1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa nội tim mạch bệnh viện đa khoa tỉnh bắc giang năm 2022

46 13 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2022
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Người hướng dẫn TS.BS Trương Tuấn Anh
Trường học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 335,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀT H Ự C TIỄN (9)
    • 1. Cơ sởlýluận (9)
      • 1.1. Tổng quan vềsuytim (9)
      • 1.2. Tự chăm sóc của người bệnh suy timm ạ n tính (14)
    • 2. Cơ sởthựctiễn (18)
      • 2.1. Nghiêncứutựchămsóccủangườibệnhsuytimmạntrênthếgiới (18)
      • 2.2. NghiêncứutựchămsóccủangườibệnhsuytimmạntạiViệtNam (19)
  • Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦNG I Ả I QUYẾT (22)
    • 2.1. Thông tin chung về Bệnh viện Đa khoa tỉnhB ắ c Giang (22)
    • 2.2. Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoaNộitimmạch-BệnhviệnĐakhoatỉnhBắcGiangnăm2022 (23)
      • 2.2.1. Đối tượng và phương phápk h ả o sát (23)
      • 2.2.2. Kết quảkhảosát (24)
  • Chương 3:BÀNLUẬN....................................................................................................24 (0)
    • 3.1. Thực trạng củavấnđề (30)
      • 3.1.1. Thông tin chung về đối tượngn g h i ê n cứu (30)
      • 3.1.2. Thực trạng kiến thứctự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn (31)
      • 3.1.3. Thựctrạngthựchànhtựchămsóccủangườibệnhsuytimmạn (33)
    • 3.2. Thuận lợi, khó khăn củađ ơ n vị (35)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

Microsoft Word NGUYá»—N THá»− HƯỜNG LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu thực hiện chuyên đề, em đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo[.]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀT H Ự C TIỄN

Cơ sởlýluận

Suy tim là một hội chứng bệnh lý phổ biến trong thực hành y học, thường phát sinh hậu quả từ các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh động mạch vành và bệnh tim bẩm sinh.

Hình 1.1: Hình ảnh suy tim

Tim và hệ tuần hoàn thường xuyên điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể trong các hoạt động hàng ngày Khi tim suy, khả năng cung cấp oxy (máu) không còn đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể nữa Suy tim là tình trạng bệnh lý, gây ra sự bất thường trong chức năng tim và dẫn đến khả năng bơm máu giảm, khiến cơ thể không nhận đủ oxy cần thiết cho các hoạt động hàng ngày.

Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, xuất phát từ tổn thương thực thể hoặc rối loạn chức năng của quả tim Theo Hội Tim mạch học Việt Nam, suy tim gây ra tình trạng tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu), ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng tim và sức khỏe người bệnh.

1.1.2 Phân loại, nguyên nhân suytim

Có nhiều cách phân loại suy tim (ST) khác nhau, dựa trên cở sở[ 2 ] :

- Theo hình thái định khu: Suy tim phải, suy tim trái và suy tim toànb ộ

- Tình trạng tiến triển: Suy tim cấp và suy timmạn.

- Lưu lượng tim: Suy tim giảm lưu lượng và suy tim tăng lưul ư ợ n g

- Suy tim tâm thu và suy tim tâmtrương.

Nguyên nhân gây suy tim trái bao gồm các bệnh như tăng huyết áp động mạch, bệnh động mạch vành, các bệnh van tim như hở hoặc hẹp van động mạch chủ, hở van hai lá, cùng với các tổn thương cơ tim, rối loạn nhịp tim và một số bệnh tim bẩm sinh [2].

Nguyên nhân gây suy tim phải chủ yếu bao gồm các bệnh lý tim mạch như hẹp van hai lá, tim bẩm sinh, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn gây tổn thương nặng ở van ba lá, và suy tim trái kéo dài Ngoài ra, các nguyên nhân về phổi và dị dạng lồng ngực hoặc cột sống cũng góp phần dẫn đến suy tim phải, như các bệnh phổi mạn tính, tăng áp lực động mạch phổi nguyên phát, gù vẹo cột sống, và dị dạng lồng ngực.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

1.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim gồm: Tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp cơ tim và nhịptim

Tiền gánh: Là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong thời kỳ tâm trương, trước lúc tâm thất co bóp.

Hậu gánh: Là sức cản của các động mạch đối với sự co bóp của tâm thất.

Sức co bóp của cơ tim: Làm tăng thể tích tống máu trong thì tâm thu.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Phì đại tâm thất là tình trạng tăng bề dày các thành tim, có thể kèm theo giãn buồng tim nhằm thích nghi với tình trạng tăng hậu gánh Khi hậu gánh tăng, thể tích tống máu giảm; để bù đắp, cơ tim phải tăng bề dày thành tim, giúp duy trì chức năng bơm máu hiệu quả.

- Sự thoái hóa và chết tế bào cơ tim theo chương trình: Làm tim dày và giãn ra nhằm thích nghi với điều kiệnmới.

- Hệ thần kinh giao cảm: Làm tăng nồng độ catecholamine trong máu, dẫn đến tăng nhịp tim, tăng sức co bóp cơ tim và gây com ạ c h

Cường giao cảm tăng hoạt động của hệ thống thần kinh giao cảm ngoại vi, dẫn đến co mạch ngoại vi ở da, thận và các tạng trong ổ bụng Điều này giúp cơ thể điều chỉnh lưu lượng máu, ưu tiên cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho các cơ quan quan trọng nhằm đảm bảo phản ứng nhanh và thích nghi trong các tình huống đòi hỏi sự tập trung cao hoặc căng thẳng.

Tăng hoạt động hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone (RAAS) làm tăng nồng độ Angiotensin II trong tuần hoàn, một chất co mạch mạnh có khả năng giữ muối và nước, góp phần làm tăng thể tích máu và sức co bóp của cơ tim, từ đó hỗ trợ cải thiện chức năng tim trong các tình trạng suy giảm tuần hoàn.

Trong suy tim giai đoạn muộn, hệ Arginin-Vasopressin hoạt động tăng cường, khi vùng dưới đồi tuyến yên kích thích tiết hormone này Arginin-Vasopressin giúp làm tăng tác dụng co mạch ngoại vi của Angiotensin II và thúc đẩy tái hấp thu nước tại các ống thận, góp phần làm tăng khả năng giữ nước và tăng huyết áp trong quá trình bệnh tiến triển.

Tăng tiết các peptid tăng thải natri của tâm nhĩ và tâm thất (ANP, BNP) đóng vai trò quan trọng trong việc gây giãn mạch và lợi tiểu thông qua quá trình tăng thải natri Cơ chế này giúp giảm lượng muối và nước tích tụ trong cơ thể, từ đó giảm căng thẳng cho hệ tuần hoàn và cân bằng điện giải Nhờ cơ chế bù trừ này, cơ thể hạn chế hiện tượng phù nề và phù hợp với các cơ chế điều hòa huyết áp tự nhiên.

- Một số yếu tố khác: Các hệ thống giãn mạch Bradykinin, các Prostaglandin và cácc h ấ t g i ã n m ạ c h N O c ũ n g t ă n g t i ế t , n h ư n g đ ó n g v a i t r ò k h i ê m t ố n t r o n g s u y t i m

Các biểu hiện của suy tim mạn phản ánh rõ ràng các rối loạn huyết động, bao gồm tình trạng quá tải thể tích dịch gây ứ trệ tuần hoàn và giảm khả năng tống máu dẫn đến giảm tưới máu tổ chức.

Cơ sởthựctiễn

2.1 Nghiên cứu tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn trên thếg i ớ i

Nghiên cứu toàn cầu về tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn đã chỉ ra rằng, tại Việt Nam, có khoảng 10% người bệnh không sử dụng thuốc đúng quy định và hơn 40% không thường xuyên luyện tập thể dục Trong khi đó, Việt Nam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ người bệnh không tuân thủ hạn chế muối thấp nhất, đạt 22% Bên cạnh đó, hơn một nửa số người bệnh trên toàn thế giới thiếu vận động hàng ngày, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý bệnh lý của họ.

Theo nghiên cứu của Jordan (2017), điểm trung bình kiến thức của người bệnh về tự chăm sóc tim mạch còn thấp, cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe Khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân được đánh giá bằng thang đo SCHFI với điểm số từ thấp, phản ánh sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao kỹ năng tự quản lý bệnh, góp phần cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ.

Các thang điểm tự chăm sóc trung bình đều thấp hơn ngưỡng 70 điểm, cho thấy phần lớn người bệnh suy tim có khả năng tự chăm sóc chưa đạt yêu cầu Cụ thể, có đến 66% người bệnh suy tim có điểm về duy trì chăm sóc dưới 70, 70% về quản lý chăm sóc dưới 70 và tới 77% về sự tự tin dưới 70 điểm, phản ánh rõ ràng rằng hành vi tự chăm sóc của họ vẫn còn nhiều hạn chế.

Nghiên cứu trên hơn 200 bệnh nhân tại ba bệnh viện ở Mỹ cho thấy việc tuân thủ các chiến lược tự chăm sóc được khuyến cáo là rất kém, với chỉ 14% bệnh nhân theo dõi cân nặng hàng ngày, 9% báo cáo theo dõi các triệu chứng, và 34% sử dụng tất cả các loại thuốc theo đơn Ngoài ra, chỉ 20% bệnh nhân nhận được hướng dẫn về chế độ ăn hạn chế natri từ bác sĩ, trong khi 55% trong số đó không tuân theo chế độ này và không thể xác định chính xác lượng natri trong thực phẩm Nghiên cứu từ năm 2009 ở các bệnh nhân suy tim tại Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan và Mexico cũng cho thấy khả năng tự chăm sóc còn yếu, với điểm duy trì chăm sóc cao nhất ở Australia (73,35 điểm) và thấp nhất ở Mexico (57,8 điểm), trong khi điểm quản lý chăm sóc cao nhất là ở Hoa Kỳ (68,2 điểm) và thấp nhất ở Thái Lan (44,43 điểm) Mức độ tự tin trong tự chăm sóc cao nhất thuộc về Mexico (77,0 điểm), còn thấp nhất là ở Thái Lan (54,93 điểm) Tuy nhiên, sự tự chăm sóc vẫn còn bị hạn chế khi các điểm số này còn thấp, cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục và hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình tự quản lý sức khỏe.

70 điểm trở lên, thì tự chămsóccũng không đạt ở hầu hết các nhóm[ 1 8 ]

Một nghiên cứu cắt ngang trên 116 bệnh nhân ngoại trú tại Brazil năm 2013 cho thấy tỷ lệ duy trì chăm sóc là 6,9%, tỷ lệ quản lý chăm sóc đạt 14,7%, mức độ tự tin của người bệnh là 19%, và điểm trung bình tự chăm sóc thường dưới 70 điểm.

2.2 Nghiên cứu tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại ViệtN a m

Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn:

Nghiên cứu cắt ngang của Kiều Thị Thu Hằng tại Khoa tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai (2011) cho thấy có đến 50% bệnh nhân từng nhập viện vì suy tim có điểm tự chăm sóc ở mức thấp, trong đó 37,5% không tuân thủ việc sử dụng thuốc đúng liều lượng và 52,5% không thực hiện chế độ ăn giảm muối đúng quy định, phản ánh sự cần thiết cải thiện kỹ năng tự chăm sóc cho người bệnh suy tim.

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của người cao tuổi bị suy tim tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy có tới 50,9% bệnh nhân có hành vi tự chăm sóc ở mức thấp Kết quả này cho thấy cần tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức và kỹ năng tự chăm sóc cho người cao tuổi bị suy tim, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỷ lệ biến chứng Thông qua việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố liên quan sẽ giúp các nhân viên y tế thiết kế các chương trình can thiệp phù hợp để hỗ trợ người bệnh tự chăm sóc hiệu quả hơn.

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Hương về dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của người trưởng thành suy tim tại Việt Nam cho thấy hầu hết đối tượng có kiến thức và hành vi tự chăm sóc ở mức trung bình Trong đó, hành vi tự chăm sóc phổ biến nhất là uống thuốc theo đơn, còn các hành vi như theo dõi lượng nước tiểu, phù, cân nặng, hạn chế rượu bia và tiêm phòng cúm ít được thực hiện.

Năm 2016, nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc Anh trên 200 bệnh nhân suy tim mạn tại Viện Tim mạch Việt Nam cho thấy đa số người bệnh có kiến thức về bệnh ở mức trung bình hoặc khá, nhưng chỉ có 1% có kiến thức tốt Trong đó, 57% người bệnh hiểu không đúng hoặc không biết gì về suy tim, chỉ 40,5% hiểu đúng về việc hạn chế uống nước, còn 47,5% lựa chọn sai các thực phẩm chứa nhiều muối Ngoài ra, chỉ 18% theo dõi cân nặng hàng ngày và 23% thực hành ăn giảm muối mức thấp, số người tập luyện đúng cách chiếm khoảng 30%, và có tới 4% thỉnh thoảng hoặc không dùng thuốc theo đơn bác sĩ, điều này làm nổi bật tầm quan trọng của nâng cao kiến thức và ý thức tự quản lý bệnh suy tim mạn.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hải (2017) về thực trạng hành vi tự chăm sóc của người cao tuổi suy tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba - Đồng Hới, Quảng Bình cho thấy có đến 76% bệnh nhân có kiến thức thấp về suy tim, đồng thời 82,6% họ có hành vi tự chăm sóc ở mức thấp, trong khi chỉ 17,4% bệnh nhân thực hiện hành vi tự chăm sóc ở mức cao Trong các hành vi tự chăm sóc, việc uống thuốc theo đơn của bác sĩ được người bệnh thực hiện nhiều nhất, với 59,5% đồng ý và 13,6% rất đồng ý, cho thấy tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị trong quá trình chăm sóc bệnh lý suy tim.

Phạm Thị Hồng Nhung nghiên cứu can thiệp giáo dục một nhóm có so sánhtrước sau cho

81 người bệnh suy tim mạn điều trị nội trú tại Khoa nội Tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định từ tháng 01 đến tháng 04 năm

Trong nghiên cứu năm 2018, việc tư vấn trực tiếp qua nhóm nhỏ từ 3-5 người bệnh đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kỹ năng chăm sóc của người bệnh suy tim mạn—trước can thiệp, điểm số thực hành trong các lĩnh vực duy trì chăm sóc, quản lý chăm sóc, và sự tự tin đều thấp, lần lượt là 41,52 ± 20,51; 35,56 ± 15,21; và 50,45 ± 16,11 điểm Sau một tháng thực hiện can thiệp, các điểm số này đã tăng lên đáng kể, lần lượt là 53,90 ± 20,03; 52,96 ± 15,08; và 59,31 ± 14,68 điểm, cho thấy rõ hiệu quả của chương trình giáo dục trong nâng cao kỹ năng tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, trước can thiệp, hành vi tự chăm sóc của người bệnh còn hạn chế, và đề xuất rằng công tác giáo dục sức khỏe cần được duy trì và thực hiện đều đặn bởi nhân viên y tế để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

TácgiảLêThịLiễunghiêncứucanthiệpcósosánhtrướcsautrên86ngườibệnh suy tim mạn điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hợp Lực trong thời giantừtháng 12n ă m

Kết quả từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020 cho thấy, trước can thiệp, kiến thức trung bình đạt 10,0 ± 2,89 điểm trên tổng điểm 22, nhưng sau 1 tuần đã tăng rõ rệt lên 19,6 ± 3,01 điểm và duy trì ở mức cao sau 1 tháng là 18,6 ± 4,00 điểm Trong lĩnh vực thực hành chăm sóc người bệnh suy tim mạn, điểm trung bình trước can thiệp chỉ đạt 35,1 ± 17,5/100, sau đó tăng lên 54,9 ± 12,4 điểm sau 1 tuần và 57,6 ± 12,2 điểm sau 1 tháng Đối với thực hành quản lý chăm sóc, điểm trung bình trước can thiệp là 47,2 ± 14,63, sau can thiệp 1 tuần nâng lên 64,5 ± 13,3 và sau 1 tháng là 68,4 ± 13,4 điểm Ngoài ra, kỹ năng tự tin chăm sóc trước can thiệp đạt 41,3 ± 15,39 điểm, sau can thiệp 1 tuần tăng lên 57,6 ± 15,2 và sau 1 tháng là 62,5 điểm.

Kết quả khảo sát cho thấy điểm số trung bình của người bệnh suy tim mạn là 16,6 trên tổng 100, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01), cho thấy nhiều người còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc Tuy nhiên, sau khi can thiệp giáo dục sức khỏe, các bệnh nhân đã có sự cải thiện rõ rệt trong kiến thức và thực hành tự chăm sóc Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng tự quản lý bệnh của người bệnh suy tim mạn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦNG I Ả I QUYẾT

Thông tin chung về Bệnh viện Đa khoa tỉnhB ắ c Giang

Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang là bệnh viện hạng I được thành lập vào tháng 6 năm

Bệnh viện có hơn 110 năm phát triển, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của dân tộc và tỉnh Bắc Giang Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bệnh viện đã góp phần quan trọng vào công cuộc giữ gìn độc lập, tự do của Tổ quốc Hiện nay, bệnh viện đã đạt được bước tiến vượt bậc về quy mô, cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Trung bình mỗi ngày, bệnh viện khám chữa bệnh cho khoảng 600 đến 700 lượt bệnh nhân trong và ngoài tỉnh, với lượng bệnh nhân nội trú từ 800 đến 1000 người, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại Bắc Giang và các tỉnh lân cận.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang thuộc Sở Y tế tỉnh Bắc Giang, có quy mô 1000 giường bệnh đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng Cơ cấu tổ chức bao gồm 10 phòng chức năng, 32 khoa lâm sàng và 5 khoa cận lâm sàng, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Bệnh viện còn có 3 trung tâm hỗ trợ chuyên môn, đảm bảo sự đa dạng và chuyên sâu trong công tác khám, chữa bệnh và phòng ngừa dịch bệnh.

Với cơ cấu trình độ điều dưỡng: CKI: 04, đại học: 238, cao đẳng: 59, trung học: 220

Bệnh viện đảm nhiệm chức năng khám và chữa bệnh cho người dân, hỗ trợ nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đồng thời thực hiện đào tạo đa khoa nhằm phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao Bệnh viện còn có vai trò chỉ đạo tuyến, hướng dẫn kỹ thuật và quản lý các cơ sở y tế tuyến dưới, góp phần phòng bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Hình 2.1: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang

Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoaNộitimmạch-BệnhviệnĐakhoatỉnhBắcGiangnăm2022

Khoa Nội Tim mạch gồm 27 cán bộ, trong đó có 10 bác sĩ và 17 điều dưỡng, với đội ngũ điều dưỡng trình độ đại học là 14 người và cao đẳng là 3 người Khoa liên tục tiếp nhận và điều trị nội trú các bệnh về tim mạch, đảm bảo khả năng chăm sóc từ 70 đến 80 người bệnh nội trú mỗi ngày Ngoài ra, khoa còn điều trị ngoại trú cho khoảng 180 đến 200 lượt bệnh nhân hàng ngày, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế về tim mạch tại bệnh viện.

Trong 6 tháng đầu năm 2022 khoa đã tiếp nhận hơn 600 lượt người bệnh suy tim mạn đến khám và điều trị Qua thực tiễn chăm sóc người bệnh tại khoa có nhiều người bệnh suy tim mạn thường xuyên phải tái nhập viện với các triệu chứng ngày càng nặng hơn, đa số người bệnh chưa có kiến thức đầy đủ về bệnh, cách dùng thuốc, chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, việc theo dõi và phòng bệnh; cũng như chưa biết cách thực hiện tốt các biện pháp tự chăm sóc để kiểm soát bệnh Do đó, tôi tiến hành chuyên đề: “Thực trạng kiến thức và thực hành của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang” từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thực hành tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn.

2.2 Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy timmạntại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang năm2022.

2.2.1 Đối tượng và phương pháp khảosát Đối tượng khảo sát: Người bệnh được chẩn đoán suy tim mạn >2 tháng theo Hội tim mạch Việt Nam điều trị tại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh BắcGiang từ ngày 22/5 – 30/6/2022.

- Người bệnh đồng ý tham gia nghiêncứu

- Người bệnh có khả năng nhận thức và trả lời câuh ỏ i

- Người bệnh điều trị nội trú > 2lần.

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiêncứu

- Người bệnh suy tim mức độ nặng đang được điều trị hồi sức tích cực

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắtngang

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ người bệnh được chẩn đoán suy tim mạn trên 2 tháng điều trị tại Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, từ ngày 22/5 đến 30/6/2022, đáp ứng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu trong thời gian khảo sát.

Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp người tham gia với bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn.

Điều tra viên sẽ giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và đảm bảo rằng thông tin bệnh nhân cung cấp trong phiếu khảo sát chỉ nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu và được bảo mật Người tham gia hoàn toàn có quyền từ chối hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không gặp phải hậu quả nào Khi người tham gia đồng ý tham gia, điều tra viên sẽ tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn, giúp thu thập dữ liệu chính xác và tin cậy cho nghiên cứu.

Trong quá trình phỏng vấn, các câu hỏi mà người tham gia không hiểu sẽ được điều tra viên giải thích rõ để giúp họ suy nghĩ và đưa ra câu trả lời chính xác Người tham gia sẽ chọn đáp án phù hợp trong bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Việc giải thích câu hỏi là bước quan trọng để đảm bảo sự hiểu đúng và phản hồi chính xác từ phía người tham gia Điều này giúp nâng cao hiệu quả của quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu chính xác.

Bộ công cụ thu thập gồm 3 phần:

Phần A: Phần thông tin cơ bản đối tượng nghiên cứu

Các câu hỏi về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn,…

Phần B: Kiến thức tự chăm sóc bao gồm 17 câu hỏi đánh giá kiến thức của người bệnh suy tim mạn về việc tự quản lý sức khỏe, được phát triển từ đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Thị Liễu với chủ đề “Thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa năm 2020” Bộ câu hỏi này nhằm giúp đánh giá hiệu quả các chương trình giáo dục sức khỏe và hỗ trợ người bệnh tự kiểm soát bệnh tốt hơn, đã được sự đồng ý của tác giả để đảm bảo tính hợp pháp và chính xác của nội dung.

Phần C: Thực hành tự chăm sóc:

Bài viết trình bày các câu hỏi về thực hành tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mãn tính do tác giả Lê Thị Liễu phát triển, gồm 16 câu hỏi chia thành hai lĩnh vực chính: duy trì chăm sóc và quản lý chăm sóc Những câu hỏi này giúp người bệnh nâng cao nhận thức và kỹ năng tự quản lý bệnh suy tim một cách hiệu quả Thực hành tự chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu các biến chứng của bệnh, đồng thời giúp người bệnh kiểm soát tốt các triệu chứng và duy trì sự ổn định của tình trạng sức khỏe Nội dung các câu hỏi hướng dẫn người bệnh theo dõi các yếu tố liên quan như chế độ ăn, vận động, dùng thuốc, và kiểm tra sức khỏe định kỳ, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc bản thân.

Duy trì việc chăm sóc sức khỏe hàng ngày là yếu tố then chốt để phòng ngừa diễn tiến xấu của suy tim Việc theo dõi cân nặng đều đặn giúp phát hiện sớm các dấu hiệu phù nề hoặc tích tụ dịch trong cơ thể Hạn chế ăn muối là cách hiệu quả để kiểm soát lượng dịch trong cơ thể, giảm tải cho tim Tập thể dục đều đặn phù hợp giúp cải thiện chức năng tim mạch và duy trì thể trạng khỏe mạnh Khám bệnh định kỳ giúp phát hiện sớm các biến chứng và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời Sử dụng thuốc đúng liều lượng theo hướng dẫn của bác sĩ là cách để kiểm soát triệu chứng và ngăn ngừa bệnh tiến triển nặng hơn Việc tự chăm sóc cá nhân còn bao gồm duy trì chế độ ăn lành mạnh, hạn chế đồ ngọt và chất béo không bão hòa xấu Không bỏ qua các triệu chứng bất thường để đi khám kịp thời, tránh tình trạng bệnh nặng hơn Khám sức khỏe định kỳ giúp xây dựng kế hoạch điều trị tối ưu, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh Thực hiện các hành vi tự chăm sóc này góp phần quan trọng vào việc kiểm soát bệnh, nâng cao khả năng sống lâu và sống khỏe mạnh.

Quản lý chăm sóc hiệu quả bao gồm việc nhận biết các biến đổi và triệu chứng của suy tim như phù nề và khó thở, đồng thời có kế hoạch xử lý phù hợp Người chăm sóc cần hạn chế lượng chất lỏng và muối tiêu thụ để giảm tải cho tim, uống đúng thuốc lợi tiểu và theo dõi các dấu hiệu bệnh Khi xuất hiện các triệu chứng nặng hơn, nên liên hệ ngay với bác sĩ để được tư vấn hoặc đến cơ sở y tế khám bệnh Việc đánh giá cách xử lý các triệu chứng giúp điều chỉnh phương pháp chăm sóc phù hợp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân suy tim Quản lý chăm sóc đúng cách giúp kiểm soát tốt các biến đổi của bệnh, hạn chế các biến chứng và cải thiện tiến trình điều trị.

2.2.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiêncứu

Biểu đồ 2.1: Tuổi của người bệnh

Nhận xét:Kết quả cho thấy đa số người bệnh trên 60 tuổi chiếm 66%, nhóm tuổi từ 18 đến 40 chiếm tỷ lệ ít nhất 6%.

Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học (n) Đặc điểm nhân khẩu học Số lượng Tỷ lệ

Trung cấp, Cao đẳng, Đại học 30 32,7

Sống với cả gia đình 60 65,2

Nhận xét:Người bệnhgiớitính namnhiềuhơn nữ(51,1%) Người bệnhsốngtại vùng nôngthônchiếmtỷ lệcaohơn(56,5%).Vềtrìnhđộ họcvấnchiếmđa số làtrunghọccơsở(40,2%).Người bệnhhưu trí chiếm41,3%,tiếpđếnlànông dân(28,3%),thấp nhấtlàcông nhân (3,3%).Phầnlớn ngườibệnhsốngvớicảgiađình(65,2%).

Nhân viên y tế Báo chí, sách, t p chí, tờ rơi ạ Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Bảng 2.2 Một số hướng dẫn người bệnh đã nhận được (n)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ%

Chế độ ăn: Giảm muối, hạn chế chất lỏng 68 73,9

Lối sống: thể dục, hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá… 59 64,1

Tự theo dõi biểu hiện của bệnh và có biện pháp xửl ý phù hợp 36 39,1

Hành vi phòng ngừa: Cúm, phòng viêm phổi… 9 9,8

Khả năng người bệnh suy tim được hướng dẫn về sử dụng thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (94,6%), cho thấy việc cung cấp kiến thức về điều trị đã được chú trọng Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn về các hành vi phòng ngừa như tiêm phòng cúm và viêm phổi còn rất thấp, chỉ chiếm 9,8%, cho thấy cần tăng cường công tác cung cấp thông tin phòng ngừa Ngoài ra, các chỉ dẫn về chế độ ăn (73,9%) và lối sống (64,1%) được thực hiện khá phổ biến, trong khi việc hướng dẫn tự theo dõi triệu chứng bệnh và xử lý phù hợp lại ở mức thấp (39,1%), cho thấy cần nâng cao nhận thức về tự quản lý bệnh cho người bệnh suy tim.

Biểu đồ 2.2 Nguồn thông tin người bệnh tiếp cận được những hướng dẫn điều trịvà chăm sóc suy tim (n)

Nguồn thông tin chính mà người bệnh suy tim mãn tiếp cận từ nhân viên y tế chiếm tỷ lệ cao nhất là 92,4%, cho thấy vai trò của nhân viên y tế trong việc cung cấp kiến thức cho bệnh nhân Tiếp theo, thông tin từ truyền hình và Internet được 54,3%, phản ánh mức độ tiếp cận dễ dàng và phổ biến của các phương tiện truyền thông này Thông tin từ gia đình và bạn bè chiếm 38%, cho thấy sự hỗ trợ và chia sẻ kiến thức trong cộng đồng bệnh nhân Ngoài ra, các nguồn như báo chí, sách, tạp chí, tờ rơi cũng đóng góp khoảng 30,4% trong việc cung cấp kiến thức liên quan đến suy tim mãn, góp phần nâng cao nhận thức của người bệnh về căn bệnh này.

2.2.2.2 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy timm ạ n

Bảng 2.3 Kiến thức về bệnh suy tim của NB (n)

Nội dung Đúng Không đúng

Suy tim là tình trạng bệnh lý 40 43,5 52 56,5

Tiêm chủng và khám định kỳ 37 40,2 55 59,8

Tác dụng của thuốc lợi tiểu 36 39,1 56 60,9

NB suy tim quên uống thuốc, cần uống thuốc ngay khi nhớ ra 38 41,3 54 58,7

Nhận xét:Số ngườibệnhchưacókiếnthứcđúngvềsuy tim làtìnhtrạngbệnh lýcaohơn(56,5%).Kiến thứcvềsử dụngthuốc:đasốngườibệnh chưacókiến thức đúngvề sửdụngthuốc,vềtác dụngcủathuốclợitiểu(chiếm 60,9%).Đasốngười bệnhchưacókiếnthứcvềtiêm chủngvàkhámđịnhkỳ(chiếm 59,8%)

Bảng 2.4 Kiến thức về theo dõi cân nặng của NB (n)

Nội dung Đúng Không đúng

Tự theo dõi cân nặng hàng ngày 39 42,4 53 57,6

Thời gian tốt nhất để cân là vào buổi sáng 44 47,8 48 52,2

Nhận xét:Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức không đúng về theo dõi cân nặng còn cao chiếm từ 52,2% đến 57,6%.

Bảng 2.5 Kiến thức về chế độ ăn uống và tập thể dục của NB (n)

Nội dung Đúng Không đúng

Loại thức ăn có chứa nhiều muối 30 32,6 62 67,4

Loại thực phẩm có chứa ít muối nhất 56 60,9 36 39,1

NB nên nhai kẹo cao su hoặc ăn kẹo cứng để giảm cơn khát 21 22,8 71 77,2

Tác dụng của tập thể dục 19 20,7 73 79,3

NB suy tim khi nào cần ngừng tập thể dục 47 51,1 45 48,9

Người bệnh còn hạn chế về kiến thức về chế độ ăn uống, khi chỉ có 32,6% biết rõ loại thức ăn chứa nhiều muối, trong khi chỉ 22,8% hiểu đúng cách giảm cơn khát bằng cách nhai kẹo cao su hoặc ăn kẹo cứng Về kiến thức tập thể dục, tỷ lệ người bệnh có hiểu biết đúng rất thấp, chỉ đạt 20,7%, nhưng hơn một nửa (51,1%) biết đúng về thời điểm ngừng tập thể dục.

Bảng 2.6 Kiến thức về một số phương pháp tự điều trị của NB (n)

Nội dung Đúng Không đúng

Hạn chế uống nhiều nước 42 46,7 50 53,3

Không uống rượu bia hàng ngày 65 70,7 27 29,3

Không bỏ thuốc suy tim khi thấy bệnh khỏe hơn 35 38 57 62

Người bệnh có kiến thức tốt hơn về một số phương pháp tự điều trị suy tim mạn, đặc biệt trong việc không hút thuốc lá (65,2%) và không uống rượu bia hàng ngày (70,7%) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa nhận thức đúng về việc bỏ thuốc suy tim khi cảm thấy bệnh đã khỏe hơn, với tỷ lệ thiếu hiểu biết vẫn còn khá cao, lên tới 62%.

2.2.2.3 Thực trạng thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy timm ạ n

Bảng 2.7 Thực trạng thực hành duy trì chăm sóc của NB (n)

Thực hành đạt Thực hành không đạt

Chế độ ăn giảm muối 30 32,6 62 67,4

Quên uống 1 thuốc trong đơn thuốc hàng ngày 40 43,5 52 56,5

Lưu ý giảm muối khi ăn ở nhà hàng 20 21,7 72 78,3

Có nhắc nhở để uống thuốc 25 27,2 67 72,8

Trong Bảng 2.7, thực hành đạt bao gồm việc thực hiện thường xuyên và luôn luôn các biện pháp duy trì chăm sóc sức khỏe, trong khi thực hành không đạt là không hoặc hiếm khi, thỉnh thoảng thực hiện các biện pháp duy trì Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh duy trì tự chăm sóc còn rất thấp, với khoảng 2/3 người bệnh không đạt thực hành đề ra Đặc biệt, nhiều người không chú ý giảm muối trong chế độ ăn khi ăn ở nhà hàng, chiếm tỷ lệ 78,3%, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều trị và nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân.

Nhanh chóng Có thực hiện nhận ra biểugiảm muối

Có thực hiện giảm Có thực hiện Có thực hiện hiện bệnhtrong chế độ lượng n ư ớ c ăn uống vào

Chắc chắn uống thêm 1đi khámcác biện viên thuốcbệnh hoặcpháp cải lợi tiểugọi điện chothiện khó

Thực trạng củavấnđề

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiêncứu

Nghiêncứugồm92ngườibệnhsuytimmạnđiềutrịtạikhoaNộiTimmạchBệnhviệnĐakhoa tỉnhBắcGiangtừngày22tháng5năm2022đến ngày30tháng6năm 2022:

Trong nghiên cứu, hơn 66% bệnh nhân có độ tuổi trên 60, trong đó người cao tuổi nhất là 88 tuổi và người trẻ nhất là 30 tuổi Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Trần Thị Ngọc Anh, cho thấy tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 61,2 ± 14,9 tuổi, với độ tuổi thấp nhất là 23 và cao nhất là 89.

Lê Thị Liễu tại Bệnh viện đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa (2020) đã ghi nhận tuổi trung bình của 81 bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 66,8 ± 9,6 tuổi, trong đó có đến 84,0% người bệnh là người trên 60 tuổi Nguyên nhân chính là do suy tim là bệnh tim mạch có tỷ lệ mắc và mắc mới tăng lên theo tuổi trên toàn thế giới.

Người cao tuổi thường phải đối mặt với quá trình lão hóa và suy giảm chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan, đặc biệt là hệ tim mạch Suy giảm này góp phần làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, trong đó có suy tim Việc duy trì lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ là rất cần thiết để giảm thiểu các rủi ro này.

Nam giới chiếm tỷ lệ lớn hơn nữ giới nhưng không đáng kể, thể hiện sự cân đối về giới tính trong bệnh nhân Người bệnh chủ yếu sinh sống ở vùng nông thôn, chiếm tới 56,5%, cao hơn so với người ở thành phố do thiệt thòi về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và khả năng khám chữa bệnh sàng lọc, phát hiện sớm các bệnh lý tim mạch Trình độ học vấn phổ biến nhất ở bệnh nhân là trung học cơ sở, chiếm 40,2%, cho thấy người có trình độ học vấn thấp thường thiếu kiến thức dự phòng và hạn chế kiểm tra sức khỏe định kỳ, dẫn đến khả năng phát hiện các biểu hiện bệnh sớm của bệnh tim mạch còn hạn chế Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh, phản ánh rõ mối liên hệ giữa trình độ học vấn và khả năng phòng ngừa bệnh lý tim mạch.

Hầu hết người bệnh suy tim sống cùng gia đình, bởi phong tục tập quán của người Việt khuyến khích sống chung để có sự hỗ trợ chăm sóc và kiểm soát bệnh hiệu quả Đặc biệt, đa số bệnh nhân là người cao tuổi, do đó việc sống cùng con cháu giúp họ nhận được sự quan tâm và chăm sóc thường xuyên Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền (2013), cho thấy rằng việc sống cùng gia đình là yếu tố quan trọng trong quản lý bệnh suy tim ở người cao tuổi Việt Nam.

Trong nghiên cứu này, việc hướng dẫn người bệnh suy tim tập trung chủ yếu vào sử dụng thuốc (94,6%), trong khi hướng dẫn về các hành vi phòng ngừa như tiêm phòng cúm và viêm phổi lại rất thấp (chỉ 9,8%) Điều này cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe để cung cấp đầy đủ thông tin cho người bệnh trước can thiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực phòng bệnh nhằm nâng cao nhận thức, giúp phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.

Nguồn thông tin chính giúp người bệnh tiếp cận các hướng dẫn điều trị và chăm sóc suy tim đều bắt nguồn từ nhân viên y tế Vai trò của nhân viên y tế vô cùng quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh, giúp họ nắm vững kiến thức đúng đắn về bệnh suy tim Nhờ sự hướng dẫn từ nhân viên y tế, người bệnh có thể tự chăm sóc bản thân một cách hiệu quả và thực hiện các lịnh vực điều trị đúng chuẩn, nâng cao chất lượng cuộc sống và kiểm soát tốt bệnh suy tim.

3.1.2 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy timm ạ n

Chỉ khoảng 40% người bệnh có kiến thức đúng về bệnh suy tim, cho rằng bệnh có thể kiểm soát được, theo các nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh và Lê Thị Liễu, tỷ lệ này chưa vượt quá 50% Người bệnh chủ yếu tìm hiểu thông tin qua nhân viên y tế (92,4%), nhưng do tình trạng quá tải tại các bệnh viện, các nhân viên y tế không thể giải thích chi tiết về bệnh Ngoài ra, tỷ lệ người bệnh chủ động tìm kiếm thông tin từ các nguồn như truyền hình (54,3%), internet (38%), gia đình và bạn bè (30,4%) còn khá thấp, ảnh hưởng đến khả năng nâng cao kiến thức về suy tim của bệnh nhân.

Kiến thức về sử dụng thuốc:

Việc người bệnh suy tim mạn sử dụng thuốc đúng cách đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả điều trị bệnh Người bệnh cần không chỉ tuân thủ theo đơn của bác sĩ mà còn phải hiểu rõ về tác dụng, tác dụng phụ của thuốc và mang theo đơn khi đi tái khám, vì suy tim là bệnh mạn tính đòi hỏi điều trị lâu dài Theo nghiên cứu, dù 87% bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng thuốc, nhưng kiến thức đúng về thuốc còn thấp, chỉ khoảng 36% hiểu đúng về tác dụng của thuốc lợi tiểu và 38% biết cách xử lý khi quên uống thuốc đúng cách Gần 50% người bệnh uống thuốc một cách bị động theo kê đơn mà không hiểu rõ về tác dụng, trong khi hơn hai phần ba số bệnh nhân còn sai lệch trong cách xử lý khi quên thuốc, chỉ đúng khi uống ngay sau khi nhớ ra.

Kiến thức về theo dõi cân nặng:

Việc theo dõi cân nặng hàng ngày là rất quan trọng đối với người bệnh suy tim mạn, giúp phát hiện sớm sự tích tụ nước trong cơ thể biểu hiện qua việc tăng cân đột ngột, từ đó cảnh báo tình trạng bệnh nặng lên Tuy nhiên, chỉ có khoảng 39% người bệnh nhận thức đúng về việc tự theo dõi cân nặng hàng ngày và 44% hiểu rõ thời điểm tốt nhất để cân là vào buổi sáng, theo các nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, bao gồm nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh Các kết quả này cho thấy kiến thức về việc theo dõi cân nặng của người bệnh còn thấp, chưa vượt quá 50%, cho thấy công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe về theo dõi cân nặng vẫn chưa được chú trọng đủ trong chăm sóc người bệnh suy tim tại Việt Nam.

Kiến thức về chế độ luyện tập:

Việc tập thể dục vừa phải rất có lợi cho người bệnh suy tim mạn, giúp cải thiện chức năng cơ thể và giảm tỷ lệ tái nhập viện cùng tử vong Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chỉ có 19% người bệnh có kiến thức đúng về việc tập thể dục hàng ngày, trong khi 47% cho rằng cần ngừng tập luyện khi xuất hiện các dấu hiệu khó thở, đau ngực, hoa mắt hoặc chóng mặt Điều này cho thấy người bệnh suy tim mạn chưa hiểu rõ vai trò quan trọng của việc tập thể dục đều đặn trong quá trình điều trị, và đa số vẫn cho rằng nghỉ ngơi trên giường là cách hữu hiệu nhất Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Liễu, phản ánh cần nâng cao nhận thức của người bệnh về lợi ích của hoạt động thể chất hợp lý để kiểm soát bệnh suy tim mạn hiệu quả.

Kiến thức về chế độ ăn uống của người bệnh suy tim mạn:

Chế độ ăn hạn chế muối giúp giảm lượng nước tích tụ trong cơ thể và giảm gánh nặng lên tim ở bệnh nhân suy tim Việc phân biệt thực phẩm nhiều muối và ít muối đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chế độ ăn phù hợp, nhưng nhiều người bệnh vẫn còn thiếu kiến thức đúng về loại thức ăn chứa muối và cách phân loại chúng Nghiên cứu cho thấy chỉ khoảng 30-56% người bệnh hiểu rõ những loại thực phẩm giàu muối, trong khi 77,2% không biết rằng người bệnh suy tim cần giới hạn lượng chất lỏng để giảm cảm giác khát, thậm chí có thể nhai kẹo cao su hoặc ngậm kẹo cứng để kiểm soát cơn khát Kết quả tương tự trong nghiên cứu của Lê Thị Liễu, khi chỉ 34,4% bệnh nhân có kiến thức đúng về thức ăn nhiều muối, 41,1% hiểu rõ về phân loại chất lỏng, còn tỷ lệ người biết cách kiểm soát cơn khát bằng kẹo cao su hoặc kẹo cứng rất thấp, chỉ 3,3%, trong khi có đến 66,7% hiểu đúng về thực phẩm ít muối nhất.

Kiến thức về một số phương pháp tự điều trị:

Người bệnh có kiến thức đúng về các phương pháp tự điều trị là nhân tố quan trọng giúp kiểm soát bệnh suy tim hiệu quả Nghiên cứu cho thấy đa số người bệnh đã hiểu đúng về một số phương pháp tự điều trị suy tim mạn, trong đó có 65% bệnh nhân nhận biết rằng không nên uống rượu bia hàng ngày và 60% hiểu rõ về việc không hút thuốc lá Tuy nhiên, kết quả này còn thấp hơn so với các nghiên cứu trước, như của Trần Thị Ngọc Anh, cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho người bệnh.

Gần 93% bệnh nhân suy tim mạn có kiến thức chính xác về việc không nên hút thuốc lá, trong đó hơn 93,5% bệnh nhân hiểu rõ về việc hạn chế muối trong chế độ ăn để duy trì sức khỏe Đồng thời, đến 97,5% bệnh nhân nhận thức đúng về việc không uống rượu bia hàng ngày, cho thấy nhận thức rõ ràng của người bệnh về lối sống lành mạnh Điều này có thể do bệnh nhân suy tim mạn nhận thấy rõ vai trò của lối sống tích cực trong việc kiểm soát bệnh và giảm nguy cơ tái nhập viện.

3.1.3 Thực trạng thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy timm ạ n

Thực trạng thực hành “Duy trì chăm sóc”:

Trong nghiên cứu: tỷ lệ người bệnh đạt thực hành tự chăm sóc còn rất thấp, đa số người bệnh không đạt thực hành tự chăm sóc, cụ thể:

Người bệnh suy tim mạn ít có ý thức theo dõi cân nặng của mình, chiếm tỷ lệ 38%, cao hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Liễu (22,2%) về tần suất theo dõi cân nặng hàng ngày của người bệnh, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hải (2017), ghi nhận tỷ lệ 54,5%.

Về theo dõi phù chân:Người bệnh hiếm khi hoặc thỉnh thoảng theo dõi phù chân, người bệnh thực hành đạt chỉ có 34,8%.

Vềhànhviphòngngừa:Chỉcó30,4%ngườibệnhthựchànhđạt.Kếtquảnàythấp so với sốlượngngười bệnh có kiến thức đúng về tiêm chủng và khám định kỳ(40,2%).

Về hành vi khám định kỳ:Trong nghiên cứu có 51,1% người bệnh NB thực hành đạt.

Kết quả này tương tự nghiên cứu của Lê Thị Liễu [9] người bệnh thường xuyên và luôn luôn đi khám định kỳ đạt 54,3%.

Thuận lợi, khó khăn củađ ơ n vị

Ban giám đốc và các phòng chức năng luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho điều dưỡng tham gia các lớp tập huấn nhằm nâng cao kiến thức y khoa, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, truyền thông và giáo dục sức khỏe Đội ngũ điều dưỡng của khoa có trình độ cao, dễ dàng tiếp nhận và cập nhật các kiến thức mới, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Người bệnh và gia đình người bệnh cũng đã phối hợp với nhân viên y tế trong việc cải thiện chăm sóc cho người bệnh.

Số lượng người bệnh khá đông nên công tác chăm sóc còn gặp nhiều khó khăn vì đội ngũ điều dưỡng cònmỏng.

Các buổi truyền thông chủ yếu được tổ chức theo hình thức truyền miệng, thiếu các phương tiện nghe nhìn giúp người nghe dễ quan sát và hiểu rõ hơn Đối với người cao tuổi, trí nhớ kém khiến họ gặp khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin từ nhân viên y tế, dẫn đến hiệu quả truyền đạt chưa cao Ngoài ra, thói quen ăn mặn, sử dụng rượu bia và các chất kích thích vẫn còn phổ biến trong cộng đồng, trong khi nhiều người bệnh chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc thay đổi lối sống để cải thiện sức khỏe.

3.2.3 Nguyên nhân của những khó khăn, tồntại

Vẫn còn một số người bệnh chưa thực sự quan tâm và lắng nghe các NVYT khi họ tư vấn về việc tự chăm sóc.

Một số gia đình chưa có sự phối hợp chặt chẽ với NVYT trong việc chăm sóc và hỗ trợ chăm sóc cho người bệnh.

Môi trường sống, nơi cư trú, nơi làm việc của người bệnh chưa tốt cũng là rào cản trong việc thực hiện tự chăm sóc củahọ.

Kỹ năng xây dựng các buổi truyền thông của điều dưỡng còn chưa cao, ảnh hưởng đến khả năng tư vấn giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân Nguồn nhân lực hạn chế khiến điều dưỡng không đủ thời gian để tập trung vào công tác này Do đó, việc nâng cao kỹ năng truyền thông và tăng cường nguồn nhân lực là cần thiết để cải thiện việc hướng dẫn bệnh nhân theo dõi và tự chăm sóc tại nhà một cách hiệu quả.

Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang còn nhiều hạn chế:

Kiến thức đúng thấp nhất là kiến thức về chế độ luyện tập: Chỉ có 20,7% người bệnh biết tác dụng của việc luyện tập thể dục.

Kiến thức đúng về bệnh, kiến thức về theo dõi cân nặng đều ở mức độ dưới trung bình (43,5% và 42,4%)

Người bệnh suy tim mạn độ Tổn thường có kiến thức đúng về việc không hút thuốc lá (65,2%) và không uống rượu bia hàng ngày (70,7%), giúp kiểm soát bệnh tốt hơn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ việc bỏ thuốc khi cảm thấy khỏe hơn, với tỷ lệ không đúng kiến thức chiếm đến 62% Điều này cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục để nâng cao nhận thức của người bệnh về các phương pháp tự điều trị và quản lý bệnh suy tim.

Thực trạng thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn: đa số người bệnh không đạt thực hành tự chăm sóc:

Hiện tại, thực hành duy trì chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn chủ yếu tập trung vào việc tái khám định kỳ, chiếm tỷ lệ 51,1%, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý bệnh Tuy nhiên, các hoạt động khác như thực hành ăn giảm muối tại nhà hàng còn gặp nhiều hạn chế, chỉ đạt 21,7%, cho thấy sự khó khăn trong việc thay đổi thói quen ăn uống của bệnh nhân Ngoài ra, công tác nhắc nhở uống thuốc vẫn chưa được chú trọng đúng mức, với tỷ lệ thực hiện chỉ khoảng 27,2%, ảnh hưởng đến kiểm soát tốt tình trạng bệnh của người bệnh suy tim mạn.

Hiện tại, phần lớn người bệnh suy tim mạn chưa thực hiện đầy đủ các hành vi quản lý chăm sóc sức khỏe phù hợp Chỉ hơn 50% người bệnh tham gia khám hoặc liên hệ với nhân viên y tế để được tư vấn và hỗ trợ Trong khi đó, các hành vi chăm sóc khác, như theo dõi triệu chứng hàng ngày hoặc sử dụng thuốc đúng hướng dẫn, đều còn rất thấp, dưới 50%, cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục và hỗ trợ người bệnh trong việc quản lý bệnh lý của mình.

Để giải quyết và khắc phục các vấn đề trong lĩnh vực y tế, cần có các giải pháp phù hợp cho khoa, bệnh viện cũng như cho người bệnh Những đề xuất giải pháp này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm thiểu tồn đọng và tăng cường sự hài lòng của người bệnh Việc thực hiện các chiến lược cụ thể cho từng đối tượng là cách hiệu quả để cải thiện hệ thống y tế tổng thể.

Một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn:

* Đối với Bệnh viện, khoa Nội Timmạch

- Xâydựngvàhoànthiệnhệthốngcáctàiliệupháttaynhưtàiliệubỏtúiđểngười bệnh có thể tham khảo bất cứ lúcnào.

Chương trình tập huấn về chăm sóc và điều trị người bệnh suy tim mạn được mở rộng nhằm cập nhật phương pháp điều trị mới nhất, đảm bảo mang lại dịch vụ chăm sóc tối ưu cho bệnh nhân Các lớp đào tạo này giúp cung cấp kiến thức cập nhật liên tục, phù hợp với các xu hướng y tế hiện đại, đồng thời tăng cường nguồn giảng viên hỗ trợ trong quá trình đào tạo Việc tổ chức các lớp tập huấn kịp thời góp phần nâng cao kỹ năng cho nhân viên y tế, đảm bảo bệnh nhân suy tim mạn nhận được sự chăm sóc toàn diện và cập nhật nhất.

Bố trí nhân lực Điều dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự cân đối giữa số lượng nhân viên làm việc tại khoa và nhân viên được cử đi đào tạo, tập huấn đầy đủ Việc này giúp nâng cao hiệu quả đào tạo, đảm bảo nhân lực điều dưỡng được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

- Cập nhật tài liệu về chăm sóc người bệnh suy tim mạn và sắp đặt tài liệu ở nơi thích hợp dễ thấy, dễtìm.

- Tổ chức các buổi tọa đàm về bệnh suy tim mạn để người bệnh cùng được tham gia và thảoluận.

- Tích cực tham gia các khóa đào tạo, các buổi báo cáo chuyên đề, cập nhật kiến thức đầyđủ.

- Tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn đảm bảo kiến thức đồng đều trong chăm sóc ngườibệnh.

- Dành nhiều thời gian thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe và tư vấn cho người bệnh những thông tin cần thiết nhất đối với việc tự chăm sóc củah ọ

Học tập nâng cao kỹ năng tư vấn giáo dục sức khỏe và thực hiện các hoạt động giáo dục sức khỏe cho người bệnh là điều cần thiết, vì các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của giáo dục sức khỏe trong việc thay đổi kiến thức và nâng cao khả năng tự chăm sóc cho người mắc bệnh suy tim mạn tính Khi tư vấn giáo dục sức khỏe, nhân viên y tế cần sử dụng ngôn từ gần gũi dễ hiểu, đặc biệt là đối với người cao tuổi, người có trình độ học vấn thấp và những người làm nông nghiệp, để đảm bảo hiệu quả trong quá trình chăm sóc và nâng cao nhận thức của bệnh nhân.

*Đối với người bệnh và ngườinhà:

- Vận động để người bệnh và người nhà tích cực cùng tham gia quá trình điều trị với nhân viên y tế tại bệnhviện.

- Khi ra viện cần tuân thủ theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, điềud ư ỡ n g

Người bệnh và người nhà cần hiểu rõ vai trò quan trọng trong việc duy trì và cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh suy tim mãn tính Việc tự chăm sóc tại nhà đóng vai trò then chốt, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ tái nhập viện trong tình trạng nặng Chăm sóc đúng cách tại nhà không những hỗ trợ quá trình điều trị mà còn góp phần kiểm soát các triệu chứng, duy trì tình trạng sức khỏe ổn định cho người bệnh suy tim mãn tính.

Hãy chủ động hơn trong việc tìm hiểu và cập nhật các thông tin chính thống về tình trạng bệnh của bạn để nắm rõ cách theo dõi và tự chăm sóc sức khỏe Việc này giúp phòng ngừa nguy cơ biến chứng nặng, đảm bảo kiểm soát bệnh tốt hơn Theo dõi sát sao tình trạng bệnh là bước quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị và giữ vững sức khỏe lâu dài.

Ngày đăng: 03/02/2023, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ngọc Anh (2016).Kiến thức và thực hành tự chăm sóc ở nhà của ngườibệnhsuytimmạntínhtạiviệnTimMạchViệtNam,Luậnvănthạcsỹyhọc,Trường Đại học Y HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành tự chăm sóc ở nhà củangườibệnhsuytimmạntínhtạiviệnTimMạchViệtNam
Tác giả: Trần Thị Ngọc Anh
Năm: 2016
3. Nguyễn Thị Hồng Hải (2017).Thực trạng hành vitựchăm sóc ở người cao tuổisuy tim đang được điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới - Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hành vitựchăm sóc ở người cao tuổisuytim đang được điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới -Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hải
Năm: 2017
4. Kiều Thị Thu Hằng (2011).Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấnđề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại viện Tim mạch Việt Nam , Cử nhân y khoa, Trường Đại học y HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấnđềtự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại viện Tim mạch Việt Nam
Tác giả: Kiều Thị Thu Hằng
Năm: 2011
6. Phạm Thị Thu Hương và các cộng sự (2018).Những khó khăn trong tự chăm sócở người bệnh suy tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 01(01), tr.53-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn trong tự chăm sócởngười bệnh suy tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương và các cộng sự
Năm: 2018
7. Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng (2013).Các yếu tố liên quan đến hànhvi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Tim Mạch học Việt Nam, 64(88), tr.2 6 - 3 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố liên quan đếnhànhvi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa Trung ương TháiNguyên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2013
9. Lê Thị Liễu (2020).Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc củangười bệnh suy tim mạn tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Hợp Lực Thanh Hóa năm 2020. Luận văn thạcsỹĐiều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡngNam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóccủangười bệnh suy tim mạn tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Hợp Lực ThanhHóa năm 2020
Tác giả: Lê Thị Liễu
Năm: 2020
2. Ngô Quý Châu và các cộng sự (2012). Suy tim, Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.202-226 Khác
5. Ngô Huy Hoàng (2016). Chăm sóc người bệnh suy tim, Chăm sóc người lớn bệnh nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.83-89 Khác
8. Hội Tim Mạch học Việt Nam (2015). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị suy tim năm 2015, truy cập ngày21/05/2022 Khác
10. Phạm Thị Hồng Nhung (2018). Thay đổi thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại Khoa nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Tạp chí Khoa học điều dưỡng, 2(3),2019 Khác
11. Nguyễn Lân Việt và các cộng sự (2010). Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở bệnhnhân điều trị nội trú tại Viện tim mạch Việt Nam trong thời gian 2003-2007. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 52, tr.16 Khác
12. Phạm Nguyễn Vinh và các cộng sự (2008). Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Khuyến cáo 2008 của Hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán,điềutrịsuytim,NhàxuấtbảnYhọc,ThànhphốHồChíMinh,tr.438-450.TIẾNG ANH Khác
13. Ausili D, Masotto M, Dall'Ora C et al (2014). A literature review on self-care of chronic illness: definition, assessment and related outcomes. Prof Inferm, 67(3),pp.180-189 Khác
14. Benjamin E. J, Blaha M. J, Chiuve S. E et al (2017), Heart Disease and Stroke Statistics-2017 Update: A Report From the American Heart Association, Circulation, pp.e146-e603 Khác
15. Bui A. L, Horwich T. B, Fonarow G. C (2011). Epidemiology and risk profile of heart failure. Nat Rev Cardiol,8(1),pp.30-41 Khác
16. Conceiỗóo A. P. D, Santos M. A. D, Santos B. D et al (2015). Self-care in heart failure patients. Rev Lat Am Enfermagem,2 3 ( 4 ) , p p . 5 7 8 - 5 8 6 Khác
17. Riegel B, Moser D. K, Anker S. D et al (2009). State of the science: promoting self-care in persons with heart failure: a scientific statement from the American Heart Association. Circulation,120(12),pp.1141-1163 Khác
18. White M. F, Kirschner J, Hamilton M. A (2014). Self-care guide for the heart failure patient. Circulation,129(3),pp.e293-294 Khác
19. Zamanzadeh V, Valizadeh L, Howard A. F et al (2013). A supportiveeducational intervention for heart failure patients in iran: the effect on self-care behaviours.Nurs Res Pract,2013,pp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w