1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chính sách kích cầu, kinh nghiệm cho phát triển kinh tế, việt nam

6 585 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách kích cầu, kinh nghiệm cho phát triển kinh tế việt nam
Tác giả Đỗ Quang Quý
Trường học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 296,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU, KINH NGHIỆM CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM Đỗ Quang Quý Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái nguyên TÓM TẮT Kinh nghiệm kích cầu cho phát

Trang 1

CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU, KINH NGHIỆM CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ

VIỆT NAM

Đỗ Quang Quý

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái nguyên

TÓM TẮT

Kinh nghiệm kích cầu cho phát triển kinh tế Việt Nam là nghiên cứu lý thuyết tổng cầu và kinh nghiệm kích cầu của các nước Trung Quốc, Nhật Bản cho phát triển kinh tế Việt Nam Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách kích cầu của Trung Quốc đạt hiệu quả hơn chính sách kích cầu của Nhật Bản Vì thế, giải pháp cho kích cầu kinh tế Việt Nam hiện nay: Thứ nhất, Chính phủ Việt

Nam cần phải sử dụng mềm dẻo chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ Thứ hai, Chính phủ Việt Nam không nên thả nổi tỷ giá hối đoái với các đồng tiền mạnh Thứ ba, giải quyết hài hoà tỷ giá giữa

vàng và đô la phù hợp với mặt bằng chung của thế giới để tránh tình trạng dự trữ vàng trong dân

Từ khoá : Lý thuyết ổng cầu; kinh nghiệm kích cầu; giải pháp kích cầu chính sách tài khoá; chính

sách tiền tệ

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam

đã can thiệp nhiều chính sách thúc đẩy kinh tế

tăng trưởng và phát triển tương đối ổn định

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, kinh tế

toàn cầu đang suy giảm, Chính phủ Việt Nam

cần có những chính sách linh hoạt nhằm hạn

chế ảnh hưởng suy thoái và duy trì cho nền

kinh tế tăng trưởng ổn định Giải quyết vấn đề

này, chúng tôi giới thiệu chính sách kích cầu,

Kinh nghiệm cho phát triển kinh tế Việt Nam

CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU

Tổng cầu

Nghiên cứu lý thuyết tổng cầu, ta thấy Tổng

cầu là tổng chi tiêu dự kiến của các tác nhân

về các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế

tương ứng với mức thu nhập trong một thời

kỳ (thường là một năm) Hàm tổng cầu có

dạng AD = C + I + G + X - IM Hàm tổng cầu

tương ứng với mức sản lượng sản xuất ra

trong cùng thời kỳ Y =C +I +G +X +

[MPC (1 - t) - MPM]Y Hàm tổng cầu liên

quan tới các vấn đề cơ bản: 1, Các tác nhân

trong nền kinh tế Chi tiêu của các tác nhân

trong nền kinh tế sẽ làm tăng tổng cầu dẫn tới

Đỗ Quang Quý, Tel: 0912290326

tăng sản lượng làm tăng GDP 2, Số nhân, có tác dụng khuếch đại sản.lượng lên nhiều lần từ những chi tiêu của các tác nhân Trong thời kỳ suy thoái, số nhân rất có tác dụng để tăng sản lượng nhanh chóng tới sản lượng tiềm năng

Chính sách kích cầu

Chính sách kích cầu là Chính phủ áp dụng các biện pháp kiểu "mềm" bằng các chính sách tài khoá mở rộng và nới lỏng cung tiền để điều chỉnh nền kinh tế

KINH NGHIỆM NHỮNG CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU

Của thế giới

Kinh nghiệm kích cầu của Trung Quốc Tình hình kinh tế vĩ mô của Trung Quốc trước năm 1997

Trong 20 năm qua, kể từ khi bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế vào những năm 1978, Trung Quốc đã đạt được mức tăng trưởng kinh

tế (GDP) cao, trung bình trên 10%/năm Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc bắt đầu chậm lại, từ mức 14,7% năm 1992 đã giảm xuống 7,3% năm 1999 (bảng 1)

Chính sách tài khoá

Trang 2

Chỉ trong 4 năm kể từ năm 1998 đến năm

2001 Chính phủ Trung Quốc thực hiện nhiều

chương trình trọn gói kích cầu, các chương

trình này được tài trợ bằng cách phát hành trái

phiếu xây dựng, đặc biệt với hơn 500 tỷ nhân

dân tệ (năm 1998: 100 tỷ, …và năm 2001:

150 tỷ NDT) Các khoản chi tiêu của Chính

phủ Trung Quốc chủ yếu được sử dụng đẻ

xây dựng kết cấu hạ tầng, cải cách hệ thống

an sinh xã hội, và phát triển các vùng lạc hậu

về kinh tế ở miền Tây

Chính sách tiền tệ

Trong giai đoạn 1993-1996, do lạm phát ở

Trung quốc cao, Chính phủ Trung Quốc đã

thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Nhờ

vậy, việc ổn định giá cả đạt được vào năm

1997 và tỷ lệ lạm phát giảm xuống 0,8% Nhưng từ đầu năm 1997, những dấu hiệu suy giảm tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng và

có nguồn góc từ phía cầu (tổng cầu nội địa đóng góp cho tăng trưởng ngày càng giảm (Bảng 2.1), Chính phủ Trung Quốc quyết định thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để kích cầu Các biện pháp của chính sách tiền tệ cuối năm 1997 và đầu năm 1998 là:

1 Loại bỏ các trần đối với các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại được phép mở rộng tín dụng miễn là tuân thủ các nguyên tắc một cách thận trọng

Bảng 1 Động thái một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Trung Quốc

đóng góp cho GDP, trong đó:

Nguồn: Liu Shucheng et la (2002), Niên giám thống kê Trung Quốc 2002

Bảng 2 Động thái của các cấu thành tổng cầu ở Nhật Bản (%)

1.Tiêu dùng của

hộ gia đình 3.56 4.4 2.7 2.6 1.8 2.6 1.4 2.4 0.8 0.1 1.2 0.6

2 Tiêu dùng của

3 Đầu tư 5.47 8.1 2.6 -3.7 -3.6 -2.1 2.4 7.6 0.8 -6.0 -2.1 3.1 Đầu tư của khu

vực tư nhân 7.09 8.9 2.5 -8.5 -9.3 -4.6 3.3 7.8 5.2 -7.3 -4.9 8.5 Đầu tư của khu

vực công 0.95 5.2 3.0 15.0 14.4 4.1 0.4 7.3 -9.6 -2.6 5.5 -9.6

- Doanh nghiệp

Nhà nước -2.24 11.2 0.7 22.3 10.3 6.9 3.8 3 2 -3.2 -8.0 -0.8 -8.2

- Chính phủ 2.47 3.3 3.8 12.6 15.8 3.1 -0.8 8.8 -11.9 -0.4 7.7 -10.0

4 Xuất khẩu

ròng 6.36 6.8 31.1 21.8 4 2 -9.4 -26.8 -30.8 101.7 18.0 -4.4 23.1 Xuất khẩu 5.43 7.0 4.1 3.9 -0.1 3.5 4.1 6.5 11.2 -2.3 1.4 12.4

Trang 3

Nhập khẩu 5.95 7.0 -1.1 -0.7 -1.4 7.8 12.8 13.2 1.2 -6.8 3.0 9.6

Tổng cầu trong

Cầu của khu vực

tư nhân 4.55 5.8 2.6 -1.0 -1.5 0.6 1.9 3.8 2.0 -2.0 -0.4 2.6 Cầu của khu vực

Nguồn: “Annual report on NA of 2002”, và www.esai.cao.go.jp/jp/sna

2 Yêu cầu về dự trữ quá mức bị loại bỏ; các

ngân hàng thương mại được phép sử dụng tiền

dự trữ tại ngân hàng Trung ương để thanh toán

3 Yêu cầu dự trữ giảm, và do vậy lãi suất dự

trữ và lãi suất dự trữ quá mức giảm theo

4 Hạ lãi cho vay lại của ngân hàng Trung

ương đối với ngân hàng Thương mại

Cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ, ngân

hàng Trung ương Trung Quốc đã cắt giảm lãi

suất nhiều lần những năm cuối 1990, đặc biệt

trong năm 1998 lãi suất đã được cắt giảm 3

lần Do sử dụng chính sách tài khoá nới lỏng

để kích cầu, thâm hụt ngân sách của Trung

Quốc đã tăng từ 0,78% GDP năm 1997 lên

2,8% GDP năm 2000 và 2,58% năm 2001,

những vẫn thấp hơn mức quốc tế chấp nhận

(3%GDP)

Kinh nghiệm kích cầu của Nhật Bản

Tình hình kinh tế vĩ mô của Nhật Bản trong

thập kỷ 1990 Số liệu thống kê cho thấy nền

kinh tế Nhật Bản bắt đầu suy giảm từ năm

1991 Năm 1990, GDP thực tăng 4,1%,

nhưng sau đó giảm xuống còn 0,4% năm

1993; năm 1996 tăng lên 3,5%, nhưng đến

năm 1997, giảm xuống còn 1,8% và năm

1998 nền kinh tế có mức tăng trưởng âm

-1,1% (Bảng 2)

Để đối phó lại sự suy thoái của nền kinh tế,

Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện hai nhóm

chính sách cơ bản: chính sách tài khoá và

chính sách tiền tệ trong suốt thập kỷ 90

Chính sách tài khoá

Từ năm 1992 tới năm 2000, Chính phủ Nhật

Bản đã lần lượt ban hành 11 chương trình

trọn gói với tổng số tiền là 135,4 ngàn tỷ Yên

Tuy nhiên, không có chương trình tài khoá

trọn gói kích cầu nào thực sự thành công

trong việc kéo nền kinh tế Nhật Bản ra khỏi

vực sâu của sự trì trệ, ngoại trừ chương trình trọn gói thực hiện vào tháng 9 năm 1995 đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế cao (đạt 3,5%) trong năm 1996

Chính sách tiền tệ

Nhận thấy sự yếu kém của nền kinh tế, cùng với những chính sách kích cầu bằng ngân sách Chính phủ, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã quyết định cắt giảm lãi suất chiết khấu chính thức nhiều lần Cụ thể, trong vòng từ tháng 7 năm 1991 đến tháng 9 năm 1995 lãi suất chiết khấu đã giảm nhiều lần từ 6,00% xuống còn 0,5% Kết quả của chính sách nới lỏng tiền tệ cùng với chính sách kích cầu bằng ngân sách dành cho công trình công cộng đã góp phần quan trọng giúp Nhật Bản đạt tốc

độ tăng trưởng GDP đạt ở mức 3,5% vào năm 1996

Tuy nhiên, từ quý 2 năm 1997, nền kinh tế Nhật Bản lại bắt đầu tăng trưởng chậm Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á lại diễn ra đúng vào thời điểm này Nền kinh tế Nhật Bản lại rơi vào “vòng suy thoái kinh tế luẩn quẩn” Cuối năm 1998 Chính phủ Nhật Bản buộc phải tiếp tục sử dụng chính sách nới lỏng tài khoá cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ Lãi suất tiếp tục được hạ từ 0,5% xuống còn 0,25% (9/9/1998) và xuống mức 0% (12/2/1999) Song, kinh tế Nhật Bản vẫn rơi vào tình trạng đình trệ và hệ thống ngân hàng tiếp tục gánh chịu những vấn đề nợ xấu

Lo lắng với tình trạng giảm phát của nền kinh

tế, BOJ đã thôi áp dụng chính sách lãi suất bằng 0% vào tháng 8 năm 2000

Đánh giá kinh nghiệm kích cầu của Nhật Bản

và Trung Quốc

Từ kết quả kích cầu của Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy: Trung Quốc đã thành công hơn Nhật Bản bởi những lý do: Chính phủ

Trang 4

Trung Quốc đã linh hoạt vận dụng chính sách

tiền tệ và tài khoá trong việc kích cầu; Trung

Quốc có điều kiện kinh tế vĩ mô tốt hơn; do

Trung Quốc đã k?t h?p t?t kích cầu với cải

cách cơ cấu; người dân Trung Quốc có thu

nhập thấp hơn Nhật Bản song do mức tăng

trưởng kinh tế tương đối cao, thu nhập tuy

thấp song được cải thiện, có niềm tin vào

tương lai nên tăng tiêu dùng lên đáng kể; thị

trường Trung Quốc là thị trường lớn, mới, có

nhiều cơ hội đầu tư, nên việc phản hồi đối với

chính sách kích cầu nhanh hơn Cũn Nhật Bản

đã không đạt hiệu quả cao do không thực hiện

được với dung lượng chi tiêu của ngân sách

cần thiết như dự kiến

Những chính sách kích cầu của Việt Nam

đã thực hiện

Chính sách tài khoá

- Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu

tư phát triển Trong lĩnh vực này, Chính phủ

hỗ trợ các doanh nghiệp: miễn giảm thuế

những năm đầu, cho vay lãi suất thấp giúp

các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển các

ngành, các khu vực Chính phủ đã bãi bỏ thuế

nông nghiệp (từ năm 2003), giảm thuế suất

đối với những nông sản xuất khẩu (tuỳ từng

loại nông sản xuất khẩu, thuế suất áp dụng từ

0% - 5%)

- Thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một cơ chế

thông thoáng bằng việc kết hợp các chính

sách: thuế quan ưu đãi, cho thuê đất ổn định

lâu dài cùng với các thủ tục hành chính thuận

lợi giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài yên

tâm đầu tư phát triển

+ Phát triển các loại hình doanh nghiệp (từ nguồn vốn FDI) đã tác động mạnh mẽ đến phát triển nông nghiệp nông thôn, đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá

+ Từ nguồn vốn ODA, nhiều chương trình, dự

án được triển khai cho phát triển nông nghiệp nông thôn trong nhiều lĩnh vực: xây dựng kết cấu hạ tầng; đào tạo, chuyển giao công nghệ Đồng thời từ các chương trình, dự án đã giúp

họ về nguồn nước, lưới điện, đường giao thông nâng cao thu nhập cho họ, cải thiện đời sống, thúc đẩy nông thôn mới phát triển

- Đầu tư trực tiếp từ nguồn vốn ngân sách

Chính phủ trợ giúp ngân sách cho các vùng, ngành, địa phương thông qua các chương trình, dự án: PAM, 120, 327, 133, 135 [1]:

Mở và nâng cấp đường giao thông nông thôn; chương trình phát triển hệ thống lưới điện, kiên cố hoá kênh mương[1]; hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ nông sản [2]

Chính sách tiền tệ

Từ năm 1999 đến nay (tr? nam 2008), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện chính sách mở rộng cung tiền:

- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng: Quỹ tín dụng nhân dân đối với đồng Việt Nam giảm từ 5% (tháng 3/1999) xuống 1% (tháng 1/2002) đối với đồng đola

Mỹ tăng từ 5% (tháng 3/1999) lên 10% (tháng 1/2002); Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với đồng Việt Nam giảm từ 7% (3/1999) xuống 2% (1/2002), đối với đồng đola Mỹ tăng từ 5% (3/1999) lên 10% (1/2002)[2]

Bảng 3 Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2007 Năm Tổng số N Lâm nghiệp Công nghiệp và xây dựng TM, Dịch vụ

Trang 5

1996 213833 53577 67016 93240

Nguồn: [6]

- Thay đổi lãi suất cho vay do Ngân hàng Nhà

nước ấn định cho các tổ chức tín dụng: khu

vực nông thôn, giảm từ 1,05% (8/1999)

xuống 0,6% (7/2002); Quỹ tín dụng nông

thôn giảm từ 1,5% (tháng 8/1999) xuống

0,6% (tháng 7/2002)

- Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi: cho hộ

nông dân vay vốn, đồng thời Chính phủ Việt

Nam còn kết hợp với các chính sách xã hội,

chính sách đất đai [4],[5]

Kết quả thực thi chính sách kích cầu của

Việt Nam, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng ổn

định nhiều năm (bảng 2.3)

NHỮNG GIẢI PHÁP KÍCH CẦU CHO

PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

Từ những kinh nghiệm thực tế chính sách

kích cầu của các nước cũng như của Việt

Nam đã phân tích ở trên, theo chúng tôi,

Chính phủ Việt Nam cần thực hiện một số

giải pháp sau: Thứ nhất, thực hiện chính sách

kích cầu bằng công cụ tài khoá mở rộng và

nới lỏng cung tiền Tuy nhiên, phải kết hợp

hết sức linh hoạt giữa chính sách tài khoá với

chính sách tiền tệ Thứ hai, Chính phủ Việt

Nam không nên thả nổi tỷ giá hối đoái với các

đồng tiền mạnh Trước mắt nên tăng giá một

số đồng tiền mạnh d? tang xu?t kh?u, gi?m

nh?p kh?u Thứ ba, giải quyết hài hoà tỷ giá

giữa vàng và đô la phù hợp với mặt bằng chung của thế giới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, QĐ 135/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/1998

[2] Đề án báo cáo Chính phủ: "Phát huy nội lực, những khả năng đầu tư, khuyến khích người sản xuất và nâng cao tiêu dùng hợp lý" ngày 28,

29/4/1999

[3] Đại học KTQD (2005), Nguyên lý kinh tế học

vĩ mô, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội

[4] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (2002), Luật đất đai 1993, Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội

[5] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (2004), Luật đất đai, NXB Bản đồ,

Hà nội

[6] Trang Web: http://WWW.google.com.vn/tong cuc thong ke

[7] Tổng cục Thống kê (2004), Niên giám thống kê (1990 - 2003), Nxb Thống kê, Hà Nội

(1990 - 2002)

Trang 6

SUMMARY

THE EXPERIENCE TO ROUSE NEED FOR ECONOMICS DEVELOPMENT OF

VIETNAM

Do Quang Quy

Economics and Business Administration - Thai Nguyen University

The experience to rouse need for economics development of Vietnam is researching of aggregate demand theory and researching experience to rouse need of China, Japan for economics development of Vietnam Researching results found out: policies to rouse need of China be effect more than policies to rouse need of Japan Therefore, solutions to rouse need for economics development of Vietnam in now: the first, Vietnam Government must use flexible of financial year policy and currency policy The second, Vietnam Government had better not to float rate compound world of money exchange The third, Vietnam

Government must solve harmonious of gold and dollar rate

Key word: Aggregate demand theory; the experience to rouse need; solutions to rouse need; financial year policy;

currency policy

Ngày đăng: 14/12/2012, 16:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Động thái của các cấu thành tổng cầu ở Nhật Bản (%) - Chính sách kích cầu, kinh nghiệm cho phát triển kinh tế, việt nam
Bảng 2. Động thái của các cấu thành tổng cầu ở Nhật Bản (%) (Trang 2)
Bảng 1. Động thái một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Trung Quốc - Chính sách kích cầu, kinh nghiệm cho phát triển kinh tế, việt nam
Bảng 1. Động thái một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Trung Quốc (Trang 2)
Bảng 3. Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2007  Năm  Tổng số  N. Lâm nghiệp  Công nghiệp và xây dựng  TM, Dịch vụ - Chính sách kích cầu, kinh nghiệm cho phát triển kinh tế, việt nam
Bảng 3. Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2007 Năm Tổng số N. Lâm nghiệp Công nghiệp và xây dựng TM, Dịch vụ (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w