Nhiều người chưa nhận thức rõ vai trò của vệ sinh thân thể trong việc giảm thiểu nguy cơ loét ép, thậm chí còn cho rằng việc giữ da sạch và khô sau vệ sinh không mang lại hiệu quả phòng tránh bệnh Thái độ và nhận thức của người chăm sóc ảnh hưởng lớn đến việc giữ gìn tính toàn vẹn của da, yếu tố quyết định trong dự phòng loét ép, do đó việc giáo dục và nâng cao nhận thức là rất cần thiết để đảm bảo chăm sóc đúng cách, ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật gây hại và phòng ngừa loét hiệu quả.
Kiến thức về xoa bóp, vận động phòng loét ép
Xoa bóp giúp kích thích tuần hoàn máu và giảm nguy cơ loét tì đè, đồng thời hỗ trợ quá trình phục hồi và giảm mệt mỏi cho người nằm lâu Người nhà nên thường xuyên xoa bóp các vùng da bị tì đè, kết hợp vận động nhẹ các khớp xương để giảm đau nhức và giúp người bệnh thoải mái hơn Việc mát xa thường xuyên còn giúp dễ dàng nhận biết sớm các dấu hiệu của loét tì đè như vết sậm màu hoặc đỏ trên da, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời Trong nghiên cứu, có đến 42,8% người chăm sóc nhận thấy cần mát xa vùng da sát xương thường xuyên, và 68,8% biết rõ tầm quan trọng của việc xoa bóp các vùng nhạy cảm hay thường bị tì đè trong 10-15 phút/lần, 2-3 lần/ngày để phòng ngừa loét ép hiệu quả.
Kiến thức chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh ĐQN của nhân viên CSC tại khoa Nội tim mạch – Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, việc tìm ra các giải pháp khắc phục để nâng cao kiến thức phòng chống loét cho người bệnh là rất cần thiết Đáp ứng khả năng này sẽ giúp người bệnh hồi phục nhanh hơn và giảm thiểu các thương tật thứ cấp liên quan đến loét.
3.3 Những tồn tại và khó khăn
Nhiều người chăm sóc người bệnh ĐQN chưa nhận thức đầy đủ về các yếu tố nguy cơ của loét ép và những dấu hiệu sớm để phát hiện kịp thời Việc thiếu kiến thức này khiến việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và can thiệp sớm gặp nhiều khó khăn, tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng Để giảm thiểu rủi ro, cần nâng cao nhận thức và đào tạo cho người chăm sóc về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo sớm của loét ép.
Những tồn tại và khó khăn
Nhiều người chăm sóc của người bệnh ĐQN chưa hiểu rõ các yếu tố nguy cơ cũng như dấu hiệu sớm của loét ép Việc nhận biết sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể thực hiện biện pháp can thiệp kịp thời, hạn chế biến chứng và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Tăng cường kiến thức về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp người chăm sóc có hành động phù hợp, giảm thiểu rủi ro loét ép ở người bệnh.
Nhiều người CSC hiểu sai về trách nhiệm phòng chống loét, cho rằng chỉ điều dưỡng mới chịu trách nhiệm và coi việc điều trị loét là quan trọng hơn phòng ngừa Tuy nhiên, quan điểm này ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hồi phục của bệnh nhân, gây chậm trễ trong việc giảm thiểu nguy cơ loét và ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc y tế Việc nhận thức đúng về vai trò của phòng chống loét là yếu tố quan trọng để thúc đẩy chăm sóc bệnh nhân toàn diện, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Nhiều người chăm sóc chưa có kiến thức đúng về chế độ ăn uống, vệ sinh và vận động phù hợp cho người bệnh đột quỵ não nhằm phòng chống loét Những hạn chế này dẫn đến nguy cơ người bệnh gặp các thương tật thứ cấp như loét ép, teo cơ và cứng khớp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ.
Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên
Khoa Nội tim mạch tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang có tổng số 15 Điều dưỡng, trong đó khoảng 11 Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh hàng ngày Các Điều dưỡng còn lại đảm nhiệm công tác hành chính, tiếp đón hoặc nghỉ trực Trung bình mỗi ngày, khoa điều trị từ 70-75 bệnh nhân, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng chăm sóc, ảnh hưởng đến công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình.
Nhiều điều dưỡng chưa được tập huấn đầy đủ về phương pháp và kỹ năng giáo dục sức khỏe, dẫn đến hiệu quả tư vấn cho người bệnh và người nhà người bệnh còn hạn chế Việc nâng cao năng lực đào tạo điều dưỡng về kỹ năng tư vấn sức khỏe sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc, tăng cường khả năng hỗ trợ cộng đồng trong việc duy trì và phòng ngừa bệnh lý Đào tạo chuyên sâu về phương pháp giáo dục sức khỏe là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa nhân viên y tế và bệnh nhân, góp phần nâng cao chăm sóc sức khỏe toàn diện.
Người bệnh đông và khối lượng công việc nhiều gây quá tải cho nhân viên điều dưỡng Thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà và mất thời gian khiến điều dưỡng thiếu thời gian để chăm sóc bệnh nhân Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chăm sóc sức khỏe và giáo dục sức khỏe cho người bệnh cũng như người nhà của họ.
Người chăm sóc chính chưa tiếp thu đầy đủ kiến thức từ các buổi truyền thông và giáo dục sức khỏe do nội dung còn chung chung và chưa phù hợp với từng đối tượng Khi điều dưỡng tư vấn, việc lồng ghép thông tin trong quá trình chăm sóc người bệnh cùng với thiếu tài liệu tranh ảnh hỗ trợ khiến việc ghi nhớ kiến thức trở nên khó khăn hơn.
Việc thay đổi người chăm sóc thường khiến họ không nắm bắt được đầy đủ nội dung hướng dẫn và tư vấn từ điều dưỡng Vì vậy, điều dưỡng cần thường xuyên thực hiện công tác giáo dục sức khỏe để đảm bảo người bệnh được chăm sóc đúng cách và hiểu rõ các hướng dẫn trong suốt quá trình điều trị.
- Người chăm sóc chính chủ yếu là nông dân nên chưa có phương pháp để chủ động tìm hiểu các kiến thức trên mạng internet.