NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Giáo viên Nguyễn Thị Nguyệt Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Vân MỞ ĐẦU Nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi cần phải có một khối lượng vốn khổng lồ, nhất là vốn dài hạn, mà[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi cần phải có một khốilượng vốn khổng lồ, nhất là vốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thịtrường tài chính mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu về vốn ngắnhạn cho nền kinh tế
Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trường chứng khoán, với tư cách là kênh huyđộng vốn quan trọng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành một nhu cầucấp thiết, khách quan trong điếu kiện hiện nay
Tuy nhiên thị trường chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải cóhàng hoá cho nó ( cổ phiếu, trái phiếu… ) và đồng thời phải có các công tychứng khoán chuyên mua bán, giao dịch các loại hàng hoá đó
Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nới riêng Nhờ các công
ty chứng khoán mà một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ nhữngnguồn lẻ tẻ trong công chúng tập hợp lại
Như vậy, sự ra đời của các xông ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay
là một nhu cầu khách quan và rất cần thiết Tuy nhiên để nó đi vào hoạt động
có hiệu quả cần tiếp tục có những điều chỉnh hợp lý
Đề tài: “ Công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giảipháp” sẽ cho chúng ta thấy thực trạng và những kiến nghị góp phần vào việchoàn thiện các công ty chứng khoán và những giải pháp thúc đẩy hình thànhcác xông ty chứng khoán Để tài nghiên cứu những lí luận cơ bản vể công tychứng khoán từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công ty chứng khoán về
cơ cấu tổ chức; đội ngũ cán bộ, nhan viên ; mô hình công ty; hệ thống tin họctrong các công ty chứng khoán, đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghịnhằm mở rộng và phát triển các công ty chứng khoán
Trang 2Chương 1: Vai trò của công ty chứng khoán với hoạt động của thị trường
chứng khoán
Chương 2: Thực tiễn hoạt động của các công ty chứng khoán ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện và phát triển các công ty chứng
khoán ở Việt Nam
Do hạn chế về lý luận, kinh nghiệm thực tế, điểu kiện nghiên cứu nên bàiviết này của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của cô và tất
cả các bạn đọc để các bài viết sau của em được tốt hơn
Hà Nội, tháng 2 năm 2005
Sinh viên :
Bùi Thị Quỳnh Vân
Trang 3CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1.1 Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.
Vì công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nênvấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau
ở các nước Mỗi nước đều có một mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoánriêng, phù hợp với đặc điểm của hệ thống tài chính và tùy thuộc vào sự cânnhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhà nước Tuy nhiên, ta cóthể khái quát lên ba mô hình cơ bản hiện nay là: mô hình công ty chứngkhoán ngân hàng hay mô hình ngân hàng đa năng ( bao gồm: Ngân hàng đanăng toàn phần, Ngân hàng đa năng một phần) và công ty chuyên doanhchứng khoán
Trong mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, một ngân hàng có thể thamgia tất cả các hoạt đông kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà khôngcần thông qua những pháp nhân riêng biệt
Khác với mô hình trên, trong mô hình ngân hàng đa năng một phần, mộtngân hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thong quacông ty con là pháp nhân riêng biệt
Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanhchứn khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứngkhoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứngkhoán
1.1.2 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán.
Có ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán cơ bản: công rty hợp danh,
Trang 41.1.2.1 Công ty hợp danh.
Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên Thành viên tham gia vàoquá trình đưa ra các quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh Cácthành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu tráchnhiệm với các khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn vộ tài sản của mình.Ngược lại thành viên không tham gia vào quá trình điều hành quản lí công tyđược gọi là thành viên góp vốn Họ chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản
nợ của công ty trong giới hạn góp vốn của mình
Thông thường khả năng huy động vốn góp của công ty hợp danh khônglớn, nó chỉ giới hạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp
1.1.2.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đây là công ty chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên đối với cáckhoản nợ của công ty trong giới hạn số vốn góp của họ, do đó gây tâm lí nhẹnhàng hơn đối với các nhà đầu tư
Về phương diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn so với công
ty hợp danh Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn,không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh
Nhờ nhữn ưu thế đó, hiện nay rất nhiều công ty hứng khoán hoạt độngdưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
1.1.2.3 Công ty cổ phần.
Công ty cổ phàn là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổđông Đại hội cổ đông có quyền bầu ra hội đồng quản trị Hội đồng này sẽđịnh ra các chính sách của công ty và chủ định giám đốc cùng các chức vụquản lý khác để điều hành công ty
Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiệnquyền lợi của chủ sở hữu đó với các tài sản của công ty
Trang 5 Ưu điểm của công ty cổ phần:
+ Nó tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cố đôngnghỉ hưu hay qua đời
+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được giới hạn ở mức nhất định.Nếu công ty thua lỗ, phá sản, cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã đónggóp
+ Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.+ Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công ty
cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáomiễn phí
+ Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loại hinhhợp danh và trách nhiệm hữu hạn
Do những ưu điểm này, ngày nay chủ yếu các công ty chứng khoán tồn tạidưới hình thức công ty cổ phần thậm chí một số nước ( như Hàn Quốc ) cònbắt buộc các công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần
1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán có thể là những công ty chuyên kinh doanh một
dịch vụ như công ty chỉ chuyên môi giới, công ty chỉ chuyên thực hiện bảolãnh phát hành… hoặc là những công ty đa dịch vụ, hoạt động trên nhiều lĩnhvực kinh doanh chứng khoán Nhìn chung có ba nghiệp vụ kinh doanh chínhlà:
- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
- Nghiệp vụ tự doanh
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
1.1.3.1.Nghiệp vụ môi giới
Trang 6Công ty chứng khoán tiến hành nghiệp vụ môi giới sẽ đại diện cho kháchhàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứngkhoán hoặc thị trường OTC Khách hàng sẽ phải chịu hậu quả kinh tế của việcgiao dịch đó.
Phí môi giới.
Hoạt động với tư cách là nhà đại lí nên công ty chứng khoán được hưởnghoa hồng môi giới Số tiền hoa hồng thường được tính phần trăm trên tổng giátrị một giao dịch Số tiền mua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng cànglớn
1.1.3.2.Nghiệp vụ bảo lãnh.
Bản chất bảo lãnh.
Bảo lãnh phát hành là việc hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằngcách bán chứng khoán trên thị trường Có ba hình thức bảo lãnh phát hành màthế giới thường áp dụng:
Một là, bảo lãnh chắc chắn: công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ
số chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành và sau đó sẽ bán racông chúng Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động cho chính họ và sẵnsàng chịu mọi rủi ro
Hai là, bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức mà công ty bảo lãnh phát
hành hứa sẽ cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công
ty phát hành Nếu không bán hết, công ty bảo lãnh sẽ trả lại số chứng khoánkhông bán được cho công ty phát hành Người bảo lãnh được hưởng số hoahồng trên số chứng khoán bán được
Ba là, bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: trường hợp này được áp dụng
khi công ty phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định Nếu huy độngđược đủ số vônd đó thì thực hiện phát hành, còn không huy động đủ thì sẽ bị
Trang 7huỷ bỏ Thù lao cho công ty bảo lãnh có thể là khoản phí ( đối với hình thứcbảo lãnh chắc chắn ) hơặc hoa hồng ( đối với các hình thức bảo lãnh khác ).Mức phí bảo lãnh tùy thuộc vào tính chất của đợt phát hành, tình hình thịtrường và do hai bên thoả thuận.
Phí bảo lãnh: là chênh lệch gữa giá bán chứng khoán trên thị trường và sốtiền công ty phát hành nhận được
1.1.3.3.Nghiệp vụ tự doanh.
Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng khoán dùng kinh phícủa mình để mua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làmthêm nhiệm vụ tạo thị trường cho một loại chứng khoán nào đó
Nhà giao dịch chịu lãi hay lỗ tuỳ thộc vào chênh lệch giá mua và bánchứng khoán Hoạt động buôn bán chứng khoán có thể là:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt lệnh mua và bán của mình
trên Sở giao dịch, lệnh của họ được xác định đối với bất kỳ khách hàng nàokhông xác định trước
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch giữa hai công ty chứng khoán hay giữa
công ty chứng khoán với khách hàng thông qua thương lượng Đối tượng củagiao dịch trực tiếp thường là các trái phiếu và cổ phiếu giao dịch ở thị trườngOTC
1.1.3.4.Các nghiệp vụ phụ trợ.
a.Nghiệp vụ tín dụng.
Ở các thị trường phát triển thì đây là một hoạt động thôngdụng Còn ởnhững thị trường chưa phát triển thì hoạt động này bị hạn chế, chỉ các địnhchế tài chính đặc biệt mới được phép cấp vốn vay
b.Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty.
Trang 8Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tượng chứng khoán, thời hạn,các vấn đề mang tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán… Nó đòihỏi nhiều kiến thức, chuyên môn kỹ năng và yêu cầu vốn không cao Tínhtrung thực của cá nhân hay công ty tư vấn có ý nghĩa quan trọng.
c.Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư.
Đây là một dạng tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì khách hàng ủythác cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo nhữngnguyên tắc mà khách hàng yêu cầu
Khoản phí mà công ty chứng khoán nhận được dựa trên số lợi nhuận thu
về cho khách hàng
d.Nghiệp vụ quản lí thu nhập chứng khoán(quản lí cổ tức).
Nghiệp vụ này xuất phát từ nghiệp vụ lưu kí chứng khoán Công ty phảithực hiện hoạt động theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu
hộ rồi gửi báo cáo cho khách hàng Trên thực tế, các công ty chứng khoánkhông trực tiếp quản lí mà sẽ lưu kí tại trung tâm lưu giữ chứng khoán
Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể tiến hành một
số hoạt dộng khác như: cho vay chứng khoàn, quản li quỹ đầu tư, quản lívốn, kinh doanh bảo hiểm…
Vì là một định chế tài chính đặc biệt nên công ty chứng khoán phải tuânthủ một số nguyên tắc nhất định
1.2.Nguyên tắc đạo đức và tài chính đối với công ty chứng khoán.
1.2.1.Nguyên tắc đạo đức.
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hưởng nhiều tới lợiích công chúng và biến động của thị trường tài chính Vì vậy, luật pháp cácnước qui định rất chặt chẽ đối với hoạt động của công ty chứng khoán Nhìnchung có một số nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 9+ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ được tiết
lộ thông tin khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
+ Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, khôngđược tiến hành bất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào
+ Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản củakhách hàng và tài sản của khách hàng với nhau; không được dùng tài sản củakhách hàng làm vật thế chấp, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằngvăn bản
+ Công ty chứng khoán khi thực hiên tư vấn phải cung cấp đầy đủ thôngtin cho khách hàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy
+ Công ty chứng khoán không được nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoàicác khoản thù lao thông thường cho hoạt động dịch vụ của mình
1.2.2.Nguyên tắc tài chính.
a.Vốn:
Vốn của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ Nhìnchung, số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằngviệc cân đối giữa vốn pháp định và nhu cầu vốn kinh doanh của công ty
b.Cơ cấu vốn: Nợ và Có.
Cơ cấu vốn là tỉ lệ các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc góp của các thànhviên mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình Việchuy động vốn được tiến hành thông qua việc góp vốn của các cổ đông, thôngqua hệ thống ngân hàng, thị trường vốn
c.Quản lí vốn và hạn mức kinh doanh.
* Quản lí vốn khả dụng: các công ty chứng khoán thường phải duy trì mộtmức vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán
Trang 10* Quản lí quĩ bù đắp rủi ro: Các công ty chứng khoán thực hiện hoạt động
tự doanh thường phải duy trì một tỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn cáccông ty môi giới duy trì tỉ lệ fự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích bùđắp các khoản lỗ kinh doanh trong năm đó
* Quản lí quĩ bổ sung vốn điều lệ: công ty chứng khoán phẩi trích tỉ lệphần trăm lãi ròng hàng năm để lập quĩ bổ xung vốn điều lệ cho tới khi đạtmột tỉ lệ phần trăm nào đó của vốn điều lệ Quĩ này dùng bù đắp những thâmhụt trong tương lai
* Quản lí hạn mức kinh doanh: hạn mức kinh doanh được qui định khácnhau tuỳ từng quốc gia Thông thường nó tuân theo một số qui định sau:
- Hạn chế mua sắm tài sản cố định theo tỉ lệ % trên vốn điểu lệ
- Đặt ra hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán
- Qui định hạn mức đầu tư vào một số tài sản rủi ro cao
d.Chế độ báo cáo.
Các thông tin tài chính được thể hiện qua các báo cáo Các báo cáo này,theo qui định một số nước, phải nộp cho Uỷ ban chứng khoán (hoặc cơ quanquản lý tương đương ) và một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báocáo tài chính thường niên đã được kiểm toán Báo cáo tài chính được kiểmtoán bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo lỗ lãi
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Ngoài báo cáo thường niên , công ty chứng khoán phải gửi một báo cáoquản lý toàn diện về tình hình tài chính theo quý như quy định của Uỷ banchúng khoán
1.3 Công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới
Trang 11Trên thế giới có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Thứ nhất: là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần Trong mô hình này
không có sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanhchứng khoán Các ngân hàng thương mại cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngânhàng, chứng khoán và bảo hiểm trong một pháp nhân duy nhất Đây làphương thức hoạt đông ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình được ápdụng ở CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nước Bắc Âu
Thứ hai: là mô hình đa năng một phần ( đa năng kiểu Anh ), được áp dụng
ở Anh và một số nước có quan hệ gần gũi với Anh như: Canada, Australia.Ngân hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con,
có tư cách pháp nhân độc lập Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần củangân hàng và thường không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngânhàng
Thứ ba: là mô hình chuyên doanh Nó được áp dụng ở nhiều nước như
Mỹ, Nhật.v.v Theo mô hình này các công ty chứng khkoán là các công tychuyên doanh độc lập Các ngân hàng không được phép tham gia vào kinhdoanh chứng khoán
1.4 Vai trò của Công ty chứng khoán
Khi thực hiện các hoạt động của mình, các công ty chứng khoán cũng tạo
ra sản phẩm vì họ là đại lý hay ủy thác trong quá trình mua bán chứng khoán,dich vụ tư vấn đầu tư cho các cá nhân đầu tư, công ty và cả chính phủ nữa 1.4.1.Vai trò huy động vốn
Các công ty chứng khoán là các chung gian tài chính có vai trò huy độngvốn, tức là họ là các kênh chuyển vốn từ nơi dư thừa sang nới có nhu cầu
sử dụng vốn Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này quacác hoạt động về nghiệp vụ ngân hang đầu tư và môi giới chứng khoán
Trang 12Thụng qua sở giao dịch chứng khoỏn, thị trường OTC, cỏc cụng ty chứngkhoỏn cung cấp một cơ chế giỏ cả nhằm giỳp nhà đầu tư cú sự đỏnh giađỳng thực tế và chớnh xỏc về giỏ trị khoản đầu tư của mỡnh
1.4.3.Vai trũ thực hiện tớnh thành khoản của chứng khoỏn
Cỏc cụng ty chứng khoỏn thực hiện cơ chế chuyển dịch này, từ đú giỳpnhà đầu tư mong muốn chuyển tiền mặt thành chứng khoỏn và ngược lạimột cỏch ớt thiệt hại nhất
1.4.4.Thỳc đẩy vũng quay của chứng khoỏn
Cỏc cụng ty chứng khoỏn cũng là người tạo ra sản phẩm bằng cỏch cungcấp cho khỏch hàng các cách đầu t khác nhau Qua đó họgóp phần làm tăng vòng quay của chứng khoán qua việcchú ý đến nhu cầu của ngời đầu t, cải tiến các công cụ tàichính của mình làm cho chúng phù hợp với nhu cầu củakhách hàng
1.4.5.Dịch vụ t vấn tài chính
Các công ty chứng khoán với dịch vụ tổng hợp không chỉthực hiện lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiềudịch vụ t vấn, cung cấp các thông tin đa dạng, nghiên cứuthị trờng cho các công ty cổ phần và cá nhân đầu t.Công ty có thể t vấn về; Thu nhập và sử lý thông tin vềcác khả năng và cơ hội đầu t, triển vọng ngắn và dài hạncủa thị trờng chứng khoán và các công ty trong thời gianhiện tại và tơng lai, t vấn đầu t chứng khoán…
1.4.6.Các sản phẩm đầu t
Các sản phẩm đầu t hiện may phát triển rất mạnh do yếu
tố dung lợng thị trờng và biến động thị trờng ngày cànglớn, nhận thức rõ ràng hơn của khách hàng đối với thị trờng
Trang 13tài chính, sự nỗ lực trong tiếp thị của các công ty chứngkhoán Các công ty chứng khoán có các dịch vụ yểm trợ rất
to lớn đối với thị trờng, vì mỗi loại sản phẩm tài chính cónhững quy trình riêng biệt và nhu cầu của khách hàng là
đa dạng khác nhau
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CễNG TY
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Qua nghiờn cứu mụ hỡnh cụng ty chứng khoỏn ở một số nước trờn Thế giới
cú thể thấy sự thành lập, phỏt triển của cỏc cụng ty chứng khoỏn gắn kiền với
sụ hỡnh thành, phỏt triển của thị trường chứng khoỏn Nú là một quỏ trỡnh lõudài Ở Việt Nam, thi trường chứng khoỏn cú nột đắc thự riờng, nú được hỡnhthành và phỏt triển theo định hướng của Nhà nước Do vậy, quỏ trỡnh thànhlập, hoạt đụng của cỏc cụng ty chứng khoỏn cũng mang những đặc điểmriờng
2.1 Quỏ trỡnh thành lập cỏc cụng ty chứng khoỏn.
2.1.1 Mục tiờu hoạt động của cỏc cụng ty chứng khoỏn
Trong 2-3 năm đầu, cỏc cụng ty chứng khoỏn thuộc cỏc ngõn hàng chưađặt vấn đề nguồn thu lớn từ TTCK Thị trường mới thành lập, quy mụ nhỏ Vỡvậy, mục tiờu trước mắt là tỡm hiểu, thăm dũ thị trường, tạo lập, quan hệkhỏch hàng, bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ và tớch luỹ kinh nghiệm cho độingũ cỏn bộ nhõn viờn, Trờn cơ sở đú, xỳc tiến, triển khai cỏc phương ỏn kinhdoanh một cỏch hoàn chỉnh
Trong thời gian đầu cỏc cụng ty chứng khoỏn chuyờn doanh vẫn chưa đặtmục tiờu lợi nhuận lờn hàng đầu Trước mắt cỏc cụng ty này tham gia thịtrường một cỏch thận trọng, lần lượt triển khai cỏc nghiệp vụ với mục đớchlàm quen với cỏc hoạt động kinh doanh chứng khoỏn Từ đú rỳt ra những kinh
Trang 14các chi phí không cần thiết, duy trì hoạt động kinh doanh thật vững sau đómới mở rộng và phát triển thị trường.
2.1.2 Quá trình thành lập các công ty chứng khoán
Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu phát triển TTCK, vì quy mô thị trườngcòn nhỏ nên số lượng các công ty chứng khoán hiện nay còn ít Điều này làphù hợp nhằm giảm sự cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh chi phí ban đầu củacác công ty khi mới thành lập là rất lớn mà thu nhập còn nhỏ, chưa đủ khảnăng bù đắp chi phí
2.2 Mô hình công ty chứng khoán ở Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, ngành chứng khoán cũng như hoạt động kinh doanhchứng khoán là hoàn toàn mới mẻ không những đối với dân chúng mà ngay
cả đối với các tổ chức kinh doanh ở nước ta Việc tham gia của các tổ chức tíndụng cụ thể là các ngân hàng thương mại vào kinh doanh chứng khoán tronggiai đoạn đầu của thị trường như hiệnh nay là hết sức cần thiết
Có thể nhận thấy mô hình công ty chứng khoán ở Việt Nam hiệnh naychính là sự kết hợp giữa mô hình ngân hàng đa năng một phần và mô hìnhcông ty chuyên doanh chứng khkoán Chúng ta đã học tập và đủ kinh nghiệm
từ mô hình các nước và hạn chế tiêu cực có thể phát sinh từ đó không ngừngnâng cao hiệu quả hoạt đông của các công ty chứng khoán
2.3 Tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh.
Một nét đặc trưng của công ty chứng khoán là thụ trường tài chính nóichung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh hưởng lớn tới sản phẩm,dịch vụ, khả năng thu lợi nhuận của công ty chứng khoán Việc triển khai cáchoạt động của thị trường chứng khoán Do vậy, để nghiên cứu thực tiễn hoạtđộng của các công ty chứng khoán hiện nay ở Việt Nam trước hết phải nghiêncứu hoạt động trên thi trường chứng khoán
Trang 152.3.1.1 Tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng khoán.
Hiện nay, có 07 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động Qua 06tháng hoạt động, nhìn chung các công ty chứng khoán tuân thủ Nghị định48/19998/ NĐCP của Chính phủ, các quy định của UBCKNN và luật doanhnghiệp, đáp ứng yêu cầu phục vụ khách hàng
2.3.1.1.Môi giới:
Hầu hết các công ty chứng khoán hiện nay mới tập trung triển khai hoạtđộng môi giới Tính đến 01/2003, tổng số tài khoản của các nhà đầu tư mở đểgiao dịch tại các công ty chứng khoán là 3249, tăng 2 lần so với khối lượngtài khoản mở trong tháng 08/ 2001 ( là tháng bắt đầu hoạt động của các côngty)
Tổng số chứng khoán lưu ký qua các công ty chứng khoán là 19.254.000chứng khoán chiếm 60% trong tổng số 32 triệu chứng khoán đăng ký niêmyết
2.3.1.2Tự doanh:
Ngoài nghiệp vụ môi giới, hầu hết các công ty chứng khoán ( trừ hai công
ty chứng khoán Sài Gòn và Thăng Long không đăng ký hoạt động tự doanh)đều đã triển khai hoạt động tự doanh nhưng tỷ trọng vẫn còn thấp hơn nhiề sovới hoạt động môi gới Tuy nhiên, phần lớn các chứng khoán mà các công tyđầu tư đều mang lại lợi nhuận do giá cả cổ phiếu liên tục tăng
2.3.1.3.Các hoạt động khác.
Các hoạt động khác như bảo lãnh phát hành, quản lí danh mục đầu tư đềuchưa được triển khai Riêng các hoạt dộng tư vấn đầu tư hiện nay mới chỉmang tính chất hướng dẫn người đầu tư thực hiện đúng các thủ tục mua, bánchúng khoán chứ chưa thực sự tư vấn cho người đầu tư biết các đầu tư vốn