Trình bày vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội. Liên hệ tội phạm giết người ở Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng giúp cho quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm đạt được kết quả tốt. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay thì việc nghiên cứu, phân tích, làm rõ vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt cả về lý luận lẫn thực tiễn. Xuất phát từ ý nghĩa trên thì một câu hỏi đặt ra là: Yếu tố nạn nhân đóng vai trò như thế nào trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội?
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: TỘI PHẠM HỌC
ĐỀ TÀI 5: “Trình bày vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành
hành vi phạm tội? Liên hệ với tội phạm giết người ở Việt Nam hiện nay”
Hà Nội – 2021
Trang 21
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Lý luận chung về nạn nhân của tội phạm và cơ chế hình thành hành vi phạm tội2 1 Lý luận chung về nạn nhân của tội phạm 2
2 Lý luận chung về cơ chế hình thành hành vi phạm tội 3
II Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội 4
1 Vai trò của nạn nhân trong việc trở thành nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm thực hiện 4
2 Vai trò của nạn nhân có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu ý định phạm tội của người phạm tội 7
III Liên hệ với tội phạm giết người ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số kiến nghị, biện pháp phòng ngừa có liên quan 8
1 Liên hệ với tội phạm giết người ở Việt Nam hiện nay 8
2 Kiến nghị và biện pháp phòng ngừa tội phạm từ yếu tố nạn nhân 11
C KẾT LUẬN 12
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
2
Trang 4A MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựuquan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao Công cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội được chú trọng; an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội được đẩy mạnh quan tâm Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cố gắng, tuy nhiên hiện nay tìnhhình tội phạm ở nước ta vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp Tội phạm gia tăng nhanh chóng
đã gây nhức nhối trong nhân dân và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội Điều này đặt ra vấn đềcấp thiết là cần đẩy mạnh việc nghiên cứu và tăng cường hoạt động phòng ngừa tội phạm.Chính việc nghiên cứu về tội phạm học đã từng bước giải quyết vấn đề trên Mặt khác, trongnghiên cứu tội phạm học, ngoài việc tìm hiểu riêng về tội phạm thì yếu tố nạn nhân của tộiphạm cũng là một vấn đề hết sức quan trọng Nghiên cứu nạn nhân không chỉ giúp cho việcđánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của tình hình tội phạm mà qua nghiên cứu mốiliên hệ giữa các nạn nhân với tội phạm có thể tìm hiểu được nguyên nhân và điều kiện củamột số loại tội phạm cũng như cho phép chúng ta dự đoán được tình hình tội phạm ẩn Đây
là vấn đề quan trọng giúp cho quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm đạt được kết quảtốt Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay thìviệc nghiên cứu, phân tích, làm rõ vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặcbiệt cả về lý luận lẫn thực tiễn Xuất phát từ ý nghĩa trên thì một câu hỏi đặt ra là: Yếu tố nạnnhân đóng vai trò như thế nào trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội?
Trước vấn đề cần quan tâm, em xin chọn đề tài “Trình bày vai trò của nạn nhân trong
cơ chế hình thành hành vi phạm tội? Liên hệ với tội phạm giết người ở Việt Nam hiện nay”
làm bài tiểu luận kết thúc học phần môn Tội phạm học của mình
Trang 5B NỘI DUNG
I Lý luận chung về nạn nhân của tội phạm và cơ chế hình thành hành vi phạm tội
1 Lý luận chung về nạn nhân của tội phạm
1.1 Khái niệm nạn nhân của tội phạm
Hiện nay, có thể thấy rằng vấn đề nạn nhân của tội phạm là nội dung luôn được cácnhà khoa học quan tâm đặt ra nghiên cứu và được các nhà lập pháp chú ý đề cập đến trongcác văn bản pháp luật Vậy để hiểu được khái niệm nạn nhân của tội phạm là gì thì trước hết
cần phải nắm được thế nào là “nạn nhân”? Theo đó thì “nạn nhân” là người bị tai nạn hoặc
người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến [1] Hay nói cách khác, nạn nhân lànhững cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản Nạn nhân là cá nhân,
tổ chức gánh chịu hậu quả bên ngoài gây ra, họ có thể là: Nạn nhân của chiến tranh, nạnnhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn lao động, nạn nhân của tai nạn giao thông, nạn nhâncủa tội phạm
Từ khái niệm trên có thể khẳng định: Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổchức phải chịu những hậu quả thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm,tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác mà hậu quả thiệt hại này do hành vi phạmtội gây ra [2] Từ định nghĩa trên, có thể hiểu các đặc điểm khái quát về nạn nhân của tộiphạm như sau: nạn nhân phải là cá nhân hoặc tổ chức còn tồn tại vào thời điểm xảy ra và tổchức phải là tổ chức được hoạt động hợp pháp Những cá nhân và tổ chức này có thể bị hành
vi phạm tội trực tiếp tác động (nạn nhân trực tiếp) hoặc có thể bị hành vi phạm tội tác đôngmột cách gián tiếp (nạn nhân gián tiếp), nhưng đều phải gánh chịu những hậu quả trực tiếp
từ hành vi phạm tội
1.2 Phân loại nạn nhân và ý nghĩa việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm
* Phân loại nạn nhân của tội phạm
Thứ nhất, căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn nhân của tội phạm
thành 2 nhóm: Nhóm nạn nhân là cá nhân (Đây là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm.Nhóm nạn nhân này có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về cả tính mạng, sức khoẻ, danh dự,nhân phẩm… Nhóm nạn nhân là cá nhân không chỉ bao gồm những nạn nhân trực tiếp màbao gồm cả những nạn nhân gián tiếp) và nhóm nạn nhân là tổ chức (Đây là nhóm nạn nhânchỉ có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về mặt kinh tế Nhóm nạn nhân này chỉ có các nạn
Trang 7Thứ hai, căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn nhân, có thể chia
nạn nhân của tội phạm thành 3 nhóm: Nhóm nạn nhân trực tiếp, nhóm nạn nhân gián tiếp(nạn nhân thứ cấp) và nhóm nạn nhân mở rộng (nạn nhân thứ ba)
Thứ ba, căn cứ vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, có thể chia nạn
nhân của tội phạm thành 2 nhóm: Nạn nhân có lỗi (những nạn nhân đã có các hành vi xử sựkhông đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành viphạm tội thực hiện) và nạn nhân không có lỗi (những nạn nhân hoàn toàn xử sự đúng nhữngchuẩn mực đạo đức, pháp luật Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm hoàn toàn nằmngoài phạm vi xử sự của họ)
* Ý nghĩa việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm
Việc nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việcxây dựng, thực hiện tốt các chính sách phòng ngừa tội phạm Trước hết, nghiên cứu nạnnhân của tội phạm cho phép xác định phạm vi chính xác những người được coi là nạn nhâncủa tội phạm và những người có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm Đánh giá mộtcách toàn diện các yếu tố có vai trò quan trọng từ phía nạn nhân trong việc thúc đẩy làmhình thành ý định phạm tội và thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tìm hiểuđặc trưng của các nhóm người có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm là cơ sở quantrọng trong việc xây dựng những định hướng cũng như các biện pháp phòng ngừa [4] Đồngthời, nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp cho việc hoàn thiện các văn bản pháp luật, cácchính sách hình sự, chính sách xã hội để tăng cường việc bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tộiphạm và gia đình họ Điều này nhằm đảm bảo sự hợp tác tích cực của những người này vớicác cơ quan tư pháp hình sự cũng như trợ giúp cho họ sớm ổn định cuộc sống
2 Lý luận chung về cơ chế hình thành hành vi phạm tội
2.1 Khái quát về cơ chế hình thành hành vi phạm tội
Trước hết, để biết được thế nào là cơ chế hình thành hành vi phạm tội thì cần hiểu
được khái niệm về “hành vi phạm tội”? Theo đó thì “hành vi phạm tội” là hành vi thỏa mãn
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Cụ thể thì hành vi phạm tội phải có đầy đủ những dấuhiệu về chủ thể, mặt chủ quan và mặt khách quan của cấu thành tội phạm Từ khái niệm trên
và những yếu tố có liên quan thì có thể thấy rằng, cơ chế hình thành hành vi phạm tội chính
là mối liên
Trang 8hệ và sự tác động qua lại giữa những tâm lý tiêu cực bên trong của chủ thể và những tình
Trang 9huống tiêu cực hay hoàn cảnh bên ngoài, hình thành nên động cơ phạm tội, kế hoạch hóaviệc phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội của chủ thể
2.2 Đặc trưng của cơ chế hình thành hành vi phạm tội
Cơ chế hình thành hành vi phạm tội là một cơ chế hết sức phức tạp bao gồm hai bộphận cơ bản tác động qua lại lẫn nhau Bao gồm cả các yếu tố bên ngoài môi trường và cácyếu tố bên trong của tội phạm Quá trình diễn ra các yếu tố tiêu cực từ môi trường kháchquan được lặp đi lặp lại sẽ tác động, ảnh hưởng đến tâm - sinh lý của người phạm tội, từ đóhình thành lên phẩm chất tâm lý tiêu cực của cá nhân và dẫn đến hành vi phạm tội Cơ chếnày thông thường thể hiện qua ba khâu cơ bản: quá trình hình thành ý định phạm tội; quátrình kế hoạch hóa việc phạm tội và quá trình thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, khôngphải bất cứ tội phạm nào khi thực hiện trên thực tế cũng phải trải qua đủ ba khâu này mà nócòn phụ thuộc vào hành vi phạm tội trên thực tế, lỗi của chủ thể, yếu tố liên quan đến nạnnhân và sự phát triển của hoạt động phạm tội [5]
II Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội
Trước hết, có thể khẳng định rằng nạn nhân đóng một vai trò vô cùng quan trọngtrong việc hình thành hành vi phạm tội của tội phạm Vai trò này được thể thông qua cáchành vi, cử chỉ, các đặc điểm nhân thân của nạn nhân và cách ứng xử của nạn nhân trong cáctình huống cụ thể Và có thể nói rằng, mỗi tình huống, hoàn cảnh khác nhau thì vai trò củanạn nhân cũng khác nhau Về cơ bản, có thể thấy nạn nhân có hai vai trò chủ yếu: Đó là nạnnhân có vai trò trong việc trở thành nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm đượcthực hiện Bên cạnh đó thì nạn nhân cũng có vai trò trong việc hạn chế được phần nào tộiphạm xảy ra trên thực tế Cụ thể các vai trò này như sau:
1 Vai trò của nạn nhân trong việc trở thành nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm thực hiện
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân có một đặc điểm nhân thân (thói quen, lối sống, đặcđiểm tâm sinh lý, thể chất…) và hành vi khác nhau Chính những đặc điểm nhân thân (thóiquen, lối sống, đặc điểm tâm sinh lý…) cũng như hành vi của mỗi người khi gặp một số điềukiện bên ngoài thuận lợi sẽ tạo ra nguy cơ và khả năng biến họ trở thành nạn nhân của tìnhhình tội phạm Chính vì vậy, để đánh giá đúng được vai trò của nạn nhân thì cần đi sâu vàotìm hiểu yếu tố nhân thân và hành vi của nạn nhân kể trên Cụ thể như sau:
Trang 10* Đối với đặc điểm nhân thân của nạn nhân:
Thứ nhất, những đặc điểm tâm, sinh lý của nạn nhân là nguyên nhân quan trọng làm
phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm thực hiện
Trước hết, xét về đặc điểm tâm lý của nạn nhân thì chính những người tính khí nóngnảy, bồng bột, cục cằn thô lỗ đã tạo ra những điều kiện khách quan rất thuận lợi cho việchình thành ý định phạm tội Trên thực tế đã cho thấy điều đó Chẳng hạn như việc xích mích,
va chạm nhẹ giữa hai bên mà có thể giải quyết một cách nhẹ nhàng điềm tĩnh, thậm chí đây
là vấn đề không hề phức tạp Nhưng đối với người có khí chất nóng nảy, cục cằn thô lỗkhông thể làm chủ được bản thân mà có lời nói, cử chỉ không văn minh, không khôn khéo;điều này có thể sẽ hình thành ý định phạm tội cho đối phương và thúc đẩy việc thực hiệnhành vi phạm tội Tiếp đó là việc nạn nhân có những phẩm chất tâm lý lệch lạc, tiêu cực Cóthể kể đến một số yếu tố như lòng tham, sự ích kỉ thậm chí sự coi thường các chuẩn mực xãhội, quá coi trọng giá trị đồng tiền, coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm củangười khác… [6] Những đặc điểm, phẩm chất tâm lý này thiếu sự chuẩn mực, lệch lạc, xử
sự không đúng đắn, thậm chí các hành vi gây gổ, khiêu khích, từ đó kích động làm phát sinh
ý định phạm tội cũng như quyết định thực hiện hành vi phạm tội Ví dụ như đối với một số
vụ án hiếp dâm, cưỡng dâm thì nguyên nhân một phần xuất phát từ hành vi lệch chuẩn củanạn nhân như việc ăn mặc hở hang, thiếu tế nhị và quá dễ dãi trong các mối quan hệ của bảnthân Bên cạnh đó, một số đặc điểm tâm lý khác của nạn nhân như: Tâm lý quá tự tin, khôngchú ý tới sự an toàn của bản thân hoặc tâm lý thiếu đề cao cảnh giác đối với việc bảo vệ tàisản của mình hay tâm lý thích phô trương tài sản… cũng có vai trò lớn trong việc thúc đẩyhành vi phạm tội Điều này có thể kể đế các vụ trộm cắp tài sản trong gia đình thời gian qua
mà một phần nguyên nhân rất lớn là do chủ nhà sơ hở, thiếu cảnh giác, chủ quan không khóacửa trước khi ra ngoài
Bên cạnh yếu tố tâm lý, yếu tố sinh học cũng có vai trò thúc đẩy việc thực hiện hành
vi phạm tội Theo đó thì xuất phát từ đặc điểm sinh học của một nhóm người đã tạo ra điềukiện thuận lợi hình thành tâm lý phạm tội của các đối tượng Các đặc điểm này có thể kể đếnnhư yếu tố về độ tuổi, giới tính, hay sức khỏe Cụ thể thì những người yếu thế trong xã hộinhư người già, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ có thai, người mắc bệnh tâm thần… có đặcđiểm tự bảo vệ thấp sẽ tạo cơ hội và kích thích hành vi phạm tội Ở đây, đối với phụ nữ và
Trang 118trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) là những người không có khả năng phòng vệ hoặc khả năngphòng vệ
Trang 12thấp Kết hợp với tâm lý sợ hãi, hoảng loạn không dám tố giác hành vi phạm tội đã tạo thuậnlợi cho quá trình hình thành ý định và thực hiện hành vi phạm tội của đối tượng Chính vìvậy, phụ nữ và trẻ em thường là nạn nhân của các tội phạm về xâm hại tình dục như hiếpdâm, cưỡng dâm, giao cấu hay các tội phạm cướp giật, cưỡng đoạt tài sản… Còn đối ngườigià, người khuyết tật và người mắc bệnh tâm thần thì do đặc điểm về sức khỏe, tuổi tác cũngkhiến cho họ không có khả năng tự phòng vệ Thậm chí nhiều người trong nhóm này khôngnhận thức được hành vi phạm tội mà chỉ coi đó là những hành vi thông thường Ngoài ra,nhóm người này hầu hết có cuộc sống bị phụ thuộc vào những người thân trong gia đình.Đây cũng là một lý do hết sức quan trọng khiến cho khả năng trở thành nạn nhân của họ caohơn hẳn những nhóm người khác, nhất là khi người thực hiện hành vi phạm tội là nhữngngười thân mà nạn nhân hoàn toàn phụ thuộc
Thứ hai, thói quen và lối sống trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân quan
trọng hình thành ý định và thực hiện hành vi phạm tội của đối tượng
Điều này có thể thấy rằng, những thói quen xấu, những lối sống thiếu lành mạnh sẽmang những rủi ro nhất định Những thói quen, lối sống này kết hợp với những điều kiện cụthể làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm Ví dụ những thói quen không tốtnhư việc rượu chè, cờ bạc, tục tập ở những nơi không lành mạnh như (quán ba, vũ trường,song bạc…) làm cho các cá nhân dễ bị lợi dụng và trở thành nạn nhân của tội phạm, nhất làphụ nữ Ngoài ra đối với yếu tố về lối sống thì được thể hiện hàng ngày thông qua các hành
vi, xử sự như cách đi lại, ăn nói, đối xử, phong cách làm việc, vui chơi giải trí… Có nhữnglối sống tưởng chừng như vô hại nhưng khi nó gặp hoàn cảnh cụ thể như trong trường hợpkhả năng tự bảo vệ bản thân thấp hay gặp những người có động cơ, mục đích phạm tội thìnhững đặc điểm, lối sống ấy lại làm tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm
Ví dụ như cá nhân có đặc trưng luôn khoe khoang, thích phô trương tài sản hay sự thiếu thậntrọng, mất cảnh giác trong bảo vệ tài sản (nhất là các tài sản giá trị cao) là nguy cơ trở thànhnạn nhân của nhóm các tội phạm về xâm phạm sở hữu Ngoài ra, trong cuộc sống hiện naythì có nhiều thói quen, lối sống mới được hình thành trong các tầng lớp dân cư, như lối sốngkhông quan tâm nhiều đến công việc của người khác, lối sống thiếu sự gắn kết trong cộngđồng dân cư nhất là hàng xóm láng giềng, lối sống cô lập, khép kín đang làm tăng nguy cơtrở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Đặc biệt là các tội phạm về trộm cắp tài sản
Trang 13Thứ ba, yếu tố nghề nghiệp, địa vị xã hội… cũng là một yếu tố có vai trò khá quan
trọng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm Theo đó thì mỗi nghềnghiệp đặc thù riêng sẽ có nguy cơ trở thành nạn nhân của một loại tội phạm khác nhau Vớimột số người làm các nghề liên quan đến xe ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc… rất dễtrở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản, giết người - cướp tài sản; những người làm trongcác cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý như: Công an, hải quan, kiểm sát, tòa án dễtrở thành nạn nhân của tội phạm cố ý gây thương tích, tội phạm chống người thi hành côngvụ
* Đối với hành vi của nạn nhân:
Hành vi của nạn nhân cũng có tác động rất lớn đến việc thực hiện hành vi phạm tội.Trên thực tế dù là hành vi tiêu cực, hành vi cẩu thả hay hành vi tích cực của nạn nhân đều cótác động đến vấn đề trên Theo đó thì với hành vi tích cực của nạn nhân có thể thấy rằng:Không phải lúc nào nạn nhân có lỗi mới dẫn đến hành vi phạm tội mà có nhiều trường hợpnạn nhân không hề có lỗi, thậm chí là có hành động, mục đích cao cả nhưng vẫn phải chịuhậu quả do tội phạm gây ra Ví dụ như việc những người đứng lên bảo vệ chính nghĩa, bảo
vệ người yếu thế bị ức hiếp nhưng cuối cùng dẫn đến việc bị trả thù, trở thành nạn nhân củatội phạm Bên cạnh đó, với hành vi tiêu cực của nạn nhân thì những hành vi này có thể khiếncho người phạm tội không kiềm chế được mà dẫn đến hành vi phạm tội Cuối cùng là đối vớihành vi cẩu thả của nạn nhân như việc quá cả tin, dễ dãi đã dẫn đến việc làm hạn chế sựkiểm soát bên trong của nạn nhân khiến họ dễ bị xâm phạm bởi tội phạm hơn
2 Vai trò của nạn nhân có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu ý định phạm tội của người phạm tội
Vai trò của nạn nhân có thể làm hạn chế được phần nào tội phạm xảy ra trên thực tế.Theo đó thì nếu nạn nhân là người chủ động phòng ngừa, có ý thức cảnh giác cao độ, tự ýthức được việc cần phải bảo vệ tài sản của mình cũng như bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh
dự nhân phẩm của bản thân thì điều này sẽ là cơ sở quan trọng có thể đưa đến việc từ bỏ ýđịnh phạm tội cũng như từ bỏ việc thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội Ví dụnhư hành vi cất giữ tài sản một cách cẩn thận, không phô trương tài sản hay hạn chế việc vừa
di chuyển, vừa nghe điện thoại sẽ làm giảm nguy cơ của tội cướp và cướp giật tài sản Trongnhững trường hợp này, người phạm tội sẽ thấy không có cơ hội hoặc khó có cơ hội để