1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện

132 453 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Tác giả Mai Thanh Thảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thương mại
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 808,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thông tin di động là một lĩnh vực còn khá non trẻ so với các ngành nghề

và các lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân, thông tin di động mới chỉ đượcđưa vào khai thác tại Việt Nam từ hơn một chục năm trở lại đây và VMS vớimạng dịch vụ MobiFone là đơn vị đầu tiên kinh doanh trong lĩnh vực này Hơnmột thập kỷ đã đi qua, từ những bỡ ngỡ ban đầu cho đến nay VMS đã thực sựtrưởng thành và tạo dựng được một vị thế lớn trên thị trường thông tin di độngViệt Nam, hình ảnh một MobiFone chất lượng tốt nhất với phương châm “Mọilúc, mọi nơi” đã được cả nước biết đến VMS – MobiFone đã và đang đóng gópvào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng đất nước bằng nhữngthành công của chính mình, hàng năm Công ty nộp ngân sách nhà nước hàngtrăm, hàng nghìn tỷ đồng và con số này sẽ còn được tiếp tục tăng lên trongnhững năm tiếp theo

Như chúng ta đã biết, ngành viễn thông nói chung mà trong đó có thôngtin di động di động nói riêng là một ngành tuy khá mới mẻ nhưng lại có sức hấpdẫn rất lớn vì nó đem lại lợi nhuận siêu ngạch Thị trường thông tin di động ViệtNam được đánh giá là một thị trường thông tin di động đầy tiềm năng với số dânlên đến hơn 80 triệu người, đây là nhân tố quan trọng có tác dụng thúc đẩy sự gianhập của các nhà khai thác viễn thông khác trên thị trường thông tin di độngTrong thời gian tới, với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống xã hội, nhu cầu sửdụng dịch vụ thông tin di động sẽ ngày càng tăng lên

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất làm cho tínhchất xã hội hóa của nó ngày càng được thể hiện với mức độ ngày càng sâu sắc và

Trang 2

phạm vi ảnh hưởng ngày càng lớn Quá trình này làm cho toàn cầu hóa và hộinhập trở thành một xu thế tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia, và ViệtNam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó Việt Nam đã tham gia vào các tổchức kinh tế trên thế giới, từ phạm vi khu vực cho đến châu lục và tiến tới làtham gia tổ chức Thương mại thế giới WTO Để hội nhập kinh tế quốc tế, nước

ta đã thực hiện nhiều định chế và các cam kết quốc tế trên rất nhiều lĩnh vựctrong đó có lĩnh vực về dịch vụ thông tin di động

Trong bối cảnh của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì thị trường thông tin di động di động ViệtNam không chỉ có sự tham gia của các nhà khai thác trong nước mà còn cónhững nhà khai thác viễn thông khác từ khắp nơi trên thế giới Đối mặt với xuthế hội nhập đang đến gần, không chỉ VMS mà các doanh nghiệp khác như GPC,Viettel, Sfone sẽ gặp phải những thách thức và những cơ hội vô cùng to lớn, làmsao để có thể đứng vững trong cạnh tranh, làm sao để khắc phục được những vấn

đề còn tồn tại và làm sao để khai thác tốt những cơ hội mà hội nhập đem lại làmột bài toán rất khó đối với tất cả các doanh nghiệp Đứng trước tình hình đó,trong thời gian tới Công ty cần phải xác địnhh cho mình một hướng đi đúng đắnđắn để có thể củng cố, mở rộng và phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin diđộng một cách bền vững, liên tục

Xuất phát từ những yêu cầu trên và xuất phát từ thực trạng sản xuất kinhdoanh dịch vụ thông tin di động tại Công ty thông tin di động VMS – MobiFone,

em đã chọn đề tài “Phương hướng và giải pháp phát triển kinh doanh dịch

vụ thông tin di động tại Công ty thông tin di động VMS – MobiFone” làm

đề tài cho chuyên đề thực tập của mình

Trang 3

Nội dung chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương I: Phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Chương II: Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động hiện nay ở VMS – MobiFone.

Chương III: Giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động

ở VMS – MobiFone.

Trên cơ sở đánh giá tình hình phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin diđộng của Công ty, em mong đóng góp một phần nhỏ bé của mình nhằm pháttriển hơn nữa hoạt động kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Công ty thôngqua một số giải pháp cụ thể

Em xin chân thành cảm ơn chỉ bảo tận tình của GS.TS Đặng Đình Đào –người đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này, đồng thời em cũng xin chân thànhcảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, chị ở Phòng Kế hoạch – Bán hàng &Marketing Công ty thông tin di động VMS – MobiFone nơi em thực tập

Trang 4

1 Bản chất và tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế

1.1 Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện nhiều trong vàithập kỉ gần đây, nhưng cho đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau vềhội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên có một khái niệm tương đối phổ biến đượcnhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắnkết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác quốc tế và toàn cầu,trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quiđịnh chung của khối

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình các quốc gia thựchiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tàichính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư và cáchoạt động kinh tế đối ngoại khác

Trang 5

Hội nhập kinh tế là một quá trình hợp tác có đi có lại vì ở đó các quốc gia

sẽ giành cho nhau những ưu đãi nhất định tùy theo mức độ mở cửa, mức độ thamgia hợp tác và tùy thuộc vào từng tổ chức kinh tế quốc tế Cơ sở của những ưuđãi này chính là sự tôn trọng, chấp nhận các thông lệ và tập quán quốc tế của cácquốc gia tham gia

Trên đây chỉ là một cách nhìn nhận về hội nhập kinh tế quốc tế, dưới mỗigiác độ khác nhau và dưới con mắt của các nhà phân tích khác nhau thì hội nhậplại được định nghĩa theo những khái niệm riêng Nhưng cho dù được nghiên cứudưới giác độ nào thì về mặt bản chất là vẫn như nhau Bản chất của hội nhậpkinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số điểm chủ yếu sau:

 Hội nhập kinh tế thì mỗi quốc gia vẫn tồn tại với tư cách là một quốc giađộc lập tự chủ, tự nguyện lựa chọn các lĩnh vực và tổ chức thích hợp đểhội nhập.Tuy nhiên khi đã gia nhập thì phải tuân thủ các nguyên tắcchung, phải thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của một thành viên, phải điềuchỉnh các chính sách của mình cho phù hợp với luật chơi chung Chính vìvậy, hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó, phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới Nó vừa là quá trìnhhợp tác để phát triển, nhưng cũng vừa là quá trình đấu tranh phức tạp nhất

là đối với các nước đang phát triển

 Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần cácrảo cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóakinh tế Các nước sẽ tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mà có các

lộ trình cắt giảm các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, mở cửa thị trườngcho nước ngoài đầu tư khác nhau Các nước đang phát triển và kém phát

Trang 6

triển sẽ có thời gian vừa đủ cho việc giảm và xóa bỏ các hàng rào vì họcần phải nâng cao nội lực của nền kinh tế, tăng sức cạnh tranh của hànghóa dịch vụ để có thể chống lại áp lực cạnh tranh của các nước khác trướckhi mở cửa thị trường.

 Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi nước phải mở cửa nền kinh tế, thựchiện tự do hóa thương mại và đầu tư Chính quá trình này đã tạo ra sứccạnh tranh mạnh mẽ trên cả thị trường trong nước lẫn nước ngoài Do đó

mà hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi, là động cơthúc đẩy các doanh nghiệp nói riêng và công cuộc cải cách đổi mới ở cácquốc gia nói chung, một mặt nó cũng buộc các doanh nghiệp phải khôngngừng đổi mới trong phương thức sản xuất kinh doanh để nâng cao sứccạnh tranh trên thị trường, và nó cũng là sức ép khá nặng đối với mỗi quốcgia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, pháp luật mà đặc biệt

là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô

 Hội nhập kinh tế quốc tế chính là một nhân tố quan trọng có tác dụng khơithông dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thịtrường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý

1.2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế

Như chúng ta đã biết, lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất càng pháttriển thì tính chất xã hội hóa của nó càng được thể hiện với mức độ ngày càngsâu sắc và phạm vi ảnh hưởng thì ngày càng rộng lớn Nếu như trước đây tínhchất xã hội hóa của quá trình sản xuất mới chỉ thể hiện chủ yếu trong phạm vibiên giới của từng nước làm hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia thì ngàynay với sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất nó đã lan tỏa đến hầu hết các

Trang 7

khu vực và phạm vi trên toàn thế giới Cùng với xu thế đó, tự do hóa thương mạiđang trở thành một tất yếu khách quan và là một nhân tố vô cùng quan trọng cótác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của các quốc gia.

Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều định hướngphát triển của mình theo hướng mở cửa, các chính sách thương mại, đầu tư đềutiến tới việc giảm và xóa bỏ hoàn toàn các rào cản, tạo điều kiện tối đa cho việc

di chuyển nguồn lực, hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi và thôngthoáng hơn

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan vì nóphù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động quốc tế

và sự phát triển của xã hội nói chung Nước nào hội nhập, nước đó vừa có điềukiện khai thác nội lực một cách có hiệu quả, vừa có điều kiện tận dụng tối đa yếu

tố ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội của chính quốc gia mình Nước nàokhông hội nhập, không thay đổi với xu thế chung thì nước đó sẽ tụt hậu và khôngthể nào phát triển được trong tình hình mới

Như vậy mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập để phát triển, trong bốicảnh cạnh tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệ trong và ngoài khu vực

Về lâu dài cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn đề quốc gia đều phải tínhđến và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu để đảm bảo được lợi ích pháttriển tối ưu của quốc gia Tuy nhiên để hội nhập một cách có hiệu quả thì cầnphải có quan điểm, nhận thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sách phù hợp đểtránh những trường hợp như hội nhập chậm mà hậu quả là sự tụt hậu hay hộinhập một cách vội vã, không phát huy được nội lực, không chủ động hội nhậpcũng phải trả giá rất cao Tiến trình hội nhập của mỗi nước phải thật hợp lý nhằm

Trang 8

đảm bảo tận dụng tốt cơ hội, giảm thách thức, hạn chế rủi ro trong quá trình pháttriển đi lên.

2 Quan điểm, nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập kinh tế quốc tế

Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, khẳng định tầm quan trọng của hộinhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh chủđộng hội nhập theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế trong nhiều Đại hội và Nghị quyết

Cụ thể: Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định chủ trương: “ Phát huycao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững.” Và để thực hiệnchủ trương đó, Bộ Chính trị đã đưa ra Nghị quyết số 07-NQ/TW (ngày27/11/2001) về hội nhập kinh tế quốc tế, đây là một Nghị quyết rất quan trọngtrong việc định hướng mở cửa, hội nhập cho nền kinh tế nước ta trong thời kìmới

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị thế giới,với tầm nhìn chiến lược, Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: “xây dựng mộtnền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.Nghị quyết 04 của Ban chấp hành TW đã nêu rõ: “tích cực và chủ động thâmnhập và mở rộng thị trường quốc tế”…Tiếp đến, trong báo cáo Chính trị Đại hộiĐảng lần thứ IX đã nêu rõ quan điểm của Đảng: “Chủ động hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợptác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi

Trang 9

trường” Đây là một chủ trương lớn, kịp thời trong chính sách đối ngoại, hộinhập của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới.

Như vậy quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là chủ động hội nhập, coiđây là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, tham gia sâu vàophân công hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để có thể kết hợp hiệu quả mọi nguồnlực trong nước và nước ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển,nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế Vấn đề cần quan tâm ở đây làcần chọn tiến trình hội nhập ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quá trình pháttriển của ta Đảng và Nhà nước cũng đã có sự nhận thức đúng đắn về tính tất yếukhách quan phải hội nhập kinh tế quốc tế và về những cơ hội cũng như tháchthức mà hội nhập đem đến cho Việt Nam khi hòa vào dòng chảy chung đó

Có thể nói, với quan điểm và nhận thức trên của Đảng và Nhà nước thìvấn đề đặt ra hiện nay đối với nước ta không phải là có hội nhập hay không mà

là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế một cách có hiệu quả, đảm bảo đượclợi ích của quốc gia, dân tộc, nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch

vụ nói riêng và của nền kinh tế nói chung, thực hiện được thắng lợi các mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập, làm sao để sau khi hội nhậpthế và lực của ta trên trường quốc tế phải được nâng lên

3 Xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thông tin di động

Một trong những nội dung cơ bản mà Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đề ra

đó là mở rộng quan hệ đối ngoại: “Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độclập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiềumặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực”

Trang 10

Thực hiện chủ trương hội nhập do Đảng và Nhà nước đề ra, Việt Nam đãđưa ra cam kết về 5 dịch vụ viễn thông trong ASEAN, theo các cam kết này thìViệt Nam sẽ phải cho các công ty nước ngoài được tham gia vào lĩnh vực cungcấp dịch vụ viễn thông dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Việt Nam cũng đã tham gia cáccam kết trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông với mức độ sâu và rộng hơnnhiều so với các cam kết trong ASEAN Theo các cam kết này sau 2 năm Hiệpđịnh có hiệu lực thì phía Mỹ được phép tham gia trong các liên doanh cung cấpcác dịch vụ giá trị gia tăng với mức vốn góp tối đa là 50% vốn pháp định và 4đến 6 năm đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản với mức vốn góp tối đa là 49%vốn pháp định

Tham gia các cam kết trong lĩnh vực thông tin di động ở ASEAN và trongHiệp định thương mại Việt – Mỹ là hai sự kiện khá quan trọng đối với ngànhViễn thông nước ta Ngoài ra chúng ta còn kí kết rất nhiều hiệp định songphương, đa phương với nhiều nước khác trong việc đầu tư, chuyển vùng quốc tế,hợp tác đào tạo…

4 Sự cần thiết phải phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin

di động ở nước ta

Viễn thông là một ngành dịch vụ siêu lợi nhuận, và dịch vụ thông tin diđộng là một sản phẩm viễn thông, hơn thế nữa nó lại là sản phẩm chiếm tỷ trọngdoanh thu được coi vào loại lớn nhất Việc phát triển kinh doanh dịch vụ thôngtin di động trong thời gian qua đã đánh dấu những bước tiến đáng kể của ngànhViễn thông, góp phần quan trọng đưa Viễn thông Việt Nam trở thành ngành dịch

vụ mũi nhọn, sánh ngang với các nước trong khu vực và thế giới Do đó việc

Trang 11

phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động là yêu cầu cần thiết trước tiên bởichính vai trò và những đóng góp của nó vào ngành Viễn thông nói riêng và sựphát triển kinh tế nói chung.

Như đã nói ở trên, dịch vụ thông tin di động là một sản phẩm của ngànhViễn thông, do đó mà trong quá trình hội nhập nó cũng chịu những ảnh hưởng vànhững tác động của tiến trình này Dưới tác động của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, việc phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động là một sự cần thiếtkhách quan, điều này được thể hiện ở một số điểm sau:

4.1 Xuất phát từ yêu cầu của phát triển kinh tế và của đời sống xã hội

Có thể nói, Viễn thông và Internet là một phần rất quan trọng của cơ sở hạtầng thông tin quốc gia, do đó muốn xây dựng cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện chocác ngành kinh tế khác phát triển thì phải phát triển Viễn thông Nó chính là mộtđộng lực quan trọng giúp cho việc phát triển nhanh và hiện đại các ngành kinh

tế, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình hội nhập của đất nước ta trong một thế kỉ mới– thế kỉ của sự bùng nổ khoa học và công nghệ thông tin Trong tình hình mớinày, nếu chúng ta không phát triển công nghệ thông tin và các ứng dụng của nóthì các công nghệ khác sẽ trở nên lạc hậu, kém hiệu quả và dễ dàng bị thay thế,điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất kinh doanh và giảm nhịp độcủa tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Hiện nay, đời sống xã hội của nước ta nói riêng và của thế giới nói chungđang có những bước thay đổi lớn chính bởi sự phát triển không ngừng của cáchmạng công nghệ Hơn thế nữa, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang mang lại mộtsắc thái mới cho toàn thế giới, nó đang biến thế giới dần trở thành một thị trườngthống nhất trên cơ sở sự mở cửa và quan hệ thân thiện, hợp tác giữa các quốc gia

Trang 12

tham gia thị trường đó Sự phát triển của mỗi một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào

độ mở cửa và mức độ tham gia thị trường chung này Hội nhập kinh tế quốc tếđem lại những cơ hội quan trọng và những thách thức cũng vô cùng khó khăn màmuốn nắm bắt được nó chúng ta phải có một hệ thống thông tin thật nhanh nhạy

và hiệu quả Như vậy, Viễn thông và Internet là một phương tiện thông tin quantrọng giúp chúng ta tiếp cận với thị trường thế giới một cách chủ động hơn

Rõ ràng, trong quá trình hội nhập, muốn thực hiện được “chủ động hộinhập” theo quan điểm của Đảng và Nhà nước thì công nghệ thông tin nói chung

và viễn thông nói riêng phải đi trước một bước Nó chính là cơ sở phát triển củamột nền kinh tế hiện đại và là phương tiện quan trọng giúp chúng ta nắm bắtđược vận hội một cách nhanh chóng, kịp thời

Phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động là cần thiết không phải chỉ

vì sự phát triển kinh tế đất nước mà nó còn cần thiết vì sự phát triển trong nhucầu và đời sống xã hội Cuộc sống của con người nói riêng và của cả xã hội nóichung càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm cao cấp ngày càng tăng.Dịch vụ thông tin di động trước đây được coi là một sản phẩm cao cấp, nhưngvới sự phát triển của xã hội thì hiện nay nó đã trở nên phổ biến và bình dân hơn.Cùng với xu thế hội nhập, các mối quan hệ giao lưu của con người ngày càngtăng, do đó mà họ không chỉ có nhu cầu sử dụng dịch vụ này trong nước mà cònphục vụ cho rất nhiều mục đích khác như buôn bán với nước ngoài, nói chuyệnvới người thân ở nước ngoài, đi du lịch hay tìm kiếm thông tin về các nướckhác…Rõ ràng, với sự mở cửa và hội nhập, đời sống xã hội cũng đã có nhữngbiến chuyển quan trọng trong tất cả mọi mặt, và nhu cầu về dịch vụ thông tin diđộng cũng không nằm ngoài sự biến chuyển đó Sự biến chuyển này thúc đẩy sự

Trang 13

phát triển không ngừng của việc phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di độngnói riêng và của ngành Viễn thông nói chung.

4.2 Phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động là phù hợp với xu thế chung của thế giới

Hiện nay trên thế giới tỷ trọng của ngành dịch vụ trong đó có dịch vụthông tin liên lạc đang có xu hướng ngày càng tăng cao Ở các nước Châu Âu thìngành dịch vụ đóng góp khoảng trên 60% GDP, ở Mỹ là 73%, và tỷ lệ này có xuhướng tăng lên trong những năm tiếp theo Tính chung cả giai đoạn 1980 – 2002,hàng năm thương mại dịch vụ trên thế giới tăng trung bình 9%, cao hơn tốc độcủa thương mại hàng hóa khoảng 3% Về đầu tư thì cũng khoảng trên 60% giá trịđầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay thuộc về lĩnh vực dịch vụ

Như vậy, xét tình hình và xu hướng chung trên toàn thế giới, ngành dịch

vụ đã và đang có những đóng góp quan trọng và tiếp tục sẽ tăng trong nhữngnăm tiếp theo vì đây là một ngành siêu lợi nhuận Phát triển dịch vụ mà trong đó

có dịch vụ thông tin di động, thông tin liên lạc không chỉ là sự phù hợp với xuthế, với tình hình chung trên thế giới mà nó còn là yêu cầu có tính khách quanđối với mỗi quốc gia nếu không muốn bị tụt hậu

II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH

Xuất phát từ đặc trưng trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty là các sảnphẩm dịch vụ thông tin di động, đây là các sản phẩm vô hình và có những đặc

Trang 14

thù riêng Do đó để có thể đánh giá sự phát triển kinh doanh của Công ty người

ta thường dựa vào một số chỉ tiêu sau:

1 Số thuê bao và thị phần

1.1 Số thuê bao và thị phần

Số thuê bao là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với bất kì doanh nghiệp nàokinh doanh trong lĩnh vực thông tin di động Số thuê bao thể hiện số người đangtham gia sử dụng mạng dịch vụ thông tin di động dưới bất kì hình thức nào nhưtrả trước, trả sau, trả trước thuê bao ngày…

Số thuê bao là một chỉ tiêu quan trọng vì nó phản ánh mặt lượng của sựphát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động Hơn thế nữa, thông qua chỉ tiêunày người ta có thể đánh giá thị phần của bất kì công ty nào bằng cách tính phầntrăm số thuê bao của mỗi công ty so với tổng số thuê bao trong cả nước, nó đánhgiá khả năng chiếm lĩnh thị trường của mỗi công ty và chỉ số thuê bao liên quantrực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của Công ty

Số thuê bao và thị phần là hai chỉ tiêu cơ bản để so sánh các mặt như qui

mô kinh doanh, vị thế trên thị trường… của các doanh nghiệp cùng kinh doanhtrong lĩnh vực thông tin di động

Trang 15

1.2 Tốc độ tăng thuê bao và tăng thị phần

Đây là hai chỉ tiêu vô cùng quan trọng thể hiện mặt chất của quá trình pháttriển Thông qua hai chỉ tiêu này người ta có thể đánh giá tốc độ phát triển củadoanh nghiệp năm nay so với năm trước như thế nào, cao hay thấp hơn

Thị phần năm trước

Nếu các tốc độ này lớn hơn 100% thì có nghĩa là năm nay có sự phát triển

về thuê bao và thị phần cao hơn năm trước, còn nếu tốc độ này nhỏ hơn 100% thì

có nghĩa là năm nay số thuê bao và thị phần của công ty có sự phát triển thụt lùi

so với năm trước Trong trường hợp tốc độ này bằng 100% thì có nghĩa là sốthuê bao và thị phần bao năm nay bằng với năm trước, điều này thể hiện công tykhông có sự phát triển gì thêm so về hai chỉ tiêu số thuê bao và thị phần

2 Sản lượng đàm thoại và tốc độ tăng sản lượng đàm thoại

Sản lượng đảm thoại cũng là một chỉ tiêu rất đặc trưng để đánh giá hiệuquả kinh doanh dịch vụ thông tin di động Vì thoại là một sản phẩm cơ bản vàquan trọng nhất của dịch vụ thông tin di động, sản lượng đàm thoại sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến doanh thu của Công ty do đó mà hiện nay bên cạnh việc áp dụng

Trang 16

các biện pháp để gia tăng thị phần, mở rộng qui mô kinh doanh thì Công ty cũngrất chú trọng đến việc làm sao để tăng sản lượng đàm thoại, đây mới chính là cái

“chất” vì có thể trong nhiều trường hợp số thuê bao tăng do một chương trìnhxúc tiến nào đó của Công ty nhưng sản lượng đàm thoại có thể không tăng, chính

vì thế mà doanh thu thoại không cao

Sản lượng đàm thoại gồm 2 dạng:

* Sản lượng đàm thoại hướng đi gồm có:

 Các thuê bao điện thoại di động của VMS gọi đến các điện thoại cốđịnh

 Các thuê bao di động VMS gọi đến các thuê bao di động khác

 Các thuê bao di động của VMS gọi cho nhau

* Sản lượng đàm thoại hướng đến gồm có:

 Các thuê bao cố định gọi đến các thuê bao di động của VMS

 Các thuê bao di động gọi khác gọi đến thuê bao di động của VMS

 Các thuê bao di động của VMS gọi cho nhau

* Có một số nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng đàm thoại như:

 Số thuê bao tăng làm cho sản lượng đàm thoại tăng

 Sự mở rộng các hình thức đàm thoại mới kích thích nhu cầu sử dụng,

do đó sản lượng đàm thoại cũng tăng

 Ngoài ra sản lượng đàm thoại tăng còn do nhân tố chủ quan của kháchhàng, họ có nhu cầu cao hay thấp về thoại đều ảnh hưởng trực tiếp tớisản lượng đàm thoại

Tuy nhiên để đánh giá xem sản lượng đàm thoại có thực sự phát triển haykhông người ta không chỉ dựa vào số liệu sản lượng đàm thoại đơn thuần mà còn

Trang 17

dựa vào chỉ tiêu Số phút đàm thoại/thuê bao/ngày Đây là một chỉ tiêu quantrọng để đánh giá xem việc gia tăng số thuê bao và thị phần có thực sự hiệu quả

và có đi đôi với việc tăng sản lượng đàm thoại hay không Chỉ tiêu này được xácđịnh như sau:

Sản lượng đàm thoại năm nayTốc độ tăng sản lượng đàm thoại = - x 100% (%)

Sản lượng đàm thoại năm trước

3 Doanh thu và tốc độ tăng doanh thu

Doanh thu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh qui mô hoạt động kinh doanhcủa Công ty Thông qua chỉ tiêu này, người ta có thể đánh giá được sự trưởngthành và tốc độ phát triển trong kinh doanh của Công ty qua các thời kì khácnhau

Từ 19/5/1995 đến 19/5/2005 Công ty thực hiện hợp đồng hợp tác kinhdoanh (BBC) với đối tác CIV của Thụy Điển nên doanh thu của Công ty có sựkhác biệt rõ nét so với các đối thủ khác nhưVinaFone, Viettel Doanh thu củaCông ty trong giai đoạn này bao gồm hai loại sau:

Trang 18

- Doanh thu BBC: là doanh thu chung của VMS và CIV.

- Doanh thu VMS: phần này được tính bằng 50% doanh thu BBC

Từ thời điểm 20/5/2005, thời điểm mà Công ty đã kết thúc hợp đồng BBCvới tập đoàn Comvik thì Công ty là một đơn vị kinh doanh hoàn toàn tự chủ vềnguồn vốn kinh doanh và các nguồn lực khác, do đó doanh thu sẽ không cònphần doanh thu BBC mà chỉ có doanh thu VMS – là kết quả của toàn bộ quátrình sản xuất kinh doanh của Công ty

Doanh thu của VMS bao gồm một số khoản mục chủ yếu:

- Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ thông tin di động

- Doanh thu phân chia cước thông tin di động

- Doanh thu khác

Do thoại là sản phẩm chính và là sản phẩm nền tảng cho các loại hình dịch

vụ giá trị gia tăng cho nên muốn tăng doanh thu thì cần phải có biện pháp tăngnhanh số lượng thuê bao, tăng sản lượng đàm thoại Việc gia tăng số lượng thuêbao ngoài việc thúc đẩy việc gia tăng sản lượng đàm thoại thì còn đem lại mộtkhoản thu nhập khá lớn cho Công ty do việc thu phí đầu nối, thu thuê bao hàngtháng và hàng ngày đối với khách hàng sử dụng loại hình MobiFone và Mobi4U,ngoài ra chưa kể đến việc các thuê bao mới này sử dụng các dịch vụ giá trị giatăng của Công ty Do đó muốn tăng doanh thu thì việc phát triển thuê bao mớidựa trên nền tảng chất lượng tốt nhất phải là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu màtoàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty phải nỗ lực thực hiện

Doanh thu là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng do đó người ta cần phải có

sự đánh giá sự phát triển doanh thu qua các năm, để từ đó đánh giá kết quả củaquá trình kinh doanh đồng thời đưa ra các biện pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu

Trang 19

quả kinh doanh Để đánh giá doanh thu qua các năm tăng hay giảm, người tadùng chỉ tiêu tốc độ tăng doanh thu.

Doanh thu năm nayTốc độ tăng doanh thu = - x 100% (%)

Doanh thu năm trước

4 Lợi nhuận và tốc độ tăng lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuấtkinh doanh trong bất kì ngành nghề, lĩnh vực nào

Cũng giống như doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty cũng có sự khácnhau trong 2 giai đoạn:

* Từ 19/5/1995 đến 19/5/2005 thì lợi nhuận gồm có lợi nhuận chung vàlợi nhuận của VMS được tính như sau:

Lợi nhuận chung (VMS & CIV) = Doanh thu BBC – Chi phí chung

Lợi nhuận của VMS = Doanh thu VMS – 50% * Chi phí chung – Chi phíVMS

* Từ 20/5/2005 cho đến nay do kết thúc hợp đồng hợp tác kinh doanhBBC với đối tác Comvik nên lợi nhuận sẽ không bao có khoản lợi nhuận chungnữa mà chỉ có lợi nhuận của VMS được xác định như sau:

Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phíHiện nay phí thuê bao nối mạng và cước phí cho mỗi cuộc gọi của Công

ty bị khống chế bởi Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, mặt khácvốn cố định của Công ty lại đang chiếm tỷ lệ rất lớn nên muốn gia tăng lợi nhuận

Trang 20

thì cần phải thực hiện các biện pháp nhằm gia tăng lượng khách hàng và giảmchi phí trung bình.

Ngoài chỉ tiêu lợi nhuận thì chỉ tiêu tốc độ tăng lợi nhuận cũng là một chỉtiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh doanh của Công ty

Lợi nhuận thực hiện năm nayTốc độ tăng lợi nhuận = - x 100% (%)

Lợi nhuận thực hiện năm trước

III KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh

mẽ thì mỗi tập đoàn, mỗi công ty muốn tồn tại và phát triển thì cần phải cónhững bước đi thích hợp cho riêng mình Trong điều kiện hội nhập muốn tìmđược lối đi cho riêng đó, các doanh nghiệp không chỉ tìm hiểu thị trường trongnước và dựa vào khả năng của chính mình mà còn cần phải tìm hiều xu thế, diễnbiến chung trên thị trường thông tin di động thế giới và kinh nghiệm của cácnước khác trong việc phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động

1 Xu hướng chuyển đổi mô hình viễn thông thế giới

Chuyển đổi mô hình viễn thông là làm chuyển biến đồng bộ cả 4 lĩnh vực:Nội dung dịch vụ, cơ sở mạng lưới, cơ chế vận hành kinh doanh, và môi trườnggiám quản Cái gì phải đi trước, cái gì làm cơ sở, làm rõ mối quan hệ này là vôcùng quan trọng Tổng quan các bước chiến lược chuyển đổi mô hình ngành viễn

Trang 21

thông toàn cầu, nhiều chuyên gia trong ngành đã dần hình thành một nhận thứcchung đó là: chuyển đổi mô hình dịch vụ phải đi trước, lấy chuyển đổi mô hìnhmạng lưới làm cơ sở, lấy việc chuyển đổi cơ chế làm chỗ dựa và việc chuyển đổi

mô hình giám quản phải phối hợp đồng bộ

1.1 Chuyển đổi mô hình dịch vụ phải đi trước

Khi các nhà khai thác viễn thông đứng trước tình hình ưu thế của dịch vụtruyền thống ngày càng bị sụt giảm thì việc chuyển đổi mô hình đã trở thành nhucầu tìm kiếm sự tăng trưởng, tái tạo sức cạnh tranh trên thị trường của họ Đi đôivới sự phát triển của dịch vụ dữ liệu, nhu cầu của người dùng không chỉ là dịch

vụ âm thoại giản đơn hoặc là dịch vụ tiếp nhập (truy cập) nữa mà là phương ángiải quyết tin học hóa “chung một rổ” Điều này có nghĩa là các nhà khai thácphải không ngừng nâng cao năng lực phục vụ tin tức tổng hợp, thông qua việcdung hợp nhiều mạng lưới, nhiều đầu cuối, nhiều dịch vụ và kéo dài chuỗi giátrị, để từ cung cấp dịch vụ âm thoại đơn độc trước kia chuyển đổi thành cung cấpdịch vụ có tính tổng hợp

Hiện nay đại đa số các nhà kinh doanh dịch vụ viễn thông kiểu mới đanglấy việc chuyển đổi dịch vụ làm cốt lõi, đồng thời với việc tiến hành khai tháctiềm năng của dịch vụ truyền thống thì họ đang cố gắng làm sao để có thể khaiphá ngày càng nhiều dịch vụ mới, mở ra các dịch vụ còn thiếu, chỉnh hợp cácdịch vụ hiện có, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ tin tức tổng hợp, thể hiện đầy đủphương hướng phát triển của doanh nghiệp là lấy việc thỏa mãn nhu cầu đa dạnghóa, cá tính hóa cho khách hàng làm mục tiêu

Sự phát triển của kĩ thuật IP đã đem cơ hội cho việc chuyển đổi mô hìnhdịch vụ của ngành nghề viễn thông Sự hòa hợp giữa vô tuyến, hữu tuyến, âm

Trang 22

thoại, dữ liệu và hình ảnh đang là một xu thế lớn phải theo Các nhà khai thácphải nhân cơ hội phát triển kỹ thuật mới, nắm lấy lợi thế phát triển NGN, 3G,IPTV mà khai thác ra một số dịch vụ có “hàm lượng vàng”, tạo ra nhiều dịch vụ

có hàm lượng tin tức, có sức hấp dẫn mới

1.2 Chuyển đổi mô hình mạng lưới là cơ sở

Đồng thời với việc chuyển đổi mô hình dịch vụ, việc chuyển đổi mô hìnhmạng lưới sẽ tạo cơ sở vật chất vững chắc cho các nhà khai thác viễn thông,mạng lưới luôn giữ vai trò nền móng trong dây chuyền sản xuất kinh doanh củanhà cung cấp dịch vụ tin tức tổng hợp hiện đại Vì vậy sau khi chuyển đổi môhình thành nhà phục vụ tin tức tổng hợp, mạng lưới không còn chỉ phát huy tácdụng truyền đưa mà còn phải bảo đảm các loại hình dịch vụ, các phương án giảiquyết khác nhau, nhằm vào các đối tượng khách hàng dùng khác nhau, các sảnphẩm khác nhau và ở các khu vực khác nhau

Mạng lưới của các nhà khai thác viễn thông sẽ chuyển biến từ mạng phứctạp, quá nhiều tầng cấp, chia tách độc lập sang mạng lưới giản đơn, dung hợp cáccông năng, khách hàng và dịch vụ có thể khống chế Như vậy, phải chỉnh hợpnguồn lực của mạng lưới hiện có, làm cho nó có năng lực bảo đảm tổng hợpmạnh mẽ, phải tiến hành dung hợp với kĩ thuật và mạng lưới hiện có, mở cửa hệthống dịch vụ Sự phát triển của công nghệ NGN, 3G… đã và đang trở thành mộtlực thúc đẩy to lớn đối với sự chuyển đổi mô hình mạng lưới của các nhà khaithác viễn thông

1.3 Chuyển đổi cơ chế là sự bảo đảm

Chuyển đổi cơ chế vận hành kinh doanh sẽ giúp cho các nhà khai thácviễn thông thực hiện việc phối kết hợp có hiệu quả cao các nguồn lực Sau khi

Trang 23

chuyển đổi mô hình, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, thịtrường viễn thông mở cửa, cạnh tranh quyết liệt, tiến bộ kĩ thuật biến đổi từngngày, còn nhu cầu thông tin thì ngày càng cá tính hóa, đa nguyên hóa, các loạidịch vụ cũng phong phú, phức tạp hơn.

Cùng với sự biến đổi nhanh chóng của hoàn cảnh, các doanh nghiệp đãkhong còn dựa vào mô hình phát triển kiểu qui mô lớn trước kia để thực hiệnmục tiêu tăng trưởng liên tục, mà phải thực hiện việc chuyển đổi mô hình thànhnhà cung cấp dịch vụ tin tức tổng hợp hiện đại, hợp tác tích cực với các nhà kinhdoanh đa phương tiện, giải trí, phục vụ nội dung tin tức; lấy tính hoàn chỉnh, tínhlợi ích, tính tin tức, tính giá trị làm đặc trưng chủ yếu Vì vậy việc chuyển đổi cơchế vận hành kinh doanh phải lây khách hàng làm trung tâm, lấy hiệu quả làmmụctiêu; chủ yếu là bắt tay vào tổ chức cơ cấu, qui trình nghiệp vụ, cơ chế dùngngười và đánh giá thành tích

1.4 Chuyển đổi mô hình giám quản phải đồng bộ

Dịch vụ dung hợp, thị trường dung hợp đòi hỏi sự quản chế cũng phảidung hợp Cùng với sự xuất hiện của dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị và sựchuyển đổi mô hình từ phía nhà vận hành kinh doanh viễn thông sang các nhàcung cấp dịch vụ tổng hợp, ngành viễn thông sẽ không ngừng dung hợp sâu vớicác ngành nghề khác Trong tình hình đó, sự quản lý ngành nghề viễn thông tấtnhiên sẽ có mối quan hệ ngày càng đa dạng với các ngành nghề khác, cho nênquản chế viễn thông chuyển từ quản chế độc quyền sàng quản chế có tính cạnhtranh là điều tất yếu phải thực hiện

2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

2.1 China Telecom (Trung Quốc)

Trang 24

China Telecom (CTHK) hiện đang là một trong những nhà khai thác thôngtin di động lớn nhất trên thế giới CTHK đã mua lại một số mạng di động thuộc

sở hữu Nhà nước ở các tỉnh như Hải Nam, Hà Nam, Phúc Kiến, do đó mà hiệnnay phạm vi phủ sóng cũng như qui mô kinh doanh của CTHK là rất lớn Ngoài

ra CTHK cũng đóng góp cổ phần với nhà cung cấp viễn thông hàng đầu củaHồng Kông là Cable & Wireless HKT

Tập đoàn đã sớm nhận định được tiềm năng phát triển mạnh mẽ của ngànhthông tin di động ở Trung Quốc do đó đã đặt ra mục tiêu chủ yếu của mình là:tận dụng tối đa vị thế chi phối ở Quảng Đông và Triết Giang để củng cố lợi thếcạnh tranh, phát triển thuê bao mới đi đôi với việc gia tăng sản lượng đàm thoại,nâng cao lợi nhuận

Để thực hiện được mục tiêu này, CTHK đã tập trung vào một số biện phápchủ yếu sau:

2.1.1 Tăng dung lượng mạng lưới và mở rộng phạm vi vùng phủ sóng

Dung lượng mạng lưới ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ vì nếudung lượng mạng lưới không đủ để đáp ứng yêu cầu so với số lượng thuê bao thìrất dễ gặp phải tình trạng rớt mạch, nghẽn mạng, mà đây lại là điều tối kỵ trongkinh doanh dịch vụ thông tin di động

Cùng với sự phát triển của xã hội, số người sử dụng dịch vụ thông tin diđộng ngày càng nhiều, do đó số lượng thuê bao cũng sẽ ngày càng tăng lên, đặcbiệt với số dân hơn 1 tỷ người như ở Trung Quốc thì đây là một thị trường vôcùng tiềm năng Nhận thức được điều này, CTHK đã luôn dự tính trước mứctăng thuê bao trong từng giai đoạn khác nhau để có kế hoạch đầu tư phát triển

Trang 25

mạng lưới, không ngừng tăng dung lượng mạng cho phù hợp với sự phát triểncủa thuê bao, đồng thời mở rộng phạm vi vùng phủ sóng để nhanh chóng chiếmlĩnh thị trường mới, thực hiện phương châm đi trước một bước trong việc cungcấp dịch vụ đến cho người dân

2.1.2 Tăng cường chất lượng mạng lưới

Việc duy trì và phát triển các thuê bao phụ thuộc rất nhiều vào chất lượngmạng lưới Do vậy, Tập đoàn xác định là cần phải tiếp tục hoàn thiện các hệthống mạng bằng cách áp dụng các hệ thống quản lý mạng tiên tiến, đồng thời có

sự hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp thiết bị di động hàng đầu trên thế giới

để phát triển một cơ sở công nghệ thật vững chắc và hiện đại nhằm tận dụng tối

đa những thành tựu công nghệ cao trên thế giới

2.1.3 Sử dụng có hiệu quả các tham số của MarketingMix

Với tư tưởng kinh doanh hiện đại, CTHK luôn tập trung chú ý đến việc sửdụng các tham số của MarketingMix sao cho có hiệu quả nhất Tập đoàn sẽ mởrộng số thuê bao bằng cách tăng cường xây dựng hình ảnh của mình như là mộtnhà cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt nhất thông qua việc sử dụng tham số xúctiến khuyếch trương Bên cạnh đó, tập đoàn cũng tập trung phát triển mạng lướikênh phân phối cho phù hợp với qui mô kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu củakhách hàng mọi lúc mọi nơi

2.1.4 Tiếp tục chú ý đến các dịch vụ hậu mãi

Kinh doanh hiện đại không chỉ dừng lại ở việc bán hàng cho khách hàng

mà cái quan trọng hơn lại chính là ứng xử của nhà cung cấp sau khi bán hàngnhư thế nào Chính từ nhận thức đó, tập đoàn luôn chú trọng đến khâu chăm sóckhách hàng và đề ra nhiệm vụ cho các trung tâm chăm sóc khách hàng cũng như

Trang 26

các cửa hàng, đại lý mình là phải có thái độ chăm sóc khách hàng tận tụy, hướngdẫn cho khách hàng về công nghệ di động, các đặc tính về mạng cũng như cácdịch vụ của tập đoàn một cách rõ ràng để khách hàng hiểu và sử dụng dịch vụmạng.

Tập đoàn đã và đang sử dụng một số các dịch vụ khách hàng như trả lờitrực tuyến những thắc mắc về thanh toán, kỹ thuật, sản phẩm dịch vụ; thành lậpcác trung tâm chăm sóc khách hàng trực tiếp tiếp xúc và gặp gỡ khách hàng đểgiải đáp những thắc mắc của họ; hoàn thiện các khía cạnh khác của dịch vụkhách hàng như sự tiện lợi trong thanh toán và tính kịp thời của việc giải quyếtcác trục trặc về mạng… để củng cố lòng trung thành của khách hàng

2.1.5 Một số kinh nghiệm khác

Ngoài một số kinh nghiệm như đã nói ở trên, CTHK còn là một nhà khaithác dịch vụ thông tin di động đạt hiệu quả cao trong việc kiểm soát chi phí vàkhai thác các cơ hội đầu tư mang tính chiến lược

Tập đoàn đã tập trung vào việc kiểm soát chi phí, qua đó nâng cao hiệuquả khai thác bằng cách triển khai hệ thống quản lý thông tin tiên tiến và kỹthuật quản lý quốc tế, đồng thời cũng duy trì và thu hút một số lượng nhân viênnhất định có trình độ cao để tăng cường khả năng khai thác

Đặc biệt với việc nhận thức và đánh giá đúng mức tăng trưởng nhanh củangành viễn thông Trung Quốc mà nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay, tậpđoàn đã nhìn thấy những cơ hội hấp dẫn cho những đầu tư mang tính chiến lượcvới các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác trên thế giới

2.2 Korea Telecom (Hàn Quốc)

Trang 27

Korea Telecom là một doanh nghiệp chủ đạo về viễn thông ở Hàn Quốc.

So với lĩnh vực điện thoại nội hạt và dịch vụ điện thoại đường dài thì lĩnh vựcđiện thoại quốc tế và điện thoại di động bị chia sẻ thị trường và chịu áp lực cạnhtranh lớn hơn nhiều Chính vì thế để có thể duy trì vị trí dẫn đầu ngành viễnthông ở Hàn Quốc, Korea Telecom đã đưa ra một số biện pháp sau:

2.2.1 Tập trung hướng tới khách hàng

Korea Telecom luôn đặt khách hàng lên vị trí hàng đầu trong mọi hoạtđộng kinh doanh, thậm chí đã có năm Korea Telecom thực hiện chương trình

“Năm của khách hàng” và luôn thực hiện các hoạt động Marketing phù hợp đểđem lại hiệu quả phục vụ tốt hơn cho khách hàng

Một điểm rất đáng học tập ở Korea Telecom đó là: các trung tâm chăm sóckhách hàng đểu được kết nối thống nhất với nhau, chính vì vậy mà chỉ với mộtcuộc gọi, các thắc mắc hay yêu cầu của khách hàng sẽ được giải đáp nhanhchóng Trong trường hợp nếu có một thắc mắc hay yêu cầu nào đó của kháchhàng không giải quyết được trong ngày hôm đó thì khách hàng sẽ được bồithường Chính điều này đã tác động không nhỏ đến việc xây dựng hình ảnh mộtnhà cung cấp có công tác chăm sóc khách hàng tốt nhất

2.2.2 Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển

Korea Telecom luôn chú trọng đầu tư nghiên cứu và phát triển Bằng việcphát triển một loạt hệ thống các tổng đài TDX, tổng đài ATM, các dịch vụ đaphương tiện và thiết bị truyền dẫn F/O và bản đồ hệ thống thông tin DBMS…Korea Telecom đã nâng cấp hệ thống công nghệ viễn thông Hàn Quốc KoreaTelecom cũng sẽ duy trì và tiếp tục thực hiện những kế hoạch đầu tư nghiên cứu

để duy trì vị trí dẫn đầu công nghệ trong ngành viễn thông Hàn Quốc

Trang 28

2.2.3 Mở rộng thị trường

Để hợp tác trên toàn thế giới trong xu thế hội nhập toàn cầu, KoreaTelecom đã và đang sử dụng mọi nỗ lực để tái tạo một công ty viễn thông phùhợp toàn cầu Trong thời gian trước mắt, Korea Telecom sẽ thực hiện đầu tư trựctiếp nước ngoài tới các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vànhững khu vực khác có tiềm năng phát triển cao Bên cạnh đó, Korea Telecomcũng sẽ thực hiện chiến lược liên minh với các công ty viễn thông khác trên thếgiới và tham gia vào các tổ chức thông tin quốc tế như ITU hay APT

Cũng giống như CTHK, Korea Telecom cũng thực hiện việc mở rộng thịtrường bằng cách mua lại các công ty viễn thông khác Cụ thể: vào tháng 6 năm

2000, Korea Telecom đã mua lại Hansol M.com và hợp nhất hoạt động củaHansol vơi Korea Telecom Freetel – công ty khai thác dịch vụ điện thoại di độngtrực thuộc Korea Telecom để biến nó thành một nhà khai thác dịch vụ điện thoại

di động đứng thứ hai Hàn Quốc sau SK Telecom

2.3 Deutsche Telecom (Đức)

Deutsche Telecom cũng là một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông của Nhànước Sau quyết định của liên minh châu Âu về việc mở cửa thị trường dịch vụviễn thông Deutsche Telecom đã mất đi sự độc quyền của mình, do đó mà nócũng đã và đang phải đối mặt với những áp lực cạnh tranh mạnh mẽ trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay

Để tiếp tục tồn tại và phát triển khi không còn độc quyền, đồng thời đểchống chọi với áp lực cạnh tranh mới Deutsche Telecom đã đưa ra một số biệnpháp chủ yếu sau:

Trang 29

Đầu tiên là việc thuê Tổng Giám đốc, tiếp theo là việc tư nhân hóaDeutsche Telecom bằng các bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư thông qua việcniêm yết trên thị trường chứng khoán Sau khi có sự ra đời của các công ty cạnhtranh mới và dự kiến trước giá cước dịch vụ sẽ giảm khoảng một nửa, để duy trìđược lợi nhuận Deutsche Telecom đã lập kế hoạch tập trung vào việc tăng cườngnăng lực làm việc của nhân viên lên 50% và cắt giảm khoảng 1/4 nhân viên củacông ty.

Để phù hợp với xu thế quốc tế hóa nền kinh tế và nhằm mục đích trở thànhmột tập đoàn đa quốc gia, Deutsche Telecom đã liên minh với France Telecomcủa Pháp và Sprint – nhà khai thác điện thoại đường dài lớn thứ 3 tại Mỹ Liênminh này đã cùng nhau đi đến thỏa thuận phát triển kinh doanh mạng quốc tế,kinh doanh các dịch vụ thông tin thoại tốc độ cao, truyền số liệu và đa phươngtiện kết nối các văn phòng và các mạng máy tính cho các tập đoàn đa quốc gia.Ngoài ra Deutsche Telecom cũng thực hiện liên doanh với các đối tác ở nhiềunước khác nhau như Satelindo (Indonesia), Islacom (Philippines), Matav…

3 Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, hầu hếtcác nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đều có xu hướng hợp tác, liêndoanh với nhau hình thành nên các tập đoàn đa quốc gia chi phối mạnh mẽ thịtrường viễn thông thế giới Hội nhập tạo ra sự cạnh tranh gay gắt do đó nếumuốn tồn tại và phát triển trong tình hình mới này thì mỗi nước, mỗi tập đoàn,mỗi công ty tùy theo từng điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau mà đưa ra nhữngbước đi khác nhau Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới ta thấy ngoài việc

mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới các tập đoàn còn chú ý rất lớn đếnviệc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, nâng cao vị thế của công ty, hạ thấp giácước, tăng cường năng lực của đội ngũ nhân viên, thực hiện tốt các chính sách về

Trang 30

MarketingMix Ngoài ra, trong tình hình mới hiện nay các doanh nghiệp ViệtNam cần phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ quan trọng sau:

 Cần phải nâng cao hiệu quả đầu tư và khai thác: điều này có nghĩa là cácdoanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình cần luôn cốgắng trong việc thực hiện cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đểnâng cao hiệu quả đầu tư Và một vấn đề quan trọng nữa đó là việc khaithác như thế nào sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao so với sự đầu tư màchúng ta đã bỏ ra Đây thực sự là một vấn đề nan giải đối với các doanhnghiệp Việt Nam vì kinh nghiệm quản lý, điều hành và khai thác mạnglưới của chúng ta còn tương đối kém Học hỏi thông qua việc liên doanhliên kết với các đối tác khác, cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài là mộttrong những cách thức nhanh nhất để chúng ta tiếp cận với phương thứcquản lý và kinh doanh hiện đại

 Tạo tiềm năng lớn để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và tranhthủ nguồn tài chính của tư nhân: Thực hiện chính sách mở cửa trong mọilĩnh vực của nền kinh tế, chúng ta có thể tận dụng tối đa những cơ hội kinhdoanh mới mà hội nhập đem lại như sự đầu tư của nước ngoài, hay chophép các doanh nghiệp khác kể cả các công ty tư nhân tham gia thị trườngthông tin di động bằng cách thu hút nguồn vốn đầu tư vào hai mảng là đầu

tư kinh doanh mới và nhượng quyền, bán những doanh nghiệp hiện có

Có thể nói những kinh nghiệm trên của các nước trong việc phát triển kinhdoanh dịch vụ thông tin di động là bài học vô cùng quí giá cho các doanh nghiệpViệt Nam, những bài học này hoàn toàn mang tính thực tiễn và có khả năng ápdụng thành công vào nước ta vì Viễn thông Việt Nam được coi là một ngành cókhoảng cách về trình độ phát triển so với các nước khác vào loại ngắn, do đó nếubiết đầu tư, học hỏi thì sẽ có khả năng bắt kịp trình độ chung của thế giới

Trang 31

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN

DI ĐỘNG HIỆN NAY Ở VMS - MOBIFONE

I ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG

1 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ thông tin di động

1.1 Đặc điểm kỹ thuật

Công ty thông tin di động sử dụng mạng viễn thông GSM (Global Systemfor Mobile Communications), đây được coi là một ứng dụng quan trọng, phổbiến và phát triển nhất của kĩ thuật viễn thông Các hệ thống GSM sử dụng kĩthuật số đã trở thành phương thức thông tin hữu ích với những đặc điểm và tínhnăng vượt trội so với các hệ thống thông tin di động di động trước đó của từngquốc gia

Hệ thống thông tin di động toàn cầu sử dụng kĩ thuật số GSM ra đời đãđáp ứng được những đòi hỏi về chất lượng cuộc gọi, dung lượng mạng, độ antoàn và bảo mật thông tin Sở dĩ hệ thống này đáp ứng được những đòi hỏi đó là

vì thông tin đã được mã hóa trước khi truyền đi Hệ thống này còn cho phép khảnăng cung cấp nhiều dịch vụ phụ, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu đa dạngcủa khách hàng như dịch vụ chờ cuộc gọi, dịch vụ chặn cuộc gọi, truyền số liệu

và Fax, dịch vụ truy cập Wap và các dịch vụ trên nền SMS như Ringtone, SMSlogo…Chính đặc điểm này của GSM đang là một yếu tố quan trọng làm tăng khả

Trang 32

năng cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ, bởi dịch vụ thông tin di độngcàng phát triển thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng này càng cao, nhàcung cấp nào có khả năng triển khai và đưa vào sử dụng càng nhiều tiện ích quantrọng này cho khách hàng thì càng có khả năng thu hút khách hàng.

Để có hệ thống GSM tốt, các nhà cung cấp dịch vụ cần xây dựng các trạmphát BTS (Base Transceiver Station), trạm chuyển soát gốc BSC (Base StationController), và trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động MSC (Mobile ServicesSwitching Centre) một cách hợp lý vì số lượng các thiết bị cơ bản này liên quanmật thiết đến phạm vi vùng phủ sóng và chất lượng dịch vụ cung cấp trên mạng

Trong thời gian tới Công ty đang có kế hoạch nghiên cứu và đưa vào ứngdụng mạng thông tin di động cá nhân toàn cầu CDMA băng rộng, đồng thời cókhả năng sẽ triển khai kết nối với mạng GSM hiện tại để mở rộng vùng phủsóng, nâng cao chất lượng dịch vụ và số lượng các dịch vụ giá trị gia tăng nhằmđáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

Dịch vụ thông tin di động di động là một sản phẩm vô hình và yêu cầu củakhách hàng về chất lượng của sản phẩm này rất cao Tuy nhiên chất lượng củasản phẩm này lại phụ thuộc phần lớn vào hệ thống mạng lưới, vào số lượng cáctrạm thu phát sóng, các tổng đài hay trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động và

Trang 33

sự phân bổ các trạm này như thế nào Ngoài ra thì chất lượng của sản phẩm cònphụ thuộc vào một số yếu tố khác như khả năng khai thác và vận hành mạnglưới, trình độ nghiệp vụ của nhân viên…

Ngoài ra, dịch vụ thông tin di động còn có một số đặc điểm khá riêng biệt

so với các dịch vụ viễn thông khác như:

 Dịch vụ thông tin di động có khả năng mang lại hiệu quả thông tin liênlạc mọi lúc mọi nơi một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện nhất,trong đó đặc biệt phải quan tâm đến là khả năng chuyển vùng quốc tế.Một máy điện thoại di động sử dụng GSM có thể được sử dụng tại bất

cứ nơi nào ở trong vùng phủ sóng của hệ thống

 Dịch vụ thông tin di động có độ bảo mật cao do thông tin đã được mãhóa trước khi truyền đi, khả năng phục vụ là rất cao nhưng do phải đầu

tư xây dựng mạng lưới rất lớn nên so giá cả dịch vụ cao hơn khá nhiều

so với các loại dịch vụ viễn thông khác

1.3 Đặc điểm khách hàng

Do những tính năng nổi trội của loại hình dịch vụ thông tin di động và yêucầu cao trong việc đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại mà giá thành sử dụngdịch vụ này hiện nay còn khá cao, đặc biệt là so với các nước khác trên thế giớithì giá cả dịch vụ thông tin di động ở Việt Nam cao gấp mấy lần Chính đặc điểmnày đã chi phối rất nhiều đến đối tượng sử dụng dịch vụ

Truớc đây khi mức sống của người dân còn thấp thì chỉ có một số đốitượng sử dụng loại hình dịch vụ này như những người kinh doanh, quan chứcnhà nước, khách nước ngoài…Vào thời điểm này thì dịch vụ thông tin di độngvẫn được coi là một sản phẩm cao cấp chỉ giành cho những người có thu nhậpcao và chủ yếu là tập trung ở những thành phố lớn

Trang 34

Tuy nhiên, hiện nay mức sống của người dân đã cao hơn rất nhiều, dịch vụthông tin di động không còn là một sản phẩm quá xa sỉ so với thời gian trướcnữa, do đó mà đối tượng khách hàng sử dụng đa trở nên đông đảo và đa dạnghơn Nếu như trước kia người ta sử dụng dịch vụ thông tin di động như là mộtcách để thể hiện bản thân thì hiện nay người ta sử dụng dịch vụ như là mộtphương tiện cần thiết để trao đổi thông tin, chính vì thế mà dịch vụ này đã ngàycàng trở nên phổ biến, tầng lớp khách hàng bình dân hiện nay cũng đã chiếmmột tỷ lệ nhất định.

Tất cả những đặc điểm trên đây đều có những tác động rất lớn đến việc tổchức kinh doanh sản phẩm dịch vụ thông tin di động Tùy thuộc vào sự phát triểncủa đời sống xã hội, sự phát triển trong nhu cầu của các đối tượng khách hàngkhác nhau mà Công ty cần có những điều chỉnh cho phù hợp để không ngừngnâng cao hiệu quả kinh doanh của mình

2 Đặc điểm của các loại hình dịch vụ thông tin di động

Hiện nay, VMS đang đưa vào khai thác một số loại hình dịch vụ thông tin

di động sau:

+ Các dịch vụ cơ bản : gồm có 4 sản phẩm là MobiFone, MobiCard,

Mobi4U, MobiPlay Bốn sản phẩm này tương ứng với các loại hình dịch vụthông di động thuê bao trả sau, trả trước, trả trước thuê bao ngày, và loại hìnhdịch vụ thông tin di động không thoại đi

+ Các dịch vụ giá trị gia tăng: gồm một số loại chủ yếu sau: SMS trong

nước và quốc tế, MobiChat, MobiList, MobiScore, MobiMail, dịch vụ truyền dữliệu GPRS, dịch vụ Wap…

Trang 35

2.1 Đặc điểm của các dịch vụ cơ bản

Dịch vụ cơ bản đó chính là các sản phẩm thoại, là sản phẩm cốt lõi củakinh doanh dịch vụ thông tin di động Hiện nay Công ty đang đưa ra 4 loại hình

đó là MobiFone, MobiCard, Mobi4U, MobiPlay Trong đó MobiFone là loạihình dịch vụ trả sau còn MobiCard, Mobi4U và MobiPlay là loại hình dịch vụ trảtrước Xét trên góc độ kĩ thuật thì dịch vụ trả trước và trả sau đều sử dụng phầncứng công nghệ như nhau đó là GSM 900 MHz, chúng chỉ khác nhau ở chỗ phầnmềm nhận dạng thuê bao

2.1.1 Dịch vụ thông tin di động trả sau: MobiFone

MobiFone là loại hình dịch vụ thông tin di động thuê bao trả sau, đây cũngchính là loại hình dịch vụ thông tin di động đầu tiên mà Công ty đưa ra khi thànhlập MobiFone được coi là dịch vụ giành cho thị trường cao cấp nên dịch vụ nàyluôn có những ưu ái riêng Loại hình dịch vụ này có một số đặc điểm sau:

 Đây là loại hình dịch vụ thuê bao trả sau do đó ngoài cước thông tinphải chịu như các loại hình dịch vụ khác thì khách hàng còn phải chịuthêm cước tiếp mạng và cước thuê bao hàng tháng Trong đó cước thuêbao theo tháng gồm phí vận hành, bảo dưỡng mạng lưới, phí sử dụngtầm số, đường truyền và các hoạt động khác để duy trì cho máy thuêbao liên lạc với hệ thống trong cả tháng Hiện nay mức cước thuê baotháng là 66.000 đồng/tháng Cước tiếp mạng là 200.000 đồng/ thuê baogồm Simcard, chi phí đầu nối, lắp đặt

khẩu, giấy chứng minh thư và một số giấy tờ cần thiết khác, kháchhàng sẽ đến đăng kí tham gia hòa mạng tại các đại lý chính thức của

Trang 36

Công ty Điều này có nghĩa là để tham gia hòa mạng MobiFone, cáckhách hàng cần phải làm các thủ tục đăng kí nhất định, đây là điểmkhác biệt lớn nhất giữa MobiFone và các loại hình dịch vụ khác.

 Khi khách hàng sử dụng dịch vụ MobiFone thì khách hàng được tínhcước rẻ hơn so với các loại hình dịch vụ khác Dịch vụ này hoạt độngtheo nguyên tắc cước phí cộng dồn, tức là khách hàng sẽ không phải trảphí ngay khi sử dụng dịch vụ mà cuỗi mỗi tháng hệ thống tính cướccủa Công ty sẽ tính và khách hàng thanh toán cho cước phí thông tin đã

Có thể nói, MobiFone là loại hình dịch vụ tốt nhất của Công ty Loại hìnhdịch vụ này có chất lượng cao và có khả năng đáp ứng được yêu cầu của côngviệc khá đa dạng Hơn thế nữa, khi sử dụng dịch vụ này, khách hàng sẽ không bị

Trang 37

giới hạn về thời gian sử dụng, mức cước tính cho loại hình dịch vụ này lại rẻ,phạm vi phủ sóng rộng do đã được cung cấp dịch vụ Roaming trong nước vớiVinaFone và Roaming quốc tế với 56 quốc gia trên thế giới

Có thể nói chính những đặc điểm nổi trội và những tính năng ưu việt củaloại hình dịch vụ này mà phân đoạn thị trường được xác định cho nó là chủ yếu

là những nhóm khách hàng VIP và những Công ty, doanh nghiệp, tư nhân thuộcmọi thành phần kinh doanh Đây là những khách hàng có nhu cầu sử dụng điệnthoại nhiều, thường xuyên và nhu cầu thì rất đa dạng Với tính chất công việccủa mình, họ mong muốn một mạng điện thoại và một loại hình dịch vụ thôngtin di động có chất lượng tốt, ổn định và có khả năng cung cấp đa dạng các dịch

vụ tiện ích Chinh phục các nhóm khách hàng này và duy trì lòng trung thànhcủa họ trên cở sở thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất chính là mục tiêu của dịch

vụ MobiFone

Tuy nhiên ngoài những đặc điểm nổi trội như đã nói ở trên thì loại hìnhdịch vụ này cũng có những hạn chế nhất định đó là: cước thuê bao và cước tiếpmạng còn cao, hàng tháng cho dù không sử dụng dịch vụ mạng thì khách hàngvẫn phải mất một khoản tiền không nhỏ là 66.000 đồng cho cước thuê bao Mặtkhác để sử dụng loại hình dịch vụ này, khách hàng cần mất thời gian để đến đăng

kí hòa mạng, phải trình những giấy tờ và làm các thủ tục hành chính do đó kháchhàng thường có tâm lý ngại và không thoải mái Đây chính là một số nguyênnhân chủ yếu khiến việc gia tăng số lượng thuê bao MobiFone gặp khó khăn.Tuy nhiên điều đáng mừng ở đây là một khi khách hàng đã tham gia hòa mạngdịch vụ MobiFone thì rất ít khi khách hàng rời bỏ, điều này có nghĩa là kháchhàng hiện vẫn đang hài lòng với dịch vụ nhà cung cấp đưa ra Đây chính là mộtlợi thế không nhỏ cho Công ty trong việc củng cố và phát triển thị phần

Trang 38

Bảng 1.1. Bảng cước dịch vụ MobiFone (Từ ngày 1/10/2005)

Đơn vị tính: đồng

Cước gọi thông tin di động

30 giây đầu 800 đồng/30 giâyCước gọi thông tin di động

6 giây tiếp theo 160 đồng/6 giâyCước quốc tế IDD* 800 đồng/30giây + IDD

Cước quốc tế VoIP (171)** 800 đồng/30 giây + VoIP

Cước nhắn tin trong nước nội mạng 350 đồng/bản tin

Cước nhắn tin trong nước liên mạng 400 đồng/bản tin

Cước nhắn tin quốc tế 0,165 USD/bản tin

Cước gọi vào thuê bao VSAT (1’+ 1’) 4.400 đồng/phút

Truy cập Internet gián tiếp Cước thông tin trong nước + Cước truy

cập Internet Gọi dịch vụ 1080/1088/hộp thư thông

tin

Cước thông tin trong nước + Cước dịch

vụ 108x Tên gói cước Số block 6 giây

2.1.2 Các dịch vụ thông tin di động trả trước

Dịch vụ trả trước sử dụng phần mềm Intelligent Network và tính cước trựctuyến Online Điều này có nghĩa là mỗi lần khách hàng gọi thì phần mềm sẽ tựđộng kiểm tra, nếu thấy còn gọi được (tức là còn tiền và còn thời gian gọi) thì sẽtiến hành kết nối với tổng đài GSM Khi gọi thì chương trình sẽ tiến hành tính

Trang 39

cước một cách trực tiếp và tự động trừ vào tài khoản của khách hàng Như vậy,

để sử dụng các loại hình dịch vụ thông tin di động trả trước thì ngoài điện thoại

di động, khách hàng cần phải có Sim và thẻ cào MobiCard để nạp tiền vào tàikhoản

Sự ra đời của các loại hình dịch vụ trả trước đã khắc phục được nhữngnhược điểm của dịch vụ trả sau MobiFone như khách hàng sẽ không phải trảcước thuê bao hàng tháng, thủ tục hòa mạng đơn giản vì khách hàng chỉ cần mua

bộ trọn gói ban đầu gồm thẻ Sim và thẻ MobiCard là đã có thể sử dụng dịch vụthông tin di động mà không cần phải có sổ hộ khẩu, chứng minh thư hay các thủtục hành chính lâu la Hơn thế nữa, với việc tính cước trực tiếp và nạp tiền bằngthẻ cào, khách hàng luôn kiểm soát được số tiền có trong tài khoản cũng nhưcước phí thông tin mà họ đã sử dụng

Các dịch vụ trả trước với việc nạp tiền bằng tài khoản thông qua các thẻcào với mệnh giá khác nhau đã thỏa mãn các nhu cầu đa dạng và phục vụ chocác tầng lớp khách hàng khác nhau Mục đích của việc cho ra đời các loại hìnhdịch vụ này là Công ty muốn chinh phục các nhóm khách hàng có thu nhập thấphơn so với dịch vụ MobiFone, các tầng lớp trẻ, những nhóm khách hàng có nhucầu không thường xuyên…và một số nhóm khách hàng tiềm năng khác

Tuy nhiên ngoài những ưu điểm nêu trên, các loại hình dịch vụ trả trướccòn có một số điểm hạn chế sau:

 Sự giới hạn về thời gian sử dụng: Mỗi một mệnh giá thẻ cào sẽ có mộtthời hạn sử dụng nhất định, điều này hạn chế nhu cầu và khả năng sử dụngdịch vụ của khách hàng vì nếu hết thời hạn sử dụng thì cho dù còn tiềnkhách hàng vẫn không thể sử dụng các dịch vụ mạng như gọi, nhắn tin…

Trang 40

 Một điểm hạn chế nữa đó là việc sử dụng thẻ cào và trừ tiền trực tiếp vàotài khoản khi khách hàng sử dụng dịch vụ có thể gây ra những khó khănnhất định cho khách hàng vì có nhiều trường hợp khách hàng đang thựchiện liên lạc thì bị cắt vì tài khoản đã hết trong khi thời gian sử dụng vẫncòn Sử dụng dịch vụ trả trước có nghĩa là khách hàng luôn phải đối mặtvới nguy cơ bị cắt liên lạc đột ngột trong khi vẫn đang cần duy trì cuộcgọi.

 Mức cước của dịch vụ trả trước thì cao hơn nhiều trong khi các dịch vụtiện ích được cung cấp thì lại ít hơn, sự chăm sóc khách hàng cũng khôngđược quan tâm bằng dịch vụ trả sau

 Do việc sử dụng các loại hình dịch vụ trả trước là hoàn toàn tự do, kháchhàng chỉ cần mua bộ trọn gói ở bất cứ đại lý nào là đã có thể sử dụng dịch

vụ mạng, do đó việc quản lý các thuê bao di động trả trước là rất khó đểthực hiện vì khách hàng có thể rời bỏ mạng, bán Sim, dừng sử dụng haytiếp tục sử dụng sau một thời gian dừng là hoàn toàn không thể kiểm soátđược Do đó số lượng thuê bao trả trước luôn có sự biến động nhất định vàchính điều này là một trở ngại lớn đối với Công ty trong việc lập các kếhoạch kinh doanh và các công tác quản lý, điều hành khác

a MobiCard

MobiCard là loại hình dịch vụ thông tin di động thứ hai mà Công ty đưavào kinh doanh Sự ra đời của loại hình dịch vụ MobiCard vào năm 1999 đãđánh dấu một bước phát triển lớn của Công ty với việc gia tăng số lượng thuêbao một cách nhanh chóng

Ngày đăng: 14/12/2012, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Đặng Đình Đào, 2003, Giáo trình Kinh tế thương mại, NXB Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Thống kê
2. PGS.TS Nguyễn Xuân Quang, 2005, Giáo trình Marketing thương mại, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing thương mại
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
4. Tạp chí Kinh tế phát triển 5. http://www.google.com.vn 6. http://www.mot.gov.vn 7. http://www.mip.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
3. Tạp chí Công nghệ thông tin và Bưu chính viễn thông Khác
13. Các tài liệu của cơ quan thực tập Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Các loại thẻ MobiCard - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.2. Các loại thẻ MobiCard (Trang 42)
Bảng 1.4. Bảng cước dịch vụ MobiCard (Áp dụng từ ngày 1/1/2006) - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.4. Bảng cước dịch vụ MobiCard (Áp dụng từ ngày 1/1/2006) (Trang 43)
Bảng 1.5. Bảng cước dịch vụ Mobi4U (Áp dụng từ ngày 1/10/2005) - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.5. Bảng cước dịch vụ Mobi4U (Áp dụng từ ngày 1/10/2005) (Trang 45)
Bảng 1.6.   Bảng giá cước MobiPlay (Áp dụng từ ngày 1/10/2005) - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.6. Bảng giá cước MobiPlay (Áp dụng từ ngày 1/10/2005) (Trang 46)
Bảng 1.7.   Thời hạn mệnh giá nạp tiền cho loại hình dịch vụ MobiPlay - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.7. Thời hạn mệnh giá nạp tiền cho loại hình dịch vụ MobiPlay (Trang 47)
Bảng 1.8.   Bảng cước tin nhắn ngắn - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 1.8. Bảng cước tin nhắn ngắn (Trang 51)
Bảng 2.1.     Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh  của Công ty                   từ - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty từ (Trang 65)
Bảng 2.2.   Tình hình phát triển thuê bao đối với từng sản phẩm thông tin di - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 2.2. Tình hình phát triển thuê bao đối với từng sản phẩm thông tin di (Trang 68)
Bảng 2.3.  Doanh thu các sản phẩm cơ bản - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 2.3. Doanh thu các sản phẩm cơ bản (Trang 78)
Bảng 2.4.  Kết quả kinh doanh loại dịch vụ giá trị gia tăng của Công ty - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 2.4. Kết quả kinh doanh loại dịch vụ giá trị gia tăng của Công ty (Trang 81)
Bảng 3.1.   Kế hoạch phát triển mạng lưới trong giai đoạn 2006 – 2010 - Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ khai thác Bưu Điện & tình hình hoạt động Bưu Điện
Bảng 3.1. Kế hoạch phát triển mạng lưới trong giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 100)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w