Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp chính cho sự phát triển cây đậu tương ở vùng Đồng bằng sông Hồng ĐBSH, vùng được xác đ
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CÂY ĐẬU TƯƠNG ĐÔNG
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Dương Xuân Tú 1 , guyễn Văn Lâm 1
SUMMARY
Some comprehensive solutions for development of winter soybean production
in Red river Delta
During the period from 2007 to 2009, the researching and evaluating the situation of winter soybean (Glycin Max) production have been carried out in 11 provinces of Red River Delta (RRD) The results showed that the RRD region has great potentiality to develope soybean in the winter season with approximately 600,000 ha of land released after harvesting Summer rice This land resource recently had been exploited only about 40% For the market requirement, the yearly domestic market requires about 2 million tons of soybean seed for food and animal feed while we only meet about 300 thousand tons (data showed in 2008) The results also showed that, in 2007, the status of winter soybean production in RRD with 66.5 thousand ha, average yield of 1.54 tons/ha and 106.5 thousand tons of productivity One comprehensive solution had been recommended to Develope soybean production in the winter season in RRD region for purpose of soybean productivity increase with component parts, for example: advantage varieties and cultivation techniques; suitably crop system; mechanization application for production oriented towards market to increase efficiency in soybean production
Keywords: Soybean (Glycin Max), RRD (Red, river Delta), production, potentiality,
development, solution
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đậu tương là cây công nghiệp ngắn
ngày, hạt đậu tương có giá trị dinh dưỡng
và có giá trị kinh tế cao, là nguồn thực
phNm cho con người và làm thức ăn cho
gia súc N goài ra, cây đậu tương còn đóng
vai trò quan trọng trong hệ thống luân
canh cải tạo đất, nhờ các vi khuNn nốt sần
cố định đạm làm tăng độ phì cho đất Tuy
nhiên, trong những năm qua mức độ phát
triển cây đậu tương ở nước ta bị chững lại
cả về diện tích và năng suất dẫn đến sản lượng hàng năm không đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày càng cao Theo Cục Chăn nuôi: N ăm 2006, chỉ riêng ngành chăn nuôi đã phải nhập 1,5 triệu tấn khô dầu đậu tương (tương đương 2,0 triệu tấn đậu tương hạt) để chế biến làm thức ăn chăn nuôi, ngoài ra còn chưa kể các nguồn nhập khác Với mục tiêu phát triển đậu tương của Bộ N ông nghiệp & PTN T
1
Viện Cây Lương thực và Cây thực phNm
Trang 2đề ra cho cả nước: “Đến năm 2010, diện
tích đậu tương đạt 400 ngàn ha, năng
suất đạt 20 tạ/ha và sản lượng đạt 800
ngàn tấn ” Chính vì vậy, một hệ thống
giải pháp đồng bộ để tăng sản lượng đậu
tương sản xuất trong nước hàng năm là
cần thiết Trong khuôn khổ bài viết này,
chúng tôi đề cập đến một số nghiên cứu,
đánh giá và đề xuất giải pháp chính cho
sự phát triển cây đậu tương ở vùng Đồng
bằng sông Hồng (ĐBSH), vùng được xác
định là lợi thế cho sự phát triển cây đậu
tương đông
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu nghiên cứu
Cây đậu tương vụ đông trong 11 tỉnh
vùng Đồng bằng sông Hồng
2 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu, số
liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng
cây đậu tương vụ đông tại 11 tỉnh vùng
Đồng bằng sông Hồng Các chính sách địa
phương và nhà nước liên quan tới việc phát
triển cây vụ đông nói chung và cây đậu
tương nói riêng cho vùng
- Phương pháp GIS: Sử dụng bản đồ để
vẽ nên hiện trạng diện tích và cơ cấu cây
đậu tương vụ đông của 11 tỉnh vùng Đồng
bằng sông Hồng
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tiềm năng phát triển cây đậu tương
vụ đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng
(ĐBSH)
Điều kiện tự nhiên:
Vùng ĐBSH bao gồm 11 tỉnh thành phố, có điều kiện khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp Là vùng có điều kiện thời tiết khí hậu, địa hình, đất đai màu mỡ thích hợp cho nhiều loại cây trồng và nhiều vụ trong năm, đặc biệt có mùa đông lạnh càng làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng về chủng loại giống Nhiều cây trồng vụ đông đang hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn đem lại nguồn thu nhập cao nhất trong năm, trong
đó có cây đậu tương
Tiềm năng về đất đai:
Ở vùng ĐBSH, sau thu hoạch lúa mùa
là cả quỹ đất rộng lớn để phát triển cây vụ đông Theo số liệu thống kê, ở vùng ĐBSH
có khoảng 600.000 ha đất sau khi thu hoạch lúa mùa có thể trồng cây vụ đông Trong số
đó, năm 2006, diện tích cây đậu tương đông mới gieo trồng được 59.200 ha, chiếm gần 10% diện tích này Diện tích cây vụ đông cũng chỉ sử dụng được khoảng 40% quĩ
đất này còn lại phần lớn vẫn bỏ hoang (Số
liệu điều tra của Trung tâm Hệ thống
ông nghiệp-CASRAD, Viện Cây lương thực và Cây thực phTm, năm 2007) Như
vậy, nếu áp dụng tốt công nghệ sản xuất đậu tương đông hiện đang được phổ biến, chúng ta có thể mở rộng được nhiều hơn nữa ở diện tích trên
Thị trường tiêu thụ sản ph%m:
Có thể nói rằng, đối với sản phNm đậu tương hiện nay chúng ta chưa cần phải lo đến thị trường tiêu thụ vì như đã đề cập ở trên thì hàng năm chúng ta phải nhập khNu đậu tương với số lượng khoảng 2 triệu tấn ngoài sản lượng sản xuất được ở trong
Trang 3nước Trong những năm gần đây, trung
bình mỗi năm cả nước trồng khoảng 200
ngàn ha đậu tương chủ yếu trong vụ đông
với sản lượng đạt khoảng 300 ngàn tấn
(Theo kết quả điều tra của CASRAD, 2007)
Điều đó cho thấy thị trường đậu tương
trong nước vẫn còn rất lớn
&guồn nhân lực và kinh nghiệm sản xuất:
Vùng ĐBSH có dân số là 18.207.900
người, 2.763.801 hộ trong đó 1.965.343 hộ
nông nghiệp (Theo kết quả điều tra của
CASRAD, 2007) Đây là một nguồn nhân
lực khá dồi dào cho việc phát triển cây vụ
đông nói chung và cây đậu tương nói riêng
Đặc biệt, khi thu hoạch lúa mùa xong, sản
xuất cây vụ đông là nhu cầu của người sản
xuất để giải quyết thời gian nông nhàn, tăng
thu nhập Bên cạnh đó, cây đậu tương là
cây trồng truyền thống ở vùng ĐBSH nên
người dân đã có những kinh nghiệm, hiểu
biết về cây đậu tương do vậy việc áp dụng
những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ
gặp nhiều thuận lợi
&hững tiến bộ kỹ thuật mới:
Thời gian qua, đã có nhiều TBKT mới
về giống và biện pháp kỹ thuật đưa ra áp
dụng cho sản xuất: Các giống đậu tương
mới đã được chọn tạo theo hướng ngắn
ngày, năng suất cao, khả năng thích ứng
rộng Đã xác định được nhóm giống chịu
lạnh (cho vụ xuân và vụ đông), nhóm giống
chịu nóng (cho vụ hè và hè thu) và nhóm
giống có thể gieo trồng được cả 3 vụ/năm ;
Một số giống đậu tương có năng suất khá
cao trong vụ đông như VX-93; Đ9804
(20-25 tạ/ha); ĐT12; DT200 (18-20 tạ/ha); Về
các biện pháp kỹ thuật: Đã xác định được
quy trình sản xuất đậu tương cho từng
giống theo từng vùng sinh thái khác nhau Việc áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất kết hợp với những phương thức gieo trồng phù hợp (gieo vãi đậu tương trên nền đất ướt) với cơ giới hoá là một bước đột phá để tăng diện tích cây đậu tương trong vụ đông
2 Thực trạng sản xuất đậu tương ở vùng ĐBSH
Đánh giá về tình hình sản xuất và phát triển cây đậu tương trong nước, theo Niên giám Thống kê 2008 cho thấy: Năm 2000 diện tích trồng đậu tương là 124,1 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 12,0 tạ/ha và sản lượng đạt được là 149,3 nghìn tấn đậu tương, đến năm 2005 diện tích tăng lên 204,1 nghìn ha và năng suất bình quân đạt được là 14,3 tạ/ha (năng suất cao nhất trong khối ASEAN và bằng 66,5% so với năng suất bình quân của thế giới), sản lượng đạt được là 292,7 nghìn tấn Như vậy sau 5 năm, diện tích đậu tương cả nước đã tăng 80,0 nghìn ha (tăng 64,5%), năng suất bình quân tăng 2,3 tạ/ha (tăng 19,2%) và sản lượng tăng 143,4 nghìn tấn (gần gấp 2 lần)
Từ năm 2006 đến 2008 diện tích có biến động giảm do điều kiện thiên tai (bão, úng ), công nghiệp hoá Hiện nay, sản lượng đậu tương trong nước cũng chỉ đáp ứng đủ cho khoảng 15% nhu cầu tại chỗ
Về tình hình sản xuất đậu tương của vùng ĐBSH, theo Niên giám Thống kê
2008, năm 2006 diện tích 66,5 nghìn ha, sản lượng đạt 103,0 nghìn tấn, đến năm
2007 tăng lên 66,7 nghìn ha, sản lượng tăng 106,3 nghìn tấn Đây cũng là vùng đã đạt được năng suất đậu tương bình quân cao nhất so với cả nước Về cơ cấu mùa vụ và
hệ thống luân canh: Cây đậu tương xuân
Trang 4được gieo trồng chủ yếu trên đất bãi ven
sông, trên đất chuyên màu; Vụ hè thường
được đưa vào tham gia trong hệ thống luân
canh cho vùng phát triển cây vụ đông sớm,
với loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao
như: Cây rau, hoa, ngô theo công thức
luân canh: Lúa xuân + đậu tương hè (hè
thu) + cây vụ đông sớm và ngô xuân hè +
đậu tương hè thu + ngô thu đông; Cây đậu
tương vụ đông được gieo trồng chủ yếu trên đất 2 lúa, theo công thức: Lúa xuân + lúa mùa sớm + đậu tương đông Song, cây đậu tương trong hệ thống cây trồng của vùng vẫn chỉ mang tính chất là cây trồng phụ, cây
để cải tạo đất cho nên, diện tích đậu tương có xu hướng giảm để nhường chỗ cho các cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Cây rau, cây dưa các loại
Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng cây đậu tương vụ đông ở ĐBSH
STT Tỉnh
Đậu tương Đông Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2004 2005 2006 2004 2005 2006 2004 2005 2006 ĐBSH 43497,6 52603,0 59153,0 66988,6 83064,4 85479,4
1 Hà Nội 352,0 450,0 402,0 12,0 11,2 12,1 422,4 504,0 486,4
2 Hải Phòng 43,0 150,0 150,0 19,0 18,1 18,4 81,7 271,5 276,0
3 Vĩnh Phúc 5269,1 4971,0 4058,0 15,5 14,9 13,4 8167,1 7426,7 5429,6
4 Hà Tây 24167,0 28638,0 30771,0 15,2 15,6 15,0 36733,8 44675,3 46156,5
5 Bắc Ninh 653,0 638,0 1100,0 16,2 16,3 16,2 1057,9 1039,9 1782,0
6 Hải Dương 1186,0 586,0 700,0 14,0 16,0 19,1 1660,4 937,6 1337,0
7 Hưng Yên 3009,0 3658,0 2917,0 18,2 17,6 18,2 5476,4 6438,1 5308,9
8 Hà Nam 4762,0 6431,0 7127,0 16,3 16,9 14,5 7762,1 10868,4 10334,2
9 Nam Định 350,0 1000,0 927,0 14,0 14,3 14,3 490,0 1430,0 1325,6
10 Thái Bình 3184,0 4742,0 4422,0 14,0 16,0 16,9 4457,6 7596,7 7459,9
11 Ninh Bình 522,5 1294,0 3579,0 13,0 14,5 15,6 679,3 1876,3 5583,2
(Nguồn: Kết quả điều tra của CASRAD, 2007)
Trang 5Bản đồ 1 Diễn biến diện tích đậu tương đông các tỉnh vùng ĐBSH (Nguồn: Kết quả điều tra của CASRAD, 2007)
Trang 6T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
6
Kết quả nghiên cứu 2007 cho thấy: Hà Tây và Hà Nam là hai tỉnh trồng nhiều đậu tương đông nhất và cũng là hai tỉnh có diện tích đậu tương liên tục tăng trong 2 năm từ
2004 đến 2006 Mặt khác cây đậu tương chưa hiệu quả bằng những cây rau màu khác nên những tỉnh như Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh chưa chú trọng đến cây trồng này trong cơ cấu vụ đông (hầu hết có diện tích chưa tới 1000 ha) Để tăng diện tích đậu tương, UBND tỉnh Bắc Ninh cũng đã có Quyết định số 2356 /QĐ-CT
ngày 08 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc hỗ trợ giống đậu tương
nguyên chủng để sản xuất giống xác nhận: 20ha cho sản xuất vụ đông trên địa bàn tỉnh Nhờ đó diện tích đậu tương đông của Bắc Ninh năm 2006 cũng tăng lên 1100 ha (năm
2005 chỉ có 638 ha), tuy nhiên đây vẫn là con số khiêm tốn so với các tỉnh như Hà Nam trên 7000 ha, đặc biệt, Hà Tây (cũ) có tới trên 30 ngàn ha chiếm tới trên 50% diện tích đậu tương đông của cả vùng ĐBSH Điều này là do từ năm 2000 đến nay nông dân và các nhà khoa học tại Hà Tây (cũ) luôn hoàn thiện các phương pháp trồng đậu tương bằng phương pháp kỹ thuật mới như gieo vãi hạt đậu tương trên đất ướt sau vụ lúa mùa, đưa cơ giới hóa vào sản xuất đậu tương đông Đến vụ đông 2006 Hà Tây (cũ) lại đi đầu trong việc cơ giới hóa quy trình trồng đậu tương gieo thẳng trên đất ướt kết hợp cắt phủ
rạ bằng máy; một máy với 2 lao động có thể gieo được 4 ha/ngày, độ lấp đồng đều và tiết kiệm giống hơn rất nhiều so với gieo bằng tay Nhờ vậy vụ đông 2006 diện tích đậu tương đông của Hà Tây đã lên tới trên 28,6 ngàn ha trong đó trên 60% diện tích đậu tương là gieo vãi
3 Phát triển cây đậu tương đông ở ĐBSH
- Tăng cường áp dụng các TBKH mới vào sản xuất: Xác định được bộ giống đậu tương có năng suất cao, có tính thích ứng rộng, có TGST trung và ngắn ngày, có khả năng chịu rét, chịu hạn và chống sâu bệnh tốt phù hợp với điều kiện vụ đông cho các địa phương trong vùng
- Tiếp tục hoàn thiện các quy trình kỹ thuật gieo trồng đậu tương đông cho các điều kiện khác nhau trên đất sau khi thu hoạch lúa mùa sớm (chân đất cao, chân vàn và đất trũng) phù hợp với thực tiễn sản xuất
- Tuyên truyền sâu rộng về hiệu quả của quy trình công nghệ sản xuất đậu tương đông Tăng cường mở các hội nghị đầu bờ, thăm quan mô hình trình diễn, phải đánh giá tổng kết và hoàn thiện quy trình sản xuất đậu tương đông đã thực hiện, từ đó rút ra kinh nghiệm cho từng vùng, cần chú ý coi trọng các khâu: Gieo hạt, làm đất, thu hoạch
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ N GHN
1 Kết luận
- Để phát triển đậu tương đông đạt kết quả tốt cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Phải chọn đúng và đủ giống đảm bảo chất lượng tốt Đảm bảo gieo trồng trong khung thời vụ
Trang 7T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
7
tốt nhất Phải bố trí ruộng chủ động nguồn nước tưới, tiêu hợp lý và phải có cán bộ kỹ thuật chỉ đạo theo dõi trong quá trình thực hiện
- Chi phí sản xuất sản phNm vụ đông hàng hóa còn khá cao dẫn đến người sản xuất không thu được lợi nhuận cao đặc biệt là chi phí nhân công và chi phí giống Một giải pháp đặt ra ở đây là có thể gộp thành những nhóm sản xuất nhỏ hoặc thành hợp tác xã lớn quy mô toàn xã để tổ chức sản xuất, đưa máy móc và nhằm giảm chi phí Đã có một số
mô hình người sản xuất thu gom đất của những hộ không sử dụng trồng cây vụ đông để tập trung trồng với quy mô lớn nhằm sử dụng máy móc giảm chi phí nhân công như một
số chủ trang trại trồng đậu tương Đông tại Phú Xuyên, Thanh Oai, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Phúc Thọ, Ba Vì - Hà Tây (cũ) đang làm với quy mô bình quân 7-11 ha đậu tương/hộ Đồng thời, phải xây dựng được vùng sản xuất hạt giống đậu tương đảm bảo tiêu chuNn, chất lượng để phục vụ cho sản xuất
- N ăng suất đậu tương còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết sau khi thu hoạch bởi nếu không có nắng không phơi được sẽ gây mốc, giảm sản lượng Giải pháp đặt ra ở đây
là đưa vào lò sấy (như sấy long nhãn) thì mới giải quyết được sản lượng lớn đậu tương nếu sản xuất ra N hư vậy giải pháp thị trường cho đậu tương sau khi thu hoạch
là gắn với các cơ sở chế biến như một số mô hình tại Mỹ Đức đang áp dụng Làm thế
sẽ nâng cao sản lượng đậu tương sau thu hoạch và góp phần tăng tỷ lệ chế biến sản phNm nông nghiệp giúp người nông dân tăng hiệu quả trồng đậu tương hơn
2 Đề nghị
+ N hà nước đầu tư tập trung và có chính sách nhằm kích cầu cây đậu tương phát triển trên 2 phương diện: Mở rộng diện tích và tăng năng suất
+ Cần hỗ trợ các địa phương về trang thiết bị máy móc công nghệ phục vụ sản xuất, đặc biệt cho đậu tương đông Mặt khác, có cơ chế chính sách khuyến khích phát triển cây đậu tương trong nước
+ Cần đầu tư kinh phí hơn nữa cho công tác nghiên cứu khoa học về chọn tạo giống mới và hoàn thiện các quy trình sản xuất cây đậu tương đạt năng suất cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 guyễn Tấn Hinh, guyễn Văn Lâm, Dương Xuân Tú và CTV., 2004 Kết quả nghiên
cứu chọn tạo giống đậu tương Đ9804 Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2004
2 Tổng cục Thống kê Niên giám thống kê 2007 NXB Thống kê, 2008
3 Đào Thế Anh, 2008 Nghiên cứu, đánh giá tình hình sản xuất và thị trường cây vụ
đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài: “Nghiên cứu phát triển cây vụ đông hàng hoá ở Đồng bằng sông Hồng” năm 2007
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8
4 Phạm Đồng Quảng, Lê Quý Tường và CTV., 2005 Kết quả điều tra giống cây trồng
trong sản xuất vùng ĐBSH năm 2003-2004 Tuyển tập Báo cáo Hội nghị giao ban về KHCN vùng ĐBSH, Hải Dương, 4/2005
@gười phản biện: PGS TS @guyễn Văn Viết