1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng viết đoạn văn hay cho học sinh lớp 3 trong phân môn tập làm văn

24 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng viết đoạn văn hay cho học sinh lớp 3 trong phân môn tập làm văn
Tác giả Trần Thị Lương
Trường học Trường Tiểu học Lộc Tân
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hậu Lộc
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN HẬU LỘC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIẾT ĐOẠN VĂN HAY CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN... Xuất phát từ

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN HẬU LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIẾT ĐOẠN VĂN HAY CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Trang 2

Nội dung Trang

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:

Phân môn Tập làm văn là một phân môn có vai trò quan trọng trong việcdạy học sinh hình thành văn bản nói và viết Đây là một phân môn khó dạy trongchương trình Tiếng Việt Tiểu học Dạy phân môn Tập làm văn tốt tức là ngườigiáo viên đã thâm nhập cả chuỗi kiến thức từ các phân môn: Tập đọc, Kểchuyện, Luyện từ và câu, Tập viết, Chính tả Chính vì thế mà phân môn Tập làmvăn có tính chất tổng hợp, là kết quả lĩnh hội các kiến thức của môn Tiếng Việt

Đặc biệt, phân môn Tập làm văn lớp 3 chú trọng rèn bốn kỹ năng: nói,nghe, đọc và viết Qua từng nội dung bài dạy, phân môn Tập làm văn bồi dưỡngthái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tìnhcảm lành mạnh tốt đẹp cho học sinh

Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vậndụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao chophù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh Trong giảngdạy, giáo viên phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinhgiải quyết các tình huống và thông qua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnhhội được kiến thức của bài học Trong quá trình tham gia vào các hoạt động họctập, do vốn từ còn hạn chế nên học sinh còn ngại nói, ngại viết Vì vậy, tiết họcchưa đạt hiệu quả cao Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu và thực

hiện đề tài: “Biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng viết đoạn văn hay

cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập làm văn” nhằm áp dụng trong giảng

dạy

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp học sinh nắm chắc được những yêu cầu khi viết đoạn văn Rèn kĩnăng dùng từ, đặt câu, cách sử dụng dấu câu, các biện pháp tu từ, cách liên kếtcâu Từ đó, học sinh biết viết các đoạn văn hay, giàu hình ảnh, cảm xúc

Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm yêu mến, gắn bó, biết trân trọng conngười và những cảnh vật xung quanh các em

Giúp các em biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn ngữ văn bản,đồng thời cũng là nền tảng cho các em viết theo hiểu biết của chính mình gópphần đưa chất lượng viết văn đạt hiệu quả hơn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Xuất phát từ thực tế dạy và học nên tôi chỉ nghiên cứu ở học sinh lớp 3trường Tiểu học Lộc Tân - Hậu Lộc

- Nghiên cứu Sách giáo khoa, vở bài tập và những tài liệu tham khảo dànhcho phân môn Tập làm văn khối lớp 3

- Phương pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 qua phânmôn Tập làm văn

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Với đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp quan sát, đánh giá

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm

Trang 4

về kiến thức cũng như kỹ năng mà học sinh đã lĩnh hội từ các phân môn khác.Tập làm văn còn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, luyện tưduy logic, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân cách của họcsinh.

Các tác phẩm văn học là kết quả sự bộc lộ đầy tài năng, tâm tư tình cảm,

tư tưởng của người viết Người viết cảm nhận qua quan sát cuộc sống, tích lũyngày càng làm giàu vốn văn học của mình bằng những biểu tượng, những hiểubiết phong phú, sâu sắc về hiện thực muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống Trongmỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng có điều bí ẩn, kỳ diệu, bao giờ cũng thấmđượm một tinh thần nhân văn, một lý tưởng thẩm mỹ có khả năng lôi cuốn vàlay động lòng người

Trẻ em được tiếp xúc với văn học từ những ngày trước khi các em bướcvào trường Tiểu học qua lời ru của mẹ, những câu chuyện kể li kì hấp dẫn củabà… đã kích thích trí tưởng tượng của trẻ thơ Hành trang ấy cùng theo các emtới nhà trường Đến trường các em đã được học kiến thức văn hoá, được học vănhọc Xong việc học văn ở mức “cơ sở ban đầu” cũng chỉ thực sự bắt đầu khi các

em bước vào lớp 3 Cảm xúc của các em dâng cao, các em đã có khả năng sángtạo văn Nếu được học văn theo một chương trình đúng, phù hợp, một phươngpháp tốt sẽ phát huy được khả năng học tập môn Tiếng Việt của học sinh

Việc dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 3 rất quan trọng song việc dạy chohọc sinh viết một đoạn văn trong phân môn này là rất khó Bởi một bài văn hoànchỉnh bao giờ cũng bắt đầu từ những câu văn, đoạn văn cụ thể Mặc dù yêu cầukhi viết văn đối với học sinh lớp 3 mới ở mức độ đơn giản, chưa đòi hỏi họcsinh phải có bố cục 3 phần rõ ràng, các câu văn phải sinh động, giàu “ý tưởng”(chủ yếu dừng lại ở việc viết đúng, trình bày rõ ràng, nối câu hợp lý…) Trong

đó có nhiệm vụ quan trọng đó là: bồi dưỡng óc thẩm mĩ, sự say mê văn học chocác em là cơ sở ban đầu và nền móng cho việc học văn của các em ở những lớphọc, bậc học tiếp theo

Làm thế nào để dạy học sinh lớp 3 viết đoạn văn được tốt, hay đó là mụcđích của đề tài này đặt ra

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp

2.2.1 Thực trạng của việc rèn kỹ năng nói - viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1.1 Thuận lợi.

a) Giáo viên

- Bản thân luôn không ngừng học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học phùhợp mục tiêu dạy và học để dẫn dắt, rèn luyện học sinh thực hành những bài vănnói - viết một cách độc lập, sáng tạo

Trang 5

- Bản thân luôn ý thức quan tâm, chăm chút học sinh trong từng tiết học.Với mỗi loại bài tập, giáo viên đã nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy để lựa chọn và

tổ chức những hình thức luyện tập sao cho phù hợp với đối tượng học sinh Bêncạnh đó, tôi luôn động viên khuyến khích, khơi gợi ở học sinh trí tưởng tượng,

óc sáng tạo Từ đó kích thích được sự tìm tòi ham học hỏi ở học sinh, hình thànhthói quen học tập tốt phân môn Tập làm văn

- Qua các phương tiện thông tin đại chúng: xem Tivi, đọc sách báo, tàiliệu… giáo viên thường xuyên được tiếp cận với việc đổi mới phương pháp dạyhọc

b) Học sinh.

- Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làmvăn nói riêng rất phong phú: kênh hình sách giáo khoa được trình bày đẹp, phùhợp tâm sinh lí lứa tuổi các em

- Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 về việc sửađổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèmtheo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo về cách đánh giá học sinh đã thể hiện được tính nhânvăn giúp học sinh mạnh dạn, tự tin và có hứng thú học tập hơn

2.2.1.2 Khó khăn.

a) Giáo viên:

- Một số giáo viên chưa thật sự đầu tư nhiều cho bài dạy, vì thế chưa khắcsâu được kiến thức trọng tâm cho học sinh, chưa chú ý tập trung rèn kỹ năng chohọc sinh nhất là những học sinh đạt mức hoàn thành và chưa hoàn thành Đa sốkhi dạy giáo viên còn cho học sinh làm theo mẫu của cô mà không để cho họcsinh tự sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh

- Hầu hết giáo viên chưa chú ý đến dạy cho học sinh cách viết bố cụcđoạn văn

- Giáo viên còn thiếu chú ý đến việc dạy Tiếng Việt trên quan điểm giaotiếp - tích hợp nên kết quả viết đoạn văn của học sinh chưa cao

b) Học sinh:

- Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác trong môn

Tiếng Việt, nhiều em còn ngại học văn, lười suy nghĩ nên ở các giờ học phânmôn này các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xong chuyện Cáchdùng từ, đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý

- Một số học sinh còn phụ thuộc vào văn mẫu, áp dụng một cách máymóc, chưa biết vân dụng bài văn mẫu để hình thành lối văn của riêng mình

- Phần lớn các em chưa hiểu biết sâu rộng về nghĩa của các từ ngữ và bảnchất của câu văn nên khi các em viết một đoạn văn thường hay mắc lỗi diễn đạtnhư: từ lặp lại nhiều lần, câu văn không rõ ý, ý không theo trình tự rất lộn xộn,

có nhiều em chỉ trả lời câu hỏi bằng cách gạch đầu dòng… mặc dù các em đãđược thực hành luyện viết câu, đoạn văn ngắn khá nhiều trong chương trìnhTiếng Việt 2

Trang 6

- Viết câu chưa đúng Nguyên nhân là do chưa nắm chắc cấu tạo câu Mặt

khác học sinh chưa chú ý đến việc sử dụng đúng dấu câu dẫn đến việc dùng dấucâu một cách bừa bãi, sai quy định, đánh dấu câu tuỳ tiện

- Một số học sinh có năng khiếu cũng chưa chú ý một cách “đúng mức”đến việc tập viết câu giàu giá trị nghệ thuật

- Tình trạng chung của tất cả học sinh đó là các em chưa “say” học TiếngViệt và ngại viết văn

2.2.2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng:

Ngay từ đầu năm học, tôi đã chú ý tìm hiểu về tình hình của lớp và thấyrằng chất lượng phân môn Tập làm văn, đặc biệt là kỹ năng nói - viết chất lượnghọc của học sinh còn chưa cao Vì vậy, tôi đã cho học sinh làm đề khảo sát vàogiữa tháng 10/2021 ở lớp 3A, 3B để nắm bắt việc học phân môn Tập làm văncủa học sinh Sau khi khảo sát, tôi thu được kết quả như sau:

Lớp số HS Tổng

Học sinh dùng từ chưa hợp lí, câu chưa rõ ý, viết đoạn văn còn sơ sài.

Nhìn vào bảng thống kê chất lượng tôi thấy kết quả bài làm của học sinh

cả hai lớp 3A, 3B chưa cao Đặc biệt là tỉ lệ phần trăm học sinh viết được đoạnvăn hay, giàu hình ảnh, cảm xúc chưa nhiều Hiện tại, các em mới dừng lại ởchỗ biết viết đoạn văn Chính vì vậy, để giúp học sinh viết được đoạn văn haytôi đã áp dụng các biện pháp dưới đây

2.3 Các biện pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn đạt hiệu quả trong phân môn Tập làm văn lớp 3.

2.3.1 Cung cấp và mở rộng vốn từ, hướng đến học sinh viết câu hay

và sử dụng dấu câu hợp lí.

2.3.1.1 Cung cấp và mở rộng vốn từ cho học sinh.

Đối với học sinh Tiểu học, việc mở rộng vốn từ cho các em là vấn đề vôcùng cần thiết Nguồn cung cấp vốn từ chủ yếu cho các em là môn Tiếng Việt.Khi dạy Tiếng Việt, việc mở rộng vốn từ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sựhình thành và phát triển ngôn ngữ ở các em học sinh Thấy rõ tầm quan trọngcủa vốn từ với hoạt động giao tiếp và học tập của học sinh, chương trình sáchgiáo khoa tiểu học đã đặc biệt quan tâm đến việc mở rộng vốn từ cho học sinh

Và mỗi giáo viên cũng có cách dạy mở rộng vốn từ khác nhau (theo chủ đề, chủ

Trang 7

điểm, theo phương thức cấu tạo, theo từ loại…) Không dừng lại ở chỗ các emhọc sinh nắm lí thuyết mà còn nắm vững quy tắc sử dụng từ Tiếng Việt

Phần mở rộng vốn từ cho học sinh nằm chủ yếu trong nội dung phân môn

“Luyện từ và câu” Vì vậy, khi dạy phân môn Luyện từ và câu với nội dung: mởrộng vốn từ Bằng kĩ năng sư phạm của mình, tôi đặc biệt quan tâm “khai thác”tối đa vốn từ sẵn có theo chủ điểm học tập và thực tế

Chẳng hạn: Ở chủ điểm: Tới trường Khi dạy bài Luyện từ và câu - Tuần

6 (Tiếng Việt 3 - tập 1) mở rộng vốn từ về trường học thì ngoài việc giúp học

sinh đưa ra một số từ ngữ rất dễ thấy đó là: giáo viên, học sinh, trường, lớp, bànghế, tôi đã giúp học sinh tìm ra được những từ ngữ chỉ tình cảm thầy trò, bạn

bè như: yêu thương, đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ, chăm sóc bằng cách đặt câuhỏi: “Em hãy nêu tình cảm mà thầy, cô dành cho em?” Học sinh sẽ nêu ra một

số từ ngữ: chăm sóc, yêu thương, chỉ bảo, dạy dỗ, (chú ý khuyến khích họcsinh tìm được nhiều từ đặc biệt là những từ gần nghĩa, cùng nghĩa)

b Khi dạy các bài tập đọc (trong chủ điểm), ngoài câu hỏi trong sách giáokhoa, tôi còn đưa thêm câu hỏi thể hiện được nội dung của chủ điểm đó

Chẳng hạn: Ở chủ điểm: Tới trường Khi dạy bài tập đọc: “Nhớ lại buổi đầu đi

học” tôi giúp học sinh liên hệ thực tế bản thân từng học sinh qua các câu hỏi sau:

- Tìm một số từ ngữ trong bài nói về trường học?

- Ngày đầu đi học, em có tâm trạng như thế nào?

- Em hãy kể lại những kỉ niệm đáng nhớ về ngày đầu tiên đi học của em?

Từ đó, học sinh sẽ hiểu và mở rộng thêm được rất nhiều từ để vận dụngkhi viết đoạn văn “Kể về buổi đầu đi học” và chắc chắn học sinh sẽ viết tốt hơn

c Thông qua các phần học, bài học, môn học, tôi đã kích thích được sựtìm tòi, khám phá của học sinh về cách dùng từ đúng, hay và tác dụng của việcdùng từ đúng, hay đó

Chẳng hạn: Nhận xét về cách sử dụng từ được gạch chân trong đoạn văn sau:

“Tiếng ve kêu rền rĩ Tiếng kéo lách cách của những người bán thịt bòkhô Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt, tiếng còi tàu hoả thét lên và tiếng bánhsắt lăn trên đường ầm ầm”

(Âm thanh thành phố - Tiếng Việt 3 - Tập 1)

(Học sinh hiểu được những từ gạch chân là những từ tả âm thanh Đoạnvăn có nhiều từ chỉ âm thanh cho ta thấy được cuộc sống ồn ào, náo nhiệt củathành phố)

Đối với học sinh có năng khiếu trong viết văn, tôi có thể mở rộng thêm

để học sinh làm quen với dạng bài cảm nhận về giá trị của từ ở mức độ khó hơn

Chẳng hạn: Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ được gạch chân trong 2

câu thơ sau: Cỏ non xanh tận chân trời

Cỏ non xanh rợn chân trời

(Tôi giúp học sinh nhận biết dùng từ “rợn” có giá trị gợi tả, biểu cảm hơnrất nhiều so với dùng từ “tận” vì nếu viết câu: “Cỏ non xanh tận chân trời” thìchỉ là một bức tranh thiên nhiên rộng Còn viết câu: “Cỏ non xanh rợn chân trời”thì ngoài ý nghĩa của bức tranh thiên nhiên rộng còn thể hiện được cảm xúc, tìnhcảm của người viết trước cảnh vật)

Trang 8

d Mặt khác để học sinh viết được câu đúng (đúng về ngữ nghĩa) thì họcsinh phải hiểu được nghĩa của từ Từ đó học sinh tránh nhầm lẫn.

Chẳng hạn: Để chỉ tính nết một học sinh nhanh nhẹn, lém lỉnh, đáng yêu

ta có thể sử dụng từ “láu lỉnh” để viết câu: “Bạn Nam lớp em rất láu lỉnh.”

(Lưu ý: Khi viết câu văn này, học sinh thường hay nhầm giữa từ “láulỉnh” với “láu cá”)

Nói tóm lại: Khi dạy học, giáo viên cần giúp học sinh có vốn từ phong

phú, hiểu nghĩa từ, tác dụng của từ, cách sử dụng từ

2.3.1.2 Giúp học sinh viết câu đúng và hay

Ở chương trình Tiếng Việt 3 hiện hành, học sinh nhận biết về câu, cácmẫu câu thông qua hệ thống ví dụ, bài tập cụ thể:

Đối với phần “câu” trong chương trình Tiếng Việt 3 hiện hành, học sinhchỉ ôn lại các mẫu câu, bộ phận câu đã học ở lớp 2 Do vậy, tôi không đề cậpđến cách dạy học sinh phân tích các bộ phận câu cũng như cách nhận biết câu,tác dụng của từng kiểu câu Mà ở đây tôi sẽ đi vào cách hướng dẫn học sinhrèn kỹ năng viết đúng (đúng cấu tạo, đúng nội dung) dựa trên việc học sinh đãnắm được mẫu câu, dấu hiệu nhận biết cũng như tác dụng của từng mẫu câu,kiểu câu và tôi tập trung nhiều vào việc rèn kỹ năng viết câu theo các mức độsau:

Tôi hướng dẫn học sinh cách đọc vắt hai dòng thơ, vì chỉ có đọc như vậymới hiểu được nghĩa “đích thực” của câu thơ muốn diễn tả Dạng bài tập nàyhọc sinh chủ yếu dựa vào mẫu để thực hiện

Mức độ 2 : Tập chữa câu rườm, câu tối nghĩa.

Tác dụng của dạng bài tập này đó là học sinh nhận thấy câu văn viết rườm

rà, khó hiểu thì học sinh tránh không nên sử dụng vào viết đoạn văn của mình

Chẳng hạn: Bác Lan chừng bốn mươi tuổi và bác Lan vẫn trẻ.

Trong trường hợp này, tôi cho học sinh nhận xét về cách viết câu hoặc lấy

ví dụ cụ thể từ những bài viết của học sinh để học sinh tự sửa sau khi nhận xét.Tôi giúp học sinh sửa lại câu cho hay hơn:

Trang 9

Năm nay, bác Lan chừng bốn mươi tuổi mà nhìn bác vẫn tré so với độ tuổi của mình

Mức độ 3: Tập viết câu văn gợi tả, gợi cảm và sử dụng các biện pháp

- Con đường dài và nhỏ

- Con đường nhỏ, dài ngoằn ngoèo trông như những chú trăn khổng lồđang uốn lượn

Ở dạng bài tập này, tôi đưa ra những ví dụ cụ thể đã tự chuẩn bị (như 2 ví

dụ trên) hoặc chắt lọc từ những bài viết của học sinh rồi cho các em nhận xét, sosánh xem câu văn nào hay hơn từ đó khuyến khích học sinh có ý thức tập viếtcâu văn giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm

2.3.1.3.Giúp học sinh sử dụng dấu câu cho phù hợp.

Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết Tác dụng của nó làlàm rõ một cấu tạo ngữ pháp, chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phầncâu, giữa các vế của câu Dấu câu còn thể hiện ngữ điệu, cảm xúc trên câu văncâu thơ Cho nên, dấu câu không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp mà còn

là phương tiện biểu thị sắc thái tư tưởng, tình cảm thái độ của người viết Dấucâu dùng thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn Khôngdùng dấu câu có thể gây ra hiểu nhầm Có trường hợp vì dùng sai dấu câu màthành ra sai ngữ pháp, ngữ nghĩa Cho nên, cần vận dụng quy tắc sử dụng dấucâu cho đúng.Trong chương trình Tiếng Việt 3, phần học về dấu câu học sinhchủ yếu ôn lại cách sử dụng các dấu câu đã học ở lớp 2: dấu chấm, dấu phẩy,dấu chấm hỏi, dấu chấm than Học sinh chỉ học thêm một loại dấu câu mới: dấuhai chấm

Để viết được câu đúng về cấu tạo theo mục đích nói thì học sinh cần phải

sử dụng được đúng dấu câu Do vậy, đối với mỗi loại dấu câu tôi giúp học sinhnắm chắc được cách sử dụng và tác dụng của nó Cần cho học sinh luyện tập,thực hành nhiều về cách sử dụng dấu câu ở bất cứ môn học, phần học nào

Chẳng hạn: Trong các bài tập về điền dấu câu, tôi cho học sinh tự làm và

học sinh nêu cách làm

Học sinh phải nói được lý do vì sao mình lại điền dấu câu đó vào vị trí đó

Chẳng hạn: Vì sao lại điền dấu (!) mà không phải dấu chấm (.) vào cuối

câu sau: “ Trời mưa to quá!”

Khi dạy những phân môn, bài học có nội dung liên quan đến dấu câu, tôiluôn khai thác triệt để Từ đó tạo thành thói quen sử dụng đúng dấu câu cho họcsinh

Chẳng hạn: Khi dạy bài Tập đọc “Cuộc họp của chữ viết” (Tiếng Việt Tập 1) học sinh phải thấy được: Nếu sử dụng dấu câu tuỳ tiện thì người đọc

Trang 10

3-không hiểu gì mà còn gây ra sự buồn cười, từ đó học sinh rút kinh nghiệm chobản thân và có ý thức khi sử dụng dấu câu.

Tôi cũng đã đưa ra một số ví dụ khác về sự thay đổi nội dung câu văn cầnthông báo nếu sử dụng sai dấu câu:

(Cuộc họp của chữ viết – Tiếng Việt 3 - Tập 1- Trang 44)

Yêu cầu học sinh đọc chậm, dừng, nghỉ hơi đúng dấu câu (trong ví dụ 2),

và chú ý lắng nghe sau đó hỏi về nội dung câu văn và cho các em phân tích câuvăn đó Lúc này học sinh mới dễ dàng nhận ra cái sai của cách đặt dấu câu Vìđặt dấu câu sai nên sai nghĩa của câu văn dẫn đến sai nghĩa của cả đoạn văn

Giáo viên chốt lại: khi viết đoạn văn ta phải đặt đúng dấu câu để đảm bảođúng nghĩa của câu văn, đoạn văn ta cần viết

2.3.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp tu từ khi viết văn.

Trong văn học có rất nhiều biện pháp tu từ song ở chương trình TiếngViệt 3 chỉ đề cập đến hai biện pháp tu từ điển hình đó là: Biện pháp tu từ nhân hoá

và so sánh Vậy, vì sao chúng ta cần dạy tốt và chú trọng đến biện pháp tu từ khirèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh

Đối với hai biện pháp tu từ này sách giáo khoa có nhiều loại hình bài tậpsong ta có thể quy về hai dạng bài chủ yếu đó là:

- Tập nhận biết dấu hiệu, tác dụng của hai biện pháp tu từ so sánh và nhânhoá

- Viết câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá

Dạng bài: Nhận biết dấu hiệu, tác dụng của câu có sử dụng biện pháp tu

từ so sánh, nhân hoá

Ở mỗi biện pháp tu từ này khi dạy học sinh về cách nhận biết dấu hiệuchứng tỏ là câu có sử dụng biện pháp so sánh hay nhân hoá, tôi thực hiện theocác bước sau:

Bước 1: Tôi đưa ra một hệ thống ví dụ cụ thể và cùng học sinh phân tích

ví dụ đó

Chẳng hạn: Tìm những sự vật được nhân hóa trong khổ thơ sau:

Đồng làng vương chút heo mayMầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim

Hạt mưa mải miết trốn tìmCây đào trước cửa lim dim mắt cười

(Đỗ Quang Huỳnh)

Ở ví dụ này, tôi cho học sinh nhớ lại khái niệm sự vật đã được học và vậndụng phân tích để tìm đúng các sự vật được nhân hóa trong khổ thơ trên

Trang 11

Bước 2: Tôi giúp học sinh nhận biết được dấu hiệu của biện pháp tu từ đó.Tôi đưa ra câu hỏi: Ở ví dụ trên, tác giả đã nhân hóa các sự vật ấy bằngcách nào?

Bước 3: Dựa vào dấu hiệu nhận biết, học sinh đặt câu có sử dụng biệnpháp tu từ dựa vào dấu hiệu đã nhận biết

(Chú ý hướng dẫn học sinh chọn những sự vật thật quen thuộc xungquanh mình)

Chẳng hạn: Đằng đông, ông mặt trời như quả cầu lửa đang từ nhô lên.

- Chú gà trống như chiếc đồng hồ báo thức.

- Những bông hoa sau giấc ngủ dài đang vươn mình khoe sắc về hướng mặt trời.

Bước 4: Giúp học sinh nắm được tác dụng của mỗi biện pháp tu từ vừahọc

Từ việc học sinh xác định được dấu hiệu nhận biết; đặt câu có sử dụngbiện pháp tu từ; học sinh nói những cảm nhận của mình về giá trị câu có sử dụngbiện pháp tu từ và câu không sử dụng biện pháp tu từ

Chẳng hạn:

- Bạn Lan rất xinh

- Bạn Lan xinh như đoá hoa hồng vừa nở

Hoặc:

- Ánh trăng chiếu qua kẽ lá

- Ánh trăng vạch kẽ lá nhìn xuống trần gian xem chúng em múa hát

Dạng bài: Tập viết câu, đoạn văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân

hoá

Khi dạy dạng bài này, tôi yêu cầu học sinh dựa trên dấu hiệu nhận biết đểviết xong câu có sử dụng biện pháp tu từ không chỉ phù hợp ở dấu hiệu bênngoài mà cần có nội dung phù hợp thực tế

Chẳng hạn: Con mèo nhà em to như cái thùng gánh nước.

(Dấu hiệu bên ngoài trong câu này cho ta thấy câu có sử dụng biện pháp

so sánh thông qua từ chỉ sự so sánh “như”, xong câu văn lại thiếu tính thực tế vìphép so sánh này không tương ứng)

Đối với dạng bài tập này, tôi đã chọn lọc một số câu, đoạn văn, khổ thơ có

sử dụng biện pháp tu từ: nhân hoá, so sánh điển hình làm mẫu cho học sinh thamkhảo như các ví dụ trên Từ đó học sinh sẽ chú ý đến việc viết câu, đoạn văn,khổ thơ có sử dụng biện pháp tu từ để tăng giá trị nội dung của bài viết

Với thể loại nói - viết trong phân môn Tập làm văn lớp 3, học sinh đượcrèn luyện kĩ năng nói dựa trên những gợi ý ở sách giáo khoa và viết một đoạnvăn ngắn khoảng 5 đến 6 câu với các chủ đề: nói về quê hương, gia đình, ngườilao động, kể vể lễ hội, trận thi đấu thể thao, bảo vệ môi trường…

Do khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, óc quan sát, trí tưởng tượngkhông phong phú lại chưa chịu khó rèn luyện, nên đa số các em chỉ biết trìnhbày đoạn văn một cách bó hẹp theo nội dung đã gợi ý Vì vậy mà bài văn nói -viết thường nghèo nàn về ý, gò ép, thiếu sự hồn nhiên

Trang 12

Chẳng hạn: Kể lại việc em đã làm để bảo vệ môi trường

Có học sinh chỉ kể: “Chủ nhật vừa rồi, em được bố cho đi chơi ở côngviên, trên đường đến công viên, em thấy một cây xanh còn non bị ngã, em đỡcho cây đứng dậy Trưa về thấy cây xanh tốt, em rất vui mừng vì đã bảo vệ môitrường”, …

Bên cạnh đó, đôi lúc các em còn trình bày lệch lạc, thiếu chính xác do ítkiến thức về vốn sống

Chẳng hạn: Kể về trận thi đấu thể thao.

Có một học sinh viết: “Trận đấu bóng đá giữa hai đội Việt Nam - Thái

Lan diễn ra ở sân vận động huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa”

Việc sử dụng và mở rộng vốn từ còn nhiều hạn chế, các em chưa chú ýcách sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho từ đó hay hơn trong câu văn Cómột số từ do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc (từđịa phương hay dùng), các em vẫn sử dụng trong bài văn của mình

Chẳng hạn: Kể về người một người lao động trí óc.

Học sinh viết:

- Em rất coi trọng cô vì cô dạy học cho em

- Khi đến lớp, cô em thích vận bộ đồ xanh

Trong việc trang bị kiến thức cho học sinh, tôi không áp đặt các em vàomột khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sát một bức tranh,một sự vật, con người hay một công việc cụ thể như thế sẽ hạn chế năng lựcsáng tạo của các em Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn,tôi đều cho học sinh liên hệ mở rộng để các em phát huy được tính chủ động,sáng tạo trong bài văn của mình Từ đó phát triển năng lực, phẩm chất cho các

em thông qua từng nội dung môn học

2.3.3.Tạo niềm say mê khám phá kiến thức, tạo không khí vui vẻ, sôi động, hào hứng trong tiết học.

Dạy học không chỉ dừng lại ở truyền thụ kiến thức cho người học mà phảidạy cách học, phương pháp học thì mới phát triển được năng lực, phẩm chất,tính tích cực, chủ động cho người học được Vì vậy, để chuẩn bị cho một tiếtdạy sinh động, lôi cuốn học sinh với việc kết hợp các phương pháp, hình thức tổchức linh hoạt, phù hợp trong mỗi tiết học là vấn đề không dễ dàng đối với giáo

Ngày đăng: 02/02/2023, 08:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w