1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA � ☼ � ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN GIỮA PHÁT TRIỂN K[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
�···☼···�
ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY LỚP DT06 - Nhóm 18 - HK 213 Thành viên 05 - Ngày nộp: 14/8/2022
GV hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Minh Hương
1 Bùi Thị Linh Uyên 2115245
3 Lê Nguyễn Nhật
5 Lương Quang Tuấn 2112578
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12-08-2022
Trang 2MỞ ĐẦU 3
Chương 1: MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 6
1.1.Lý luận chung nhất về mâu thuẫn biện chứng 6
1.1.1 Những quan điểm triết học Mác-Lênin về mẫu thuẫn biện chứng 6
1.1.2 Quan điểm triết học Mác-Lênin về mâu thuẫn biện chứng 10
1.1.3 Ý nghĩa về mâu thuẫn biện chứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người 11
1.2.Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 12 1.2.1 Quan điểm về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 12
1.2.2 Tính thống nhất giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 14
1.2.3 Tính mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 15
1.3 Tính tất yếu của việc giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 19
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 21
2.1 Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trưởng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 21
2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh 21
2.1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường 23
2.1.3 Hậu quả của phát triển kinh tế tác động đến môi trường 23
2.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 24
2.2.1 Căn cứ của giải pháp: Chỉ thị số: 36/1996/CT-TW Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… 24
2.2.2 Sự lãnh đạo, nỗ lực của chính quyền, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường 25
2.2.3 Người dân, doanh nghiệp cùng đồng hành, ủng hộ chính quyền trong công tác bảo vệ môi trường 25
Trang 3KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống.Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn
và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môitrường
Ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, biến đổi khí hậu diễn ra ở thành phố HồChí Minh chủ yếu do hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã và đang đượcthúc đẩy với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao Trong một chừng mực nào đó, có thể nói cónhiều nơi, nhiều lúc việc bảo vệ môi trường đã bị xem nhẹ, những nguyên tắc để đảm bảophát triển bền vững đã không được tuân thủ một cách nghiêm ngặt
Thực trạng này đã ảnh hưởng rất tiêu cực và nguy hiểm đến mọi mặt của đời sống
xã hội Do đó, phát triển kinh tế với khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vàbảo vệ môi trường đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế Việc khaithác, sử dụng tài nguyên và môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoàithực trạng chung của thế giới, có chăng chỉ là tính cực kì phức tạp, đa dạng và nan giải
Khi nhìn nhận vấn đề dưới góc độ của triết học Mác-Lênin, bằng phép biện chứngduy vật, ta có thể thấy sự liên quan mật thiết tới quy luật thống nhất và đấu tranh các mặtđối lập (quy luật mâu thuẫn), bởi vấn đề nguyên nhân, động lực của sự vận động, pháttriển Qua đó, sự phát triển kinh tế luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm vàgây cản trở, mấu chốt ở đây là môi trường Mâu thuẫn tồn tại không chỉ một mà còn nhiềumâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập dẫn đến mâu thuẫn sẽ mất đi
Trang 4và hình thành cái khác Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em đã chọn nghiêncứu đề tài “Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào giải quyết mối quan hệ phát triển kinh tế vàbảo vệ môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế gắn của bảo vệ môi trườngtrong quá trình phát triển đất nước; trên cơ sở đó đề xuất, phương hướng và giải cơ bảnnhằm gắn kết phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường góp phần bảo đảm phát triển bềnvững ở thành phố Hồ Chí Minh
Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế
Phân tích mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa phát triển kinh tế với môi trường
và bảo vệ môi trường Nội dung gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở thành phố HồChí Minh và rút ra những vấn đề bức xúc cần giải quyết
Trình bày, phương hướng và các giải pháp cơ bản gắn kết phát triển kinh tế vớibảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững ở nước ta lâu dài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng: đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển kinh tế gắn với bảo vệmôi trường nhằm phát triển bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh, dưới góc độ khoa họckinh tế chính trị, tức là luận án nghiên cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa phát triểnkinh tế với môi trường và bảo vệ môi trường: xác định những quan điểm, phương hướng
và giải pháp gắn kết phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở tầm khái quát vĩ mô
Phạm vi:
- Không gian nghiên cứu: phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở thành phố
Hồ Chí Minh
- Thời gian từ trước năm 2022, và tầm nhìn đến các năm sau
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 5Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp này trước hết được sử dụng đểphân tích các dòng lý thuyết về tăng trưởng, phát triển kinh tế, môi trường và bảo vệ môitrường, mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường, quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường …, từ đó hình thành khung lý thuyết cho đề tài luận án.
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đánh giá kinh nghiệmcủa các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế, trong bảo vệ tài nguyên,môi trường; trong gắn kết và phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, nhằm rút ra bài họccho thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp này cũng được sử dụng khi đánh giá nhữngthành công và hạn chế của thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình phát triển kinh tế - xãhội và bảo vệ môi trường
Phương pháp thu thập và xử lí thông tin thứ cấp: Luận án thu thập số liệu thông tinqua các số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, các bộ, ngành liên quan và thông qua cácvăn bản công bố chính thức của các cơ quan nhà nước, các ngành chức năng…
5 Kết cấu đề tài.
Phần mở đầu
Chương 1: Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.Chương 2: Vận dụng quan điểm triết học Mác-Lenin về mâu thuẫn biện chứngtrong việc giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ởthành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 6Chương 1: MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
1.1 Lý luận chung nhất về mâu thuẫn biện chứng
1.1.1 Những quan điểm triết học Mác-Lênin về mẫu thuẫn biện chứng
Tư tưởng biện chứng về các mặt đối lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử nhân loại.Trước khi phép biện chứng mácxít ra đời, ta có các phép biện chứng trước triết họcMác-Lenin
Phép biện chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và mang nặngtính trực quan được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông quakinh nghiệm của bản thân Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là: Triết họcTrung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại Bên cạnh nhữngđặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sựthể hiện tư tưởng biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung tâm đều có nhữngđặc điểm riêng không
a Triết học Trung Hoa cổ đại.
Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới 103 trườngphái triết học Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội loạn lạc,đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại tập trungvào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội Những tư tưởng biện chứng thời nàychỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ quan
Một trong những học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc là Họcthuyết Âm - Dương Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộsách có tên là Kinh Dịch Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìnnhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong
sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhấtcủa các mặt đối lập - đó là Âm và Dương Âm - Dương không loại trừ, không biệt lập,
mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau Kinh dịch viết:
Trang 7"Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá"1, "Sinh sinh chi vi dịch"2 Sự tương tác lẫnnhau giữa Âm và Dương, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng Đây
là quan điểm thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc Học thuyết này cũng cho rằng chutrình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cáithống nhất như: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm - dương),sau đó âm - dương lại tiến hành phân thành tứ tượng (thái âm - thiếu âm, thái dương -thiếu dương), tứ tượng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật
Tuy nhiên, học thuyết Âm - Dương cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra theochu kỳ lặp lại và được đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng Âm - Dương ở điểm này thìhọc thuyết Âm - Dương phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hướng đi lên mà chorằng sự vận động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân bằng Âm-Dương Hơn nữa, trong học thuyết Âm - Dương còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí nhưquan điểm "Thiên tôn địa ty" cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật
tự của "trời đất", họ đem trật tự xã hội gán cho giới tự nhiên, rồi lại dùng hình thức bịađặt đó để chứng minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội
Tóm lại, học thuyết Âm - Dương là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinhnghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại Mặc dù còn những tínhchất trực quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xãhội, nhưng học thuyết Âm - Dương đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởngbiện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội
b Quan điểm triết học Ấn Độ cổ đại.
Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học với tôn giáo vàgiữa các trường phái khác nhau Các tư tưởng triết học được thể hiện dưới hình thức làmột tôn giáo Theo cách phân chia truyền thống, triết học ấn Độ cổ đại có 9 trườngphái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái phi chính thống Trong
1 Ngô Tất Tố dịch và chú giải, trọn bộ, NXB Văn hóa thông tin, chương 2
2 Ngô Tất Tố dịch và chú giải, trọn bộ, NXB Văn hóa thông tin, chương 2
Trang 8tất cả các học thuyết triết học đó thì học thuyết triết học thể hiện trong Phật giáo là họcthuyết mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền triết học ấn Độ cổđại.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN do Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca Mầu
Ni (563 - 483 TCN), khai sáng Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không domột đấng thần linh nào đó tạo ra mà được tạo ra bởi hai yếu tố là Danh (tinh thần) vàSắc (vật chất) Trong đó Danh bao gồm tâm và thức, còn Sắc bao gồm 4 đại (đại địa,đại thuỷ, đại hoả, đại phong) Chính nhờ tư tưởng nêu trên mà Phật giáo được coi làtôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học đương thời Đồng thời Phậtgiáo đưa ra tư tưởng "nhất thiết duy tâm tao", "vô thường", "vô ngã" "Vô ngã" nghĩa
là "không có cái ta, cái tôi bất biến", theo đó không có cái gì là trường tồn là bất biến,
là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập Đây là tư tưởng biện chứng chống lại đạoBàlamôn về sự tồn tại của cái tôi - átman bất biến "Vô thường" tức là biến, biến ở đâyđược hiểu như là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (đối vớisinh vật), Thành - Trụ - Hoại - Không (con người) Phật giáo cũng cho rằng sự tươngtác của hai mặt đối lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vậnđộng chứ không phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con người, thế giới làvòng nhân quả vô cùng vô tận Nói cách khác một vật tồn tại được là nhờ hội đủ Nhân,Duyên
c Triết học Hy Lạp cổ đại.
Mặc dù hãy còn nhiều tính "cắt khúc", nhưng triết học Hy Lạp cổ đại đã có nhữngphát hiện mới đối với phép biện chứng Chính trong thời kỳ này thuật ngữ "biệnchứng" đã hình thành Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thời kỳ chiếm hữu
nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về văn hoá, nghệ thuật, màtrước hết là các thành tựu trong khoa học tự nhiên như: Thiên văn học, vật lý học, toánhọc đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học trong thời kỳ này Triết học
Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành nền tảng cho sự phát triển củatriết học phương Tây sau này
Trang 9Một trong những nhà triết học điển hình có tư tưởng biện chứng là Heraclit (540
-480 TCN) Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin thì Heraclit là ngườisáng lập ra phép biện chứng Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứngdựa trên lập trường duy vật
Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống cácluận điểm khoa học mà hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được đềcập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Tư tưởng biện chứng củaHeraclit được thể hiện như sau:
Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất Theo Heraclit thì không có sựvật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất cả đều trong trạngthái biến đổi và chuyển hoá Ông nói: "Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòngsông vì nước mới không ngừng chảy trên sông"3; "Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngàymột mới" Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ
sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật, hiện tượng Đồng thời lửa cũngchính là gốc của mọi vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng tháichuyển hoá của lửa mà thôi
d Triết học cổ điển Đức.
Ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, phép biện chứng duy tâm trong triếthọc cổ điển Đức là hình thức thứ hai của phép biện chứng
Trong triết học nhị nguyên của Cantơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về
sự thống nhất giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau củacác mặt đối lập (lực hút và lực đẩy) là động lực của sự vận động, phát triển và độnglực đó có trước vật chất; vận động tách rời vật chất Trong triết học duy tâm chủ quancủa Phíchtơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng cho rằng, mâu thuẫn là nguồn gốccủa sự phát triển Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong ý thức, mâu thuẫn thể hiện
sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức Trong triết học duy tâmkhách quan của Sêlinh, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ
3Hà Thúc Minh, dịch, Triết Học Cổ Đại Hy Lạp La Mã (Việt Nam: Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, 1998), 137.
Trang 10biến, về sự thống nhất và về sự phát triển; tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tựnhiên, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên.
1.1.2 Quan điểm triết học Mác-Lênin về mâu thuẫn biện chứng.
- Các khái niệm:
Mặt đối lập là một phạm trù dùng để chỉ những mặt, những yếu tố, có khuynhhướng, tính chất trái ngược nhau Mặt đối lập tồn tại một cách khách quan và phổ biếntrong các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy Hai mặt đối lập liên hệnhau thì tạo thành một mâu thuẫn biện chứng
Mâu thuẫn biện chứng là một phạm trù dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cáchvừa thống nhất, vừa đấu tranh, vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữacác mặt đối lập Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan, phổ biến và đadạng, phức tạp trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trongmọi sự vật, hiện tượng và trong suốt quá trình phát triển của chúng, mâu thuẫn nàymất đi thì mâu thuẫn khác hình thành Trong các sự vật, hiện tượng khác nhau thì tồntại những mâu thuẫn khác nhau Trong mỗi sự vật, hiện tượng, trong mỗi giai đoạn,quá trình phát triển của sự vật hiện tượng cũng có những mâu thuẫn khác nhau Mỗimâu thuẫn có vị trí, vai trò khác nhau trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiệntượng
Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên kết giữa chúng vàđược thể hiện ở: thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa và làm tiền đề cho nhau tồn tại;Thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu tranhgiữa cái mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn; thứ ba, giữa các mặt đối lập có
sự tương đồng, sự giống nhau và được gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập Do
có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc,mặt đối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia khi xét về một vài đặc trưngnào đó
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theohướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng
- Quá trình vận động của mâu thuẫn.
Trang 11+ Khi mới xuất hiện mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt,theo hai khuynh hướng trái ngược nhau (đồng nhất nhưng bao hàm sự khác nhau).+ Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác nhau đó biến thành sự đối lập.+ Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt, nếu có điều kiệnchín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết.
+ Kết quả, sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ bị phá hủy, sự thống nhất mớiđược hình thành Tức là sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành cùng với mâuthuẫn mới Mâu thuẫn mới lại triển khai, phát triển và giải quyết làm cho sự vậtmới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ
Do vậy, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các sự vật không thể tồn tại mộtcách vĩnh viễn Thống nhất là tương đối, đấu tranh là tuyệt đối gắn liền với tính tuyệtđối của sự vận động và phát triển
Tuy nhiên, không có thống nhất giữa các mặt đối lập sẽ không có đấu tranh giữachúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời trong mộtmâu thuẫn biện chứng Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính
ổn định và tính thay đổi của sự vật Do đó, mâu thuẫn chính là ngồn gốc của sự vận
động và sự phát triển V.I Lenin khẳng định: “Sự phát hiện là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” 4
Tóm tắt nội dung quy luật: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt,những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản chất của nó; sựthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động vá pháttriển, làm cho cái cũ
1.1.3 Ý nghĩa về mâu thuẫn biện chứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Với việc nghiên cứu về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hayquy luật mâu thuẫn có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn bởimâu thuẫn là động lực và cũng là nguồn gốc của sự vận động phát triển, có tính kháchquan phổ biến Để nhận thức được đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và
4 V.I Lenin (2005), Bút ký triết học, Toàn tập, tập 29, NXB, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.240.
Trang 12phương pháp giải quyết đúng cho hoạt động thực tiễn thì cần phải đi sâu vào nghiêncứu để phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật, sự việc Để nhận biết có sự mâu thuẫn thìtrước hết phải tìm ra trong thể thống nhất đó có những mặt, những khuynh hướng nàotrái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác độngqua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó V I Lênin viết: "Sự phân đôi của cái thốngnhất và sự nhận thức các bộ phận của nó , đó là thực chất của phép biện chứng"5 Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâuthuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ tác động qua lại của các mâu thuẫn; phảixem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tácđộng qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Chỉ có như thếmới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển
và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn
Để thúc đẩy sự vật phát triển thì việc ưu tiên hàng đầu là phải tìm mọi cách để giảiquyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn Việc đấu tranh giải quyết mâuthuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức,phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khiđiều kiện đã chín muồi Một mặt, phải chống thái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác,phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyếtmâu thuẫn đi đến chín muồi Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyếtkhác nhau Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phùhợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể
1.2 Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
1.2.1 Quan điểm về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
- Quan điểm về phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Nó baogồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu thể chế kinh
tế và chất lượng cuộc sống
Trang 13Muốn phát triển kinh tế, đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy
mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổnđịnh) đi liền với đó là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế thể hiện ở tỷ trọng các vùng miền,ngành, thành phần kinh tế thay đổi theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: tỷ trọngcủa vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng của cácngành dịch vụ, công nghiệp tăng đặc biệt là ngành dịch vụ Cuộc sống của đại đa sốdân số trong xã hội để trở nên tươi đẹp hơn giáo dục y tế tinh thần quốc gia đượcchăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Phát triển kinh tế đòi hỏi mở cửa nềnkinh tế, do đó mà trình độ tư duy quan điểm sẽ thay đổi
Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nguyên tốnội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó
- Quan điểm về bảo vệ môi trường:
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ môi trường Dựa vào điều 3 Chương 1, để giải thích các khái niệm sau:
Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết vớinhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại,phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đếnmôi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cảithiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học
và ứng phó với biến đổi khí hậu
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia và tài nguyên môi trường Thống nhất quản lýbảo vệ môi trường trong cả nước và có chính sách đầu tư bảo vệ môi trường có tráchnhiệm tổ chức thực hiện các việc giáo dục đào tạo nghiên cứu khoa học và công nghệphổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Luật bảo vệ môi
trường của thành phố Hồ Chí Minh ghi rõ trong điều 6: ‘‘Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân tổ quốc cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành
Trang 14pháp luật về bảo vệ môi trường có quyền và có trách nhiệm phát hiện tố cáo các hành
vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”.
Môi trường và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ khắn khít Phát triển kinhtế- xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống vật chất và tinh thần của con người quaviệc sản xuất ra của cải vật chất cải tiến quan hệ xã hội nâng cao chất lượng văn hóa
mà môi trường cung cấp nguyên liệu của không gian cho sản xuất, xã hội, sự giàu vàocủa một quốc gia phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên, rất nhiều quốc gia pháttriển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để sản xuất đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệhiện đại Có thể nói tài nguyên đất và môi trường tự nhiên nói chung trong đó có cả tàinguyên có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế ở mỗi quốc giavùng lãnh thổ địa phương
1.2.2 Tính thống nhất giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Kinh tế là cái chủ quan còn môi trường là cái vật chất tồn tại khách quan Tuynhiên bảo vệ môi trường lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Phát triểnkinh tế và bảo vệ môi trường thống nhất nhau về mục đích trong quá trình phát triểncủa một chỉnh thể tự nhiên – xã hội
Sự phát triển kinh tế sẽ cho chúng ta điều kiện tốt để bảo vệ môi trường Điều nàyđược thể hiện qua một số ví dụ sau:
Thứ nhất về tình trạng khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên: sự khác biệt giữa
các nước giàu và các nước nghèo ở chỗ đối với các nước giàu thì sự phát triển bềnvững phải gắn với việc giảm một cách đáng kể mức độ tiêu dùng lãng phí về nănglượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Trong khi các nước nghèo thì sẽ rasức khai thác tài nguyên thiên nhiên để sản xuất thô Tức là phát triển kinh tế làm nângcao chất lượng cuộc sống, nhận thức của người dân, do đó lượng tài nguyên bị khaithác giảm xuống, góp phần bảo vệ môi trường
Thứ hai về bầu khí quyển: Phát triển kinh tế làm cho con người có điều kiện tạo
ra các loại máy móc sản xuất ít gây ảnh hưởng đến môi trường và cả những máy móc
xử lí rác thải Trước đây, trong những buổi đầu của ngành công nghiệp dệt, lượngbông lẫn trong không khí quá lớn đã làm cho các công nhân dệt bị lao phổi, ung thư
Trang 15phổi… rất nhiều Nhưng cho đến nay không chỉ trong ngành dệt mà ở hầu hết cácngành công nghiệp khác, các công nhân đều được bảo vệ an toàn do máy móc trangthiết bị được cải tiến Đó là thành quả của sự phát triển kinh tế Các xưởng hiện nay đã
và đang có ngày càng nhiều máy móc xử lí rác thải Các khu công nghiệp đã giảmthiểu lưỡng khói độc bay vào khí quyển
Thứ ba về môi trường nước: Phát triển kinh tế tạo điều kiện cho nguồn nước
được bảo vệ an toàn và ngược lại Điều này được thể hiện ở tỷ lệ người dân được sửdụng nguồn nước sạch ở nước ta trước đây và bây giờ Kinh tế càng phát triển thì hệthống xử lý nước sạch càng hiện đại, rác thải trước khi đưa ra biển đã được xử lý, dovậy đã hạn chế phần nào sự ô nhiễm môi trường nước
Việc phát minh và đưa vào sử dụng các máy móc trang thiết bị mới nhằm hạn chếtối thiểu tác hại đến môi trường cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường Do vậyxét trên một khía cạnh nào đó thì phát triển kinh tế đã tác động tích cực đến việc bảo
Bảo vệ môi trường sẽ tạo ra môi trường sống ổn định bền vững Nguồn tài nguyênthiên nhiên được bảo vệ là cơ sở thúc đấy phát triển kinh tế Hằng năm mỗi trận độngđất, sóng thần, lũ lụt hay thiên tai xảy ra đã làm tổn thất bao nhiêu của cải vật chất,tiêu tốn rất nhiều ngân sách, vật chất để khắc phục hậu quả Bảo vệ môi trường tốt sẽlàm giảm thiểu tối đa các thiên tai, từ đó đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế
Như vậy sự phát triển của xã hội được coi là là sự phát triển, tiến bộ đích thức khi
có sự kết hợp hài hòa giữa hai mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
1.2.3 Tính mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Trong cuộc sống ngày nay, do nhu cầu về điều kiện sống của con người ngày càngcao nên tất yếu sẽ thúc đấy chúng ta phải phát triển kinh tế để thỏa mãn những nhu