Microsoft Word t8 NGUYá»—N ĒẶNG HOÕNG BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN ĐẶNG HOÀNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN PHỔI THÁI B[.]
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN ĐẶNG HOÀNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN PHỔI THÁI BÌNH NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN ĐẶNG HOÀNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN PHỔI THÁI BÌNH NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
NAM ĐỊNH- 2022
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.1 Đại cương về bệnh lao 3
1.1.2 Đại cương về giáo dục sức khỏe 11
1.1.3 Thang đo Likert 15
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 16
1.2.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam 16
1.2.2 Hoạt động cụ thể trong GDSK cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái bình 18
1.2.3 Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 23
2.1 Thông tin về Bệnh viện Phổi Thái Bình 23
2.2 Quy định về công tác giáo dục sức khỏe trong bệnh viện 24
2.3 Thực trạng công tác giáo dục sức khẻo cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái Bình 25
CHƯƠNG 3 BÀN LUẬN 30
3.1 Về thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh lao của điều dưỡng Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2022 30
3.2 Ưu điểm, tồn tại 33
KẾT LUẬN 35
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 3
Trang 4Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thạc sỹ Nguyễn Trường Sơn, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn làm chuyên đề, đã tận tình quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã tận tình giúp
đỡ và động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề
Nam Định, ngày tháng năm 2022
Học viên
Nguyễn Đặng Hoàng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do tôi lần đầu thực hiện, các số liệu trong báo cáo là trung thực, chính xác và đáp ứng các quy định về trích dẫn
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan này
Nam Định, ngày tháng năm 2022
Người cam đoan
Nguyễn Đặng Hoàng
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFB (Acid Fast Bacillus) : Trực khuẩn kháng cồn kháng toan
BCG (Bacillus Calmette–Guérin) : Vắc xin phòng bệnh lao
CBYT : Cán bộ y tế
CTCLQG : Chương trình chống lao quốc gia
DOTS : Điều trị lao ngắn hạn có kiểm soát trực tiếp ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
HBM : Health belief model
HIV :Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người MTB : Mycobacterium tuberculosis
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.Đặc điểm chung của đối tượng 26Bảng 2.2.Nhận xét của người bệnh lao về địa điểm, phương tiện, tài liệu GDSK 27Bảng 2.3.Nhận xét của người bệnh lao về nội dung, cách thức trong quá trình
tư vấn tư vấn - GDSK 27Bảng 2.4 Nhận xét của người bệnh lao về tư vấn, GDSK chế độ điều trị của điều dưỡng 28Bảng 2.5 Nhận xét của người bệnh lao về các thời điểm tư vấn, GDSK của điều dưỡng 29Bảng 2.6 Sự hài lòng của người bệnh lao về công tác tư vấn, GDSK của điều dưỡng 29
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Quy trình phát hiện và quản lý người bệnh lao của CTCLQG 10
Hình 2 Bệnh viện Phổi Thái Bình 23
Hình 3 Điều dưỡng tư vấn, GDSK trực tiếp cho người bệnh 31
Hình 4 Điều dưỡng tổ chức tư vấn, GDSK theo nhóm 31
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm giáo dục hướng dẫn người dân thay đổi hành vi sức khỏe GDSK có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Ngành Y tế Việt Nam đã đưa GDSK vào vị trí số 1 trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu GDSK cũng là một trong những nội dung người điều dưỡng cần thực hiện để giúp người bệnh cải thiện hành vi sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, giúp người bệnh có kiến thức để tự chăm sóc bản thân và cùng hợp tác trong quá trình can thiệp chăm sóc [14]
Giáo dục sức khỏe cho người bệnh lao là hoạt động hết sức quan trọng với mục đích để người bệnh lao biết rõ tình trạng bệnh của họ, từ đó họ hợp tác với nhân viên y tế, tuân thủ chế độ điều trị, tránh những hành vi có hại cho sức khỏe, tự thực hiện những hành vi có lợi cho sức khỏe, biết cách phòng bệnh, phòng biến chứng, duy trì tình trạng sức khỏe khi ra viện
Bệnh lao (TB) là bệnh nhiễm trùng mycobacterial tiến triển mãn tính, thường có thời gian tiềm tàng sau nhiễm trùng ban đầu; chúng có thể cư trú, sinh sôi, phát triển tại nhiều cơ quan trong cơ thể và gây nên bệnh lao [2] Bệnh lao có rất nhiều dạng như lao màng não, lao hạch bạch huyết, lao xương khớp, lao màng bụng, lao ruột, lao sinh dục,… Trong đó phổ biến nhất là lao phổi, căn bệnh này chiếm tỉ lệ đến 85 với các triệu chứng bao gồm ho có đờm, sốt, giảm cân, và khó chịu [1] Chẩn đoán thường là do xét nghiệm đờm
và nuôi cấy tế bào, và ngày càng có nhiều xét nghiệm chẩn đoán sinh học phân tử
Mỗi năm trên toàn thế giới lại có hàng triệu người mắc lao Trong năm
2017 đã có khoảng 10 triệu người đã phát triển thành bệnh lao trong đó 90% lao ở người lớn, 58% là nam giới, 9% lao đồng nhiễm với HIV Nhưng đáng chú ý ở đây đó là 6.4 triệu người mắc lao mới là thông báo chính thức của tổ chức y tế thế giới, đây là một khoảng trống khá lớn giữa việc phát hiện và điều trị bệnh lao [22] Theo ước tính số người bệnh chết do lao năm 2017 là
Trang 101,3 triệu người; do vậy, bệnh lao là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong từ một tác nhân truyền nhiễm [22]
Việt nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 10 trong 30 nước có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 11 trong số 30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới Hơn 172.000 người đã mắc bệnh và 10.400 người chết vì bệnh lao Vẫn còn tình trạng lao tái phát (4.7%) , lao bỏ trị (0,1%) Đây vẫn là một thách thức rất lớn đối với ngành y tế [2]
Với mong muốn cùng chung tay với chương trình chống lao của cả nước góp phần nhỏ làm giảm tình trạng mắc lao, ngăn ngừa tình trạng người bệnh tái phát bệnh và bỏ trị thì hoạt động GDSK có vai trò quan trọng giúp người bệnh lao có những kiến thức về bệnh, giúp người bệnh tuân thủ nguyên tắc điều trị, biết cách hạn chế nguồn lây lan bệnh lao trong cộng đồng và có thể tự chăm sóc được tốt hơn Vì thế em tiến hành nghiên cứu chuyên đề:
“Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2022” với hai mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái Bình năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái Bình
Trang 11và là nguồn lây chính cho người xung quanh Người bệnh có các dấu hiệu của bệnh lao, số lượng vi khuẩn ở người bệnh lao nhiều hơn với số lượng vi khuẩn ở người nhiễm lao [1], [2]
Vi khuẩn lao lây từ người sang người chủ yếu qua đường hô hấp Khi người bệnh lao phổi ho, hắt hơi hay khạc nhổ, họ đã phát tán vi khuẩn lao vào không khí, người xung quanh hít thở có thể hít những hạt này vào phổi [7] Một người chỉ cần hít phải một lượng nhỏ vi khuẩn lao cũng sẽ nhiễm lao Khoảng một phần ba dân số thế giới có lao tiềm tàng, có nghĩa là những người này đã nhiễm vi khuẩn lao nhưng chưa phát triển thành bệnh lao và cũng không gây lây lan bệnh lao sang người khác Khoảng 10% những người
đã nhiễm vi khuẩn lao có nguy cơ phát triển thành bệnh lao trong cuộc đời Tuy nhiên, ở những người có suy giảm miễn dịch như người nhiễm HIV, suy dinh dưỡng hoặc tiểu đường hoặc những người nghiện thuốc lá sẽ có nguy cơ
bị bệnh lao cao hơn so với những người khác
Khi một người bị bệnh lao, các triệu chứng như ho, sốt, ra mồ hôi ban đêm, sụt cân… có thể chỉ ở mức độ nhẹ trong vài tháng Điều này có thể dẫn đến việc chậm tìm kiếm dịch vụ y tế gây ra việc tiếp tục lây lan trong cộng đồng Một người bị bệnh lao có thể gây nhiễm vi khuẩn lao cho khoảng 10 –
15 người mỗi năm thông qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày [10]
1.1.1.2 Vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao do Robert Koch phát hiện vào năm 1882 vì vậy còn được gọi là Bacilie de Koch (viết tắt là BK) Vi khuẩn lao thuộc họ
Trang 12Mycobacteriaceae, dài 3 – 5 µm, rộng 0,3 – 0,5 µm, không có lông, hai đầu tròn, thân có hạt, đứng riêng rẽ hoặc thành đám trên tiêu bản nhuộm Ziehl – Neelsen, không bị cồn và acid làm mất màu đỏ của fucsin Ở điều kiện tự nhiên vi khuẩn lao có thể tồn tại 3 – 4 tháng, trong phòng thí nghiệm có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm Trong đờm của người bệnh lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc lực Dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ, ở 420C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 800C, với cồn 900 vi khuẩn tồn tại trong 3 phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chỉ sống được một phút [9]
Trong điều kiện tự nhiên vi khuẩn có thể tồn tại 3-4 tháng, trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn lao trong nhiều năm Khi phát triển vi khuẩn cần đủ oxy chính vì thế lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất chiếm 80% trong tổng tất cả các thể lao Bình thường, trung bình 20-24h vi khuẩn lao sinh sản 1 lần, nhưng có khi hàng tháng thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái phát triển [9] 1.1.1.3 Nguyên nhân và đối tượng có nguy cơ cao
Nguyên nhân: Hay gặp là vi khuẩn lao người (M tuberculosis homisnis), có thể do vi khuẩn lao bò và vi khuẩn lao không điển hình nhưng ít gặp
Một số điều kiện thuận lợi dễ mắc lao:
- Trẻ em chưa tiêm phòng lao bằng vaccine BCG
- Người bệnh tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp với nguồn lây đặc biệt là trẻ em
- Người bệnh mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, loét dạ dày –
tá tràng, bệnh bụi phổi,…
- Trẻ em bị suy dinh dưỡng, còi xương,
- Người nhiễm HIV/AIDS
- Người nghiện ma túy, thuốc lá, thuốc lào
Trang 13- Người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài như Corticoid, hóa chất điều trị ung thư,… [9]
1.1.1.4 Phân loại bệnh lao
Theo vị trí giải phẫu:
- Lao phổi: bệnh lao tổn thương ở phổi - phế quản, bao gồm cả lao kê Trường hợp tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi
- Lao ngoài phổi: bệnh lao tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi như: màng phổi, hạch, màng bụng, sinh dục tiết niệu, da, xương, khớp, màng não, màng tim, Nếu lao nhiều bộ phận, thì bộ phận có biểu hiện tổn thương nặng nhất (lao màng não, xương, khớp, ) được ghi là chẩn đoán chính
Theo kết quả xét nghiệm vi khuẩn: Lao phổi AFB(+) và lao phổi AFB(-) Theo tiền sử điều trị lao:
- Lao mới: Người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng
- Lao tái phát: Người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định là khỏi bệnh hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn
- Thất bại điều trị, khi người bệnh có:
AFB(+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị,
Có chẩn đoán ban đầu AFB(-), sau 2 tháng điều trị xuất hiện AFB(+), Lao ngoài phổi xuất hiện thêm lao phổi AFB(+) sau 2 tháng điều trị,
Vi khuẩn đa kháng thuốc được xác định trong bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị với thuốc chống lao hàng 1
- Điều trị lại sau bỏ trị: Người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng trở lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn
- Lao khác: Người bệnh đã điều trị lao nay trở lại điều trị với chẩn đoán lao phổi AFB (-) hoặc lao màng phổi
Trang 14- Lao chuyển đến:Người bệnh được chuyển từ đơn vị điều trị khác đến
để tiếp tục điều trị [2]
1.1.1.5 Dấu hiệu nghi lao
Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất
Ngoài ra có thể:
Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi
Sốt nhẹ về chiều
Ra mồ hôi “trộm” ban đêm
Đau ngực, đôi khi khó thở [9]
1.1.1.6 Điều trị bệnh lao
Mục đích điều trị bệnh lao là khỏi bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ kháng thuốc cũng như giảm sự lây truyền trong cộng đồng và cuối cùng là thực hiện ước mơ muôn đời của loài người là thanh toán bệnh lao [9] Y học không ngừng phát triển để tìm tòi và phát minh ra những thuốc chống lao mới
và những phương pháp điều trị lao hiệu quả Năm 1991, Tổ chức y tế thế giới
đã thúc đẩy một chương trình chống lao có hiệu quả đó là áp dụng hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp gọi tắt là DOTS (Directly Observed Treatment Short -course) Cụ thể của chương trình này đó là người bệnh lao phải được điều trị bằng các phác đồ hóa trị ngắn ngày, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhân viên y tế Chiến lược DOTS là chiến lược đạt kết quả điều trị cao hơn bất kỳ chiến lược chống lao nào có từ trước đó và cho đến nay vẫn là chiến lược hiệu quả nhất [20] Có rất nhiều thuốc điều trị lao nhưng có 5 loại thuốc lao chính được sử dụng trong chiến lược hóa trị liệu ngắn ngày đó là: Isoniazid (viết tắt là H, INH), Rifampin (viết tắt là R, RIF), pyrazinamide (viết tắt là P, PZA), Streptomycin (viết tắt là S), Ethambutol (viết tắt là E) [21] Tùy theo tình trạng của người bệnh mà bác sỹ sẽ đưa ra phác đồ điều trị cho phù hợp
Để điều trị bệnh lao có kết quả tốt, Bộ y tế đã đưa ra bốn nguyên tắc
Trang 15điều trị bệnh lao bao gồm:
- Phối hợp các thuốc chống lao: Mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn, kìm khuẩn, môi trường vi khuẩn); do vậy, phải phối hợp các thuốc chống lao Với lao nhạy cảm với thuốc phải phối hợp ít nhất 3 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì
- Phải dùng thuốc đúng liều: Các thuốc chống lao tác dụng hợp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định Nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây tai biến
- Phải dùng thuốc đều đặn: Các thuốc chống lao phải được uống cùng một lần vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn để đạt hấp thu thuốc tối đa
- Phải dùng thuốc đủ thời gian và theo 2 giai đoạn tấn công và củng cố: Giai đoạn tấn công kéo dài 2, 3 tháng nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để ngăn chặn các vi khuẩn lao đột biến kháng thuốc Giai đoạn củng cố kéo dài 4 đến 6 tháng nhằm tiêu diệt triệt để các vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái phát [1], [2]
1.1.1.7 Nguyên tắc quản lý điều trị người bệnh lao
Song song với nguyên tắc điều trị bệnh lao thì Bộ y tế cũng đề ra nguyên tắc quản lý điều trị bệnh lao đó là:
- Tất cả các bác sĩ (công và tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải được tập huấn theo hướng dẫn của Chương trình Chống lao Quốc gia và báo cáo theo đúng quy định
- Sử dụng phác đồ chuẩn thống nhất trong toàn quốc
- Điều trị sớm ngay sau khi được chẩn đoán
- Điều trị phải được theo dõi và kiểm soát trực tiếp:
Kiểm soát việc tuân thủ điều trị của người bệnh, theo dõi kết quả xét nghiệm đờm, theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời các biến chứng của
Trang 16bệnh và tác dụng phụ của thuốc Với bệnh lao trẻ em phải theo dõi cân nặng hàng tháng khi tái khám để điều chỉnh liều lượng thuốc
Với bệnh lao đa kháng: Phải kiểm soát chặt chẽ việc dùng thuốc hàng ngày trong cả liệu trình điều trị Phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm - điểm điều trị - tỉnh lân cận trong quản lý điều trị bệnh nhân lao đa kháng Người bệnh lao đa kháng nên điều trị nội trú (khoảng 2 tuần) tại các trung tâm/điểm điều trị lao đa kháng để theo dõi khả năng dung nạp và xử trí các phản ứng bất lợi của thuốc (có thể điều trị ngoại trú ngay từ đầu cho người bệnh tại các địa phương nếu có đủ điều kiện: gần trung tâm điều trị lao đa kháng, nhân lực đảm bảo cho việc theo dõi và giám sát bệnh nhân một cách chặt chẽ)
Giai đoạn điều trị củng cố (điều trị ngoại trú) - điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOT) có thể thực hiện tại các tuyến: quận huyện, xã phường, tái khám hàng tháng tại các trung tâm/điểm điều trị lao đa kháng để theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc, theo dõi xét nghiệm, X-quang và một số thăm khám cần thiết khác
- Thầy thuốc cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh trước, trong và sau khi điều trị để người bệnh thực hiện tốt liệu trình theo quy định
- Thuốc lao được cung cấp đản bảo chất lượng, đầy đủ theo quy định tạ thông tư 36/2021/TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quy định khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao
- Đối với người bệnh lao đa kháng, cần thực hiện chăm sóc giảm nhẹ và
hỗ trợ tâm lý xã hội trong và sau quá trình điều trị [1], [2]
1.1.1.8 Quản lý điều trị người bệnh lao
Sau khi được chẩn đoán xác định, người bệnh cần được đăng ký quản
lý điều trị ngay càng sớm càng tốt tại một đơn vị chống lao tuyến huyện và tương đương Cán bộ Tổ chống lao sẽ đăng ký người bệnh vào sổ đăng ký điều trị, lập thẻ người bệnh, lập phiếu điều trị có kiểm soát để theo dõi (mỗi người bệnh sẽ có một số đăng ký, thẻ người bệnh và phiếu điều trị có kiểm
Trang 17soát), đồng thời cán bộ chống lao huyện tư vấn cho người bệnh kiến thức cơ bản về điều trị lao
Sau khi đăng ký quản lý điều trị tại Tổ chống lao – người bệnh được chuyển về xã điều trị, tại trạm y tế (TYT) xã:
- Đăng ký người bệnh vào sổ Quản lý điều trị bệnh lao (dùng cho tuyến
xã và đơn vị tương đương)
- Cán bộ chống lao xã (giám sát viên 1: GSV1) thực hiện điều trị cho người bệnh: nhận thuốc hàng tháng từ tuyến huyện và cấp phát cho người bệnh 7-10 ngày/lần, ghi chép phiếu điều trị có kiểm soát, mỗi lần cấp phát thuốc là một lần giám sát, khám, tư vấn cho người bệnh
- Lựa chọn người giám sát hỗ trợ (giám sát viên 2: GSV2): Có thể là cộng tác viên tuyến xã như: nhân viên Y tế thôn bản, hội viên các hội, tình nguyện viên hoặc là người thân người bệnh, việc lựa chọn người giám sát hỗ trợ (GSV2) làm sao cho phù hợp nhất với từng cá thể người bệnh, có cam kết tham gia với đầy đủ thông tin của 3 bên: CBYT - Người bệnh - GSV2
- Cán bộ chống lao tuyến xã tư vấn cách giám sát hỗ trợ điều trị, kiến thức cơ bản về bệnh lao, hình thức và tần suất trao đổi thông tin giám sát cho GSV2, việc tư vấn này có thể được thực hiện thêm trong các chuyến vãng gia thăm người bệnh, GSV2 có thể được thay đổi trong quá trình điều trị nếu thấy không phù hợp
CBYT xã thực hiện vãng gia thăm người bệnh theo xác suất, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên thăm những người bệnh tiên lượng khả năng tuân thủ điều trị kém
Nhiều trường hợp người bệnh lao được chẩn đoán tại tuyến tỉnh - điều trị tại tỉnh một thời gian sau đó mới chuyển về huyện quản lý điều trị, một số nơi người bệnh được điều trị nội trú một thời gian tại huyện sau đó mới chuyển về xã điều trị, một số nơi đơn vị chống lao huyện trực tiếp quản lý điều trị một số người bệnh - Những trường hợp người bệnh này sau khi điều
Trang 18trị tại các tuyến trên - chuyển về huyện, xã quản lý điều trị phải thực hiện đúng theo quy trình nêu trên
Những người bệnh đang điều trị trong giai đoạn tấn công nếu bỏ trị hai ngày liền hoặc ở giai đoạn duy trì bỏ trị một tuần thì cán bộ y tế cần tìm người bệnh và giải thích cho họ quay lại điều trị
Khi chuyển người bệnh đi nơi khác điều trị phải kèm theo phiếu chuyển
và các hồ sơ người bệnh theo quy định Nơi nhận người bệnh phải có phản hồi tiếp nhận cho cơ sở chuyển ngay sau khi nhận và đăng ký điều trị tiếp, có phản hồi kết quả điều trị khi kết thúc điều trị cho nơi chuyển [2]
Hình 1 Quy trình phát hiện và quản lý người bệnh lao của CTCLQG 1.1.1.9 Theo dõi điều trị bệnh lao
Trong quá trình điều trị người bệnh cần được theo dõi như sau:
- Người bệnh cần được theo dõi kiểm soát về thuốc
- Theo dõi đánh giá đáp ứng lâm sàng, X-quang và tác dụng phụ của thuốc Đối với trẻ em cần phải cân hàng tháng để điều chỉnh liều theo cân nặng
- Xét nghiệm đờm theo dõi: Người bệnh lao phổi cần phải xét nghiệm đờm theo dõi 3 lần: Phác đồ 6 tháng: xét nghiệm đờm vào cuối tháng thứ 2, 5
Trang 19và 6; phác đồ 8 tháng: xét nghiệm đờm vào cuối tháng thứ 3, 5 và 7 (hoặc 8) [2]
1.1.2 Đại cương về giáo dục sức khỏe
Khái niệm GDSK là một quá trình tác động có mục đích và có kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái đội và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho
cá nhân, gia đình và cộng đồng [14]
GDSK nói chung tác động vào 3 lĩnh vực: Kiến thức của con người về sức khỏe, thái đội của con người đối với sức khỏe, thực hành hay cách ứng xử của con người đối với bảo vệ và nâng cao sức khỏe
Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tượng tự nguyện tự giác thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình
Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức khỏe tốt, bảo vệ và phục hồi sức khỏe
1.1.2.1 Tầm quan trọng của GDSK
GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành
vi sức khỏe Nó có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển
GDSK không thay thế được các công tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế , cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này
Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y tế sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại
So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một công tác khó làm
và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở [14]
Vì thế GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y
tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ
Trang 20quan y tế từ trung ương đến cơ sở Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế
1.1.2.2 Các phương pháp GDSK
Phương pháp trực tiếp: là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với đối tượng GDSK.Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành
Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân một cách có hệ thống Đó là phương pháp hiện nay vẫn được
sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta
Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng
Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián tiếp là:
- Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video
- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi
- Pano, áp phích
- Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật
Trang 211.1.2.3 Phương tiện GDSK
Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một phương pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng GDSK
Phân loại các phương tiện GDSK bao gồm:
- Phương tiện bằng lời nói:Lời nói là công cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng Sử dụng lời nói
có thể truyền tải các nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng Lời nói rất tiện lợi và mang lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với mọi người, với 1 gia đình,1 nhóm nhỏ, 1 cộng đồng Lời nói có thể dùng trực tiếp hay gián tiếp, lời nói còn được dùng để hỗ trợ, phối hợp với các phương tiện GDSK khác như tranh ảnh, pano, áp phích, mô hình Người nói nếu không nắm chắc được nội dung truyền đạt có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin không chính xác và gây hiểu lầm cho đối tượng
- Phương tiện bằng chữ viết
- Phương tiện tác động qua thị giác (phương tiện GDSK trực quan) tranh, ảnh, pano
- Phương tiện nghe, nhìn: đài, ti-vi,
1.1.2.4 Lựa chọn nội dung GDSK
Nội dung GDSK là những thông tin chính cần trao đổi với đối tượng GDSK trong một thời gian nhất định
Ví dụ: Nội dung GDSK về phòng chống một bệnh nào đó thường theo trình tự sau:
+ Ảnh hưởng xấu do bệnh gây ra
+ Tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh đó
+ Nguyên nhân của bệnh, đường lây truyền
+ Cách phát hiện và xử trí thông thường tại nhà và các phương pháp phòng bệnh thông thường khác
Trang 221.1.2.5 Vai trò của người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh
Là một điều dưỡng viên (ĐDV) làm việc trong ngành Y tế có vai trò sau:
* Là nhà thực hành chăm sóc
- Sử dụng quy trình ĐDđể đáp ứng nhu cầu cho NB
- Biết lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện kế hoạch theo mục tiêu đề ra
- Giao tiếp được với NB và những người liên quan đến việc lập kế hoạch chăm sóc NB
- Cộng tác với những người liên quan đến NB, NB và với đồng nghiệp để kế hoạch chăm sóc đạt hiệu quả hơn [4]
* Là nhà quản lý
- Sử dụng những khả năng giao tiếp và suy nghĩ lý luận của mình cho những
NB mắc các bệnh mạn tính, những NB trong giai đọan cấp cứu, những NB trong cộng đồng,…một cách khéo léo và đạt hiệu quả cao
- Hướng dẫn cán bộ y tế khác trong việc chăm sóc NB một cách chọn lọc và thích hợp
- Sử dụng nguồn nhân lực sẵn có để phục vụ chăm sóc NB có hiệu quả [4]
* Là nhà giáo dục
- Sử dụng phương pháp dạy và học cho đội ngũ kế thừa các kiến thức, kỹ năng và đạo đức ĐD
- Thực hiện tốt công tác GDSK cho mọi người
- Biết tự đào tạo liên tục, biết nhận lãnh trách nhiệm đối với nghề nghiệp
- Yêu nghề tha thiết, tham gia vào việc bảo vệ và phát triển nghề nghiệp
* Là nhà nghiên cứu
- Thực hiện và đóng góp các công trình nghiên cứu để nâng cao kiến thức cho ngành ĐD
- Ứng dụng những thành quả các công trình nghiên cứu thành công [4]
1.1.2.6 Vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng
Công tác GDSK cho người bệnh của người điều dưỡng được quy định trong thông tư 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về Hoạt động điều
Trang 23dưỡng trong bệnh viện Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trong công tác chăm sóc người bệnh nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và tăng cường sự hài lòng của người bệnh [13]
Điều dưỡng chiếm số đông trong nhân lực của bệnh viện và có nhiều thời gian tiếp xúc với người bệnh từ khi mới vào viện đến khi ra viện Do đó vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng là rất quan trọng, nếu điều dưỡng làm tốt giúp người bệnh thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị và tăng cường sự hài lòng người bệnh
1.1.3 Thang đo Likert
Thang đo Likert đây là một thang đo được sử dụng hết sức rộng rãi và phổ biến để đo lường thái độ và ý kiến của mọi người trong cộng đồng với mức độ đánh giá chính xác nhất
Thang đo Likert là một thang đo thường có từ 5 đến 7 mức độ mô tả thái độ của con người đối với một vấn đề nào đó Thang đo này được đặt theo tên của người đã tạo ra nó – nhà khoa học xã hội người Mỹ, Rensis Likert
Thang đo này ngày càng trở nên phổ biến và được tin dùng cho các cuộc khảo sát lấy ý kiến vì nó là một trong những thang đo đáng tin cậy nhất
để đo lường ý kiến, nhận thức và hành vi
So với những câu hỏi khảo sát chỉ cung cấp hai đáp án, thì những câu hỏi có có câu trả lời ở nhiều mức độ như kiểu Likert sẽ giúp người làm khảo sát có được những phản hồi chi tiết nhất có thể, để từ đó, xây dựng những chiến lược, những kế hoạch một cách hiệu quả nhất
Trong nghiên cứu này thang đo Likert 5 tiêu chí được sử dụng để đánh giá, trong đó:
Trang 24A1 Rất hài lòng
A2 Hài lòng
A3 Hài lòng một phần
A4 Không hài lòng
A5 Rất không hài lòng
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG - WHO Report 2021- GlobalTuberculosis Control), mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong công tác chống lao trong thời gian qua, bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn đề sức khoẻ cộng đồng chính trên toàn cầu Đại dịch COVID-19 đã đảo ngược nhiều năm (5-8 năm) tiến bộtrong việc cung cấp các dịch vụ lao thiết yếu và giảm gánh nặng bệnh lao trên toàn cầu Các mục tiêu phòng chống lao toàn cầu đến năm 2020 hầu hết đều chưa đạt được, mặc dù cũng có một số quốc gia và khu vực vẫn đạt được những thành công nhất định Tác động rõ ràng nhất là sự sụt giảm đáng kể trên toàn cầu về số lượng bệnh nhân mới được phát hiện và báo cáo Con số này giảm từ 7,1 triệu người năm 2019 xuống 5,8 triệu người năm 2020, giảm 18% so với mức năm 2019
và thấp hơn rất nhiều so với con số khoảng 10 triệu người ước tính mới mắc lao năm 2020 Có 16 quốc gia chiếm 93% trong số giảm phát hiện này, gồm
có Ấn Độ, Indonesia và Philippines là những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất [3]
Trang 25Việc giảm khả năng tiếp cận với chẩn đoán và điều trị lao đã dẫn đến gia tăng số ca tử vong do lao Ước tính năm 2020 có 1,3 triệu ca tử vong do lao (tăng từ 1,2 triệu vào năm 2019) và trong đó có 214 000 ca ở những người dương tính với HIV (tăng từ 209 000 vào năm 2019) Đây là những con số tương đương mức độ tử vong năm 2017 Việc giảm tỷ lệ mắc bệnh lao đạt được trong những năm trước gần như đã dừng lại [3]
Trong kế hoạch chiến lược kết thúc bệnh lao The End TB Strategy đã được ban hành, TCYTTG đã đưa ra mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trên toàn cầu đến năm 2020 giảm 20% số người bệnh lao mới mắc và 35% số người tử vong vì lao so với năm 2015, đến năm 2025 sẽ giảm tương ứng là 50% và 75% Khối các quốc gia Châu Âu hầu hết đã đạt mục tiêu của năm 2020, với
tỷ lệ mới mắc giảm 26%, khu vực Châu Phi cũng có những bước tiến đáng kể, giảm được 18% Có 78 quốc gia đã trong lộ trình đạt được mục tiêu của năm
2020, trong đó có 7 quốc gia có gánh nặng cao đã đạt được (gồm có Campuchia, Ethiopia, Kenya, Namibia, Liên Bang Nga, Nam Phi và Tanzania) [3]
WHO đã công bố kết quả của mô hình đánh giá tác động ngắn hạn của đại dịch Covid-19 lên số ca tử vong do lao trong năm 2020 Kết quả cho thấy rằng tử vong do lao sẽ tăng đáng kể trong năm 2020 và sẽ ảnh hưởng đến nhóm bệnh nhân lao dễ bị tổn thương nhất Nếu như tình hình phát hiện bệnh nhân trên toàn cầu giảm 25%-50% trong vòng 3 tháng (so sánh với mức độ phát hiện trước khi xảy ra đại dịch), sẽ có thêm khoảng ước tính khoảng 200.000 – 400.000 ca tử vong do lao được dự báo Mô hình cũng dự báo số người mắc lao có thể tăng thêm 1 triệu ca mỗi năm trong giai đoạn 2020 –
Trang 261.2.2 Hoạt động cụ thể trong GDSK cho người bệnh lao tại Bệnh viện Phổi Thái bình
Tại tỉnh Thái Bình chương trình chống lao được quan tâm, Bệnh viện Phổi Thái Bình đã phối hợp với Đài truyền hình, đài phát thanh xây dựng và phát sóng các chương trình truyền thông GDSK phổ biến kiến thức về bệnh lao và phân phối về tất cả các xã trong toàn tỉnh nhằm phổ biến kiến thức, cung cấp thông tin về bệnh lao đến với đại đa số người dân vì mục tiêu chăm sóc và đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng Chương trình được xây dựng ngắn gọn thông qua các bài phỏng vấn nói chuyện chuyên gia, các kiến thức hỏi đáp trả lời về bệnh lao Thường xuyên tổ chức các buổi nói truyện và tư vấn
về bệnh lao với sự hợp tác của Hội nông dân Tổ chức tuyên truyền trên thông tin đại chúng nhân hưởng ứng ngày phòng chống lao thế giới 24/3
Tại Bệnh viện Phổi Thái Bình, công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh được lãnh đạo bệnh viện đặc biệt quan tâm Bệnh viện đã triển khai nhiều hoạt động như: Bệnh viện đã xây dựng quy định
và tổ chức các hình thức giáo dục sức khỏe cho người bệnh nằm viện; Người bệnh nằm viện được điều dưỡng viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện, bệnh viện tổ chức cuộc thi “ Điều dưỡng viện tư vấn giỏi” để các điều dưỡng nâng cao tinh thần học hỏi, sáng tạo… trong hoạt động giáo dục sức khỏe cho người bệnh, bệnh viện đã thực hiện các lớp tập huấn về giao tiếp ứng xử
để điều dưỡng tự rèn luyện các kỹ năng giao tiếp hỗ trợ trong các hoạt động giáo dục sức khỏe cho ngưởi bệnh,…Ngoài ra hàng năm bệnh viện tổ chức các buổi khám sàng lọc cộng đồng miễn phí cho người dân ở các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh nhằm mục đích tăng cường công tác GDSK, phát hiện những trường hợp lao để đưa vào quản lý điều trị, theo dõi và tư vấn GDSK
Trang 271.2.3 Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.3.1 Trên thế giới
Nghiên cứu của N Aghakhani và các cộng sự thực hiện năm 2012 tại Pháp về những rào cản quan trọng nhất của GDSK cho NB là tình hình làm việc của ĐD, là kiến thức thấp của ĐD và không tìm thấy tầm quan trọng của GDSK Về cơ sở bệnh viện là thiếu các nguồn tài nguyên để thực hiện GDSK Nghiên cứu cũng chỉ ra sự tương tác giữa NB, bác sĩ, ĐD và các yếu tố hệ thống có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện GDSK cho NB [19]
Nghiên cứu của Amen A Ahmed Bawazir và cộng sự về sự hài lòng của NB với các dịch vụ GDSK tại các trung tâm CSSKBĐ tại Ả rập xê út năm
2013 cho thấy một trong những phương pháp giảng dạy hiệu quả để GDSK cho NB là tài liệu được in thành văn bản Khoảng một nửa số người tham gia nghiên cứu này (44,8%) đã nhận được tài liệu in ấn về y tế tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, và phần còn lại nhận được các tài liệu này từ các nhà cung cấp dịch vụ y tế [15]
Năm 2013, theo nghiên cứu của Kulkami tại Ấn Độ có 156 người bệnh lao phổi mới được chẩn đoán tham gia vào nghiên cứu trong số đó có 78 người bệnh (50%) không tuân thủ điều trị thuốc chống lao Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị được đưa ra như nam giới và thiếu kiến thức về tầm quan trọng của điều trị thường xuyên, phụ nữ bán dâm cũng là một yếu tố rủi
ro tuyệt đối cho sự không tuân thủ Nguyên nhân được người bệnh đưa ra như quên đến trung tâm y tế chiếm 19,2%, tác dụng phụ của thuốc 16,7%, bận công việc 19,2% Do vậy, mà can thiệp giáo dục sức khỏe là rất cần thiết đặc biệt trên một số nhóm đối tượng như nam giới, người di cư và phụ nữ bán dâm [16]
Đôi khi việc không tuân thủ điều trị cũng liên quan đến việc giám sát điều trị của nhân viên y tế kèm theo những chi phí thảm họa do điều trị lao gây ra Theo nghiên cứu của Xun Lei và cộng sự về tuân thủ điều trị tại Trung Quốc năm 2016, với tiêu chí đánh giá người bệnh nếu bỏ lỡ ít nhất một liều