TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LỚP L02 NHÓM 06 HỌC KỲ 221, NĂM HỌC 2022 2023 ĐỀ TÀI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC LIÊN HỆ Đ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LỚP: L02 NHÓM: 06
HỌC KỲ 221, NĂM HỌC 2022-2023
ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC LIÊN
HỆ ĐẾN VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC
BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
GVGD: ThS Phan Thị Thanh HươngSINH VIÊN THỰC HIỆN:
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ THẢO LUẬN NHÓM BTL
Nhóm/Lớp: L02 Tên nhóm: 06
Đề tài:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Kết quả
(Nhóm tự đánh giá mức độ đóng góp của từng cá nhân)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu đề tài 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 1
NỘI DUNG 2
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc 2
1.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản 2
1.2 Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo 6
1.3 Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công – nông làm nền tảng 8
1.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc 11
1.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng 15
2 Liên hệ đến việc phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay 19
2.1 Thực trạng việc phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 19
2.1.1 Ưu điểm của việc phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 19
2.1.2 Khuyết điểm của việc phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 20
2.2 Giải pháp cần thực hiện để phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 21
2.2.1 Giải pháp để không ngừng phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 21
2.2.2 Giải pháp để khắc phục những khuyết điểm nhằm phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay 24
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn
đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa vănhóa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện được tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo củaNgười trong việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạngthuộc địa Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc chiếm một
vị trí lớn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào thực tiễn cách mạng nước ta đểgiải quyết vấn đề dân tộc, giải phóng đất nước ra khỏi ách thống trị của bọn đế quốcthực dân và thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong thời gian qua Hiện nay,việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức về vấn đề dân tộc trong tư tưởng HồChí Minh là vô cùng quan trọng và cần thiết Vì vậy, chúng em quyết định chọn đề tài:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc Liên hệ đến việc phát huy vai trò của sinh viên trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay” để tìm hiểu và nghiên
cứu
2 Tính cấp thiết của đề tài
Con đường giải phóng dân tộc của đất nước phải trải qua rất nhiều giai đoạn thăng
trầm khác nhau, có lúc “ngàn cân treo sợi tóc” Bác là người đã tìm thấy ánh sáng,
chân lý cho con đường giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bốc lột.Giữa các tư tưởng Hồ Chí Minh để lại thì nội dung về cách mạng giải phóng dân tộcquả thật là một chủ đề rất lớn và đáng được tìm hiểu, giữa tình thế hệ thống chính trịcủa các nước xung quanh trở nên căng thẳng, thì quả thật nội dung này càng trở nêncấp thiết cho sinh viên trong thời đại hiện nay
Qua đề tài này, chúng em có thể làm rõ được Tư tưởng Hồ Chí Minh về cáchmạng giải phóng dân tộc, và vận dụng lối tư tưởng ấy vào công cuộc bảo vệ Tổ quốchiện nay với vai trò là một sinh viên trong thời đại mới
Trang 5NỘI DUNG
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
1.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Hồ Chí Minh muốn tìm kiếm còn đường cứu nước, giải phóng ở phương Tây.Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đã bị biến thành thuộc địa, nhân dân phảichịu cảnh lầm than, Hồ Chí Minh được chứng kiến các phong trào cứu nước của ông
cha Người nhận thấy con đường của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; con đường Phan Châu Trinh cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”, con đường của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn nhưng vẫn mang
nặng cốt cách phong kiến
Chính vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng HồChí Minh không tán thành các con đường của họ mà quyết tâm ra đi tìm một conđường cứu nước mới
Từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta, mở đầu bằng cuộc tấn công bánđảo Sơn Trà hay khi hoàn toàn đặt ách cai trị lên toàn cõi An Nam qua hòa ước Hòaước Patenôtre, chúng không ngừng đưa ra những chính sách thâm độc, áp đặt nhữngđạo luật ảnh hưởng trực tiếp lên quyền sống, quyền tự do cơ bản của nhân dân ta.Trong những năm tháng đó, đã có nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh của nhân dân An Nam,nhiều phong trào giải phóng dân tộc của các nhà yêu nước đã nổ ra, nhưng tất cả đềutiến đến một kết cục, đó là thất bại Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trịđúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến Giai cấp phong kiến,
có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, taysai cho đế quốc Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụthuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấutranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do Giai cấp nông dân và tiểu
tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng khôngthể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách
Trang 6mạng Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lốicứu nước.
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí
sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiềnbối Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện
cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”1 Vượt qua tầm nhìn của các bậctiền bối thời bấy giờ, Nguyễn Tất Thành muốn tìm kiếm còn đường cứu nước, giảiphóng ở phương Tây Để thoát khỏi lối mòn của những Đông Du, Đông Kinh NghĩaThục, Duy Tân, Người quyết định đi tìm con đường cứu lấy đồng bào ở chính cácnước thực dân Vì thế, vào ngày 05/06/1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên tàu
Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (L’Admiral Latouche Trévill), bắt đầu cuộc hành trình 30 nămtìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước
Trong suốt hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc ấy,Nguyễn Tất Thành đã đi qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trămthành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống,
với quyết tâm cháy bỏng là tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc Với những
chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm trong 10 năm ròng, từ năm 1911 đến năm 1920,Nguyễn Tất Thành đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới Bànchân của người thanh niên yêu nước này đã in dấu trên nhiều nước trải dài trên khắpcác châu lục, từ châu Âu, châu Á đến châu Phi, châu Mỹ Đặc biệt ở 3 nước là Mỹ,Anh và Pháp, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân khảo sát khá lâu, Người hòa mình vàocuộc sống của những người lao động, làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động, như:phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm vườn, vẽ thuê Trên cơ sở đó Nguyễn TấtThành rút ra một kết luận có tính chất nền tảng đầu tiên: Ở đâu đế quốc, thực dân cũngtàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức, hay ngắn gọn
1Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.314.
Trang 7hơn là “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”1 Người nhìn thấy mặt tối của xã hội phương Tây, rằng
“ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô
nhân đạo của bọn thống trị Nguyễn Tất Thành đã có một nhận thức quan trọng: Cáchmạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưađến nơi Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và nhữngràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người Cách mạng tư sản xây dựnglên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến Nhưng cách mạng xong rồi dânchúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng Từ đó, Người
đi đến kết luận: “chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này”2
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã có ảnh hưởng rất lớn đếntình cảm và nhận thức của Nguyễn Tất Thành Nói về sự kiện này, người đánh giá
“Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải
tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”3.Thành công đến nơi ở đây khác biệt hoàn toàn với sự nửa vời của cách mạng tư sản,khi số phận những người công nhân, nông dân chính quốc vẫn sống trong cảnh bầnhàn, người dân các nước thuộc địa vẫn bị áp bức bóc lột về cả thể chất lẫn tinh thần.Khi so sánh với nước Nga sau cách mạng Tháng Mười, những lời hứa về tự do, hạnhphúc của các nước tư sản không khác gì những trò bịp bợm
Vào tháng 07/1920, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và 10/24/2022 thuộc địa” của Lênin đăng trên Báo L’Humanite (Báo Nhân
đạo) của Đảng Xã hội Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin.Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giànhđộc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia vàmối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở
chính quốc Trong thời điểm lịch sử ấy, Người cảm thấy “rất cảm động, phấn khởi,
1Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.461.
2Trần Dân Tiên (1994), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia,
tr.12.
3Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.274.
Trang 8sáng tỏ”, “vui mừng đến phát khóc lên” Đó là cảm xúc chân thật của một người yêu
nước thương nòi khi tìm ra con đường dẫn đến độc lập tự do cho dân tộc Cuối tháng12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, đánh dấu bướcngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đồng thời cũng đánh dấumột bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấutranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinhthần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản Người thanh niên yêu nướcNguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết định đi theo con đường của Lênin vĩ
đại Người kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1 Với việc xác định con đường đó, Nguyễn ÁiQuốc mở đường để giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước ViệtNam đầu thế kỷ XX, đồng thời khởi động tiến trình đưa cách mạng Việt Nam hội nhậpvào trào lưu cách mạng thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.C.Mác và V.I.Lê-nin luôn đòi hỏi phải tiếp tục phát triển lý luận trong những điềukiện lịch sử mới Hồ Chí Minh tiếp thu bản chất cách mạng, khoa học và tính nhân văncao cả của học thuyết cách mạng vô sản nhằm giải phóng triệt để con người khỏi mọi
sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần.Nếu như C Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V.I Lê-nin bànnhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Hồ Chí Minh dành sự quan tâmđặc biệt đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Trong điều kiện xã hội thuộcđịa, Người không nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp, mà tập trung vào cuộc đấutranh giải phóng dân tộc Độc lập, tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người ViệtNam mất nước Trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh, thực chất của vấn đề dân tộcthuộc địa chính là vấn đề độc lập dân tộc Người sắp xếp lại thứ tự con đường cáchmạng vô sản phù hợp với nước ta là: giải phóng dân tộc – giải phóng xã hội – giảiphóng giai cấp – giải phóng con người
Đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh sớm xác định phương hướngchiến lược của cách mạng Việt Nam là: làm tư sản dân quyền cách mạng (tức cáchmạng giải phóng dân tộc) và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Người giải
1Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.289.
Trang 9thích trong Chánh cương vắn tắt của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền trước hết làđánh đổ đế quốc và phong kiến, làm cho nước ta hoàn toàn độc lập Độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt độngthực tiễn của Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn
về lý luận của Hồ Chí Minh, là sự phản ánh mục đích, lý tưởng, khát vọng và hammuốn tột bậc của Người: nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh kết hợpnhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, xây dựng lý luận cách mạng giảiphóng và phát triển dân tộc theo khuynh hướng vô sản, giải quyết thành công mốiquan hệ giữa đất nước và thời đại, giữa dân tộc và quốc tế
1.2 Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Người khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộctheo con đường Cách mạng vô sản
Nguyễn Ái Quốc phân tích: “Phàm làm việc gì cũng vậy, bất kì lớn bé, bất kỳ khó
dễ, nếu không ra sức thì chắc không thành công…việc giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại” là “việc to tát” nên phải cố gắng sức “Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực
mà làm thì phải nổi Đời này chưa làm xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong” Muốn làm cách mạng thì phải bền gan, đồng chí, đồng lòng và quyết tâm, “lai phải biết cách làm thì mới chóng” Qua đó cho thấy được rằng Đảng Cộng sản vừa là đội
tiên phong của giai cấp công nhân vừa là đội tiên phong của nhân dân lao động, kiênquyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc
bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”1.
Kết hợp lý luận Mác – Lênin về Đảng Cộng sản với thực tiễn cách mạng ViệtNam, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên một
1Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.289.
Trang 10loạt vấn đề về cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng nên một lý luận giải phóng dântộc Lý luận đó không chỉ được truyền bá trong phong trào công nhân, mà cả trongphong trào yêu nước, giải quyết vấn đề đường lối cứu nước gắn liền với sự chuẩn bịnhững điều kiện về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng cáchmạng Việt Nam, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân là quy luật chungcho sự ra đời của các Đảng Cộng sản trên thế giới Nhưng sự kết hợp đó không theomột khuôn mẫu giáo điều, cứng nhắc Điều đó đòi hỏi sự vận dụng và phát triển sángtạo lý luận Mác - Lê-nin về Đảng Cộng sản trong điều kiện lịch sử cụ thể ở thuộc địa
Hồ Chí Minh đã đặt câu hỏi cho vấn đề cần thiết trước hết của cách mạng, và câu trảlời nằm ở đảng cách mệnh Đảng cách mệnh theo ý của Người có mục đích vừa vậnđộng quần chúng nhân dân, vừa kêu gọi các dân tộc bị áp bức, giai cấp vô sản ở mọi
nơi Người khẳng định rằng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”1 Quả thậtvậy, muốn cách mạng thành công cần có một đảng lãnh đạo vững mạnh Xuyên suốtlịch sử loài người, những cuộc cách mạng thành công đều có một lực lượng lãnh đạosáng suốt và kêu gọi được quần chúng nhân dân, đơn cử là Cách mạng tháng Mười dẫnđến sự ra đời của nước Nga Xô viết cần có Đảng Bolshevik (do lãnh tụ V.I Lêninthành lập, được đông đảo quần chúng Nga tin tưởng, tham gia) lãnh đạo
Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen nêu rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”2.Theo đó, giai cấp vô sản cần phát triển, vươn lên để đại diện cho cả dân tộc, lãnh đạocuộc đấu tranh của đất nước, dân tộc đi đến thành công Phát triển sáng tạo học thuyếtMác - Lê-nin về Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam làđảng của giai cấp vô sản, đồng thời là đảng của dân tộc Việt Nam Các văn kiện của
Hội nghị thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã khẳng định: “Đảng là Đội tiên phong của vô sản giai cấp”3, song Đảng không chỉ là của riêng giai cấp công nhân,
mà của toàn dân tộc Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951), Hồ Chí Minh
phân tích: “Trong giai đoạn hiện nay, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân
1Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.314.
2C.Mác, & Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 526-527.
3Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.3.
Trang 11lao động và của dân tộc là một Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1.
Năm 1953, Hồ Chí Minh nhắc lại, Đảng Lao động Việt Nam là “Đảng của giai cấp lao động, mà cũng là Đảng của toàn dân” 2 Năm 1961, khi nhân dân miền Bắcđang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định thêm một lần nữa: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị” 3 Luận điểm xuyênsuốt tư tưởng của Người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bổ sung phát triển lý luậnMác xít về đảng cộng sản
Chủ nghĩa Mác Lênin và con đường cách mạng vô sản qua sự tuyên truyền của HồChí Minh được đông đảo quần chúng đón nhận Như một sự tất yếu, Đông DươngCộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn lần lượtđược thành lập Thay mặt cho Quốc tế Cộng sản, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tậpHội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng02/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã phản ánh sự kết hợp giữa đấu tranh giaicấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX Đó là một mốclớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủnghoảng về đường lối cứu nước Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh,đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành,
đủ sức lãnh đạo cách mạng
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng
và sức mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam Đó là một đặcđiểm, đồng thời là một ưu điểm của Đảng Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng đãnắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàngđầu bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng
1.3 Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công – nông làm nền tảng
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh Quan điểm
1Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.41.
2Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.276.
3Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.275.
Trang 12“lấy dân làm gốc” xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người “Có dân là có tất cả”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Khi còn hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Đối với tôi, câu trả lời rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huần luyện họ, đưa họ
ra đấu tranh giành tự do độc lập” Qua đó thấy được Hồ Chí Minh đánh giá rất cao
vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang, Người coi sức mạnh vĩ đại
và năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng là nhân tố then chốt bảo đảm thắng lợi
Người khẳng định: “Dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ổng nào cũng không chống lại nổi” “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được” “Chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc”.
Dưới chế độ cai trị của chủ nghĩa tư bản Pháp, từ một xã hội phong kiến thuần túy,Việt Nam biến thành một xã hội thuộc địa với những tàn tích phong kiến nặng nề Mặc
dù thực dân Pháp còn duy trì một phần quan hệ kinh tế và giai cấp địa chủ, phong kiến,song khi đã thành một chế độ thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó Ngoàigiai cấp công nhân và nông dân, giai cấp tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ vừa vànhỏ mặc dù có mặt hạn chế trong quan hệ với quần chúng lao động, nhưng trong quan
hệ với thực dân Pháp thì họ cũng là những người Việt Nam chịu nỗi nhục mất nước
Đó không phải là những giai cấp thống trị, mà trái lại, họ là những giai cấp bị trị và cókhả năng tham gia phong trào giải phóng dân tộc
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Người xác định lực lượng cáchmạng bao gồm cả dân tộc: Đảng phải tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợpđại bộ phận nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làmcách mạng ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông…đi vào phe vô sản; đốivới phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạngthì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phảncách mạng (như Đảng Lập hiến) thì phải đánh đổ
Trong lực lượng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh hết sức nhấn mạnh vai trò động lựccách mạng của công nhân và nông dân Người phân tích: các giai cấp công nhân vànông dân có số lượng đông nhất, nên có sức mạnh lớn nhất Họ lại bị áp bức bóc lột
Trang 13nặng nề nhất, nên “lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết…công nông
là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc” Từ đó, Người khẳng định: công nông “là gốc cách mệnh”.
Khẳng định vai trò động lực cách mạng của công nhân và nông dân là một vấn đề hếtsức mới mẻ so với nhận thức của những nhà yêu nước trước đó
Trong khi hết sức nhấn mạnh vai trò của công nhân và nông dân, Hồ Chí Minhkhông coi nhẹ khả năng tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc của các giai cấp và tầnglớp khác Người coi tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận giai cấp địa chủ là bạn
đồng minh của cách mạng Người chỉ rõ: “…học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng
bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận quan trọng hợpthành trong hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam Nghiên cứu toàn bộ di cảo của Người có thể nhận thấy cụm từ “đoàn kết” được Người nhắc tới hơn hai ngàn lần và cụm từ “đại đoàn kết” được Người nhắc tới hơn
tám mươi lần, điều đó nói lên sự quan tâm đối với vấn đề đoàn kết ở mọi điều kiện,mọi hoàn cảnh của lịch sử, đồng thời tỏ rõ tầm chiến lược tư tưởng đoàn kết củaNgười Hồ Chí Minh nói nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, tuy nhiên chỉ một lần duy
nhất Người định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”1 Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
là đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đấtnước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nướchay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêuchung và những lợi ích căn bản Có thể nói đoàn kết dân tộc vừa là điều kiện tiênquyết, sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, đồng thời là tôn chỉ, mục đích, là nhiệm
vụ hàng đầu mà sự nghiệp cách mạng cần hướng và đạt tới
1Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.244.
Trang 14Khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Người không quên lưu ý rằng:
“Công nông là chủ cách mệnh là gốc cách mệnh”1 Bởi Đảng cộng sản lãnh đạo làtinh hoa của lực lượng công nhân, và nhân dân lao động chiếm số lượng đông đảotrong lực lượng quần chúng lúc bấy giờ Đáng chú ý hơn, lực lượng công nông là bộphận bị áp bức nhiều nhất, bóc lột nặng nề nhất, từ đó rèn cho họ ý chí cách mạng sắt
đá Người giải thích thêm “Lòng cách mệnh càng bền, chí Cách mạng càng quyết công nông là tay chân rồi, nếu thua chỉ mất một cái kiếp khổ, nêu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”2 Đúng như câu tục ngữ “con giun xéo lắm cũng quằn”,
những người nông dân, công nhân hiện đang ở bên bờ vực, họ bắt buộc phải chống cựlại quân áp bức để giành lại sự tự do, giành lại quyền con người Những kiếp ngườicày thay trâu, làm phân bón cho đồn điền công nghiệp không còn gì để mất, họ có thểđánh đổi mạng sống của họ cho một cơ hội mà thế hệ sau này không còn chịu cảnh bịbóc lột, áp bức
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp hài hòa, quyện chặt và nhất quángiữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo chủ trương “dựng ra chính phủ công nông binh” Đó là hình thức chính quyền của đông đảo quần chúng lao động bị áp bức
vùng dậy đấu tranh vì độc lập, tự do Tuy nhiên, lực lượng của cách mạng giải phóngdân tộc bao gồm toàn dân tộc Vì thế, cần có một hình thức chính quyền rộng rãi hơn,chủ yếu là công nông, nhưng không đơn thuần chỉ có công nông Mô hình chính quyềnnhà nước phải được xây dựng dựa trên nền tảng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi,dựa trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân và trí thức, phù hợp với lực lượng vàtính chất của cách mạng ở thuộc địa
Tóm lại, để cách mạng thành công, để đất nước thoát khỏi ách đô hộ, cách mạngcần dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân, trong đó liên minh công - nông làm nòng cốt
1.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
Đối với cách mạng ở các quốc gia bị xâm lược, Quốc tế Cộng sản có ảnh hưởng
và đóng góp vô cùng quan trọng Tuy nhiên, do chưa nhìn nhận thấu đáo và đầy đủtiềm lực và vai trò của cách mạng ở các nước thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã từng có
1Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.288.
2Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.288.
Trang 15quan điểm xem nhẹ, không đánh giá cao phong trào cách mạng ở những nước này Từ
đó, Quốc tế Cộng sản tin rằng: cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của cáchmạng vô sản ở chính quốc
Cụ thể là vào Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (năm 1928) đã thông qua Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, trong đó có đoạn viết rằng: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp
vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến” Chính quan điểm này, vô
hình chung, đã tạo nên định kiến rằng: các nước bị xâm lược không thể đấu tranh để tựgiải phóng mình; mà bị phụ thuộc và gò bó bởi cách mạng vô sản ở nước chính quốc.Điều này cũng vô tình làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân thuộc địa,mặc dù cho họ hoàn toàn có đủ khả năng để đấu tranh, làm cách mạng để tự giải phóngkhỏi xiềng xích của sự nô lệ
Lấy ví dụ ở Việt Nam ta, khi thực dân Pháp bắt đầu quá trình xâm lược, đông đảonhân dân trên khắp mọi miền đất nước đã anh dũng chiến đấu đứng lên chống thực dânPháp Từ phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, dogiai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa củaPhan Đình Phùng (năm 1896), đến phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ
tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo, tuy các phong trào đó đãlần lượt thất bại do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết,nhưng đã cho thấy ở nhân dân ta một truyền thống yêu nước nồng nàng, một sự khátkhao cho một nền độc lập của dân tộc, một tinh thần quả cảm sẵn sàng hi sinh thânmình để giết giặc, cứu nước Thế nên, chỉ cần ta có thể giải quyết được sự khủnghoảng trong đường lối lãnh đạo cách mạng, tận dụng hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế,thì với các phẩm chất tốt đẹp của nhân dân, thì rõ ràng nước ta hoàn toàn có thể tự chủđộng, sáng tạo đấu tranh và giành lấy độc lập khỏi tay của bọn thực dân Pháp trước cảkhi cách mạng vô sản ở Pháp giành thắng lợi Và thực tế đã chứng minh điều này làđúng
Với Hồ Chí Minh, sau khi đã tiếp thu và quán triệt được tư tưởng của Lênin vềmối quan hệ gắn bó giữa cách mạng giải phóng thuộc địa với cách mạng vô sản ởchính quốc, từ rất sớm Người đã nhận định rằng: giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở
Trang 16thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tácđộng qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính phụ
-Năm 1924, tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Người nói: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”1 Qua
câu nói này, ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng và vị trí chiếnlược của cách mạng thuộc địa
Năm 1925, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”2 Ở đây, bằng cách ví chủ nghĩa tư bản như “một con đỉa”, Nguyễn Ái Quốc
đã thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữ thuộc địa và chính quốc Đồng thời,Người cũng đề cao vai trò trọng yếu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa, nếu xem thường cách mạng ở thuộc địa tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi”.
Là một người dân của một nước đang bị xâm lược và là một người đã nghiên cứurất kỹ về chủ nghĩa đế quốc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng giải phóng thuộcđịa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc Từ năm 1921, Người đã
viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt
bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và qua việc thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, sẽ có thể giúp cho những người anh em của họ ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”3 Người còn nêu rõ: Những người
1Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.273.
2Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.295.
3Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.48.