1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BDTXChuyên đề 5 giáo dục kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật học hoà nhập tại các cơ sở giáo dục mầm non

39 518 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề 5 giáo dục kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật học hòa nhập tại các cơ sở giáo dục mầm non
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 63,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BDTXGIÁO DỤC KĨ NĂNG TIỀN HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC HOÀ NHẬP TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON MỤC TIÊU Kết thúc chuyên đề, học viên có khả năng: Hiểu được thế nào là kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non trong giai đoạn chuyển tiếp lên cấp tiểu học. Xác định được các nhóm kĩ năng tiền học đường chung cần chuẩn bị cho trẻ em khuyết tật lứa tuổi mầm non trong giai đoạn chuyển tiếp lên cấp tiểu học. Các biện pháp giáo dục phát triển kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non.

Trang 1

BÀI THÁNG 1/ 2023

GIÁO DỤC KĨ NĂNG TIỀN HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC

HOÀ NHẬP TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON MỤC TIÊU

Kết thúc chuyên đề, học viên có khả năng:

- Hiểu được thế nào là kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm nontrong giai đoạn chuyển tiếp lên cấp tiểu học

- Xác định được các nhóm kĩ năng tiền học đường chung cần chuẩn bị cho trẻ emkhuyết tật lứa tuổi mầm non trong giai đoạn chuyển tiếp lên cấp tiểu học

- Các biện pháp giáo dục phát triển kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứatuổi mầm non

I Một số vấn đề chung về giáo dục kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non.

1 Khái niệm kĩ năng tiền học đường

Kĩ năng tiền học đường là những kĩ năng cơ bản chuẩn bị cho trẻ trong giai đoạnchuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học nhằm đảm bảo sự sẵn sàng về tâm lí và nănglực học tập để trẻ có thể thành công khi học tập ở trường tiểu học và học tập suốtđời

Kĩ năng tiền học đường cho trẻ bao gồm: kĩ năng tự phục vụ của cá nhân; kĩ năngtham gia và tương tác xã hội, hợp tác để thực hiện nhiệm vụ chung cùng với bạn,các kĩ năng cơ bản để sẵn sàng cho quá trình học tập, phát triển nhận thức của trẻ.Ngoài ra, mỗi loại trẻ khuyết tật sẽ có những kĩ năng đặc thù riêng biệt cần chuẩn

bị để sẵn sàng vào lớp 1

Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, đặc biệt là trẻ khuyết tật, việc chuẩn bị cho trẻ kĩnăng tiền học đường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để đảm bảo trẻ sẵn sàng thíchứng với môi trường và các yêu cầu hoạt động học tập theo hình thức môn học ởtrường tiểu học

2 Phân loại kĩ năng tiền học đường

Trang 2

a) Nhóm kĩ năng xã hội, xây dựng, duy trì mối quan hệ và duy trì hợp tác nhóm

- Là những kĩ năng mà mỗi cá nhân thể hiện sự tương tác xã hội tích cực trong môitrường lớp học được mọi người dễ dàng chấp nhận và thống nhất hành động trongcác hoạt động cùng nhau

- Là những kĩ năng tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong tìnhhuống hằng ngày và được thể hiện bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thểthích nghi hay tương tác một cách có hiệu quả với nhóm bạn và giải quyết có hiệuquả trong các tình huống học tập và giao tiếp xã hội, được mọi người chấp nhận

- Kĩ năng này thường gắn với một bối cảnh để thể hiện đặc điểm cá nhân trong mốiquan hệ xã hội, giúp trẻ có thể hiểu, thực hành và thể hiện những hành vi phù hợpvới chuẩn mực và yêu cầu chung

- Kĩ năng nhận thức trong hoạt động học thể hiện ở ý thức, thái độ và những tậpnhanh và chính xác hành động học tập cụ thể được diễn ra thống nhất, giúp giảiquyết nhiệm vụ học

- Hoạt động nhận thức học tập được diễn ra thông qua quá trình trải nghiệm, tươngtác, rút kinh nghiệm và chia sẻ hiểu biết kinh nghiệm với người khác Do đó, kĩnăng nhận thức học tập là tập hợp các kĩ năng bao gồm: kĩ năng giải quyết nhiệm

vụ học tập và kĩ năng tìm kiếm, nhận biết khái niệm thông qua hoạt động trong môitrường học tập và hoạt động khám phá thế giới xung quanh

c) Nhóm kĩ năng tự phục vụ và quản lí hoạt động học tập

Trang 3

- Kĩ năng tự phục vụ và quản lí hoạt động học tập bao gồm hệ thống các kĩ nănghình thành thói quen giúp trẻ tự tin, không còn bỡ ngỡ trước khi bước vào trườngtiểu học

- Kĩ năng tự phục vụ và quản lí hoạt động học tập bao gồm: các kĩ năng hình thànhthói quen tự phục vụ và các kĩ năng quản lí học tập như sử dụng đồ dùng học tập,sắp xếp đồ chơi, đồ dùng học tập, giở sách, ngồi học đúng tư thế, lập thời gian biểuhọc tập, vui chơi

- Kĩ năng tự phục vụ và quản lí học tập được thực hành thông qua các hoạt độngsinh hoạt cá nhân của trẻ cũng như qua các trò chơi và hoạt động trải nghiệm đểđảm bảo trẻ hình thành và duy trì kĩ năng một cách ổn định

3Vai trò, ý nghĩa của phát triển kĩ năng tiền học đường

Từ trường mầm non chuyển tiếp lên trường tiểu học, trẻ em mầm non nói chung vàtrẻ khuyết tật nói riêng, có sự thay đổi hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang hoạtđộng học tập Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này kéo theo một loạt những thayđổi khác, đặt trẻ khuyết tật vốn đã khó khăn thích ứng với các điều kiện, yêu cầu vàmôi trường mới, còn phải đối mặt với vô vàn những thách thức, bất ngờ của nhữngtình huống mới, chưa từng gặp trước đó ở trường mầm non Điều này dễ làm chotrẻ khuyết tật trở nên căng thẳng, có cảm giác bất an, lo sợ gây ra sự rối loạntrong quá trình phát triển và ảnh hưởng trực tiếp tới việc học tập của trẻ trongtrường học cũng như đối với sự phát triển lâu dài của trẻ

Sự chuyển đổi từ hoạt động chơi ở giai đoạn lứa tuổi mầm non sang học tập sẽ ảnhhưởng trực tiếp tới tâm lí của trẻ trước những yêu cầu học tập mới, mối quan hệmới và cách thức tiến hành hoạt động học tập Ngay khi bước vào lớp 1, trẻ khuyếttật cũng cần phải làm quen với các môn học như: Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tựnhiên và Xã hội, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Ngoại ngữ

Khi làm quen với các kĩ năng tiền học đường ở giai đoạn chuyển tiếp, trẻ từng bướclàm quen với hệ thống khái niệm, quy định có tính chất đặc trưng của mỗi mônhọc, cách làm quen với nền nếp, quy định và cách thức giải quyết vấn đề môn họcmột cách logic

Trang 4

Bên cạnh đó, các môn học khác nhau và các yêu cầu thực hiện nhiệm vụ khác nhau

ở cấp tiểu học đòi hỏi trẻ phải thuần thục kĩ năng đọc, viết và sử dụng các đồ dùnghọc tập, sách vở Vì vậy, việc chuẩn bị cho trẻ khuyết tật làm quen với các kĩ năngđầu tiên trước khi vào lớp 1 trong giai đoạn chuyển tiếp như các kĩ năng học tập:làm quen với chữ, viết, đọc số và chữ các kĩ năng quản lí học tập: sử dụng các đồdùng học tập và sách vở và các kĩ năng giao tiếp, học tập cùng nhau để thực hiệncác nhiệm vụ của từng môn học là hết sức cần thiết để ngay từ những ngày đầu tiêntrong trường tiểu học trẻ đã có thể làm quen, bắt nhịp và thực hiện được các nhiệm

vụ học tập ở trường tiểu học

Việc chuẩn bị các kĩ năng tiền tiểu học cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non giúp trẻngay khi bước chân vào trường tiểu học sẽ tự tin và chủ động tham gia và hoà nhậpcùng bạn để phát triển năng lực hành động Đặc biệt, các kĩ năng học tập ban đầuđược chuẩn bị cho trẻ khuyết tật trước khi vào lớp 1 giúp trẻ có thêm những kiếnthức, kĩ năng cần thiết để giải quyết vấn đề, thực hiện nhiệm vụ có mục đích và có

kế hoạch, chủ động thực hiện nhiệm vụ trong các tình huống và có sự đóng gópnhất định trong các hoạt động tập thể Trẻ không bị cách biệt mà có thể tham giacùng các bạn trong một môi trường học tập chia sẻ, hợp tác, hình thành khả năngcộng tác, chia sẻ, học hỏi cùng nhau và đảm nhiệm các vai trò khác nhau của từngthành viên trong nhóm học tập Những giá trị này giúp cho trẻ khuyết tật có nềntảng tốt để học tập hoà nhập và thích ứng trong xã hội

4.Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kĩ năng tiền học đường cho trẻ

Các yếu tố gia đình

Thái độ của cha mẹ và các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng đến sự hìnhthành kĩ năng của trẻ Có 4 nhóm thái độ gia đình có tác động tích cực hoặc khôngtích cực đến trẻ:

- Gia đình bao bọc quá mức: Trẻ luôn được chiều chuộng quá mức, không tự giải

quyết các nhiệm vụ và tiếp cận với những thách thức của cuộc sống hằng ngày.Điều này dẫn đến hạn chế cơ hội trẻ được khám phá, hoạt động với môi trường; cảntrở sự phát triển của tính chủ động, độc lập và cơ hội thể hiện năng lực cá nhân của

Trang 5

trẻ, trẻ trở nên thụ động, chờ đợi sự giúp đỡ của người khác và có cảm giác làngười thừa và bất lực; khó tham gia hoạt động cùng mọi người;

- Gia đình có thái độ quá đề cao trẻ: Mọi sự chú ý của các thành viên đều dồn vào

trẻ, bất cứ một hành vi nào của trẻ cũng được coi là sự thành công Hậu quả là trẻ

có cảm giác tự kiêu, ích kỉ, không có thái độ học hỏi và luyện tập Tính kỉ luật,trách nhiệm với công việc và thái độ, khả năng hợp tác của trẻ với mọi người xungquanh hạn chế đáng kể

- Gia đình bỏ mặc không quan tâm: Gia đình lãnh đạm, thờ ơ trước nhu cầu, sự

hứng thú của trẻ Điều này tác động mạnh tới sự phát triển tâm sinh lí, nhận thứccủa trẻ, làm cho trẻ trở nên thiếu tự tin, khó thích ứng và hoà nhập; thao tác trên cácđối tượng đồ vật vụng về, chậm trễ; có thái độ xa lánh mọi người xung quanh, suynghĩ tiêu cực Sự phát triển của trẻ vì vậy sẽ bị hạn chế đáng kể, điều đó ảnhhưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện các kĩ năng sống hằng ngày của trẻ

- Gia đình có nhận thức và hành động đúng đối với khả năng và cơ hội phát triển

của trẻ Những cha mẹ này luôn hướng đến quan điểm giáo dục bình đẳng và tạo cơhội học tập phát triển cho trẻ, có niềm tin về khả năng học và thực hiện được cácnhiệm vụ đối với trẻ Cha mẹ chính là người tìm kiếm những kiến thức, kĩ năng đểhướng dẫn trẻ học kĩ năng cũng như tạo cơ hội tốt nhất để trẻ được tham gia họccàng nhiều kĩ năng càng tốt

Các yếu tố liên quan đến cơ sở giáo dục

Mối quan hệ giữa các thành viên trong cơ sở giáo dục:

Cơ sở giáo dục mầm non là nơi diễn ra các hoạt động giữa trẻ với trẻ và giữa trẻvới giáo viên, ở đó các thành viên thống nhất thực hiện để cùng nhau giải quyếtnhiệm vụ Mối quan hệ giữa các thành viên thể hiện bởi sự chia sẻ, hỗ trợ và thấuhiểu năng lực và nhu cầu của trẻ để tạo bầu không khí hợp tác, gắn kết, đồng thuậntrong thực hiện nhiệm vụ, trong đó trẻ và giáo viên thay phiên nhau chia sẻ nhữnghiểu biết và học hỏi kinh nghiệm của nhau để tìm kiếm những kiến thức, kĩ năngcần thiết Vai trò của từng thành viên được luân phiên, thay đổi và được khẳngđịnh Giáo viên hiểu được những năng lực và khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ

Trang 6

của từng trẻ trong lớp học để tổ chức, hướng dẫn phù hợp và chia sẻ trách nhiệmcùng nhau Niềm tin của các thành viên trong trường lớp với nhau được củng cố làyếu tố tác động tích cực để mọi trẻ tham gia ở mức cao nhất với năng lực của mình.Ngược lại, nếu một môi trường lớp học không có sự hợp tác, chia sẻ và hiểu biết vềnhau, các cá nhân không tin tưởng, có thái độ kì thị trẻ khuyết tật thì môi trườngtrường học ấy sẽ tạo rào cản làm cho trẻ khuyết tật khó khăn tham gia vào các hoạtđộng trong

Trẻ khuyết tật nhận được sự chia sẻ, hướng dẫn, và được tham gia nhiều hoạt động

sẽ học và có nhiều trải nghiệm với môi trường và các đối tượng khác nhau, tạo tiền

đề để có một cuộc sống có ý nghĩa và chất lượng

Tạo lập các hoạt động với trẻ

Môi trường ở trường có thể cho phép tạo dựng một chương trình trọn vẹn về cáchoạt động sống hằng ngày Các hoạt động có thể được tạo lập theo cách khác nhau

sẽ có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển các kĩ năng của trẻ Trong đó cầnlưu ý thời điểm tiến hành hoạt động có tác động tới khả năng tiếp thu và phân phốihoạt động khác nhau cho các mục tiêu phát triển khác nhau của trẻ Đồng thời cáchoạt động được thiết kế đa dạng thông qua học tập, giao tiếp, trải nghiệm trong cácmôi trường và lĩnh vực khác nhau có ảnh hưởng quan trọng tới các mặt phát triểncủa trẻ cả về các kĩ năng nhận thức học tập, kĩ năng xã hội và khả năng thích ứng

Các yếu tố cộng đồng

Thái độ và cách ứng xử của các thành viên trong cộng đồng có thể làm phát sinhcác vấn đề đối với trẻ khuyết tật Hai cách phản hồi tích cực và tiêu cực mà nhữngngười xung quanh thường thể hiện và có tác động đến trẻ đó là:

Những phản hồi tiêu cực

Né tránh tình trạng khuyết tật của trẻ theo cách đánh đồng các nhu cầu của trẻkhuyết tật với những trẻ khác Vì thế các hoạt động và môi trường hoạt động khôngđược mọi người chú ý điều chỉnh để tạo cơ hội và khuyến khích trẻ khuyết tật thamgia

Trang 7

Tập trung về tình trạng khuyết tật của trẻ, đôi khi cố tình châm chọc hoặc nói vềnhững vấn đề nhạy cảm của trẻ khuyết tật một cách vô tâm Những thái độ thể hiện

sự tò mò, dè bỉu, không tôn trọng và coi thường khả năng và sự tham gia của trẻkhuyết tật cũng là rào cản lớn để phát triển sự tự tin cũng như cơ hội hoà nhập đểhọc tập kĩ năng của trẻ khuyết tật

Những phản hồi tích cực

Những quan điểm tích cực của người xung quanh trẻ khuyết tật tạo ra các cơ hội tốtnhất để trẻ khuyết tật được phát triển Chấp nhận nhu cầu đặc biệt của trẻ và đápứng nhu cầu đặc biệt của trẻ như một điều tất yếu để đảm bảo trẻ nhận được hỗ trợphù hợp và đảm bảo cơ hội tham gia của mọi thành viên trong xã hội

Trẻ khuyết tật được cộng đồng tạo cơ hội tiếp cận với nhiều hoạt động khác nhau,được học hỏi từ những người xung quanh, nhận được sự hỗ trợ của mọi người vàcũng có cơ hội để chia sẻ với mọi người Trong môi trường hợp tác, tích cực, trẻkhuyết tật được khuyến khích để trở nên độc lập hơn, các kĩ năng sống được hìnhthành và phát triển ở mức tốt nhất

II Biện pháp giáo dục kĩ năng tiền học đường cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non

Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ và quản lí học tập

Giáo dục các kĩ năng tự phục vụ và quản lí học tập đảm bảo để trẻ có thể thực hiệncác nhiệm vụ sử dụng các đồ dùng học tập cá nhân, tuân thủ nền nếp học tập, đảmbảo được các yêu cầu kĩ năng phù hợp nhất, giúp trẻ có thể quản lí được các hành

vi học tập và kĩ năng học tập của cá nhân một cách chủ động, ít cần đến sự hỗ trợ

từ người khác, tự tin về khả năng của bản thân cũng như nhận được sự ghi nhận,tôn trọng của các thành viên trong lớp học Các kĩ năng tự phục vụ và quản lí họctập cần chuẩn bị cho trẻ khuyết tật mầm non giai đoạn chuyển tiếp lên tiểu học baogồm:

1 Kĩ năng chuẩn bị và quản lí đồ dùng học tập

Khi lên lớp 1, mỗi trẻ đều có một bộ đồ dùng cá nhân và sử dụng độc lập để thựchiện các thao tác học tập của các môn học Vì vậy, chuẩn bị và quản lí đồ dùng học

Trang 8

tập được coi là một yêu cầu hết sức cơ bản cần được chuẩn bị cho trẻ khuyết tật đểkhi bước chân vào trường tiểu học trẻ đã được làm quen với đồ dùng học tập, làmquen với cách sử dụng và giữ gìn đồ dùng Các kĩ năng bao gồm: con ng bi

2 Nhận biết và chuẩn bị đồ dùng học tập:

Giáo viên có thể thông báo cho trẻ về một buổi dã ngoại đi hiệu sách để mua bútsáp, giấy màu, tẩy, thước kẻ Trước khi đi, cần chuẩn bị cho trẻ nhận biết các đồdùng cần mua như bút chì, bút sáp, tẩy, thước kẻ,…

Giáo viên tổ chức cho trẻ nhận biết đồ dùng học tập bằng các trò chơi với vật thật,sau đó nhận biết đồ dùng kèm theo thẻ tranh chụp hình ảnh của đồ dùng

Khi trẻ đã nhận biết tên, hình ảnh thật của đồ dùng, thẻ tranh chụp đồ dùng giáoviên tổ chức đưa các trẻ đến hiệu sách để lựa chọn Đối với trẻ khác, giáo viênkhông cần chuẩn bị thẻ tranh các đồ dùng học tập cần mua sắm Tuy nhiên, đối vớitrẻ khuyết tật, giáo viên cần chuẩn bị riêng cho trẻ một bộ tranh đồ dùng học tập.Khi đến nhà sách, giáo viên đề nghị trẻ lựa chọn đồ dùng, trong đó hỗ trợ tìm đồdùng có hình ảnh giống hình ảnh trong thẻ tranh Cách này sẽ giúp trẻ có thể tự taylựa chọn những món đồ học tập của mình Khi đó, trẻ sẽ nhớ kĩ hơn các đồ dùng

mà mình đang có

Cách tổ chức cho trẻ trong lớp mầm non và trẻ khuyết tật cùng nhau đi lựa chọn đồdùng học tập sẽ giúp trẻ thấy phấn khởi vì được tự lựa chọn đồ dùng, đồ chơi chomình và giúp trẻ nhớ lâu hơn các đồ dùng, đồ chơi mà mình lựa chọn cũng như có

ý thức hơn trong việc giữ gìn các đồ dùng đó Việc này cũng là cách làm cho trẻ cótâm thế sẵn sàng đến lớp Đừng để đến khi trẻ mầm non nói chung và trẻ khuyết tậtđến trường ngày đầu mới biết được trong cặp sách của mình có những gì Điều dàycông chuẩn bị cho trẻ này sẽ khiến trẻ có tâm lí ỷ lại và không xem trọng những đồdùng mà người lớn đã

3 Học cách nhận biết đồ dùng học tập của cá nhân

Đây cũng là cách giúp trẻ mầm non nhận ra đồ dùng của bản thân Có rất nhiềucách để thực hiện như dùng băng giấy ghi tên trẻ, kí hiệu hoặc hình vẽ

Trang 9

Đối với trẻ khuyết tật, giáo viên có thể chú ý đến nhu cầu, sở thích của trẻ để lựachọn cách giúp trẻ đánh dấu và nhận ra đồ dùng cá nhân phù hợp nhất với trẻ Giáoviên cần cân nhắc về khả năng nhận biết các chữ cái và nhận biết tên của trẻ đểhướng dẫn trẻ lựa chọn cách đánh dấu, bằng chữ cái, kí hiệu hoặc tên Tuy nhiên,nhiều trẻ khuyết tật chưa nhận biết chữ và nhận biết tên của mình Vì vậy, giáo viên

có thể cho trẻ được tự lựa chọn các biểu tượng hoặc các sticker mà trẻ yêu thích vàgiáo viên cùng hỗ trợ trẻ khuyết tật dán sticker đánh dấu lên đồ dùng cá nhân củatrẻ Cách làm này giáo viên giúp trẻ hiểu được đồ dùng sở hữu riêng của trẻ và dễdàng nhận ra đâu là đồ dùng học tập của mình thông qua kí hiệu Trong lớp họcmầm non, đôi khi có nhiều trẻ có chung sở thích lựa chọn các sticker giống nhau,giáo viên có thể thay đổi bằng số lượng hoặc cùng trẻ tạo thêm một dấu hiệu riêng

để tránh sự trùng lắp cách đánh dấu đồ dùng dạy học giữa các trẻ trong lớp vớinhau

4 Giữ gìn đồ dùng học tập như một người bạn của trẻ

Trẻ khuyết tật thường có hành vi bỏ quên, vứt đồ dùng và không quan tâm bảoquán đồ dùng của bản thân Vì vậy, để trẻ khuyết tật giữ gìn đồ dùng học tập mộtcách hiệu quả, ngoài việc hướng dẫn trẻ bằng việc nhắc nhở, đưa ra các quy địnhthì cách phù hợp đó là làm cho trẻ có cảm giác gắn bó, yêu thương đồ dùng học tậpnhư người bạn đáng yêu của trẻ

Giáo viên có thể xây dựng các câu chuyện gắn với đồ dùng để kể cho trẻ nghe hoặc

tổ chức các hoạt động trẻ chơi với các "người bạn" đồ dùng học tập của trẻ Sự thânquen này sẽ khiến trẻ có ấn tượng rất đặc biệt với các đồ dùng học tập của mình vàgiúp trẻ giữ gìn, không vứt bỏ, không làm hư hỏng đồ dùng

Hình thức nhắc nhở bằng cách xây dựng các nội quy chỉ dẫn bằng thẻ tranh cácbước thực hiện sử dụng và cất đồ dùng học tập cũng hết sức quan trọng với trẻkhuyết tật Giáo viên cũng luôn luôn chú ý sử dụng các hình thức khen ngợi trẻ khitrẻ biết thực hành đúng các thao tác cất, giữ và không vứt đồ dùng hoặc khi trẻ có

sự tiến bộ nhất định Sự khích lệ của giáo viên chính là cách công nhận ý thức củatrẻ, giúp trẻ khuyết tật thấy vui và sẽ tiếp tục cố gắng duy trì những hành vi tíchcực,

Trang 10

Đôi khi với đặc điểm hành vi khó kiểm soát, đặc điểm chậm nhớ, mau quên của trẻkhuyết tật nên việc trẻ vứt, bỏ quên, đánh rơi hoặc làm mất đồ dùng học tập trongquá trình thực hành kĩ năng là hoàn toàn có thể xảy ra Vì vậy, các hình thức tráchphạt trẻ là hoàn toàn không hữu hiệu vì sẽ tạo tâm lí căng thẳng, không an toàn, lolắng và sợ hãi.

5 Lập danh sách những món đồ dùng mình đang có

Việc ghi nhớ tên và nhớ có bao nhiêu món đồ, chức năng của từng đồ dùng khôngphải là nhiệm vụ dễ dàng với trẻ khuyết tật Vì vậy, trong giai đoạn chuyển tiếp từmầm non lên tiểu học, giáo viên cần tăng cường giúp trẻ khuyết tật nhớ tên và nhớđược các loại đồ dùng mình đang có Bằng cách chụp các thẻ đồ dùng học tập,hằng ngày khi đến lớp giáo viên có thể cho trẻ lựa chọn và dán vào băng dấp dínhcác đồ dùng trẻ đang có và trước khi về, giáo viên cũng dành một khoảng thời giancùng trẻ kiểm lại những đồ dùng mà trẻ còn lại trong hộp đồ dùng cũng bằng cách

sử dụng thẻ tranh và dán vào băng dấp dính Cách này sẽ giúp trẻ nhớ được đồdùng của trẻ và các đồ dùng trẻ đã đánh mất

6 Làm quen với kĩ năng cầm bút – giở sách

Hoạt động học ở tiểu học đòi hỏi trẻ cần có kĩ năng sử dụng sách vở và bút để đọc

và viết Ngay những ngày đầu tiên học tập ở lớp 1, các kĩ năng đọc sách và viếtđược coi là những kĩ năng cơ bản nhất của cấp học Trong nội dung này, chúng tôigiới thiệu một số kĩ năng thực hành giúp trẻ khuyết tật làm quen với cách cầm bútchì và sử dụng bút để đánh dấu và làm quen với kĩ năng giờ các trang sách có độdày mỏng khác nhau

7 Làm quen với kĩ năng cầm bút chì

Cách cầm bút thích hợp về chiều hướng và tư thế cầm bút tưởng chừng hết sức tựnhiên và đơn giản, nhưng đối với trẻ khuyết tật thì đây cũng là một trong những Vềchiều hướng của bút: Giáo viên cần hướng dẫn trẻ nhận biết được đầu cầm bút vàđầu viết Đối với trẻ khuyết tật, đặc biệt là trẻ khuyết tật trí tuệ thì để trẻ dễ dàngnhớ đúng chiều, giáo viên cần hướng dẫn trẻ nhiều lần Giáo viên cũng có thể sử

Trang 11

dụng cách đánh dấu vị trí cầm bút và đánh dấu vị trí hướng lên trên bằng stickerhoặc giấy dán màu sắc yêu thích của trẻ để trẻ chú ý và dễ dàng ghi nhớ máy móc.Bước tiếp theo, giáo viên cho trẻ thực hành cách sử dụng 3 ngón tay: ngón cái,ngón trỏ và ngón giữa kết hợp với nhau để cầm bút và đặt bút vào giấy phù hợp vàchắc chắn, đúng góc độ hướng vào giấy.

Các phương pháp làm mẫu và hỗ trợ trực tiếp (cầm tay trẻ) là hết sức cần thiết Khitrẻ cầm bút chì lên, giáo viên quan sát tư thế của trẻ, nếu trẻ không cầm đúng, giáoviên hỗ trợ trẻ bằng cách nghiêng bàn tay trẻ từ cổ tay để giúp trẻ có thể chấm đầubút chì lên giấy ở một góc độ phù hợp Giáo viên không lạm dụng sự hỗ trợ trựctiếp đối với trẻ mà cần giảm dần giúp đỡ khi thấy trẻ đã có thể thực hiện hoặc sẵnsàng cho việc thực hành cầm bút thành công

Kĩ năng cầm bút của trẻ đôi khi không hoàn toàn theo hình mẫu giáo viên hướngdẫn, có trẻ cầm bút chì với ngón út gần sát giấy nhiều nhất, cũng có trẻ lại để ngóncái gần giấy hơn Giáo viên không nên ép buộc trẻ khuyết tật thay đổi cách cầm bútmột cách cứng nhắc, hãy để trẻ sử dụng bút với cảm giác thuận lợi nhất, dần dần trẻ

sẽ hoàn thiện kĩ năng của mình Sự ép buộc sẽ làm trẻ nản trí, không còn động cơ,hứng thú sử dụng bút để vẽ

Khi trẻ khuyết tật đã có thể cầm bút chì với tư thế hướng lên – xuống, giáo viênkhuyến khích trẻ khám phá cách tạo các dấu vết trên giấy bằng cách chấm cácchấm nhỏ, nối các chấm, tô các đường nét thay vì chỉ để trẻ sử dụng bút với cácđường viết nguệch ngoạc kéo dài

8 Thực hành kĩ năng lật trang sách

Lật trang sách là một kĩ năng phức tạp nhưng các hoạt động thực hành sớm sẽkhuyến khích trẻ làm quen với sách và hiểu được chức năng của trang sách cũngnhư thực hiện các yêu cầu tìm đúng trang sách để học tập khi bước sang giai đoạnhọc tập ở trường tiểu học

Đối với trẻ khuyết tật, các kĩ năng vận động tinh của trẻ thường phát triển chậm sovới độ tuổi, vì thế, để trẻ khuyết tật có thể dễ dàng hơn khi thực hành kĩ năng này,giáo viên nên bắt đầu bằng việc chọn loại sách có trang chắc chắn, giấy dày và đủ

Trang 12

cứng để trẻ lật dễ dàng hơn mà không bị dính giữa các trang Chọn cuốn sách cóhình ảnh đẹp sẽ kích thích nhu cầu muốn được xem và lật trang của trẻ.

Giáo viên chọn sách cùng trẻ, chọn vị trí ngồi đọc thoải mái nhất với trẻ và chầmchậm mở trang đầu tiên, cùng đọc cho trẻ Sau khi đọc xong, giáo viên dừng lại, đểtrẻ được tiếp xúc với sách và quan sát nhu cầu lật trang của trẻ Trẻ có thể kéo lên

cả trang kế tiếp, hoặc đẩy nó xuống khi nó bị lật lên điều đó cho thấy trẻ đã có hành

vi tham gia lật trang sách Giáo viên hãy để trẻ được thoải mái khám phá, tự lật cáctrang sách cứng, để trẻ từng bước tự mình lật và xem hết quyển sách

Trẻ khuyết tật có thể sẽ khó khăn khi tách các trang sách Vì vậy, giáo viên hãydùng các ngón tay, đặt ở giữa hai trang sách, và khuyến khích trẻ lướt bàn tay, cácngón tay vào giữa các trang và thực hành lật trang Để giảm bớt sự trợ giúp, giáoviên dần dần giảm khoảng cách mở rộng giữa các trang, và từng bước để trẻ tự thựchiện một mình mà không cần có sự hỗ trợ tách các trang cho trẻ Lúc này, giáo viênquan sát trẻ thực hiện kĩ năng, nếu trường hợp trẻ lật ra hơn một trang, giáo viên cóthể nhắc nhở trẻ bỏ sót một trang rồi, con lật một trang thôi Để dễ dàng liên kếtthực hiện các kĩ năng, giáo viên có thể kết hợp giữa nhắc nhở bằng lời và biểu diễndùng ngón tay giở một trang lên khỏi các trang kia cho trẻ bắt chước

Giáo viên không cần dành thời gian riêng để dạy trẻ kĩ năng lật trang Tạo ra thóiquen chơi với sách và khám phá sách như một phần trong các nhu cầu tự nhiênhằng ngày của trẻ Tạo ra một góc sách và để trẻ được đem sách ra xem và giáoviên hãy tận dụng cơ hội đó để cùng trẻ khám phá sách, đọc sách cho trẻ nghe vàchơi với trang sách

Khi trẻ đã lật được các trang sách cứng, giáo viên nên chuyển sang mức độ cao hơn

để trẻ lật vài trang sách mềm giúp trẻ có thể thực hành tốt hơn kĩ năng tách riêngmột trang sách mềm mỏng ra khỏi những trang còn lại Cũng giống như cách lựachọn sách ở trên, giáo viên cần chú ý chọn những quyển sách có hình ảnh và màusắc hấp dẫn Tranh thể hiện câu chuyện ngắn, trong đó mỗi tranh chỉ mô tả một sựkiện để trẻ khám phá và ghi nhớ có chủ đích thông tin của từng trang sách Việcthực hành giở sách có thể bằng hình thức trò chơi, trong quá trình thực hành, bước

Trang 13

đầu giáo viên hãy chấp nhận việc trẻ có thể lật vài trang sách mềm cùng lúc, giáoviên chấp nhận để trẻ thử sai nếu trẻ làm chưa được.

9 Làm quen và tuân thủ với quy định về nền nếp học tập

Kĩ năng tuân thủ là khả năng tuân theo những quy định chung trong quá trình thamgia hoạt động học tập, vui chơi của trẻ

Tuân thủ không có nghĩa là chấp hành hay tuân theo một cách thụ động mà trên cơ

sở nhận thức và hiểu đầy đủ về những yêu cầu mang tính bắt buộc trong các hoạtđộng học tập và vui chơi của trẻ ở các môi trường khác nhau

Thực hiện và tuân thủ các quy định về nền nếp lớp học là yêu cầu đối với mọi họcsinh để đảm bảo các hoạt động dạy học diễn ra theo trình tự, có tổ chức, có kếhoạch, mang tính chất hành chính – sư phạm ở bậc học phổ thông Ngay từ khi vàolớp 1, các yêu cầu học sinh tuân thủ nền nếp lớp học nhằm hình thành cho trẻ ýthức tự giác, tự chủ và tự quản, tinh thần trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thểban hành trong nhà trường, lớp học

Trẻ khuyết tật mầm non nếu chưa được chuẩn bị tâm thế và làm quen với các cao

về nền nếp học tập, khi vào lớp 1 trẻ có thể xuất hiện cảm giác ức chế, có nhiềuhành vi chống đối, làm ảnh hưởng đến sự tham gia và hoà nhập của trẻ cũng nhưnhững ảnh hưởng đối với việc duy trì nền nếp lớp học, sự ổn định về tổ chức lớphọc, hoạt động lớp học, hiệu quả giáo dục và dạy học của lớp học,…

Để đảm bảo cho sự sẵn sàng của trẻ khuyết tật mầm non khi vào học trong trườngtiểu học, giáo viên cần chuẩn bị cho trẻ các kĩ năng cụ thể:

a) Thực hiện hoạt động theo thời gian biểu

Hướng dẫn cho trẻ làm quen với thời gian biểu với lịch trình hoạt động được quyđịnh rõ (tương ứng với môn học ở cấp tiểu học), nội dung hoạt động, thời gian trẻcần tuân thủ tham gia trong hoạt động, thời gian trẻ bắt đầu hoạt động, thời gian kếtthúc hoạt động và thời gian chuyển tiếp sang hoạt động mới Cách thực hiện này

sẽ giúp trẻ từng bước làm quen với hoạt động theo giờ học và môn học ở lớp 1 màkhông có cảm giác khiên cưỡng, ép buộc

Trang 14

Ví dụ dưới dây là bảng lịch trình học tập trẻ cần sẵn sàng biết để tuân thủ Giáoviên hướng dẫn cho trẻ biết các biểu tượng và làm quen với chữ gắn liền với biểutượng Khi hoạt động bắt đầu, giáo viên chỉ vào tranh biểu tượng để trẻ hiểu vàthực hiện đúng hoạt động Khi kết thúc, giáo viên/hoặc trẻ có thể lật úp tranh biểutượng về hoạt động đã hoàn thành và bắt đầu chuyển sang hoạt động tiếp theo.

b) Thực hiện quy định trong nhóm, lớp

Giáo viên tổ chức xây dựng, thống nhất thực hiện quy định trong nhóm, lớp để trẻkhuyết tật hiểu và hằng ngày thực hành tạo dựng thói quen hành vi tuân thủ thựchiện nền nếp lớp học Khi học ở trường tiểu học, tuân thủ các quy định lớp học làmột yêu cầu quan trọng về phẩm chất đòi hỏi học sinh cần rèn luyện Vì vậy, tronggiai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học, giáo viên cần lựa chọn một số quyđịnh cơ bản, thông báo và hướng dẫn cho trẻ khuyết tật làm quen và tuân thủ Một

số quy định nền nếp cần cho trẻ làm quen như sau:

Quy định về hành vi

Khi giáo viên yêu cầu các hành vi trẻ cần thực hiện, giáo viên có thể chỉ vào cácbiểu tượng để trẻ tự giác điều chỉnh hành vi cá nhân cho phù hợp

Sự đi lại:

Đối với trẻ khuyết tật, nhất là trẻ tăng động giảm chú ý, việc duy trì ngồi một chỗ

và hạn chế di chuyển tự do là hết sức quan trọng Giáo viên cần xây dựng quy định

về sự đi lại bằng thẻ Quy định hành vi (khi nào được di chuyển tự do và khi nàokhông được di chuyển tự do trong lớp); thẻ Đề nghị (để xin phép khi có nhu cầu dichuyển ra ngoài); quy định: Khi giáo viên đồng ý với đề nghị xin phép mới được rangoài

Giáo viên hướng dẫn các quy định để trẻ hiểu rõ và tổ chức thực hành dựa theo cáchoạt động và tình huống diễn ra hằng ngày để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cánhân của trẻ Nhiều trẻ có hành vi tăng động giảm chú ý rất khó khăn để có thể duytrì ngồi yên một chỗ trong một khoảng thời gian kéo dài, vì vậy, nhu cầu đứng lên,

đi lại tự do trong lớp học của trẻ xuất hiện thường xuyên Đặc điểm này là nhu cầusinh lí thần kinh đặc trưng của trẻ nên giáo viên không ép buộc trẻ phải ngồi yên tại

Trang 15

chỗ mà cần quan sát trẻ để xác định khoảng thời gian tối đa nào thì trẻ sẽ bắt đầuxuất hiện nhu cầu di chuyển khỏi chỗ Trên cơ sở đó, giáo viên xác định thời gianyêu cầu trẻ ngồi tại chỗ và thời gian cho phép trẻ được di chuyển Để kéo dài thờigian trẻ ngồi yên tại chỗ, giáo viên sử dụng hình thức yêu cầu cao (nghĩa là tăngdần thời gian ngồi yên tại chỗ) Khi trẻ giảm tần suất đi tự do ra khỏi chỗ và kéodài thời gian ngồi học, giáo viên cần kịp thời khen thưởng để khuyến khích những

cố gắng của trẻ

Đáp ứng yêu cầu hoạt động trong nhóm và hoạt động tập thể:

Các hoạt động trong nhóm, hoạt động tập thể cùng nhau giữa các trẻ để giải quyếtchung một nhiệm vụ được tổ chức thường xuyên trong trường tiểu học Vì vậy,trong giai đoạn chuyển tiếp từ trường mầm non lên tiểu học, giáo viên cần tổ chứccác hoạt động để trẻ khuyết tật được chơi và thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, giúptrẻ học kĩ năng tham gia, tương tác và nhận rõ vai trò của bản thân trong nhóm,cũng như biết cách thực hiện nhiệm vụ chung cùng các bạn trong nhóm Việc tổchức và giao các nhiệm vụ trong nhóm giúp trẻ khuyết tật có thể chia sẻ cảm xúc

và hành vi xử sự cũng như sự hiểu biết của trẻ, giúp trẻ thấy mình có ý nghĩa, cógiá trị và nhận được sự chia sẻ, và ghi nhận của những trẻ khác trong nhóm Đây là

cơ hội để trẻ khuyết tật được tham gia hoạt động bình đẳng với trẻ khác

Đồng thời, khi giao các nhiệm vụ, giáo viên cần thiết kế để tất cả trẻ được hoạtđộng cùng nhau và có vai trò kết hợp để thực hiện nhiệm vụ Các hướng dẫn củagiáo viên giúp cho các thành viên trong nhóm học cách cùng chơi, cùng làm, chia

sẻ và hỗ trợ để tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật học các kĩ năng cùng các bạn và cảmthấy mình có thể kết giao một cách thành công với giáo viên và các bạn cùng lớp.Vai trò của từng thành viên trong nhóm được giáo viên giao nhiệm vụ rõ ràng Trẻkhuyết tật thực hiện vai trò của cá nhân và sau khi hoàn thành hoạt động nhóm,giáo viên cần dành thời gian đánh giá, ghi nhận những cố gắng và kết quả củanhóm cũng như các thành viên trong nhóm Đặc biệt đối với trẻ khuyết tật, giáoviên cần giúp cho trẻ tự tin thể hiện ý kiến, giới thiệu kết quả của nhóm và giúp trẻnhận thấy mình có đóng góp một cách có ý nghĩa với nhóm

Thực hành các thói quen tự phục vụ:

Trang 16

Khi trẻ chuyển sang giai đoạn học tập trong trường tiểu học, trẻ cần có thói quen tựphục vụ và quản lí các nhiệm vụ cá nhân như ăn, mặc mà không còn có sự trợgiúp của giáo viên Vì vậy, ở giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non sang tiểu học, trẻkhuyết tật cần được tập trung hỗ trợ để hình thành thói quen tự phục vụ cá nhân.

c) Hình thành thói quen tự chuẩn bị thức ăn và đồ uống cho mình

Mục tiêu ở giai đoạn này là giúp trẻ làm quen và sẵn sàng tự thực hiện việc chuẩn

bị bữa ăn cho mình như lấy thức ăn và đồ uống

Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động hình thành kĩ năng thông qua trò chơi nhưchuẩn bị các món ăn, trẻ tham gia vào chơi lấy đồ ăn và thực tập các kĩ năng Trẻđược thực hành các kĩ năng như: rót lượng nước vừa đủ vào cốc; lấy vừa đủ canhvào bát, chọn thức ăn đặt vào đĩa, bưng đồ ăn vào bàn ăn ; học cách xếp hàng chờđến lượt lấy đồ ăn; đưa ra yêu cầu chọn đồ ăn phù hợp

Để hình thành các kĩ năng tự phục vụ, trẻ cần kết hợp nhiều kĩ năng khác nhau như

kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng vận động tinh và biết vậndụng vào tình huống thực tiễn Nhiều trẻ khuyết tật khi thực hành kĩ năng này cần

có thẻ tranh biểu tượng để thực hiện đúng hành vi xếp hàng hoặc đưa đồ ăn đúngquy định hoặc thay thế cách biểu đạt bằng lời do hạn chế khả năng lời nói Với nhucầu đa dạng của trẻ, khi dạy kĩ năng này, giáo viên cần căn cứ vào nhu cầu cụ thểcủa từng trẻ khuyết tật để có những hỗ trợ cụ thể bằng lời nói, bằng cấu trúc hoáhoạt động, làm mẫu hoặc sử dụng thẻ hành vi,…

III Lựa chọn một nội dung giáo dục kĩ năng xã hội và duy trì mối quan hệ trong học tập cụ thể, nhóm hãy thiết kế biện pháp và hoạt động để phát triển

kĩ năng đó cho trẻ khuyết tật trong lớp học hoà nhập.

Kĩ năng xã hội và duy trì mối quan hệ trong học tập cho trẻ khuyết tật t Kĩ năng xãhội trang bị cho trẻ phương tiện cần thiết để hoà nhập và giúp trẻ cải thiện hành vigiao tiếp, biến kiến thức thành hành động cụ thể và thói quen lành mạnh Khi trẻ có

kĩ năng xã hội tốt, trẻ biết tương tác và phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì vàlàm cho chính trẻ cũng như những người cùng tham gia vào hoạt động có giao tiếp,

Trang 17

tương tác xã hội phù hợp, trên cơ sở đó, trẻ và các thành viên trong nhóm sẽ cảmgiác hài lòng hơn, hạnh phúc hơn khi hợp tác cùng nhau

Hình thành và phát triển kĩ năng xã hội và duy trì mối quan hệ trong học tập của trẻkhuyết tật trong lớp học hoà nhập góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xãhội, làm cơ sở giúp trẻ tham gia vào các hoạt động học tập cùng nhau trong nhómmột cách hiệu quả nhất Thông qua đó, trẻ sẽ học cách điều chỉnh cảm xúc, giảiquyết các mâu thuẫn và mối quan hệ, lựa chọn những ưu tiên để tập trung giảiquyết nhiệm vụ học tập và học cách chấp nhận sự khác biệt để chia sẻ, hỗ trợ nhaucùng học tập

Trẻ khuyết tật thiếu kĩ năng xã hội là một nguyên nhân làm cản trở khả năng thiếtlập các mối quan hệ, duy trì và tương tác cùng các bạn trong nhóm và làm nảy sinhmâu thuẫn và các xung đột giữa các thành viên trong lớp Điều này có thể làm chotrẻ trở nên lạc lỏng, tách biệt, thiếu tự tin và ít nhận được sự thấu hiểu, ghi nhận củacác thành viên khác

1.Kĩ năng tìm kiếm sự trợ giúp

Kĩ năng tìm kiếm sự trợ giúp là khả năng của cá nhân nhằm tìm được sự hỗ trợ và

giúp đỡ của mọi người xung quanh khi gặp khó khăn trong cuộc sống Các kĩ năngcần được hình thành cho trẻ bao gồm:

- Xác định khó khăn đã trải qua

Ở kĩ năng này, trẻ cần nhớ lại, kể, liệt kê một hay một số khó khăn mà trẻ đã trảiqua và những hỗ trợ nhận được của bản thân để giải quyết khó khăn đó

Ví dụ trong hoạt động tham gia dã ngoại: trẻ nhớ và kể lại một lần được đi thamquan tại Viện bảo tàng, môi trường xa lạ, đồ vật xa lạ, gặp gỡ với những người xalạ,…gây cho trẻ cảm thấy bối rối, cảm giác không an toàn

Những hỗ trợ trẻ đã nhận được:

+ Những trẻ khác cầm tay dắt đi

+ Các bạn cùng quây quần nói chuyện vui vẻ bên nhau

+Hướng dẫn, giải thích những đồ vật trưng bày

Trang 18

+ Cùng tham gia một số hoạt động với những nhóm trẻ từ lớp khác và trường khácđến tham quan tại Viện bảo tàng.

- Xác định địa chỉ cần trợ giúp

Trẻ nhận biết, nói và chỉ ra được đúng địa chỉ để hỗ trợ giải quyết khó khăn Ví dụtình huống: Một bức tranh vẽ một trẻ đang đi một mình chưa biết đường về nhà,làm thế nào để trẻ có thể tìm được nhà mình ?

Một số kĩ năng của trẻ:

+ Tìm người quen hay bạn bè xung quanh

+ Hỏi người lớn xung quanh đường về nhà mình

+ Gặp chú công an đang đứng gần đó để hỏi

Trong trường hợp tình huống thực thì giáo viên, gia đình hoặc nhóm bạn cần bố tríngười quan sát trẻ

- Xác định cá nhân trợ giúp trong hoạt động nhóm

Ở kĩ năng này, trẻ nhận biết và xác định được cá nhân có thể trợ giúp trong quátrình tham gia các hoạt động nhóm hay hoạt động tập thể

Ví dụ trong hoạt động học tập trong nhóm:

Trẻ tìm kiếm được sự hỗ trợ của:

+ Bạn thân nhất

+ Bạn ngồi ngay bên cạnh

 Hỗ trợ hoạt động vui chơi:

Trang 19

+ Bạn thân, thường quan tâm đến trẻ

+ Các bạn lớn hơn, nhanh nhẹn hơn,

2Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói

Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là khả năng sử dụng ngôn ngữ nói một cách

rõ ràng, đủ nghe, chính xác, dễ hiểu để truyền thông tin cho người khác và diễn trẻ

cụ thể như sau: đạt ý nghĩ, cảm xúc và tình cảm của mình Các mức độ kĩ năng vàbiểu hiện của

- Diễn đạt bằng tiếng, từ đơn (một từ): Trẻ nói bằng lời một cách rõ ràng, chính xác

để diễn đạt được cho người khác hiểu nội hàm của tiếng, từ đó

Ví dụ: Khi giao tiếp với các thành viên trong gia đình, trẻ có thể nói, biểu lộ cảmxúc qua nét mặt, giọng nói, tên các thành viên trong gia đình trẻ như “ông” “bà”,

- Câu đơn (chủ ngữ và vị ngữ): Trẻ nói bằng lời một cách rõ ràng, chính xác, dễhiểu để diễn đạt được cho người khác hiểu nội hàm các câu đơn

Ví dụ: Trẻ có thể kể chuyện bằng lời nói, giọng điệu phù hợp với ngữ cảnh: “Mưaphùn bay, hoa đào nở.” “Cây ơi! Cây lớn mau!”

- Câu phức: Trẻ có thể nói bằng lời một cách rõ ràng, chính xác, dễ hiểu để diễn đạtđược cho người khác hiểu nội hàm các câu phức

Ví dụ: Khi hỏi trẻ: “Bạn đang làm gì đấy”, trẻ trả lời bằng lời nói: “Tớ đang xếp đồchơi để chuẩn bị đi về nhà với mẹ”

Ngày đăng: 02/02/2023, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w