1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ khuyết tật chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập tại lớp b2 (4 5 tuổi) khu trung tâm trường mn ái thượng, huyện bá thước

21 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Cho Trẻ Khuyết Tật Chậm Phát Triển Trí Tuệ Học Hòa Nhập Tại Lớp B2 (4 5 Tuổi) Khu Trung Tâm Trường MN Ái Thượng, Huyện Bá Thước
Trường học Trường Mầm Non Ái Thượng
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 920,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I 1 Mở đầu 1 1 Lí do chọn đề tài Ông Tony Blair, thủ tướng Anh khi được đề nghị nói ba từ quan trọng nhất hiện nay thì ông đã trả lời "Education, Education and Education" (Giáo dục, giáo dục và g[.]

Trang 1

Ông Tony Blair, thủ tướng Anh khi được đề nghị nói ba từ quan trọng nhất hiện nay thì ông đã trả lời: "Education, Education and Education" (Giáo dục, giáo dục và giáo dục) Qua đó có thể thấy được vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm chuyển biến nền kinh tế, làm xuất hiện bộ phận kinh tế tri thức Hiểu rõ vai trò đó của giáo dục, Đảng

ta cũng nêu rõ “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” (Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VIII) Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển giáo dục, chúng ta còn thực hiện

sự công bằng trong giáo dục Có thể nói vấn đề công bằng giáo dục được coi

là trọng tâm và là nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục Chính vì lẽ đó, Đảng

và nhà nước ta luôn quan tâm đến những người thiệt thòi trong xã hội, nhất

là đối với trẻ em trong đó có trẻ em bị khuyết tật về thể chất, tinh thần Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành pháp lệnh về người tàn tật (1998) và ký Lệnh công bố ngày 8 tháng 8 năm 1998 Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 1999, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về người tàn tật

Trên thế giới, vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật cũng được nhiều nước quan tâm và coi trọng, thể hiện quyền bình đẳng của con người Tuyên ngôn

về giáo dục đặc biệt Salamanca (Tây Ban Nha, 1994) đã nêu rõ: "Tất cả trẻ

em có nhu cầu giáo dục đặc biệt phải được đến trường học và các trường học phải trang bị kiến thức cho các em thông qua phương pháp sư phạm, lấy trẻ

em làm trung tâm" [1] Tuy nhiên, để làm được điều đó, giáo dục trẻ khuyết tật là công việc hết sức khó khăn, vất vả và vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào

để nhiều trẻ khuyết tật được đi học và được hưởng nền giáo dục có chất lượng?

Cho trẻ khuyết tật đến học tại các trường bình thường, để thực hiện giáo dục hòa nhập đang là một xu hướng mới trên thế giới và đang được triển khai ở một số nước có hệ thống giáo dục đặc biệt phát triển Hơn thập

kỷ qua, mô hình giáo dục hoà nhập ở Việt Nam đã được thực hiện Theo số liệu báo cáo của các địa phương: trong năm qua, đã có hơn 100 nghìn trẻ khuyết tật được học hoà nhập với trẻ bình thường Tại một số địa phương đã huy động trên 90% trẻ khuyết tật ở độ tuổi lớp 1 học hoà nhập theo chương trình và sách giáo khoa mới Bên cạnh những thành công nhất định của giáo dục hoà nhập, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn: đó là số lượng

Trang 2

trẻ khuyết tật được đi học còn ở mức hạn chế, chất lượng giáo dục hoà nhập còn chưa cao, chưa đáp ứng được mong muốn của trẻ và gia đình trẻ, Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, còn thiếu giải pháp, các điều kiện

về cơ sở vật chất trang thiết bị để thực hiện giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật chưa được đầu tư nhiều, giáo viên đứng lớp chưa được ưu tiên nhiều so với lớp không có trẻ, khuyết tật Đặc biệt là giáo dục hoà nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ là một chuyên ngành hẹp lại càng ít được chú ý, quan tâm

Vì những lý do trên, bản thân tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ khuyết tật chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập tại lớp B2 (4-5 tuổi) khu Trung tâm trường MN Ái Thượng, huyện

Bá Thước”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Xác định một số giải pháp giáo dục hoà nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ

ở trường MN Ái Thượng huyện Bá Thước nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục toàn diện ở các trường mầm non có thực hiện giáo dục hoà nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ ở huyện và ở tỉnh.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

“Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ khuyết tật chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập tại lớp B2 (4-5 tuổi) khu Trung tâm trường MN Ái Thượng, huyện Bá Thước”

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Nhóm phương pháp thống kê toán học

Nhóm phương pháp tìm tòi, sáng tạo

2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận.

Công ước của LHQ về quyền trẻ em có nêu “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” ( Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc)

Trong công việc thống kê, khảo sát và điều tra về người tàn tật, định nghĩa về người tàn tật nói chung thường được áp dụng chung cho cả trẻ em tàn tật [2]

Như đã được sử dụng trong phần này, thuật ngữ trẻ khuyết tật nghĩa là trẻ được chẩn đoán là bị chậm phát triển trí tuệ (CPTTT), khuyết tật thính giác bao gồm điếc, có vấn đề về ngôn ngữ hoặc lời nói, khuyết tật thị giác bao gồm mù, rối loạn cảm xúc nghiêm trọng (sau này chuyển thành rối loạn cảm

Trang 3

xúc), khuyết tật thể chất, tự kỷ, chấn thương não, những vấn đề về sức khoẻ khác, khó khăn về học đặc biệt, điếc-mù, đa tật và những người vì một lý do theo đó cần một sự giáo dục đặc biệt và những dịch vụ liên quan.

Ở Việt Nam Pháp lệnh về người tàn tật (Điều 1): người tàn tật không

phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn[3].

Trẻ bị khuyết tật là những trẻ từ 0-18 tuổi, không kể những nguyên nhân của khuyết tật, thiếu một hoặc hơn các bộ phận hoặc chức năng cơ thể khiến giảm khả năng hành động và gây khó khăn trong công việc, cuộc sống

từ môi trường Tàn tật đề cập đến sự tổn hại, yếu hoặc rối loạn khả năng chức năng tâm lý/sinh lý.

Khuyết tật (mức độ cá nhân): Khả năng bị giảm hoặc mất khả năng thực hiện do hậu quả của tàn tật Khuyết tật đề cập đến việc giảm hoặc thiếu một số khả năng ngăn cản các hoạt động trong điều kiện bình thường.

Tật nguyền (ở cấp độ xã hội): Trải qua khó khăn bởi một người do hậu quả của khuyết tật khiến cho người đó không thể tham gia vào cuộc sống cộng đồng một cách bình đẳng và hoàn thành vai trò bình thường (phụ thuộc vào tuổi, giới tính, những yếu tố xã hội và văn hoá).

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thuận lợi:

- Trong các năm học gần đây Phòng Giáo dục và Đào tạo giáo dục đã tổ chức tập huấn chuyên đề hướng dẫn giáo viên dạy trẻ khuyết tật hòa nhập, xây dựng kế hoạch, thảo luận ở tổ chuyên môn về cách soạn để thống nhất nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng trẻ vùng khó khăn

- Qua quan sát một số lớp dạy thử nghiệm trên lớp và qua sinh hoạt tổ, nhóm , trao đổi cụ thể từng bước soạn và lên lớp áp dụng cho một số trẻ khuyết tật trong năm học 2020 – 2021, đã giúp tôi có thêm kinh nghiệm trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

Trang 4

- Năm học 2021-2022 bản thân được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo nhỡ B2 khu trung tâm với tổng số cháu là 30 cháu, trong đó có

1 cháu khuyết tật chậm phát triển trí tuệ đó là cháu: Lê Đức An.

- Nhà trường luôn quan tâm đến giáo viên có trẻ khuyết tật, thường xuyên tiếp xúc, trao đổi với phụ huynh trẻ khuyết tật để phối hợp tốt hơn trong công tác chăm sóc trẻ ở trường cũng như ở nhà.

- Ban giám hiệu nhà trường là người đóng vai trò lãnh đạo tích cực mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật , nhà trường có đầy đủ hồ sơ theo dõi trẻ khuyết tật,quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy học tập như: Hình ảnh trực quan, tivi dành

để dạy các tiết học cho cả lớp và các giờ phụ đạo thêm cho trẻ khuyết tật, qua

đó giáo viên có thể ôn tập và củng cố các kiến thức trong ngày mà trẻ chưa nắm được.

- Một số phụ huynh trong lớp cũng phần nào hiểu và thông cảm cho tình trạng sức khỏe cũng như sức học tập của trẻ CPTTT.

2.2.2 Khó khăn:

- Nhà trường không có phòng phục hồi chức năng, phòng học cá nhân dành riêng cho trẻ CPTTT, đồ dùng đồ chơi chưa phong phú các thể loại

- Giáo viên còn lúng túng trong việc lập kế hoạch cá nhân cho trẻ CPTTT

và điều nhất thiết là GV phải có tính tỉ mỉ, kiên trì, thật sự yêu thương trẻ CPTTT.

- Kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu về dạy trẻ khuyết tật hòa nhập còn hạn chế

- Chưa sử dụng công nghệ thông tin trong dạy trẻ CPTTT thường xuyên.

- Việc tuyên truyền vận động tới phụ huynh có trẻ CPTTT và phụ huynh trẻ bình thường cũng rất khó khăn vì cha mẹ trẻ CPTTT vẫn có tâm lý ngại, ngượng, sợ mọi người biết được tật của con mình và bản thân phụ huynh chưa chấp nhận thực tế là con mình bị khuyết tật, phụ huynh né tránh không muốn nhắc đến việc tế nhị này Có nhiều cha mẹ vẫn cho rằng, trẻ CPTTT là trẻ bỏ đi, không thể học được, cho đến lớp làm gì Còn cha mẹ trẻ bình thường không muốn con mình học chung với các trẻ CPTTT vì họ sợ ảnh hưởng tới chất lượng của lớp và còn có tâm lý là con mình có thể bị lây bệnh hoặc ảnh hưởng đến tâm lý của con họ

- Bản thân trẻ chưa biết hòa nhập cùng các bạn tất cả các khả năng của trẻ còn quá thấp so với những bạn bình thường, ý thức của trẻ phát triển chậm.

Trang 5

Phụ huynh có quan điểm con bị khuyết tật thì khả năng học tập khó Chủ yếu cho con đi học nhờ cô trông để gia đình đi làm kinh tế.

Phụ huynh chưa có kiến thức về dạy trẻ khuyết tật.

Trước khi áp dụng các giải pháp mới tôi đã tiến hành khảo sát trẻ và thông qua các bài tập để từ đó tôi đánh giá đúng với trẻ CPTTT.

Kết quả khảo sát trước khi áp dụng các giải pháp: (tháng 10 năm 2021)

S

Mức độ đạt được của trẻ KT

2.3.1.Giải pháp 1 Điều chỉnh kế hoạch dạy trẻ khuyết tật.

Điều chỉnh mục tiêu:Việc điều chỉnh mục tiêu dài hạn và ngắn hạn sẽ

giúp cho trẻ CPTTT có thể tham gia tích cực vào các hoạt động chung của lớp.Tuy nhiên việc điều chỉnh này cần phải dựa vào các cơ sở sau:

Khả năng của trẻ: xem xét khi thực hiện nhiệm vụ này trẻ có những khả năng gì và mức độ đạt được đến đâu vì khi dạy trẻ phải dựa vào điểm mạnh của trẻ để xác định mức độ nhận thức (cấp độ nhận thức của Bloom).

Nhu cầu cần đáp ứng: căn cứ vào những điểm yếu của trẻ mà xác định nhu cầu cần đáp ứng Có thể đáp ứng những nhu cầu của trẻ thông qua quá trình dạy học và giáo dục.

Mục tiêu cấp học: dựa vào mục tiêu cấp học để xác định mức độ kiến thức dạy cho trẻ cho phù hợp với khả năng.

Điều kiện thực hiện: phải xem điều kiện môi trường giáo dục, kinh tế và nhận thức có những gì thuận lợi và khó khăn để cung cấp hay trợ giúp những thiết bị, phương tiện cần thiết.

Điều chỉnh nội dung:Tất cả các nội dung chương trình của bậc học

giáo dục mầm non đều có thể áp dụng vào việc dạy trẻ CPTTT, tuy nhiên cần

có sự điều chỉnh nhất định để phù hợp với mục tiêu của từng bài dạy Cụ thể các nội dung cần thiết trong dạy trẻ CPTTT như sau:

- Dạy các kỹ năng học tập: Đối với trẻ CPTTT, ta cần chú ý các lĩnh vực sau:

Trang 6

* Nhận thức: phân biệt và lĩnh hội được những gì trẻ nhìn thấy và nghe thấy, đối tượng hình-nền, khái niệm về các sự vật, hiện tượng gần gũi,…

* Định hướng về không gian, chú ý, ngôn ngữ, các kỹ năng vận động tinh, thô.

- Dạy các kỹ năng xã hội: Do trẻ CPTTT rất dễ gặp phải các rắc rối trong quan hệ xã hội, giáo viên cần dạy trẻ: Đợi đến lượt mình, Cùng chơi/cùng làm việc với các trẻ khác, Giao tiếp có hiệu quả.

- Dạy các kỹ năng sống: Kỹ năng tự phục vụ: Tự đi vệ sinh, tự xúc ăn, tự uống

* Kỹ năng sử dụng các tiện ích công cộng.

Ví dụ: Khi trẻ muốn đi vệ sinh trẻ đã biết gọi cô, để cô đưa vào ngồi bồn cầu Hay khi cô kê bàn ghế để chuẩn bị ăn cơm, mặc dù cô kê chưa xong, tranh thủ những tình huống này tôi hỏi trẻ “cô giáo đã kê bàn ghế xong chưa bạn

An nhỉ, trẻ “Chưa”, An trả lời lại nào Chưa cô ạ, bạn An giỏi lắm (cô khen ngợi

để động vien trẻ); chưa xong thì bạn An đã được ngồi chưa Chưa cô ạ, vậy phải làm gì, cô gợi ý cho trẻ trả lời và thực hiện cho phù hợp

Phương pháp dạy trẻ CPTTT trong lớp mẫu giáo hoà nhập

+ Phương pháp/công cụ thu hút sự chú ý: minh hoạ, vật trưng bày, tranh ảnh, bản đồ, đồ thị, nêu những câu hỏi mở, gợi sự suy nghĩ, nói nhấn mạnh, gọi tên trẻ, viết lên bảng, v.v Giáo viên phải di chuyển trong phòng học, thay đổi tốc độ, cao độ và âm lượng của giọng, sử dụng cả ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ và những động tác sinh động khác để thu hút và duy trì sự chú ý Giáo viên cần phải thay đổi/sử dụng nhiều hình thức khác nhau để trẻ không bị

“chán”.

+ Xếp vị trí ngồi: đối với những trẻ có vấn đề về khả năng tập trung, cần xếp các trẻ đó ngồi ở vị trí mà các yếu tố gây sao lãng mang tính trực quan là

ít nhất.

+ Đặt các câu hỏi mở: đây là phương pháp tốt để hỗ trợ trẻ tri giác và

ôn lại kiến thức vì các câu hỏi này sẽ giúp trẻ xác định được liệu trẻ tri giác đã đúng/đủ chưa.

+ Nhắc lại và mã hoá thông tin: Hai phương pháp này rất tốt trong việc

hỗ trợ trẻ CPTTT khắc phục những khó khăn về trí nhớ Có hai hình thức nhắc lại: nhắc lại để duy trì và nhắc lại có sự lựa chọn Việc hỗ trợ sự mã hoá thông tin là thông qua con đường học tập có ý nghĩa Có ý nghĩa ở đây nhằm mô tả

số lượng các liên kết hay liên tưởng giữa một ý tưởng/thông tin này với các ý tưởng/thông tin khác trong bộ nhớ dài hạn Thông tin càng được xử lý sâu thì càng trở nên có ý nghĩa Do vậy nên dạy trẻ những kỹ năng cần thiết, xác

Trang 7

thực và có ý nghĩa đối với chính bản thân trẻ Nên thường xuyên liên hệ những kiến thức mới với những trải nghiệm của trẻ Dạy trẻ cùng một kỹ năng ở các bối cảnh khác nhau.

2.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân

Một trong những giải pháp giáo dục đặc thù cho trẻ khuyết tật là xây dựng KHGDCN, là giải pháp cần thiết cho mỗi trẻ, nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng riêng của từng trẻ KHGDCN cũng đồng thời là công cụ để đánh giá chất lượng quản lý GDHN và xác định sự hỗ trợ cần thiết cho GDHN.

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN CHO TRẺ KHUYẾT TẬT NĂM HỌC 2021 - 2022 Thông tin về trẻ:

Họ và tên trẻ : Lê Đức An Giới tính: Nam

Ngày sinh: 05 tháng 03 năm 2017 ;Tuổi: 4 tuổi

Dạng khuyết tật chính: Khác ; Mức độ khuyết tật: Đặc biệt nặng

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Quy - Nghề nghiệp: Làm ruộng

- Năm học : 2021-2022 Lớp mẫu giáo nhỡ B2 ( 4-5 tuổi)

- Giáo phụ trách: Giáo viên 1: Phạm Ngọc Hà

- Phải dùng máy hỗ trợ khi nghe, vốn từ trẻ sử dụng khi nói còn hạn chế

- Sợ nơi đông người, không hòa nhập với bạn bè.

- Không có khả năng tập trung chú ý trong giờ học

- Trẻ chưa giao tiếp được với mọi người

- Chưa biết tự phục vụ một số việc đơn giản để phục vụ bản thân như:

Tự xúc cơm ăn, lấy nước uống, cởi gấp quần áo, lấy chăn gối

Trang 8

3 Nhu cầu của trẻ:

- Trẻ cần được chăm sóc giúp đỡ của người lớn trong các hoạt động và phục hồi chức năng.

- Trẻ được luyện kỹ năng nghe hàng ngày khi cô giáo nói và trao đổi với trẻ một cách nhẹ nhàng, cô nói chậm.

- Trẻ thường xuyên được cô nhắc lại các bài học cho trẻ mọi lúc mọi nơi

để trẻ ghi nhớ sâu hơn về các bài học.

- Được luyện nói bằng cách hàng ngày cô thường xuyên giao tiếp và khuyến khích trẻ tập nói theo cô câu có 2 từ trở lên.

- Tập cho trẻ những hành vi trong giao tiếp: Khi cô hay bạn đưa cho cái

gì trẻ tự biết khoanh tay khi nhận bằng 2 tay

- Các giờ hoạt động khuyến khích trẻ cùng ngồi tham gia với bạn.

- Cho trẻ cùng tham gia vào các hoạt động với các bạn đặc biệt khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động chơi nhập vai trong các trò chơi đóng vai để trẻ có điều kiện được giao tiếp với bạn trong lớp.

- Thường xuyên cho trẻ được gặp gỡ các cô giáo trong trường để trẻ được giao tiếp tăng vốn từ cho trẻ.

C KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN:

Mục tiêu năm học:

1.Vận động thô:

- Cử động/chuyển động các bộ phân cơ thể

- Không Có kỹ năng và giữ thăng bằng trong một số vân động

- Bật xa 35 – 40 cm

- Phối hợp tay mắt trong vận động; thể hiện nhanh, mạnh, khéo trong thực hiện bài tập tổng hợp : Đi trên ghế thể dục,đi trên vạch kẻ thẳng trên sàn, Bò thấp chui qua cổng,Trèo lên - xuống 5 gióng thang, Bò dích dắc qua 5 điểm, chạy 15m trong khoảng thời gian 10 giây, ném trúng đích bằng 1 tay.

2.Vận động tinh:

- Với lấy đồ vật, nắm lấy đồ vật và thả đồ vật khỏi tay

- Thao tác các đồ vật: Đang tập đi lên trẻ chưa biết biết soi gương,chưa chỉnh quần áo hoặc phủi bụi đất bị dính bẩn;Chưa biết đi giày dép và gấp quần áo theo đúng quy trình; Trẻ chưa biết lấy và cất đồ dùng cá nhân (quần

áo, dày dép, mũ, ), sách vở theo đúng ký hiệu của mình và vào đúng nơi quy định.

- Không Có khả năng tham gia hoạt động trong khoảng 25 phút

3 Kỹ năng thích ứng:

Trang 9

- Ăn uống: Cháu chưa biết ăn nhiều loại thức ăn, ăn chín, uống nước đun sôi để khỏe mạnh; không uống nhiều nước ngọt, nước có ga, ăn nhiều đò ngọt dễ béo phì không có lợi cho sức khỏe

- Vệ sinh: Cháu chưa biết vệ sinh răng miệng; đi vệ sinh đúng nơi quy định; chưa biết che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp;chưa biết rửa tay và chải răng đúng cách, không vẩy nước ra ngoài, không làm ướt áo, quần; bỏ rác đúng nơi quy định; không nhổ bậy ra lớp

- Mặc và cởi quần áo: Chưa biết tự mặc được quần áo đúng cách Cài và

mở được hết các cúc;

4 Giao tiếp xã hội:

- Tập cho trẻ phát âm nhiều và thường xuyên, kích thích trẻ nói khi cô cho cái gì? Dạy trẻ chào cô khi đến, khi về…

- Trẻ không biết nói lên chưa biết diễn đạt nhu cầu của cá nhân bằng những từ đơn giản; Xin cô; con; vâng ạ…

- Trẻ chưa biết ra ký hiệu để diễn đạt nhu cầu cá nhân như: Lắc đầu, gật đầu, dơ tay xin, cúi đầu chào,…

- Có phản ứng khi có tín hiệu hoặc nghe cô gọi.

- Trẻ chưa biết nói lên không biết kể tên hoặc đọc thơ về một số địa danh hoặc lễ hội hoặc thắng cảnh của quê hương, đất nước bằng lời nói rõ ràng.

- Trẻ chưa biết nói lên không đọc thơ được cùng cô.

- Trẻ chưa biết nói lên chưa thể kể được các sự kiện xảy ra theo trình tự thời gian.

- Trẻ chưa biết nói lên trẻ chưa thể kể lại được nội dung chuyện đã nghe theo trình tự nhất định

5 Khả năng nhận thức:

- Tập trung chú ý đến hướng dẫn của cô trong các hoạt động có chủ đích: Ngồi trọn vẹn thời gian hoạt động; cùng sử dụng các đồ dùng như bạn của mình.

- Biết phối hợp các giác quan để quan sát, xem xét và thảo luận về sự vật hiện tượng

- Trẻ chưa biết nói nên chưa biết chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 5

- Chưa nhận biết phía trên- phía dưới phía trước-phía sau

- Chưa biết được những việc làm tốt, không tốt, hiểu được cô giáo nói gì

và yêu cầu gì?

- Chưa có ý thức tập làm một số việc cô yêu cầu.

6 Kỹ năng xã hội:

Trang 10

-Tương tác giữa người và sự vật ở những tình huống khác nhau: Không thích chăm sóc cây cối, con vật quen thuộc.

- Phản hồi với những sinh hoạt xã hội hàng ngày: Chưa mạnh dạn, tự

tin trong sinh hoạt hàng ngày.

- Giao tiếp với bạn và người lớn: Trẻ chưa biết nói nên chưa có kỹ năng

lễ phép với cô giáo, người lớn và chưa tích cực hợp tác với bạn bè trong các

hoạt động chung của nhóm, lớp

- Chơi với bạn và người lớn: Cháu đang tập đi, tập nói lên trong quá

trình chơi với bạn đang cần sự giúp đỡ của cô giáo Trẻ thể hiện sự thân thiện, vui vẻ đoàn kết với bạn bè.

- Tương tác với môi trường: Cháu chưa biết ý thức được việc biết giữ

gìn, bảo vệ môi trường: cất gọn gàng đồ chơi sau khi chơi xong, không vứt rác, bẻ cây; biết giữ gìn và sử dụng tiết kiệm các sản phẩm lao động; có hành

vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày Có ý thức tiết kiệm nước sạch, bảo vệ nguồn nước sạch và môi trường sống.

- Hiểu bản thân và người khác: Cháu thuộc dạng khuyết tật nặng nên

đang tập nói và tập đi Chính vì vậy cháu chưa có được sự giao tiếp với bạn

bè, nhận biết và chia sẻ với người thân và bạn bè khi vui, buồn, ốm đau.

- Sử dụng các yêu cầu đề nghị.

- Tham gia các trò chơi vận động, học thể dục, biết xếp hàng ra vào lớp.

- Tự phục vụ bản thân;

Tự rót nước uống, tự đi vệ sinh đúng nơi quy định…

- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng nề nếp thói quen theo quy định của lớp

- Sử dụng các tiện ích công cộng

- Biết sử dụng yêu cầu

đề nghị.

- Thực hiện tốt một số quy định nơi công cộng : Đi vệ sinh đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi….

- Biết giữ gìn sách vở,

đồ dùng học tập Tự

Ngày đăng: 02/02/2023, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w