Trong giai đoạn hiện nay, chuyển đổi số trong giáo dục đại học được xác định là khâu đột phá, là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu mới của các cơ sở đại học trước bối cảnh hội nhập toàn cầu. Chuyển đổi số là một yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của người học, giúp người học trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho một thế giới việc làm nhiều biến động. Chuyển đổi số không chỉ là vấn đề của một tổ chức, một cá nhân mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Do đó, đào tạo không thể nằm ngoài quy luật chuyển đổi để kịp thời nắm bắt những thành tựu của khoa học kỹ thuật, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Chuyển đổi số vừa là thách thức cũng vừa là cơ hội lớn đối với các trường đại học ở nước ta.
Trang 1HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ
VÀ THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 3KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ
VÀ THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
HÀ NỘI - 10/2022
Trang 406 PGS.TS Hoàng Thanh Xuân Trưởng Phòng Đào tạo Ủy viên
07 TS Nguyễn Thị Thanh Quý Phó Trưởng khoa QTKD Ủy viên
Trang 5ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
“ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI”
Kính thưa các quý vị đại biểu, các nhà khoa học, các thầy cô giáo!
Trong giai đoạn hiện nay, chuyển đổi số trong giáo dục đại học được xác định là khâu đột phá, là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu mới của các cơ sở đại học trước bối cảnh hội nhập toàn cầu Chuyển đổi số là một yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của người học, giúp người học trang
bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho một thế giới việc làm nhiều biến động Chuyển đổi số không chỉ là vấn đề của một tổ chức, một cá nhân mà
đã trở thành vấn đề toàn cầu Do đó, đào tạo không thể nằm ngoài quy luật chuyển đổi để kịp thời nắm bắt những thành tựu của khoa học kỹ thuật, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Chuyển đổi số vừa là thách thức cũng vừa là cơ hội lớn đối với các trường đại học ở nước ta Tính cấp thiết, thời sự của chuyển đổi số trong giáo dục và phát triển nhân lực đã được đề cập trong Quyết định số 1282/QĐ-BGDĐT “Kế hoạch tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục
và đào tạo giai đoạn 2022-2025” ngày 10/5/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngành Giáo dục xác định ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số là một trong những khâu có tính đột phá, hướng đến tạo ra những thay đổi quan trọng trong giáo dục Nếu thực hiện tốt, đây sẽ là cú hích làm thay đổi tư duy giáo dục, quản trị giáo dục, thay đổi nghề nghiệp của người dạy và hoạt động của người học, hướng tới giải quyết những vấn đề mang tính bền vững, lâu dài trong ngành giáo dục
Trước tác động của chuyển đổi số đến giáo dục đào tạo, cơ sở đại học cần
có thay đổi về cách thức vận hành để thích ứng kịp thời với sự biến đổi đó Yêu cầu về nguồn nhân lực hiện nay cũng phải đáp ứng được sự thay đổi của nền kinh
tế số Trong đó, yêu cầu về nhân lực quản trị kinh doanh, việc thực hiện, quản lý hoạt động kinh doanh, ra quyết định cũng như tổ chức hiệu quả con người và các nguồn lực khác để chỉ đạo các hoạt động hướng tới các mục tiêu chung đều phải
Trang 6dựa trên ứng dụng công nghệ số Do vậy, đào tạo nguồn nhân lực Quản trị kinh doanh một cách bài bản, chắc về chuyên môn, có năng lực làm chủ công nghệ, có tính sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi của công nghệ trong nền kinh tế là yêu cầu cấp thiết trước mắt và lâu dài để thích ứng sự thay đổi của nền kinh tế số tại Việt Nam trong giai đoạn mới
Để làm rõ hơn nhiệm vụ đào tạo ngành Quản trị kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, Trường Đại học Công đoàn đã tổ chức Hội thảo khoa
học quốc gia với chủ đề: “Đào tạo ngành Quản trị kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số và thích ứng biến đổi” Đây là diễn đàn trao đổi học thuật và kinh
nghiệm đào tạo giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, cán bộ, giảng viên giữa các cơ sở giáo dục đại học về các vấn đề đào tạo ngành Quản trị kinh doanh Hội thảo còn có ý nghĩa đặc biệt nằm trong chuỗi các sự kiện quan trọng chào mừng Kỷ niệm 30 năm thành lập Khoa Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Công đoàn (1992-2022) Sau một thời gian chuẩn bị, Ban Nội dung Hội thảo
đã nhận được nhiều bài viết gửi về và chọn lọc được 52 bài viết của tác giả đến
từ các trường đại học, cao đẳng và các cơ quan, đơn vị khác trong cả nước để đăng trên Kỷ yếu Hội thảo như Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Ngoại thương, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia, Học viện Tài chính, Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Lao động – Xã hội, Trường Đại học Thăng Long, Trường Đại học Tài chính – Marketing, Trường Đại học Lương Thế Vinh
Trong phạm vi của Hội thảo, các đại biểu sẽ trình bày và tập trung thảo luận các nội dung sau đây:
Một là, những vấn đề chung về đào tạo và đào tạo ngành Quản trị kinh
doanh trong bối cảnh chuyển đổi số và thích ứng biến đổi
Hai là, thực trạng, giải pháp đào tạo ngành Quản trị kinh doanh trong bối
cảnh chuyển đổi số và thích ứng biến đổi
Ba là, kinh nghiệm về đào tạo ngành Quản trị kinh doanh trong bối cảnh
chuyển đổi số và thích ứng biến đổi
Bốn là, những vấn đề khác liên quan đến chuyển đổi số và đào tạo ngành
Quản trị kinh doanh
Trang 7Kính thưa các vị đại biểu, các thầy cô giáo!
Với những nội dung trên, Ban Tổ chức Hội thảo rất mong nhận được nhiều
ý kiến đóng góp để Khoa Quản trị kinh doanh cùng với nhà trường có những giải pháp thiết thực trong quá trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay
Nhân dịp này, thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học đã dành thời gian viết bài, tham dự và có ý kiến quý báu phát biểu, đóng góp tích cực vào sự thành công của Hội thảo
Kính chúc các quý vị đại biểu, các nhà khoa học, các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành công! Chúc Hội thảo thành công rực rỡ!
Xin trân trọng cảm ơn!
T/M Ban Tổ chức Hội thảo
HIỆU TRƯỞNG
TS Lê Mạnh Hùng
Trang 8CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
NHỮNG THÁCH THỨC ĐẶT RA VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM
TS Lê Cao Thắng
Chủ tịch Hội đồng Trường, Trường Đại học Công đoàn
Tóm tắt: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi quá trình vận
hành của hệ thống giáo dục trên thế giới Theo đó, nhiều phương thức giáo dục mới, thông minh hơn, hiệu quả hơn, tối ưu chi phí hơn đã xuất hiện tại các cơ sở
giáo dục khác nhau trên thế giới Cho đến nay, xu hướng chuyển đổi số trong
hoạt động đào tạo, giảng dạy đã tác động sâu sắc đến toàn ngành giáo dục nói
chung và giáo dục đại học nói riêng Hiểu một cách đơn giản chuyển đổi số là việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số để chuyển đổi các hoạt động dịch vụ và kinh doanh Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ không chỉ đơn thuần là việc sử dụng vào công việc mà bao hàm việc kết nối dữ liệu, gắn kết các quy trình, tổ chức, quốc gia với nhau trên nền tảng kỹ thuật số Bài viết tập trung làm rõ hàm ý của chuyển đổi số trong giáo dục đại học và những thách thức đặt ra trong chuyển
đổi số đối với các trường đại học tại Việt Nam
Từ khóa: Chuyển đổi số, giáo dục đại học, Việt Nam
1 Đặt vấn đề
Sự thay đổi của xã hội trong thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
và diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19 đã làm thay đổi phương pháp giáo dục truyền thống sang giảng dạy tích cực, từ lớp học tập trung chuyển sang
mô hình lớp học trực tuyến, lớp học online sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ giảng dạy và học tập Ngày 03/06/2020, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã thể hiện vai trò hết sức quan trọng của giáo dục và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục (chỉ sau lĩnh vực y tế) Ngày 25/01/2022, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số
Trang 9131/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030 Trong đó xác định rõ mục tiêu chung là: Tận dụng tiến bộ khoa học công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng và
cơ hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội
số Dưới sự tác động khách quan của dịch bệnh Covid 19, sự phát triển của công nghệ thông tin cộng với chiến lược phát triển của Chính phủ tạo ra sức ép về chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước
2 Nội dung
2.1 Khái niệm chuyển đổi số
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về chuyển đổi số Trong thực tế, tùy từng lĩnh vực, cấp độ chuyển đổi, mục tiêu chuyển đổi mà các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý đưa ra những định nghĩa khác nhau Theo Bloomberg (2018), chuyển đổi số hay chuyển đổi kỹ thuật số là sự tích hợp của tất cả các quy trình số hóa cần thiết hướng tới sự thay đổi chiến lược của một tổ chức Theo đó, số hóa là một phần của chuyển đổi kỹ thuật số, nhưng không phải
là duy nhất Để quá trình thay đổi thành công, cần có các yếu tố cần thiết như: lập
kế hoạch chiến lược phù hợp, tạo niềm tin, tư duy trong các quy trình, tích hợp tất cả các bên liên quan cũng như khuyến khích học tập cá nhân, nhóm và tổ chức Theo một cách đơn giản nhất, chuyển đổi số là “số hóa” hay ứng dụng tính hiện đại của công nghệ thông tin để giải quyết vấn đề Có thể hiểu “số hóa” chỉ
là việc biến đổi các giá trị thực sang dạng số, còn “chuyển đổi số” là việc dữ liệu sau khi được số hoá sau đó ứng dụng các công nghệ như AI, Big Data, để phân tích dữ liệu, biến đổi các dữ liệu ban đầu và tạo ra một giá trị khác théo ý muốn của người sử dụng Trong phạm vi doanh nghiệp, nghiên cứu của Westerman và cộng sự (2011) đưa ra khái niệm chuyển đổi số là việc sử dụng công nghệ thông tin để cải thiện hoàn toàn hiệu suất của doanh nghiệp Các tác giả cho rằng, hiện nay, các giám đốc điều hành trong tất cả các ngành đều đang sử dụng các tiến bộ của kỹ thuật số như thiết bị phân tích, di động, mạng xã hội và các thiết bị nhúng (embedded) thông minh và cải tiến việc sử dụng các công nghệ truyền thống như ERP (Enterprise resource planning) - hoạch định nguồn lực doanh nghiệp để thay đổi mối quan hệ với khách hàng, các quy trình nội bộ và giá trị công việc
Trang 10Mazzone (2014) định nghĩa chuyển đổi số là sự phát triển kỹ thuật số có chủ ý và liên tục của một công ty, mô hình kinh doanh, quy trình ý tưởng hoặc phương pháp luận, cả về mặt chiến lược và chiến thuật Ở phạm vi rộng hơn, Bouée và Schaible (2015) cho rằng chuyển đổi số là một mạng lưới nhất quán của tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và sự điều chỉnh của người chơi đối với những thực
tế mới của nền kinh tế số Nhóm tác giả nhấn mạnh các quyết định trong hệ thống mạng lưới bao gồm việc trao đổi và phân tích các dữ liệu, tính toán và đánh giá các lựa chọn, cũng như bắt đầu các hành động và đưa ra các kết quả
Từ các định nghĩa trên có thể thấy chuyển đổi số liên quan đến: sự tiến bộ trong công nghệ thông tin, thay đổi cách thức vận hành, mô hình hoạt động trên nền tảng công nghệ thông tin, phạm vi chuyển đổi không chỉ trong phạm vi doanh nghiệp mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực và chủ thể… kết quả mang lại được kỳ vọng có sự thay đổi đột phá về chất… Do đó tác giả hoàn toàn đồng tình với khái niệm về chuyển đổi số của Phùng Thế Vinh (2021) cho rằng chuyển đổi
số là việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số để chuyển đổi các hoạt động dịch vụ và kinh doanh, thông qua việc thay thế các quy trình phi kỹ thuật số hoặc thủ công bằng các quy trình kỹ thuật số; hoặc thay thế công nghệ kỹ thuật số cũ bằng công nghệ kỹ thuật số mới hơn Các giải pháp kỹ thuật số có thể cho phép - ngoài hiệu quả thông qua tự động hóa - các loại hình đổi mới và sáng tạo mới, thay vì chỉ đơn giản là nâng cao và hỗ trợ các phương pháp truyền thống
Với cách hiểu này, có thể khẳng định chuyển đổi số là quá trình chúng ta thay đổi cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất thông qua việc áp dụng các công nghệ mới trên nền tảng mạng Internet
2.2 Khái niệm chuyển đổi số trong giáo dục đại học
Theo Kopp và cộng sự (2019), chuyển đổi số trong giáo dục đại học được hiểu là tổng hợp các quá trình cần thiết để đạt được sự thay đổi giúp các trường đại học tận dụng thành công việc sử dụng các công nghệ số
Vũ Hải Quân (2021) cho rằng chuyển đổi số là sự thay đổi về cách thức hoạt động của một tổ chức nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng cách khai thác ứng dụng công nghệ và dữ liệu Trong giáo dục đại học, mục tiêu này chính là nâng cao hiệu quả quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ cho sự phát triển của đất nước Về bản chất, chuyển đổi số không thay đổi giá trị cốt lõi hay mô hình của một tổ chức giáo dục đại học mà là sự chuyển đổi hoạt
Trang 11động cốt lõi thông qua công nghệ và nền tảng số Nói cách khác, chuyển đổi số trong giáo dục đại học là sự giao thoa giữa công nghệ và chiến lược đào tạo
Hình 1 Tác nhân, thành phần và hiệu quả chuyển đổi số
trong giáo dục đại học
Nguồn:Vũ Hải Quân (2021)
Ba tác nhân thúc đẩy quá trình chuyển đổi số ở một trường đại học là: (1) ngân sách nhà nước ngày càng giảm; (2) kỳ vọng ngày càng cao của người học; (3) công nghệ ngày càng phát triển Ba thành phần cơ bản của quá trình chuyển đổi số gồm: (1) con người; (2) chiến lược; (3) công nghệ Bốn hiệu quả được kỳ vọng khi thực hiện chuyển đổi số là (1) nâng cao chất lượng đào tạo, (2) nâng cao hiệu quả nghiên cứu, (3) xuất hiện những phương thức/mô hình đào tạo mới,
và (4) gia tăng nguồn lực tài chính Tác giả cho rằng sẽ là phiến diện nếu chỉ coi chuyển đổi số trong giáo dục đại học đơn thuần là giảng dạy từ xa thông qua webcam mà cần phải coi chuyển đổi số như là cả một hệ sinh thái đào tạo hiện đại với nhiều thách thức mới, cơ hội mới (Vũ Hải Quân, 2021)
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học, nghĩa là việc áp dụng công nghệ, cũng dựa vào mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục và được ứng dụng dưới 2 hình thức chính: ứng dụng công nghệ trong phương pháp giảng dạy; ứng dụng công nghệ trong quản lý Trong đó, ứng dụng công nghệ trong quản lý được xem là công cụ quản lý và vận hành chuyển đổi số trong giáo dục đại học, tập
Trang 12trung vào hai nội dung chủ đạo: chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học Trong quản lý giáo dục bao gồm: số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 (AI, Blockchain, phân tích dữ liệu ) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ ra quyết định trong ngành giáo dục một cách nhanh chóng, chính xác Trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá gồm: số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng E-Learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường đại học ảo
2.3 Xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, phát triển các mô hình trường đại học mới
- Mô hình trường đại học thông minh: Giáo dục thông minh đang trở nên
phổ biến tại các trường đại học trên thế giới bởi vì công nghệ và các thiết bị thông minh tạo ra những cơ hội chưa từng có cho các tổ chức học thuật và đào tạo về các tiêu chuẩn cao hơn và cách tiếp cận sáng tạo đến: (1) Giáo dục, học tập và các chiến lược giảng dạy, (2) các dịch vụ độc đáo cho sinh viên địa phương/trực tiếp
và từ xa/trực tuyến, (3) thiết lập các lớp học thông minh công nghệ cao với sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trực tiếp/trực tuyến dễ dàng, (4) thiết kế và phát triển nội dung đa phương tiện trên nền web với các bài thuyết trình tương tác, bài giảng video, các câu hỏi và bài kiểm tra tương tác, việc đánh giá kiến thức tức thì (Uskov và cộng sự, 2016) Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (2020) dựa trên mô hình SMART của Chính phủ Hàn Quốc, đối sánh với thực tế của các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam, đã đưa ra mô hình V-SMARTH (Hình 2) Thông qua mô hình V-SMARTH, Đại học thông minh được mô tả bao gồm sáu thành tố cơ bản: (1) Tài nguyên số, (2) học liệu truy cập mở, (3) môi trường dạy - học ảo, (4) nhu cầu học tập riêng, (5) phương pháp dạy - học có tương tác và (6) hạ tầng số Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra ba trụ cột quy tụ các thành tố trên, đó là: Số hóa, mô hình dạy - học dựa trên công nghệ số và quá trình chuyển đổi số toàn diện
hệ thống (Nguyễn Hữu Đức và cộng sự, 2020)
- Trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Sơn (2019) đã trình bày về Mô hình phát triển đại học số - đại học thông minh, ĐHQGHN VNU 4.0 (2020–2025), đây là mô hình Đại học thông minh áp dụng cho Đại học Quốc gia Hà Nội giai
Trang 13đoạn 2020–2025 Đại học Quốc gia Hà Nội có vai trò chỉ đạo, quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động quản lý, giảng dạy, học tập, nghiên cứu của các đơn vị thành viên và trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội trên nền tảng số 4.0 (dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, kết nối vạn vật, điện toán đám mây, ứng dụng di động…) Bên cạnh
đó, mô hình cũng thể hiện Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQGHN LIC) có vai trò xây dựng và phát triển học liệu số phục vụ cho toàn bộ Đại học
(VNU-Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Hoàng Sơn, 2019)
Hình 2: Mô hình trường đại học thông minh
(Nguyễn Hữu Đức và cộng sự, 2020)
- Mô hình trường đại học 4.0
Mô hình trường đại học 4.0: Theo Giáo sư Gottfried Vossen (Đại học Munster, Đức) trường đại học 4.0 bao gồm: dạy học 4.0; nghiên cứu 4.0 và quản
lý 4.0 Trong đó, dạy học 4.0 gồm có nhiều hình thức học tập mới, thời gian và địa điểm học tập không bị ràng buộc, có sự thay đổi phù hợp với đối tượng học, cung cấp nhiều kỹ năng phù hợp hơn Nghiên cứu 4.0 bao gồm: hình thức nghiên cứu mới (tốc độ, kết quả, quá trình đánh giá), hệ thống dữ liệu quy mô lớn và đa đạng nguồn hơn Quản lý 4.0 gồm: giảng dạy (hệ thống phần mềm thực hiện được nhiều mục đích hơn, những công cụ quản lý hiệu quả hơn, hệ thống thông tin lớn hơn), nghiên cứu khoa học (hệ thống thông tin nghiên cứu khoa học, quản
lý dự án), quản lý cơ sở đào tạo, bộ phận hỗ trợ tài chính
Trang 14Thứ hai, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học
Một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học là xu hướng phát triển sư phạm số, xu thế dạy học mới được hình thành trên nền hệ sinh thái giáo dục mở với E-Learning 4.0 tận dụng webservices API, AI, Big Data Các hình thức giảng dạy, học tập mới như: học trực tuyến, các lớp học ảo, các phòng thí nghiệm ảo, học tập dựa trên thực hành trực tiếp, các khóa học dựa trên nền tảng trò chơi sẽ triển mạnh mẽ
Các cơ sở giáo dục đại học trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển, đã và đang áp dụng công nghệ số trong mấy thập kỷ nhưng chủ yếu mới
ở khía cạnh đào tạo với tốc độ tương đối chậm so với các doanh nghiệp và không đồng đều trước khi dịch COVID-19 xảy ra Cuối thế kỷ 20, sự phát triển của Internet đánh dấu sự xuất hiện đào tạo trực tuyến - một hình thức đào tạo từ xa mà các nguồn tài liệu chủ yếu được phân phối qua các hệ thống mạng máy tính, ban đầu chỉ là video bài giảng được ghi lại từ các lớp học truyền thống, sau phát triển thành các nguồn tài nguyên cho phép người dùng tải về Sang thế kỷ 21, các trường đại học tăng cường việc tạo ra tri thức và tạo ra sự đổi mới trong nền kinh
tế tri thức đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của xã hội Tại Việt Nam, ngoài chương trình đào tạo truyền thống, các trường đa dạng hóa phương thức đào tạo để
mở rộng phạm vi ảnh hưởng, cung cấp các chương trình đào tạo đại trà để phổ biến kiến thức cho các tầng lớp có nhu cầu khác nhau trong xã hội chứ không chỉ phục vụ tầng lớp tinh hoa Đào tạo trực tuyến là một giải pháp để các trường đại học thực hiện những mục tiêu này, giúp tăng nguồn thu và củng cố địa vị trong lĩnh vực đào tạo cả trong và ngoài nước Thông qua website, người dạy có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình chiếu) tới người học
ở khắp mọi nơi Hệ thống đào tạo trực tuyến gồm cả hệ thống quản lý học tập (LMS) và hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS) cho phép thực hiện đầy đủ các hoạt động đào tạo với ưu điểm là người học có thể học tập mọi lúc, mọi nơi; tiết kiệm chi phí đi lại và thời gian học tập cũng như linh hoạt trong việc sắp xếp thời gian học tập… Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với chi phí thấp Đặc biệt, các trường đại học bắt đầu khai thác mô hình MOOC (các khóa học đại trà trực tuyến mở) để tiếp cận nhiều sinh viên hơn cũng như cắt giảm chi phí đào tạo và có kế hoạch thay thế các khóa học truyền thống thông thường
Trang 15Có thể nói, các tiến bộ về công nghệ dạy học đã mang đến sự thay đổi rõ nét trong việc dạy và học Bên cạnh đó, các hình thức đánh giá cũng được đa dạng hóa Ngoài kiến thức, các phương pháp đánh giá mới chú trọng đến phát triển tính sáng tạo, khuyến khích sự cộng tác nghiên cứu đa ngành để hình thành
ở người học các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp
Thứ ba, ứng dụng công nghệ trong hoạt động quản lý
Hiện nay, hoạt động quản lý tại các trường đại học đã dần dần được số hóa bằng những phần mềm quản lý tài sản, phần mềm quản lý trường học chuyên biệt, phần mềm quản lý đào tạo…Ứng dụng công nghệ này, giúp người học dễ dàng trong tra cứu thông tin khi đến thư viện, hay giáo viên, quản lý có thể quản
lý được bảng điểm học sinh, thời khóa biểu, hay các thông tin khác
Các trường đại học đang tích cực thúc đẩy sự tái phát triển công nghệ, quy trình làm việc theo hướng online, đẩy mạnh việc ứng dụng BigData, IoT… tăng cường sự kết nối giữa các phòng ban Mọi hoạt động vận hành như một doanh nghiệp, có các bộ phận hỗ trợ như: Hành chính nhân sự, kế toán tài chính… Thậm chí, một số trường học tư nhân lớn có sử dụng phần mềm để làm việc như: phần mềm kế toán, phần mềm quản lý nhân sự để tính lương,… Tuy nhiên hệ thống các công cụ đang khá rời rạc, chưa tối ưu hóa được cơ sở dữ liệu
2.4 Những thách thức đặt ra trong chuyển đổi số đối với các trường đại học tại Việt Nam
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng công nghệ
Cơ sở hạ tầng công nghệ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chuyển đổi số tại các trường đại học Công việc này đỏi hỏi các trường đại học phải có công nghệ mới, thiết bị mới cho cả người học, giảng viên giảng dạy và cơ quan quản lý Đi kèm với các thiết bị phần cứng là các ứng dụng phần mềm, nền tảng
để mọi hoạt động giáo dục và quản lý của các cấp diễn ra trên đó Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo chủ yếu đề cập đến các chương trình, phần mềm hay ứng dụng riêng biệt cho chương trình đào tạo Chuyển đổi số phức tạp hơn, đòi hỏi tất cả các thiết bị riêng lẻ trên phải được tích hợp, kết nối với nhau
và truy cập trên cùng một nền tảng Nền tảng này cho phép giảng dạy, quản trị, học tập, kiểm tra, đánh giá, kiểm tra, quản lý và giảng dạy người học, cũng như
Trang 16tất cả các tương tác giữa sinh viên và giảng viên Kết nối Internet ổn định là yếu
tố cần thiết để nền tảng này hoạt động Tuy nhiên, tại Việt Nam do sự phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương không đồng đều do đó rất khó khăn trong việc triển khai chuyển đổi số một cách đồng bộ giữa các địa phương này Do đó, ngành Giáo dục không thể thực hiện chuyển đổi số một mình mà cần có sự chung tay phối hợp với các ban ngành khác
Thứ hai, trình độ và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin
Thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đòi hỏi cả sinh viên và giảng viên phải am hiểu, có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin Các nền tảng ứng dụng như Zoom, Google Meet,… cho phép lớp học vẫn diễn ra dù sinh viên và giảng viên đang ở các vị trí địa lý khác nhau, cách xa nhau Trong lớp học vẫn có sự tương tác giữa giáo viên và sinh viên qua màn hình máy tính, Ipad hay điện thoại Tuy nhiên, người sử dụng phải hiểu biết về công nghệ mới có thể truy cập hệ thống và sử dụng các tính năng phục vụ cho giảng dạy trong đó Thêm nữa, tất cả các tài liệu học và bài giảng đều phải được số hóa để có thể chạy trên ứng dụng
Thực tế hiện nay, nhiều giảng viên có thâm niên lâu năm hoặc các giảng viên, sinh viên tại các vùng sâu vùng xa nơi chưa có điều kiện tiếp cận hoặc thiếu các phương tiện công nghệ thông tin, họ khá lúng túng khi thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới Các giảng viên luôn cần có sự hỗ trợ của các nhân viên
kỹ thuật và chuyên gia công nghệ trong quá trình này để đảm bảo rằng việc giảng dạy diễn ra suôn sẻ Các trường truyền thống hầu như không có “biên chế” nhân viên công nghệ thông tin Nên khi triển khai đào tạo trực tuyến quy mô lớn, các trường có nhu cầu rất lớn về kỹ thuật viên Tất nhiên, một số trường lựa chọn việc thuê ngoài đội ngũ nhân sự này, tuy nhiên việc phân bổ chi thường xuyên thay đổi, dẫn đến việc quản trị trường học và quản lý tài chính cũng gặp nhiều khó khăn
Thứ ba, thách thức về mặt nhận thức của cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên và sinh viên
Thói quen ngại thay đổi trong cách quản lý, trong phương pháp dạy học, sợ khó, sợ khổ là rào cản lớn khi thực hiện chuyển đổi số Nguyên nhân được cho
họ phải tìm cách nắm bắt các thao tác về giảng dạy trong không gian ảo, khai thác hiệu quả công nghệ cho mục đích này Không chỉ vậy, họ cần trang bị kiến
Trang 17thức và tư duy kỹ thuật số để có thể làm chủ công nghệ và hiểu giới hạn của công nghệ Do đó, một bộ phận đội ngũ các nhà quản lý có biểu hiện tư duy bao cấp, trông chờ, ỷ lại, không dám làm nên chưa đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi
số Một số giảng viên, chủ yếu ở các trường đại học địa phương quy mô nhỏ cho rằng, dạy học trực tuyến chỉ là giải pháp tình thế trong bối cảnh dịch bệnh nên không đầu tư thích đáng cho việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá Sinh viên đã quen với cách học truyền thống, cho rằng học online thiếu hiệu quả, không có thái độ hợp tác thì dù giảng viên có cố gắng đến đâu, sinh viên vẫn
sẽ rất khó tìm thấy hứng thú ở những giờ học online
Thứ tư, bất bình đẳng trong giáo dục
Chúng ta thường nghĩ rằng, việc số hóa các hoạt động giáo dục sẽ mang lại
“công bằng số” (digital equity) nhờ lợi thế tiếp cận công nghệ không giới hạn về không gian và thời gian Tuy nhiên, điều này cũng có thể làm sâu sắc thêm sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các khu vực và sinh viên có điều kiện kinh
tế - xã hội khác nhau Sinh viên không được tiếp cận với cơ sở hạ tầng viễn thông tốt ở các vùng, miền núi hoặc nông thôn sẽ khó tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao mà giáo dục cơ bản cũng là nguồn lực quan trọng cho việc học tập
Thứ năm, thách thức về tài chính
Đây là bài toán muôn thuở của các trường đại học tại Việt Nam Chuyển đổi số đòi hỏi hạ tầng công nghệ mới, trang thiết bị mới cho sinh viên, giảng viên, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý Đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ, mua phần mềm quản lý đào tạo, học liệu số, xây dựng phòng thực tế ảo, bồi dưỡng, tập huấn cho giảng viên và sinh viên… tốn rất nhiều kinh phí của nhà trường Khối lượng công việc của giảng viên, cán bộ, nhân viên quản lý đào tạo nhiều hơn khi thực hiện chuyển đổi số cũng đòi hỏi tài chính để tăng lương, tăng chế độ chính sách hỗ trợ
Thứ sáu, thách thức về nhân lực
Chuyển đổi số không thể thành công nếu những người trực tiếp thực hiện việc quản lý đào tạo, việc dạy học không có đủ kỹ năng sử dụng công nghệ Nhiều nghiên cứu cho thấy kỹ năng sử dụng công nghệ cho mục đích học tập của sinh viên chưa cao, nhất là với những sinh viên ở vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện tiếp xúc nhiều với công nghệ Ở phía còn lại, không phải tất cả các giảng
Trang 18viên đều có năng lực và sự tự tin trong việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để
hỗ trợ công tác giảng dạy (Bùi Thị Nga và cộng sự, 2020) Với sự phát triển của khoa học dữ liệu, các dữ liệu về kết quả đào tạo dễ dàng được thu thập và xử lý Thách thức ở đây là các nhà quản lý, giảng viên có đủ năng lực phân tích, khai thác dữ liệu để tạo ra những tác động như nâng cao hiệu quả giảng dạy, tỷ lệ sinh viên được tuyển dụng, từ đó tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho trường đại học
3 Kết luận
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu đối với giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng Do đó, các trường đại học tại Việt Nam cần nắm bắt những cơ hội, khắc phục những khó khăn, thách thức, thực hiện thành công chuyển đổi số Điều này sẽ tạo tiền đề để giáo dục đại học Việt Nam ngày càng
phát triển, đóng góp cho xã hội nguồn nhân lực có năng lực số
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bloomberg J (2018), “Digitization, Digitalization, And Digital
Transformation: Confuse Them At Your Peril”, Forbes, 2018
2 Boueé, C and S Schaible (2015) Die Digitale Transformation der Industrie Studie: Roland Berger und BDI
3 Bùi Thị Nga, Lê Vũ Toàn và Lưu Đức Long (2020), “Giáo dục đại học:
Cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số”, Tạp chí Thông tin & Truyền thông,
số 5 + 6/2020, tr 26 - 31
4 Kopp, M., Gröblinger, O., & Adams, S (2019) Five common
assumptions that prevent digital transformation at higher education institutions
INTED2019 Proceedings, 1, 1448-1457 Kopp, Groblinger, Adams (2019),
Five common assumptions that prevent digital transformation at higher education institutions, INTED 2019 proceedings, pp 1448 - 1457 truy cập tại https://library.iated.org/publication_series/INTED
5 Mazzone, DM (2014) Digital or Death: Digital Transformation - The Only Choice for Business to Survive Smash and Conquer (1st ed.) Mississauga, Ontario: Smashbox Consulting Inc
Trang 196 Nguyễn Hoàng Sơn (2019) "VNU 4.0 (2020-2025): Phát triển đại học
số - Đại học thông minh trên nền tảng Trung tâm tri thức số - Học tập số -
Nghiên cứu số vnu-lic 4.0" In Cẩm nang Trung tâm thông tin - Thư viện, Đại
học quốc gia Hà Nội 2019 (pp 17-33) Hà Nội: Đại học quốc gia Hà Nội
7 Nguyễn Hữu Đức, Hà Quang Thụy, Phạm Bảo Sơn, Trần Trọng Hiếu,
& Tôn Quang Cường (2020) "Mô hình khái niệm và xếp hạng đối sánh đại
học thông minh V-SMARTH" VNU Journal of Science: Education Research,
36(2), 1–16
8 Phùng Thế Vinh (2021) Chuyển đổi số trong quản trị đại học: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam Trong Quản trị thông minh trong môi trường phức hợp toàn cầu: Lý luận và thực tiễn : Hà Nội, 2021
9 Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 06 năm 2020 về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm
2025, định hướng đến năm 2030
10 Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2022 về phê duyệt đề án “ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục đòa tạo giai đoạn 2025 - 2025, định hướng đến năm 2030
11 Uskov, V L., Bakken, J P., Pandey, A., Singh, U., Yalamanchili, M.,
& Penumatsa, A (2016) Smart university taxonomy: Features, components,
systems In Smart Education and E-learning 2016 (pp 3–14) Springer, Cham
12 Vũ Hải Quân (2021), Chuyển đổi số trong giáo dục đại học , Truy cập tại https://vnuhcm.edu.vn/tin-tuc_32346864/chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc/343137306864.html
13 Westerman, G, C Calméjane, D Bonnet, P Ferraris and A McAfee (2011) Digital trans- formation: A roadmap for billion-dollar organizations MIT Center for Digital Business and Capgemini Consulting, 1–68
Trang 20ỨNG DỤNG DỮ LIỆU LỚN VÀO ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS Lê Mạnh Hùng
Hiệu trưởng Trường Đại học Công đoàn
Tóm tắt: Quản trị kinh doanh là hoạt động vô cùng quan trọng đối với
doanh nghiệp, có vai trò xuyên suốt trong cả quá trình kinh doanh và quyết định trực tiếp đến sự thành công của doanh nghiệp Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành đào tạo quản trị kinh doanh đã trở thành ngành đào tạo cơ bản và luôn song hành với sự phát triển của các doanh nghiệp Ngành quản trị kinh doanh không ngừng biến đổi để thích ứng với nhu cầu về nhân sự quản trị kinh doanh của nền kinh tế Cho đến nay, khi xu thế toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng trực tiếp tới từng tế bào của kinh tế - xã hội thì ngành quản trị kinh doanh cũng phải thực hiện công cuộc chuyển đổi số
và ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) vào đào tạo là một xu thế tất yếu khách quan Trong khuôn khổ bài viết, tác giả phân tích xu hướng phát triển của đào tạo ngành quản trị kinh doanh, phân tích thực trạng ứng dụng dữ liệu lớn và đề xuất giải pháp ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay
Từ khóa: Quản trị kinh doanh, dữ liệu lớn (Big Data), chuyển đổi số
1 Xu hướng phát triển của đào tạo ngành quản trị kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số
Quản trị kinh doanh là ngành học cung cấp kiến thức và kỹ năng tổng quát, thực tiễn để quản lý và vận hành một doanh nghiệp Cử nhân ngành quản trị kinh doanh có thể nắm vững nền tảng về quản trị nhân sự, tài chính, kế toán, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại… và nhiều hơn thế Nhân sự ngành quản trị kinh doanh có thể thực hiện nhiệm vụ ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và là nhân sự tiềm năng cho vị trí quản lý khi có thể phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài, phân tích các yếu tố bên trong doanh nghiệp để hoạch định chiến lược
Trang 21kinh doanh Với vai trò đào tạo đội ngũ nhân sự cho quản trị doanh nghiệp, ngành quản trị kinh doanh đã trở thành ngành đào tạo truyền thống, có lịch sử lâu đời nhưng luôn phát triển để thích ứng với yêu cầu của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh biến động
Một trong những chương trình đào tạo Quản trị Kinh doanh đầu tiên được giảng dạy tại Harvard Business School vào năm 1908, trong bối cảnh nước Mỹ đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và các doanh nghiệp tại thời điểm này đặc biệt cần đến những kiến thức quản lý kinh doanh theo một cách khoa học, bài bản Lớp học đầu tiên gồm có 15 giảng viên, 33 sinh viên chính quy và 47 sinh viên đặc biệt.1 Sau đó, ngành đào tạo quản trị kinh doanh ngày càng phát triển Các học thuyết về quản trị kinh doanh cũng được cập nhật theo thời gian Người đặt nền móng cho học thuyết về quản trị kinh doanh là Fredrerick Winslow Taylor Vào năm 1911 Fredrerick Winslow Taylor xuất bản cuốn “Các nguyên tắc của quản lý khoa học” có nội dung chính là nhấn mạnh rằng các chủ doanh nghiệp nên chú trọng vào việc xây dựng hệ thống và đặt vai trò của người quản
lý lên cao hơn Nói cách khác, ông tin rằng các chủ doanh nghiệp nên tập trung vào việc xây dựng hệ thống và đào tạo nhân viên cấp dưới để giảm bớt sự kém hiệu quả trong công việc và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức Đây là một sự thay đổi lớn trong tư duy quản trị trong thời điểm đó.2 Năm 1923, Alfred P Sloan đã đưa ra khái niệm quản lý doanh nghiệp bởi ban điều hành cấp cao đồng thời phân cấp cho từng bộ phận điều hành Bằng cách trao quyền tự chủ cho mỗi
bộ phận, các nhà quản lý cấp trung có được quyền hạn triển khai công việc của
bộ phận mà mình điều hành theo những cách sáng tạo hơn mà không bị quá bó buộc bởi những quy định cứng nhắc Điều này giúp các nhà quản lý cấp trung phát huy năng lực, quản lý hiệu quả bộ phận của mình, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp Vai trò của ban điều hành cấp cao là xác định mục tiêu và lãnh đạo để các bộ phận hoạt động đúng hướng Hệ thống phân cấp quản trị này sau đó đã được các tập đoàn khác mô phỏng trong suốt phần còn lại của thế kỷ 20 3 Tiếp theo đó, rất nhiều học thuyết được giảng dạy
1 https://www.elearners.com/online-degrees/business/administration-management/what-is-business- administration/
2 Fredrerick Winslow Taylor (1911), The Principles of Scientific Management
3 Sloan, Alfred P (1964), McDonald, John (ed.), My Years with General Motors
Trang 22và áp dụng thành công trong hoạt động điều hành doanh nghiệp như “Học thuyết tạo động lực lao động”, “Học thuyết quản lý chất lượng”, “Học thuyết quản trị bằng mục tiêu”, “Học thuyết lãnh đạo chuyển đổi”, “Học thuyết lãnh đạo phục vụ”…1
Đến nay, trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng Số - Cuộc cách mạng 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, đào tạo quản trị kinh doanh phát triển theo những xu hướng mới, cụ thể:
- Nội dung đào tạo luôn đổi mới Bên cạnh những học thuyết kinh tế cơ
bản, ngành quản trị kinh doanh cần luôn đổi mới, cung cấp kiến thức, kỹ năng giúp người học có đủ khả năng quản trị doanh nghiệp trong tương lai như quản trị thay đổi, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị xung đột và đàm phán, thương mại điện tử … Chương trình đào tạo tiên tiến, hiện đại giúp cho người học có thể tiến nhanh hơn tới vị trí quản lý trong kinh doanh Theo một số nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, đội ngũ lãnh đạo trong các doanh nghiệp đang ngày càng trẻ hóa, các doanh nghiệp sẵn sàng trao quyền quản lý cho các nhân sự có tố chất và được đào tạo qua chương trình quản trị kinh doanh hiện đại 2
- Đào tạo tương tác thay cho đào tạo thụ động Các cơ sở giáo dục đại học
đã nhận ra tầm quan trọng trong đào tạo tương tác với người học Sự tương tác trong quá trình dạy và học giúp giảng viên nắm bắt được khả năng của từng người học một cách cụ thể hơn, từ đó có những biện phát kích thích, phát huy năng lực của người học, đặc biệt là năng lực kinh doanh và năng lực quản trị kinh doanh Bên cạnh đó, người học được ứng dụng, thực hành kiến thức và kỹ năng quản trị ngay trong quá trình học, đây là tiền đề cho phát triển tư duy, phong cách
và khả năng quản trị cho người học
- Đào tạo trực tiếp kết hợp trực tuyến Đào tạo kết hợp trực tiếp và trực
tuyến giúp cơ sở giáo dục đại học vừa đảm bảo sự kết nối với sinh viên nhưng cũng linh hoạt hóa thời gian dạy và học; bên cạnh đó, việc thay đổi không gian cũng giúp giảng viên và sinh viên gia tăng khả năng sáng tạo trong giảng dạy và học tập
1 https://www.elearners.com/onlinedegrees/business/administrationmanagement/whatisbusiness administration/
-2 https://myaolcc.com/4-big-trends-business-management/
Trang 23- Ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo và quản lý đào tạo Việc ứng dụng dữ
liệu lớn vào quản lý và quản trị kinh doanh không hề mới Các tổ chức, các doanh nghiệp đã ứng dụng dữ liệu lớn nhằm tìm kiếm nhân sự, tìm kiếm khách hàng, quản trị tổ chức… Chính vì vậy, đào tạo nói chung và đào tạo quản trị kinh doanh cũng hòa chung xu hướng ứng dụng dữ liệu lớn nhằm tìm kiếm người học, quản lý người học, hỗ trợ người học sau tốt nghiệp, tăng cường hợp tác với đối tác trong đào tạo… Ứng dụng dữ liệu lớn là công cụ hiệu quả trong phát triển đào tạo quản trị kinh doanh
2 Thực trạng ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh
Ứng dụng công nghệ vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh là tất yếu khách quan Bên cạnh sự tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Việt Nam rất chủ động xây dựng và thực hiện lộ trình số hóa trong đào tạo Ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 117/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”; Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt
"Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"… Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã mở ra hành lang cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện đổi mới trong bối cảnh chuyển đổi số, trong đó có ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo và quản lý đào tạo quản trị kinh doanh
“Dữ liệu lớn” là thuật ngữ chỉ về các tập dữ liệu khổng lồ và phức tạp, đến mức khó có thể xử lý được bằng các phương pháp truyền thống1 Dữ liệu lớn thường được xác định thông qua một số nội dung: (1) Volume (khối lượng dữ liệu): Khối lượng dữ liệu là việc các tổ chức thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau từ các giao dịch, thiết bị thông minh, thiết bị công nghiệp, video, hình ảnh,
âm thanh, phương tiện truyền thông xã hội, Trước đây, việc lưu trữ tất cả dữ liệu
đó sẽ rất tốn kém nhưng hiện nay việc lưu trữ đã rẻ hơn nhờ sử dụng các hồ sơ dữ liệu, dữ liệu đám mây …; (2) Velocity (tốc độ sản sinh dữ liệu): các luồng dữ liệu được sản sinh với tốc độ chưa từng thấy và cần được xử lý kịp thời Với sự phát
1 APICS (2012) APICS 2012 Big Data Insights and Innovations Executive Summary
Trang 24triển của Internet kết nối vạn vật (Internet of Things), tốc độ truyền dữ liệu vô cùng nhanh và cần phải được xử lý kịp thời (3) Variety (sự đa dạng của dữ liệu):
dữ liệu có trong tất cả các loại định dạng - từ dữ liệu có cấu trúc, dữ liệu số trong
cơ sở dữ liệu truyền thống cho đến các tài liệu văn bản không có cấu trúc, email, video, âm thanh, dữ liệu, mã cổ phiếu và các giao dịch tài chính1; (4) Veracity (sự đáng tin cậy của dữ liệu): Dữ liệu có thể bị nhiễu và bất thường do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động, do đó dữ liệu cần được làm sạch và lọc nhiễu để
có thể trở nên đáng tin cậy; (5) Validity (tính hợp lệ của dữ liệu): chỉ những dữ liệu hợp lệ mới có thể dẫn đến các quyết định đúng Do vậy, tính đúng đắn và chính xác của dữ liệu rất quan trọng, dữ liệu ảnh hưởng tới việc xác định mục tiêu và ra quyết định của nhà quản lý; (6) Volatility (sự biến động của dữ liệu): quá trình dữ liệu được tạo ra là quá trình liên tục Một số dữ liệu có thể không còn có giá trị sau một thời điểm nhất định Do vậy, dữ liệu cần được kiểm tra tính hợp lệ và xác định thời gian cần lưu trữ; (7) Value (giá trị của dữ liệu): những tri thức có thể rút trích
ra từ dữ liệu, việc sử dụng dữ liệu như thế nào, ứng dụng vào lĩnh vực nào, nội dung nào quyết định giá trị sử dụng của dữ liệu, do vậy, để nâng cao giá trị của dữ liệu các nhà quản trị cần sử dụng dữ liệu hiệu quả2
Hiện nay, các ứng dụng của dữ liệu lớn trong đào tạo quản trị kinh doanh chủ yếu trên 2 lĩnh vực là Learning Analytics (phân tích dữ liệu học tập)3 và Academic Analytics (Phân tích dữ liệu quản lý)4
- Learning Analytics (Phân tích dữ liệu học tập): Phân tích dữ liệu học tập của người học giúp học viên nắm bắt được kết quả học tập, khả năng của bản thân từ đó xác định được mục tiêu và định hướng phát triển bản thân Các dữ liệu học tập cũng giúp cho người học xây dựng lộ trình học tập phù hợp Bên cạnh
đó, việc phân tích dữ liệu học tập giúp giảng viên nắm bắt được các thông số học tập của người học, từ đó đổi mới phương pháp và nội dung giảng dạy, là tiền đề
để nâng cao chất lượng đào tạo hiệu quả Không dừng lại ở đó, việc phân tích dữ
1 SAS (Jan 07) Big Data: What it is and why it matters
2 R J Vatsala*, Sathyaraj R***, "A Review of Big Data Analytics in Sector of Higher Education," Journal of Engineering Research and Application, vol 7, no 6, p 7, 2017
3 T Bomatpalli, "Significance of Big Data and Analytics in Higher Education," International Journal of Computer Applications, 0975-8887, vol 68, no 14, p 3, April 2013
4 P J Goldstein, "Academic Analytics in The Education Sector: Needs, Oppotunities and Challenges," International Journal of Research in Computer and Communication Technology, 2014
Trang 25Ngành Công nghệ thông tin
Ngành Xã hội học
Ngành Kế toán
Ngành Tài chính Ngân hàng
Các ngành khác
liệu học tập giúp các cơ sở đào tạo quản trị kinh doanh có thể xác định các mẫu hành vi để từ đó có các biện pháp hỗ trợ, ngăn ngừa cụ thể Ví dụ như từ dữ liệu học tập, nhà trường định hướng cho người học những nghề nghiệp phù hợp hoặc
có các biện pháp cải thiện tình trạng dừng học thôi học căn cứ trên phân tích dữ liệu học tập
- Academic Analytics (phân tích dữ liệu quản lý): Phân tích dữ liệu quản lý
úp cho việc ra quyết định liên quan đến hoạt động quản lý và các hoạt động khác của cơ sở giáo dục Phân tích này được định nghĩa là sự kết hợp của thông tin, công nghệ, văn hóa và quản trị cơ sở giáo dục Việc phân tích dữ liệu quản lý hữu ích cho việc tuyển sinh và nhập học, quản lý tài chính, quản lý hành chính và đưa ra các quyết sách cho phát triển bền vững
Theo khảo sát của tác giả tại 8 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 1, tỉ lệ ứng dụng dữ liệu lớn vào phân tích dữ liệu học tập và dữ liệu quản lý tại ngành quản trị kinh doanh nói riêng cũng như các ngành khác nói chung đạt con số tuyệt đối 100% Cụ thể:
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Biểu 1 Số liệu khảo sát về ứng dụng dữ liệu lớn trong đào tạo các ngành tại
các trường đại học
1 Số liệu khảo sát thuộc khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Trường Đại học Công đoàn năm 2021 – 2022 “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi phương thức học tập tại các trường đại học trong bối cảnh chuyển đổi số”
Trang 26Rất hiệu quả Hiệu quả Bình thường Kém hiệu quả Không hiệu quả
Theo kết quả khảo sát có thể thấy các trường đại học đã quan tâm và ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của ứng dụng dữ liệu lớn chưa được đánh giá cao Cụ thể, khi khảo sát 100 sinh viên ngành quản trị kinh doanh về mức độ hiệu quả trong việc sử dụng và phân tích dữ liệu học tập thu được kết quả như sau:
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Biểu 2 Số liệu khảo sát về đánh giá hiệu quả sử dụng dữ liệu lớn trong phân
tích dữ liệu học tập của sinh viên ngành quản trị kinh doanh
Từ số liệu khảo sát có thể thấy có tới 66% sinh viên ngành quản trị kinh doanh được khảo sát chưa thực sự đánh giá cao hiệu quả của việc ứng dụng phân tích dữ liệu học tập Do vậy, các cơ sở đào tạo ngành quản trị kinh doanh cần tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn nhằm nâng cao hoạt động đào tạo
Bên cạnh đó, khảo sát về các hoạt động ứng dụng dữ liệu lớn cho thấy hiện nay các đơn vị đào tạo quản trị kinh doanh chưa thực sự phát huy hết công dụng của dữ liệu lớn vào các hoạt động trong đào tạo
Qua khảo sát, có thể nhận thấy một số hoạt động chưa thực sự ứng dụng dữ liệu lớn như quản lý chuyên cần của sinh viên, quản lý sinh viên đi làm thêm … Trong tương lai cần sử dụng những dữ liệu quan trọng này song song với tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn toàn diện nhằm góp phần đưa ra các chính sách trong quản lý đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo ngành quản trị kinh doanh (Biểu 3)
Trang 27Quản lý chuyên cần của sinh viên
Quản lý điểm số của sinh viên
Quản lý
tỉ lệ sinh viên đi làm thêm
Quản lý
tỉ lệ sinh viên mới tốt nghiệp
có việc làm
Quản lý thu chi học phí
Quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên
Quản lý các hoạt động khác
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Biểu 3 Số liệu khảo sát về các hoạt động ứng dụng dữ liệu lớn trong đào tạo
ngành quản trị kinh doanh
3 Giải pháp ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh
Nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng dữ liệu lớn vào đào tạo ngành quản trị kinh doanh, các cơ sở giáo dục đại học có thể tham khảo một số giải pháp như sau:
(1) Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn nhằm phục vụ công tác tuyển sinh ngành quản trị kinh doanh Các cơ sở giáo dục đại học cần phân tích dữ liệu về
học sinh phổ thông trung học để nắm bắt được nhu cầu, các kênh tương tác, các kênh tư vấn chọn trường, chọn ngành học để từ đó có chiến lược tuyển sinh phù hợp, tác động trực tiếp và tích cực tới các thí sinh nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh và cũng tạo tiền đề cho phát triển đào tạo ngành quản trị kinh doanh
(2) Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn nhằm quản lý đào tạo Các cơ sở
giáo dục đào tạo cần phân tích và sử dụng các dữ liệu về sinh viên để quản lý việc học của sinh viên hiệu quả Từ các dữ liệu về hoạt động chuyên cần của sinh viên để nhanh chóng nắm bắt tình hình học tập của sinh viên, từ đó có biện pháp
hỗ trợ khi sinh viên có hiện tượng nghỉ học quá nhiều, đây là biện pháp hiệu quả nhất giúp giảm tỉ lệ bỏ thi, dừng học, thôi học của sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngành quản trị kinh doanh Từ phân tích các dữ liệu về điểm số từng môn học và
Trang 28quá trình học để nắm được tình hình học tập của sinh viên, từ đó có căn cứ thay đổi chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo và hình thức đào tạo phù hợp Từ phân tích các dữ liệu về việc làm thêm, về công việc của sinh viên quản trị kinh doanh sau khi ra trường… các cơ sở giáo dục đại học có chiến lược định hướng nghề nghiệp cho sinh viên, có cơ sở kết nối với các doanh nghiệp, các đối tác hỗ trợ sinh viên ngành quản trị kinh doanh tìm việc phù hợp với mức lương hấp dẫn,
từ đó phát triển hoạt động đào tạo Bên cạnh đó, phân tích dữ liệu lớn về đào tạo ngành quản trị kinh doanh cũng giúp nhà trường đưa ra chiến lược phát triển cho ngành nói riêng và nhà trường nói chung
(3) Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn nhằm cải thiện hệ thống đánh giá
Mỗi sinh viên đều có ưu điểm trên các phương diện khác nhau Việc phân tích dữ liệu lớn toàn diện về học tập, tham gia các hoạt động xã hội, tham gia các phong trào thanh niên… sẽ giúp nhà trường đánh giá toàn diện sinh viên từ đó cải thiện
hệ thống đánh giá sinh viên hợp lý hơn, không chỉ thông qua điểm chuyên cần hay điểm thi Việc đánh giá toàn diện sinh viên sẽ giúp nhà trường hiểu được năng lực của sinh viên, từ đó có biện pháp hỗ trợ hợp lý và nâng cao chất lượng năng lực sinh viên sau đào tạo, đặc biệt là sinh viên ngành quản trị kinh doanh
(4) Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn nhằm đáp ứng toàn diện nhu cầu của người học Bên cạnh hoạt động đào tạo, các cơ sở giáo dục đào tạo còn phục
vụ sinh viên trên nhiều phương diện như dịch vụ ký túc xá, căng – tin, thể thao, thư viện… giúp sinh viên nói chung và sinh viên quản trị kinh doanh nói riêng được rèn luyện và phát triển toàn diện Việc ứng dụng phân tích dữ liệu lớn về các nhu cầu của sinh viên sẽ giúp ngành quản trị kinh doanh nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thỏa mãn mọi nhu cầu trong quá trình đào tạo của sinh viên
(5) Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn về thị trường lao động, về sự phát triển kinh tế để điều chình chương trình đào tạo phù hợp Các cơ sở giáo dục
đại học cần phân tích sự biến đổi của nền kinh tế, sự thay đổi cung cầu của thị trường lao động để có định hướng cho đào tạo và điều chỉnh chương trình đào tạo ngành quản trị kinh doanh nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao ngành quản trị kinh doanh đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
Trang 29TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 APICS (2012) APICS 2012 Big Data Insights and Innovations Executive Summary
2 P J Goldstein, "Academic Analytics in The Education Sector: Needs, Oppotunities and Challenges," International Journal of Research in Computer and Communication Technology, 2014
3 Fredrerick Winslow Taylor (1911), The Principles of Scientific Management
4 R J Vatsala*, Sathyaraj R***, "A Review of Big Data Analytics in Sector of Higher Education," Journal of Engineering Research and Application, vol 7, no 6, p 7, 2017
5 Sloan, Alfred P (1964), McDonald, John (ed.), My Years with
General Motors
6 SAS (Jan 07) Big Data: What it is and why it matters
7 Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và
hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”
8 Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"
9 T Bomatpalli, "Significance of Big Data and Analytics in Higher Education," International Journal of Computer Applications, 0975-8887, vol
https://www.elearners.com/online-degrees/business/administration-12 https://myaolcc.com/4-big-trends-business-management/
management/what-is-business-administration/
Trang 30https://www.elearners.com/online-degrees/business/administration-ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI
TS Dương Thị Thanh Xuân Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công đoàn
Tóm tắt: Chuyển đổi số đang tác động sâu rộng, bao trùm lên tất cả các
ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội, góp phần tăng năng suất lao động, chuyển đổi mô hình hoạt động, kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Đặc biệt, ngành Giáo dục và Đào tạo cũng hòa nhập với xu hướng chung nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 đã xác định giáo dục và đào tạo là một trong 8 lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong triển khai thực hiện Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ công tác dạy và học, đó là sự thay đổi về mặt nhận thức, tạo lập nên môi trường học tập số, học liệu số Từ đó thay đổi phương pháp dạy
và học, qua đó hình thành nên những học viên số và giảng viên số Hiện nay các trường đại học nói chung và ngành Quản trị kinh doanh nói riêng cũng đang triển khai thực hiện chuyển đổi số và đạt được một số kết quả, tuy nhiên vẫn còn
có những hạn chế, cần có các giải pháp tháo gỡ
Từ khóa: Chuyển đổi số, giáo dục và đào taọ, quản trị kinh doanh
1 Tổng quan về chuyển đổi số
Chuyển đổi số chính là quá trình chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình số bằng cách ứng dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud computing)… và các phần mềm công nghệ để thay đổi phương thức quản lý, điều hành, thay đổi quy trình, phương thức làm việc và thay đổi văn hóa tổ chức Quá trình phát triển của chuyển đổi số gồm các giai đoạn: Số hóa (Digitization) là chuyển thông tin thực sang dạng số để dễ dàng lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ Ứng dụng kỹ thuật số vào các
Trang 31quy trình nghiệp vụ, sử dụng phần mềm để làm cho các hoạt động trở nên đơn giản và hiệu quả hơn Chuyển đổi số (Digital transformmation) là sử dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Big Data, IoT… để thu thập, xử lý, phân tích
dữ liệu một cách toàn diện và triệt để, từ đó dẫn đến sự thay đổi mô hình và cách thức hoạt động của tổ chức
Chuyển đổi số là khái niệm mà các chuyên gia, các học giả, các chính khách thường xuyên trao đổi trên các diễn đàn, trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các địa phương Chuyển đổi số là chấp nhận cái mới, chấp nhận sự thay đổi về tư duy, nhận thức, thể chế … Theo Cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông, chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số Thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt việc chuyển đổi số để hình thành nên một quốc gia số, trong đó có 03 trụ cột chính, đó
là xã hội số (theo nghĩa hẹp đó là công dân số và văn hóa số), cùng với chính phủ
số và kinh tế số
2 Chuyển đổi số trong trường đại học và ngành quản trị kinh doanh
Để thích ứng với tình hình mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách
để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 14/01/2020 về thúc đẩy phát triển công nghệ số Việt Nam Đặc biệt, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Tại Quyết định này, Giáo dục và Đào tạo là 1 trong 8 lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong triển khai thực hiện Bên cạnh đó, hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện hành lang pháp lý như các quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, quy chế đào tạo từ
xa trình độ đại học, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu toàn ngành, hướng dẫn nhiệm vụ CNTT cho khối đại học, phổ thông hằng năm
và nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác
Trang 32Đối với giáo dục đại học nói chung và ngành Quản trị kinh doanh nói riêng, chuyển đổi số mang lại cơ hội áp dụng công nghệ để tạo ra những thay đổi nhanh chóng về mô hình, cách thức tổ chức và phương pháp dạy – học
Các lớp học truyền thống với những nhược điểm như chi phí tổ chức cao, không gian phục vụ hạn chế, thời gian cố định… sẽ được thay thế bằng các lớp học trực tuyến, từ xa, lớp học ảo Không gian học tập đa dạng hơn, thay vì những phòng thí nghiệm hay phòng mô phỏng truyền thống thì người học có thể trải nghiệm học tập bằng không gian ảo, có thể tương tác người với người, người với máy như thật thông qua các phần mềm mô phỏng công nghệ thực tế ảo (virtual reality – VR)
Chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo tập trung vào hai nội dung chủ đạo là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học (NCKH) Trong quản lý giáo dục bao gồm số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 (AI, blockchain, phân tích dữ liệu, ) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ ra quyết định trong ngành giáo dục đào tạo một cách nhanh chóng, chính xác Trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá gồm số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường đại học ảo (cyber university)
Hiện nay, việc nhanh chóng áp dụng công nghệ mới, sử dụng các công cụ
đa năng, như: máy tính, bảng điện tử thông minh, máy chiếu, sách giáo khoa điện
tử, bài giảng điện tử, các phần mềm dạy học; tổ chức lớp học, cung cấp tài liệu, nhận phản hồi, điều chỉnh hoạt động của giảng viên, học viên, tổ chức đào tạo trực tuyến, từ xa… là hết sức cần thiết, một mặt, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mặt khác, tiết kiệm chi phí xã hội cho việc đào tạo cả về thời gian, tài chính; đồng thời, tạo nền tảng cho việc hội nhập quốc tế Thời gian qua, ngành giáo dục
đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đặc biệt, trong thời điểm đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ngành giáo dục đã chuyển đổi mạnh mẽ từ dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến, đảm
Trang 33bảo chương trình năm học của học sinh, sinh viên Ngành Giáo dục và Đào tạo xác định chuyển đổi số có vai trò quan trọng để triển khai đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả các hoạt động giáo dục, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo
Theo thống kê, trong quản lý giáo dục, toàn ngành đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung từ Trung ương đến 63 sở Giáo dục và Đào tạo,
710 phòng Giáo dục và Đào tạo và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh Cơ sở dữ liệu này vừa qua đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển sinh và thống kê, báo cáo trong toàn ngành; giúp các cấp quản lý ban hành chính sách quản lý có hiệu quả đã góp phần giải quyết vấn đề thừa thiếu giáo viên ở các nhà trường theo từng địa phương, môn học (9)
Ngành Quản trị kinh doanh trong các trường đại học đã sử dụng công nghệ mới, các phòng học ảo, phòng thí nghiệm ảo, thiết bị ảo, thư viện ảo, dưới sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh Nghiên cứu ứng dụng công nghệ AI, nhất là trong tổng hợp thông tin học tập, các gợi ý hữu ích cho người học và người dạy, tạo điều kiện cho người học tiếp cận giáo trình chuẩn hóa theo từng cá nhân, trong đánh giá năng lực và nhu cầu của người học… là một xu thế tương đối phổ biến và phát triển hiện nay
Hiện nay, sinh viên ngành Quản trị kinh doanh ở nhiều trường đại học được cung cấp đầy đủ về cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho việc học tập Các phòng học có kích thước khác nhau được trang bị đầy đủ hệ thống âm thanh, bảng, máy chiếu, điều hòa, truy cập internet Các phòng học được thiết kế để có thể sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau Các phòng học luôn có sẵn tạo điều kiện cho sinh viên chủ động và linh hoạt trong việc đăng kí học tập Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các hoạt động học tập và nghiên cứu, sinh viên Quản trị kinh doanh có thể sử dụng phòng học nhóm trong thư viện… Thư viện hiện đại được trang bị máy điều hòa không khí, máy tính để bàn và hệ thống truy cập internet tốc độ cao
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một số hiệu quả mà chuyển đổi số có thể mang lại, đó là: Thu thập và phân tích dữ liệu lớn của người học để tìm ra những
Trang 34yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, từ đó có những điều chỉnh về chính sách, phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học cũng như của xã hội; Sử dụng mạng lưới kết nối trực tiếp/trực tuyến với doanh nghiệp/nhà tuyển dụng để đào tạo các kỹ năng, kiến thức cần thiết, giúp người học có thể làm việc được ngay sau khi tốt nghiệp; Ứng dụng thực tế ảo tăng cường nhằm tạo môi trường học có tương tác, nâng cao trải nghiệm học tập cho người học; Mở rộng đối tượng người học, gia tăng chỉ tiêu tuyển sinh bằng cách kết hợp giữa đào tạo trực tuyến và trực tiếp; giảm chi phí nhưng tăng chất lượng đào tạo; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo
để cá nhân hóa quá trình học, hỗ trợ nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy, công tác quản lý, giáo vụ…
Mặc dù đạt được một số kết quả nhưng chuyển đổi số trong đào tạo ngành Quản trị kinh doanh vẫn còn có những hạn chế, đó là:
Thứ nhất, đội ngũ giảng viên Quản trị kinh doanh tại các trường còn yếu về
trình độ và thiếu về số lượng Mặc dù ngành học Quản trị kinh doanh là một trong những ngành học được đổi mới nhiều nhất hiện nay, tuy nhiên vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, phương pháp giảng dạy – học tập chưa lấy sinh viên làm trung tâm
Thứ hai, cơ sở vật chất phục vụ ngành Quản trị kinh doanh đòi hỏi sự đầu
tư không lớn so với các ngành khác như kỹ thuật, tuy nhiên ở nhiều Trường đại học chưa trang bị đầy đủ thiết bị giảng dạy hiện đại như máy overhead hay máy computer projector
Thứ ba, hiện nay vấn đề xây dựng học liệu số (như sách điện tử, thư viện
điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, bài giảng điện tử, phần mềm học điện tử, còn phát triển tự phát, chưa đi vào nề nếp và thành hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học tập Kéo theo đó là hệ thống giải pháp học tập VLE/LMS
có tính tương tác cao (khác với các hệ thống học trực tuyến) cũng triển khai tự phát, thiếu sự đồng bộ và chia sẻ giữa các nhà trường dẫn đến lãng phí chung
3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Để chuyển đổi số thành công, thời gian việc đào tạo ngành Quản trị kinh
doanh của các trường cần thực hiện các giải pháp sau:
Trang 35Một là, ngành Quản trị kinh doanh cần triển khai mạng lưới hệ thống như:
thư viện điện tử, các nền tảng tài nguyên giáo dục mở; thí điểm xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa mở cho phép sinh viên truy cập trực tuyến miễn phí phục vụ học tập, tra cứu thông tin
Hai là, ngành Quản trị kinh doanh cần phát triển nguồn nhân lực phục vụ
cho chuyển đổi số, trong đó, tổ chức các chương trình đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ giảng viên về trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, dữ liệu lớn, điện toán đám mây…bổ sung nội dung về chuyển đổi số trong ngành Quản trị kinh doanh Đội ngũ giảng viên cần được trang bị kỹ năng về công nghệ và phương pháp sư phạm
để thực hiện chuyển đổi số, bao gồm phương pháp giảng dạy theo tiếp cận mới, phương thức vận hành các công cụ/môi trường số, cách thức biên soạn tài liệu số, xây dựng bài giảng tương tác Đây là một chiến lược dài hơi, cần được chuẩn bị từng bước khi thực hiện chuyển đổi số
Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy, trước hết cần đổi mới tư tưởng giáo
dục lấy sinh viên làm trung tâm trong quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập và nghiên cứu Giảng viên và sinh viên cần có nhiều trao đổi, sinh viên cần tăng cường học nhóm Chuyển đổi phương thức và phương pháp đào tạo của ngành Quản trị kinh doanh với ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ: đổi mới nội dung, chương trình đào tạo phát triển hài hòa với các nhóm kỹ năng Đồng thời lồng ghép nội dung giáo dục về chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, đưa vào giảng dạy trong nhà trường một cách phù hợp
Bốn là, Ngành Quản trị kinh doanh cần xây dựng đầu tư phần mềm đào tạo
bồi dưỡng theo các phương thức hiện đại, về quản trị nhân sự; quản lý điện tử dữ liệu các luận án, luận văn, đề án, đề tài; văn bản điện tử, hồ sơ điện tử Tất cả các môn học cần được biên soạn với nội dung có thể triển khai giảng dạy được cho
cả trực tuyến (online) và trực tiếp (onsite) Bên cạnh đó, bảo đảm đáp ứng tối thiểu các điều kiện về đường truyền, băng thông, trang thiết bị cần thiết Tổ chức các khóa huấn luyện cơ sở cho đội ngũ giảng viên, cán bộ về cách thức vận hành, hoạt động trong môi trường số Đề cương môn học và tài liệu phải được cập nhật đầy đủ trước khi khóa học mới bắt đầu
Trang 36Năm là, các trường đại học có ngành quản trị kinh doanh cần cập nhật, phát
triển chương trình đào tạo trong đó tích hợp các môn học, chuyển đổi cách học từ thụ động sang chủ động Gắn kết với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, xây dựng, nâng cao tiêu chuẩn đầu ra đối với người học, tập trung vào việc phát triển các kỹ năng mềm, tư duy phân tích, giải quyết tình huống, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi sinh viên, giảng viên
Sáu là, để chuyển đổi số trong giáo dục đại học thành công, các trường cần
đầu tư vào hạ tầng số Hạ tầng số bao gồm hạ tầng logic và hạ tầng vật lý Hạ tầng logic chính là dữ liệu Hạ tầng vật lý bao gồm mạng lưới kết nối, băng thông mạnh, phương thức sư phạm hiện đại, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm người học và quan trọng hơn hết là các công cụ/nền tảng hỗ trợ triển khai Những công
cụ này, dưới dạng hạ tầng kỹ thuật, phải đủ ổn định và tin cậy để vận hành được các yêu cầu, tính năng của giáo dục đào tạo thế hệ mới
Bảy là, cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý phải được hoàn thiện, tạo
hành lang pháp lý thuận lợi cho chuyển đổi số trong toàn ngành Đó là các chính sách liên quan đến học liệu như sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả; liên quan đến chất lượng việc dạy học trên môi trường mạng như an toàn thông tin mạng; liên quan đến chính trị, tư tưởng, đạo đức người dạy, người học như bảo vệ thông tin
cá nhân, an ninh thông tin trên môi trường mạng; và các quy định liên quan đến điều kiện tổ chức dạy - học trên mạng, kiểm định chất lượng, tính pháp lý và công nhận kết quả khi dạy - học trực tuyến
Tám là, hoàn thiện cơ sở hạ tầng mạng đồng bộ, thiết bị công nghệ thông
tin thiết thực phục vụ dạy - học, tạo cơ hội học tập bình đẳng giữa các vùng miền
có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, lồng ghép nội dung giáo dục về chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đưa vào giảng dạy trong nhà trường một cách phù hợp
Chín là, để thúc đẩy và rút ngắn quá trình chuyển đổi số nên tiến hành nhịp
nhàng, đồng bộ chuyển đổi số tổ chức cùng với việc số hóa dữ liệu và số hóa quy trình hoạt động, quản lý Sự đồng thời này cùng với việc sử dụng những công nghệ số mới nhất sẽ giúp cho công cuộc chuyển đổi số đào tạo đại học nhanh hơn
và hiệu quả hơn
Trang 37TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Chính trị (2019) Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ
Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng
Công nghiệp lần thứ 4
2 Chính phủ (2014) Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 9/6/2014 ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
3 Chính phủ (2015) Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
4 Chính phủ (2015) Nghị quyết số 36a/ NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính
phủ điện tử; số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025
5 Thủ tướng Chính phủ (2017) Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính
phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4
6 Thủ tướng Chính phủ (2017) Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày
25/01/2017 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy-học, NCKH góp phần nâng cao chất lượng GDĐT giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2925”
7 Thủ tướng Chính phủ (2020) Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày
30/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”
8 Vũ Văn Hà (2020) Chuyển đổi số trong giáo dục đại học: Thực trạng và
giải pháp, truy cập từ
Trang 38https://vnuhcm.edu.vn/ve-dhqg-hcm_33396864/chuyen-doi-so-trong-giao-duc-ÁP DỤNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
PGS.TS Hoàng Thanh Xuân
Trưởng Phòng Đào tạo, Chủ tịch Công đoàn Trường Đại học Công đoàn
ThS Nguyễn Hữu Tài
Trường Đại học Chính trị
Tóm tắt: Lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã đẩy mạnh chuyển đổi số và thu
được nhiều kết quả tích cực; hoạt động đào tạo ngành quản trị kinh doanh cũng
đã chuyển đổi từ hình thức truyền thống sang trực tuyến Sự thay đổi này bước đầu đã cho thấy những triển vọng của chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh, mặc dù về lâu dài còn rất nhiều vấn đề cần thực hiện một cách khoa học, đồng bộ Bài viết tập trung phân tích các điều kiện và đề xuất một số khuyến nghị bảo đảm chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh ở
Trường Đại học Công đoàn hiện nay
Từ khóa: Chuyển đổi số; giáo dục; quản trị kinh doanh; đại học Công đoàn
1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, chuyển đổi số hiện đang diễn ra như một quá trình tất yếu trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Trong lĩnh giáo dục và đào tạo, vấn đề chuyển đổi số cũng được đặt ra từ năm 2010 Khi xảy ra dịch Covid-19, vấn đề tổ chức dạy học trực tuyến lại được đặt ra như một trong những gỉải pháp thực hiện “Tạm dừng đến trường, không tạm dừng việc học”
2 Chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh là tất yếu
Chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu, công nghệ số để thay đổi tổng thể, toàn diện cách sống, cách làm việc và phuong thức sản xuất của cá nhân, tổ chức1 Hay nói theo cách khác, chuyển đổi số chính là quá trình chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình số bàng cách ứng dụng các công nghệ mói nhu
dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (loT), điện toán đám mây (Cloud
1 Bộ Thông tin và Truyền thông Cẩm nang chuyển đổi số H NXB Thông tin & Truyền thông,
2020, tr.15
Trang 39computing) và các phần mềm công nghệ để thay đổi phưong thức quản lý, điều hành, thay đổi quy trình, phương thức làm việc và thay đổi văn hóa tổ chức Quá trình phát triển của chuyển đổi số gồm các giai đoạn: Số hóa (Digitization) là chuyển thông tin thực sang dạng số để dễ dàng lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ Ứng dụng kỹ thuật số vào các quy trình nghiệp vụ, sử dụng phần mềm để làm cho các hoạt động trở lên đơn giản và hiệu quả hơn Chuyển đổi số (Digital transformmation) là sử dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Big Data, loT để thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu một cách toàn diện, triệt để, từ đó dẫn đến sự thay đổi mô hình và cách thức hoạt động của tổ chức
Đối với giáo dục - đào tạo, chuyển đổi số là quá trình chuyển việc truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi trong môi trường số; cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời Sự bùng nổ của nền tảng công nghệ IoT, Big Data, AI, SMAC (mạng xã hội, di động, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây) đang hình thành nên hạ tầng giáo dục số Tại Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã khẳng định: “Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số” Ngày 03-6-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 745/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, với mục tiêu đưa nước ta gia nhập nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI) Riêng về lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chuyển đổi số tập trung “phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa ”
Trong thời gian qua, tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã từng bước được thực hiện và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh chuyển đổi số vẫn là điều mới mẻ với nhiều cơ sở đào tạo Từ cuối năm 2019, khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, việc giảng dạy, học tập của tất cả các cơ sở giáo dục - đào tạo bị gián đoạn Trong bối
Trang 40cảnh đó, nhiều học viện, cơ sở đào tạo, đào tạo ngành quản trị kinh doanh đã chuyển đổi sang hình thức dạy và học trực tuyến thay cho hình thức giảng dạy truyền thống Điển hình, tại Trường Đại học Công đoàn, tất cả các lớp đào tạo, đối tượng đào tạo trong đó có ngành quản trị kinh doanh đều được triển khai theo hình thức trực tuyến trên nền tảng công nghệ số hiện đại, bảo mật Cùng với đó, Nhà trường cũng đẩy mạnh tổ chức các hội thảo khoa học, hội nghị trực tuyến để bảo đảm yêu cầu vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, vừa phòng chống dịch bệnh Covid-19 Thành công bước đầu cho thấy, việc áp dụng công nghệ thông tin trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh có nhiều ưu điểm, có thể phát huy nếu
có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt
3 Những điều kiện cho chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh ở trường đại học công đoàn
Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất khung chuyển đổi số cấp tổ chức, doanh nghiệp bao gồm 06 thành tố, điều kiện: chiến lược, công nghệ, tổ chức, nhân lực, văn hóa, khách hàng Tại Việt Nam, “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” cũng đã đề cập 06 yếu tố quyết định đến quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam bao gồm: nhận thức, sự tham gia của người dân, thể chế và công nghệ, hợp tác, an ninh mạng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp
Trên cơ sở Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, có thể đề xuất điều kiện khung bảo đảm áp dụng chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh bao gồm những thành tố sau:
Một là, nhận thức Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức Để
thực hiện chuyển đổi số trong đào tạo ngành quản trị kinh doanh, trước hết đòi hỏi có sự quyết tâm thay đổi của người đứng đầu Bên cạnh đó, cần có sự đồng
bộ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm của cán bộ, giảng viên, sinh viên, doanh nghiệp trong triển khai thực hiện chuyển đổi số trong các hoạt động đào tạo ngành quản trị kinh doanh
Hai là, khung luật pháp, chính sách về chuyển đổi số Cơ chế, chính sách,
hành lang pháp lý phải được hoàn thiện tạo thuận lợi cho chuyển đổi số trong giáo dục nói chung liên quan đến chuyển đổi số, an ninh mạng; quy định về học liệu như sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả Đối với đào tạo ngành quản trị kinh