hhh Tiểu luận lịch sử học thuyết kinh tế Nguyễn Thùy Linh Lời Mở Đầu Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữ một vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực,[.]
Trang 1Lời Mở Đầu
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữmột vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội, nhiềunguyên liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu Bước vào thế kỷ XXI, vớinhững thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái,… nôngnghiệp được dự báo là vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy Trong thế kỷ XX,nông nghiêp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, phát triển từ giai đoạn sảnxuất nông nghiệp truyền thống sang giai đoạn hiện đại hóa nông nghiệp, nhờ vậykinh tế nông thôn và đời sống của người dân nông thôn cũng có nhiều chuyển biến.Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh chóng của những xuthế lớn trên thế giới, như cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức vềnông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những sự thay đổi Ở Việt Nam chúng
ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, sau 20 năm đổi mới, bối cảnh kinh tế
-xã hội mới, quá trình đổi mới được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
và cho đến nay, nông nghiệp nông thôn vẫn là một trong những trọng tâm của đổimới
Việt Nam hiện nay đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO,
do đó Việt Nam đang trên tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, vì vậy cáchnhìn đối với nhiệm vụ phát triển nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều thay đổi so vớitrước
Trường Phái trọng nông là một nhóm những nhà kinh tế cho rằng nguồn gốccủa cải chủ yếu là từ nông nghiệp, trường phái này đã có nhiều tiến bộ và cũng cónhiều hạn chế, những quan điểm học thuyết của họ có những ý nghĩa nhất định đốivới nền kinh tế nước ta Do vậy, trong bài tiểu luận này, tôi xin đề cập đến vấn đề:
“Học thuyết của trường phái trọng nông và ý nghĩa đối với nền nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
Trang 2Nội Dung
I.Khái quát về Chủ nghĩa trọng nông
1 Quá trình hình thành trường phái trọng nông
Cũng như Chủ nghĩa trọng thương, Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện trongkhuôn khổ thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ TBCN, nhưng ở giaiđoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn Vào giữa thế kỷ XVIII, ở Tây Âu đã pháttriển theo con đường TBCN, và ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp đã bắtđầu Ở nước Pháp, CNTB công trường thủ công đã bén rễ ăn sâu một cách vữngchắc Điều đó đòi hỏi xét lại cương lĩnh kinh tế và học thuyết của Chủ nghĩa trọngthương là cấp thiết Thời kỳ tích lũy ban đầu đã chấm dứt và việc dùng thương mại
để bóc lột các nước thuộc địa đã mất hết ý nghĩa đặc biệt của nó với tư cách lànguồn làm giàu cho giai cấp tư sản
Chủ nghĩa trọng nông đã khái quát hóa những tiến bộ mới nhất trong nềnkinh tế của thế kỷ XVIII, xuất hiện trong cuộc đấu tranh chống Chủ nghĩa trọngthương Cuộc chiến tranh này diễn ra ở các nước, đặc biệt là ở Anh, ở Pháp cuộcđấu tranh này mang khuynh hướng trọng nông Điều này không phải ngẫu nhiên,trong nửa đầu thế kỷ XVIII nước Pháp đã tiến rất nhanh đến cuộc cách mạngchống lại chế độ phong kiến bảo thủ, trì trệ Trong khi đó Chủ nghĩa trọng thươngPháp lại gắn rất chặt lợi ích chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ phong kiến.K.Marx nhận xét: Thượng tầng, tài chính, thương nghiệp, công nghiệp hay nóiđúng hơn bộ mặt lâu dài của xã hội hình như đang chế giễu sự đình đốn của ngànhsản xuất chính (nông nghiệp) và sự đói khát của những người sản xuất
Như vậy, việc phê phán Chủ nghĩa trọng thương gắn chặt với phê phán chế
độ phong kiến Cuộc đấu tranh này biến thành một cuộc đấu tranh bảo vệ nông
Trang 3nghiệp và dẫn đến việc tìm kiếm những nguồn gốc của cải quốc dân ở trong nôngnghiệp Vì vậy việc lý tưởng hóa nghề nông là điều không tránh khỏi.
Nếu ở Anh, cuộc đấu tranh chống Chủ nghĩa trọng thương, tư tưởng kinh tếđặt tất cả niềm tin, hy vọng của mình vào công nghiệp – công trường thủ công, thì
ở Pháp nền công nghiệp đã bị chính sách trọng thương của Kolbert làm mất uy tín
Do đó tạo điều kiện cho tư tưởng trọng nông xuất hiện
Những người theo Chủ nghĩa trọng nông cho rằng, xã hội loài người pháttriển theo những quy luật tự nhiên Theo họ nguồn gốc duy nhất của cải là tự nhiên,
là nông nghiệp vì nông nghiệp mang lại cho con người những kết quả của tự nhiên
Do đó, có thể coi nội dung giai cấp của Chủ nghĩa trọng nông là giải phóng kinh tếnông dân thoát khỏi quan hệ phong kiến để phát triển nông nghiệp theo kiểuTBCN
K.Marx coi những người trọng nông chủ nghĩa là những người bênh vựcCNTB, vạch rõ sự cần thiết phải chuyển sang kinh doanh theo lối TBCN “CNTBđang tự mở cho mình một con đường trong khuôn khổ xã hội phong khiến”
2 Những đại biểu chủ yếu của Chủ nghĩa trọng nông.
Các tác phẩm của ông là: “Bàn về thương nghiệp” (1760); “Biểu kinh tế”(1766); “Đối thoại về công nghiệp – nông nghiệp” (1766); “Nhận xét về lợi ích củaTiền” (1766); “Nhận xét về chế độ chuyên chế ở Trung Quốc” (1767)
Trang 4K.Marx gọi Quesnay là cha đẻ của chính trị kinh tế học, vì ông có vai trò đặcbiệt trong việc phát triển khoa học kinh tế Quesnay có hai công lao lớn:
Công lao thứ nhất là đã đặt ra một cách khoa học vấn đề sản phẩm thuần túynhưng chưa giải quyết được triệt để vấn đề này Quesnay cho rằng sản phẩm thuầntúy được tạo ra trong ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi theo kiểu trangtrại), nghĩa là ông đã gắn việc tìm tòi sản phẩm thuần túy với lĩnh vực sản xuất(khác với Chủ nghĩa trọng thương tìm trong lĩnh vực lưu thông) Nhưng ông lạiphạm sai lầm khi coi nông nghiệp là nguồn lợi duy nhất Quesnay chủ trương pháttriển nông nghiệp theo kiểu đồn điền TBCN Theo ông chỉ có nền kinh tế như thếmới bảo đảm hao phí lao động ít nhất K.Marx coi việc tăng tư bản dùng trongnông nghiệp là hiện tượng tích cực, là chìa khóa đặc biệt để tăng thêm của cải xãhội
Công lao thứ hai của Quesnay là ông đã phân tích một cách khoa học việctái sản xuất trong “biểu kinh tế” nổi tiếng của ông Về mặt lý luận ông đã tỏ rasáng suốt táo bạo và độc đáo Ông đã mở ra một trang mới trong lịch sử tư tưởngkinh tế
b, Anne Robert Jaucques Turgot (1727-1781):
Ông là nhà kinh tế học, nhà chính trị lớn của Pháp trước cách mạng tư sản.Năm 1761 làm Trưởng quan hành chính củaVua; năm 1774 trở thành tổng thanh tra tài chánh Là nhà tư tưởng tiến bộ, ông gầngũi với các nhà bách khoa và phái trọng nông Là người có một tầm mắt tư sảnxuất sắc nhất của chủ nghĩa trọng nông
Tác phẩm nổi tiếng của ông là “những suy nghĩ về sự hình thành và phânphối của cải” (1766), trong tác phẩm này ông đã kế thừa và phát triển các luậnđiểm chủ yếu của phái trọng nông
Trang 5So với những người trước, Ông đã nêu ra được nhiều điều mới mẻ Ông làngười đầu tiên nêu ra khái niệm tư bản: Tư bản không phải chỉ là tiền tệ, mà là giátrị của tiền tệ được tích lũy lại Theo ông đất đai cũng là tư bản Đồng thời ôngcũng là người đầu tiên phân chia tư bản thành tư bản lưu động và tư bản cố định.
Turgot đã phát triển quan niệm đặc trung của phái trọng nông về cơ cấu giaicấp xã hội Ông chia xã hội thành 5 giai cấp: giai cấp công nhân nông nghiệp, giaicấp nhà tư bản nông nghiệp, giai cấp công nhân công nghiệp, giai cấp nhà tư bảncông nghiệp và giai cấp sở hữu Như vậy, so với Quesnay, Turgot đã thấy đượcmột giai cấp tư sản riêng biệt trong công nghiệp và nông nghiệp Nhưng đồng thờiông lẫn lộn hai nguyên tắc phân chia giai cấp: Dựa vào quan hệ đối với tư liệu sảnxuất và dựa vào ngành hoạt động sản xuất
Lần đầu tiên, Turgot đã đề ra học thuyết về quy luật tiền công: Tiền lươngphải thu hẹp ở mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu Ông đã chỉ ra một cách đúng đắn sựbất hạnh của công nhân về kinh tế, sự cạnh tranh của họ và quyền của nhà tư bản
có thể lựa chọn sức lao động nào rẻ nhất trong số hiện có Một vấn đề mới đượcông nêu lên là nguyên lý về sự bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong các ngànhkhác nhau Ông nói rằng những tư bản bằng nhau thì đem lại thu nhập bằng nhau,không kể chúng đầu tư vào ngành nào
Nhưng Turgot cũng đã phạm sai lầm nghiêm trọng Ông đưa ra kết luận sai
về “quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng giảm”
3 Những vấn đề chủ yếu của Chủ nghĩa trọng nông.
a Quan điểm và phương pháp luận.
- Trường phái trọng nông cho rằng nguồn gốc của cải là từ trong nôngnghiệp, và chỉ có trong nông nghiệp mới tạo ra của cải
- Buôn bán trao đổi chẳng qua là việc đổi giá trị này lấy giá trị khác, không
ai có lời
Trang 6- Chỉ có lao động trong nông nghiệp mới là lao động sản xuất Các ngànhcông nghiệp chỉ làm thay đổi hình thái sản phẩm mà nông nghiệp đã tạo ra nên laođộng công nghiệp không phải là lao động sản xuất.
b. b Cương lĩnh kinh tế của Chủ nghĩa trọng nông.
Những vấn đề lý luận của Chủ nghĩa trọng nông: Chỉ nhằm đưa được mộtcương lĩnh kinh tế:
- Trong nội dung cương lĩnh, điểm quan trong nhất là: đề ra những biện phápphát triển nông nghiệp như: kiến nghị nông nghiệp, khuyến khích đầu tư vào lĩnhvực nông nghiệp: đầu tư vào nông thôn càng nhiều càng thu được nhiều lợi nhuận
- Xác lập một cơ chế quản lý dựa trên cơ sở tự do cạnh tranh
- Mở rộng giao thông
c Học thuyết về trật tự tư nhiên.
Cơ sở lý luận chủ yếu của những người trọng nông chủ nghĩa là học thuyết
về trật tự tự nhiên Họ dùng học thuyết đó để đi đến những kết luận kinh tế TheoQuesnay có hai loại quy luật tự nhiên: Quy luật vật lý tác động trong lĩnh vực tựnhiên và quy luật luân lý tác động trong lĩnh vực kinh tế Quy luật luân lý cũng tấtyếu như quy luật vật lý vậy Họ kêu gọi nên tuân theo quyền tự nhiên và trật tự tựnhiên, đó là một quyền chính đáng, tối cao và cơ bản Đối lập với quyền tự nhiên làquyền luật pháp đem lại Những ước vọng của họ đã vấp phải thực tế phũ phàng,nên họ đã sớm nhận thức được rằng quyền tự nhiên của tất cả mọi người đối vớimọi vật là một tư tưởng ngụy biện trống rỗng hay là một thứ trò chơi của trí tuệ.Quesnay tuyên bố: “Trên thực tế cái quyền tự nhiên của mọi người quy lại chỉ làcái phần mà họ chỉ có thể có được là lao động”, còn cái quyền của con người đốivới mọi vật thì cũng hoàn toàn giống như cái quyền của con chim én đối với tất cảnhững con ruồi nhỏ bay trong không khí vậy thôi
Trang 7Nội dung cơ bản của học thuyết về luật tự nhiên của Quesnay là: Thừa nhậnvai trò của tự do con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, không thể thiếuđược Chống lại chế độ phong kiến và xem nó là một chế độ không bình thườngdựa trên sự dốt nát và là một sai lầm của lịch sử Chủ trương có sự tự do cạnh tranhgiữa những người sản xuất Đưa ra khẩu hiệu “Tự do buôn bán, tự do hoạt động”.Thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ sở hữu.
ra sản phẩm thuần túy mới
Quesnay tuyên bố: “chỉ có của cải dân cư ở nông thôn mới đẻ ra của cảiquốc gia”, “nông dân nghèo thì xứ sở nghèo”
Như vậy, Chủ nghĩa trọng nông đã giải thích nguồn gốc sản phẩm thuần túytheo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sảnphẩm thuần túy Tuy nhiên nếu “gạn đục khơi trong”, chúng ta sẽ tìm thấy cái nhânhợp lý trong học thuyết sản phẩm thuần túy của họ là ở chỗ họ đã coi sản phẩmthuần túy là sản phẩm lao động của người công nhân làm thuê, bộ phận này đã biếnthành nguồn thu nhập của giai cấp tư sản và địa chủ Nhưng cái nhân hợp lý đó đã
bị bọc kín dưới một lớp dày đặc những luận điểm rất lạ lùng và lắm lúc vô nghĩa.Chẳng hạn họ coi của cải xã hội và khối vật chất vô dụng là một, từ đó rút ra một
Trang 8kết luận ngược đời cho rằng lao động công nghiệp là lao động không sinh sản, vì
nó chỉ mang lại nguyên liệu những hình thức mới chứ không làm tăng thêm sốlượng thực thể? Thành thử họ đi đến một kết luận vô lý, người thợ sơn tràng tạo ranhiều của cải, còn người thợ mộc làm nhà, đóng bàn ghế là những người khôngsinh sản, thậm chí lao động của họ còn có hại vì mất nhiều gỗ biến thành mạt cưa
Sai lầm của Chủ nghĩa trọng nông trong học thuyết sản phẩm thuần túy là có
lý do lịch sử Chúng ta biết rằng, học thuyết sản phẩm thuần túy được đề ra trongnhững năm 50 của thế kỷ XVIII, trước khi có những phát minh vĩ đại trong lĩnhvực hóa học vào cuối thế kỷ XVIII, trước khi Lômônôxốp, Lavoisier tìm ra địnhluật bảo toàn khối lượng
4 Đánh giá khái quát trường phái trọng nông
Trang 9- Chủ nghĩa trọng nông đã phân tích các hoạt động kinh doanh, sản xuất theokiểu tư bản chủ nghĩa dưới tầm nhìn tư sản, qua đó có những đóng góp quý giá, đặt
cơ sở cho việc nghiên cứu, bước đầu đề cập tới các hình thức vận động của tư bản,phát hiện các quy luật của tiền công, của lợi nhuận bình quân, đặt cơ sở cho việcnghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội sau này
b, Mặt hạn chế:
- Về mặt phương pháp luận, Chủ nghĩa trọng nông cũng mới chỉ dừng lại ởhiện tượng bề ngoài, nhấn mạnh sản xuất và hầu như phủ nhận vai trò của lưuthông Do đó, Chủ nghĩa trọng nông chưa giải quyết được mối quan hệ giữa sảnxuất và lưu thông
- Nhiều quan điểm lý luận còn giản đơn, thô thiển
- Sai lầm lớn của trường phái trọng nông là đánh giá quá cao vai trò củanông nghiệp, không nhìn nhận vai trò của các công trường thủ công trong lòng xãhội phong kiến
5.Ý nghĩa của trường phái trọng nông đối với nền kinh tế Việt Nam
Theo quan điểm của trường phái trọng nông thì một nền kinh tế muốn pháttriển cần dựa vào nông nghiệp, cần phát triển nông nghiệp, nông nghiệp mang lạicủa cải cho xã hội, phủ nhận vai trò của lưu thông đối với sự phát triển nền kinh tế,không coi công nghiệp là hoạt động sản xuất
Nước ta đã có một thời gian dài vận dụng những sai lầm của trường pháitrọng nông, thời kỳ bao cấp, nước ta đã hạn chế lưu thông, ngăn sông cấm chợ.Miền Bắc thì thiếu thóc gạo, miền Nam thì dư thừa nhưng không cho hai miền giaothương với nhau, tạo điều kiện cho hoạt động buôn lậu gạo Đồng thời đã kìm hãm
sự phát triển nền kinh tế của nước ta trong một thời gian dài
Trang 10Ngày nay, Việt Nam với thời kỳ hội nhập, mở cửa thị trường tiếp nhậnnhững vận hội mới thì không thể vận dụng quan điểm của trường phái trọng nôngmột cách mù quáng, không có sự nhận định đâu là tiến bộ, đâu là sai lầm được.Vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của trường phái trọng nông vào điều kiệnnước ta - một nước xuất phát từ nông nghiệp, số lao động hoạt động chủ yếu vẫn lànông nghiệp - ta có thể thấy vấn đề cần đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam là cần
có sự phát triển bền vững không chỉ trong lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ, mà cảtrong nông nghiệp Tức là cần quan tâm đúng mức đến lĩnh vực nông nghiệp:
Thứ nhất là cần tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn, song hành cùng với việc phát triển công nghiệp - dịch vụ
Thứ hai là phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trongnông nghiệp và kinh tế nông thôn
Thứ ba là nhà nước cần có chính sách quan tâm đối với nông nghiệp, nôngthôn và nông dân
II.Thực trạng nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hội nhập
Thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị BanChấp hành Trung ương lần thứ 5 đã ban hành Nghị quyết 15-NQ/T.Ư này 18-3-
2002 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ2001-2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghóa quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; đưa thiết bị, kỹ thuật
và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp; thực hiện cơ khí hóa,điện khí hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng các thành tựu mới về khoa học, công nghệ,nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nông nghiệp Việt Nam
Tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; tổ chức lại sản xuất
Trang 11và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; quy hoạch phát triển đồng bộ và đẩy mạnhxây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; ưu tiên giải quyết việc làmchuyển dần lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ; phát triển toàndiện đời sống văn hóa tinh thần và xây dựng nông thôn mới văn minh, dân chủ,đoàn kết, lành mạnh và hiện đại.
1 Những thành tựu đã đạt được
1 - Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tíchcực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thịtrường và có giá trị kinh tế cao Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc gia,tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha), để chuyển sang nuôi trồngthủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương thực vẫntăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2004), trong đó, sảnlượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình quân mỗi năm lương thực tăng hơnmột triệu tấn, vượt mục tiêu do Ðại hội lần thứ IX của Ðảng đề ra trước ba năm.Hằng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-4 triệu tấn gạo
Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh mạnh theo nhu cầuthị trường để xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu, hình thành một số vùng sảnxuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến Diện tích, sảnlượng cây công nghiệp tăng nhanh so với năm 2000, cao-su diện tích tăng 9,5%,sản lượng tăng 37,6%; hồ tiêu diện tích tăng 83,2%, sản lượng tăng 87,8%; điềudiện tích tăng 44,3%, sản lượng tăng 205,3%; chè diện tích tăng 35,3%, sản lượngtăng 54,9%; diện tích cây ăn quả tăng 1,4 lần; bông vải diện tích tăng 42,5%, sảnlượng tăng 57,4%; đậu tương diện tích tăng 47,1%, sản lượng tăng 62,2% Các loạicây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích, sản lượng vàkim ngạch xuất khẩu
Chăn nuôi phát triển với tốc độ khá cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về trứng,
Trang 12thịt trong nước đang tăng nhanh, giá trị chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷtrọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,3% lên 21,6% Ðàn bò, nhất là
bò sữa tăng nhanh, đạt 95 nghìn con, sản lượng sữa tươi tăng gấp 3 lần Sản lượngthủy sản nuôi trồng tăng 2,0 lần, sản lượng khai thác tăng 1,2 lần
Rừng tự nhiên được bảo vệ và khôi phục tốt hơn, trồng rừng kinh tế bướcđầu có chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả, độ che phủ của rừng tăng
từ 35% lên 36,7%
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn có bướcphát triển tích cực Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăngtrưởng bình quân 12-14%/năm Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề nôngthôn có bước phát triển nhanh 15%/năm Hiện cả nước có 2.971 làng nghề, khoảng1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10triệu lao động (trong đó có khoảng 1,5 triệu người làm hàng mỹ nghệ)
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mứccao (5,4%/năm, chỉ tiêu Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đề ra là 4,8%/năm).Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2004 đạt gần 7 tỷ USD, tăng1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng gần 1,5 lần, thủy sản tăng 1,6lần Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và giá trị lớn như: gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều Ðặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia dụng và lâm sản tăng mạnh,đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm 2000
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2004 trong tổng GDP của cảnước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; laođộng nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%, lao động công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1% Năm 2003, hộ thuần nông
đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp