HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU CỦA CAO CHIẾT LÁ CHÈ VẰNG Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae TRÊN CÁC THÀNH PHẦN LIPID MÁU .... Bảng 1.1: Phân loại và đặc điểm của các lipoprot
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Người hướng dẫn : ThS BSNT Phan Hồng Minh
TS Mai Phương Thanh
Hà Nội – 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài “đánh giá tính an toàn và tác dụng trên các thông số lipid máu của cao chiết từ lá cây chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) trên thực nghiệm” là nội dung em đã chọn đề tài nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp sau 5 năm học tập và rèn luyện ngành Dược học tại trường Đại học
Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Để hoàn thành được đề tài bên cạnh sự nỗ lực của bản thân từ những kiến thức được học em cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của thầy
cô, bạn bè và gia đình Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô đang công tác tại trường Đại học Y dược thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện và cung cấp cho em những kiến thức quan trọng để em có nền tảng nghiên cứu, hoàn thành khóa luận và là hành trang cần thiết cho sự nghiệp của em trong tương lai Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
đến ThS BSNT Phan Hồng Minh và TS Mai Phương Thanh, giảng viên
trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em tận tình cả về kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
và thái độ làm việc để em có thể hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất Em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ em về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù em đã cố gắng hoàn thiện
đề tài qua việc tham khảo tài liệu, trao đổi, tiếp thu những ý kiến góp ý nhưng không tránh khỏi có những thiếu sót Em mong nhận được những ý kiến, đóng góp của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện nhất
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Trang 4DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
13 GOT Glutamat Oxaloacetat Transaminase
14 GPT Glutamat pyruvat transaminase
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chuyển hóa lipid trong cơ thể 6 Hình 1.4: Điều trị RLLPM bằng thuốc 12 Hình 3.1: Ảnh hưởng của cao chiết đến thể trọng chuột cống trắng 20 Hình 3.2: Ảnh hưởng của cao chiết đến nồng độ creatinin trong máu chuột cống trắng 24 Hình 3.3: Nhuộm HE cho các mô gan với độ phóng đại 400x 25 Hình 3.4: Nhuộm HE cho các mô thận với độ phóng đại 400x 25
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại và đặc điểm của các lipoprotein huyết tương 4 Bảng 1.6: Cây chè vằng tự nhiên và các sản phẩm cao chiết 13 Bảng 3.1: Ảnh hưởng của cao chiết đến chức năng tạo máu chuột cống trắng 21 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của cao chiết đến độ hủy hoại tế bào gan chuột cống trắng 22 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của cao chiết đến chức năng gan chuột cống trắng 23 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của lô mô hình P-407 lên chuột nhắt trắng (mmol/L) 26 Bảng 3.5: Tác dụng của cao chiết chè vằng lên các chỉ số lipid máu của chuột nhắt trắng sau 24h tiêm P-407 (mmol/L) 26
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN 3
1.1 SINH LÝ HỌC LIPID MÁU 3
1.1.1 Lipid, cấu tạo của lipid 3
1.1.2 Thành phần của lipoprotein 3
1.1.3 Phân loại lipoprotein 3
1.1.4 Chuyển hóa lipoprotein 5
1.2 SINH LÝ BỆNH RỐI LOẠN LIPID MÁU 7
1.3 CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN LIPID MÁU 9
1.4 ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU 10
1.4.1 Không dùng thuốc 10
1.4.2 Dùng thuốc 11
1.5 CÁC MÔ HÌNH GÂY TĂNG LIPID MÁU TRÊN THỰC NGHIỆM 12 1.6 GIỚI THIỆU VỀ CAO CHIẾT LÁ CÂY CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) 13
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.2.1 Đánh giá độc tính bán trường diễn 17
2.2.2 Đánh giá tác dụng hạ lipid máu dựa trên mô hình gây tăng cholesterol máu nội sinh 18
2.2.3 Xử lý số liệu 19
Chương 3 - KẾT QUẢ 20
3.1 ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN 20
3.1.1 Tình trạng chung 20
3.1.2 Sự thay đổi trọng lượng chuột cống trắng 20
Trang 83.1.3 Đánh giá chức năng tạo máu 21
3.1.4 Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan 22
3.1.5 Đánh giá chức năng gan 23
3.1.7 Thay đổi về mô bệnh học sau 90 ngày uống thuốc 24
3.2 TÁC DỤNG CỦA CAO CHIẾT TỪ LÁ CÂY CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) TRÊN MÔ HÌNH RLLPM THEO CƠ CHẾ NỘI SINH 26
Chương 4 - BÀN LUẬN 28
4.1 ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN 28
4.2 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU CỦA CAO CHIẾT LÁ CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) TRÊN CÁC THÀNH PHẦN LIPID MÁU 31
4.2.1 Đánh giá mô hình tăng lipid máu nội sinh bằng P-407 31
4.2.2 Đánh giá mô hình thuốc đối chứng Atorvastatin 10 mg 32
4.2.3 Đánh giá tác dụng của cao chiết lá chè vằng trên các chỉ số lipid máu 33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
Rối loạn lipid máu là yếu tố quan trọng cho việc hình thành và phát triển của bệnh xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành, động mạch não Xơ vữa động mạch gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng như: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não [13, 18, 19] Rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ rất cao ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp, đặc biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch khác đi kèm như thừa cân, béo phì, uống nhiều rượu và ít vận động thể lực, theo tạp chí Y học Việt Nam (2022) thì
tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp là 88,0% [27] Y học hiện đại đã áp dụng nhiều biện pháp để điều trị RLLPM: chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, rèn luyện thể lực và dùng thuốc Có nhiều nhóm thuốc có tác dụng điều chỉnh RLLPM như các dẫn xuất statin, nhóm fibrat, acid nicotinic, các chất gắn acid mật Các thuốc trên đều đạt hiệu quả điều trị tốt nhưng có nhiều tác dụng không mong muốn như gây rối loạn tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, suy giảm nhận thức, phản ứng ngoài da…, đặc biệt là gây tăng enzym gan, viêm cơ, tiêu cơ vân và có một tỷ lệ gây đột biến ảnh hưởng đến quá trình phát triển thai nhi [4, 29, 34] Bên cạnh đó, chi phí điều trị bằng các thuốc này còn khá cao, trong khi bệnh thường phải điều trị dài ngày Vì thế, một trong những xu hướng hiện nay là hướng về các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, vừa mang lại hiệu quả điều trị, vừa hạn chế các tác dụng không mong muốn và giảm chi phí điều trị cho người bệnh [22]
Việt Nam là một nước có nguồn gốc dược liệu tự nhiên vô cùng phong phú với trên 5000 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật, 75 loại khoáng vật được dùng làm thuốc và 200 loài có tiềm năng khai thác và phát triển để trồng Nhiều loài được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: Sâm Ngọc Linh, thông
đỏ, bách hợp… Chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) từ lâu đã
được ông cha ta dùng chữa viêm loét ngoài da, thông kinh, hoạt huyệt, chữa viêm tuyến sữa, trị thiếu máu, bổ gan, thải độc, ổn định huyết áp, kích thích tiêu hoá, ngủ ngon giấc, chống oxi hoá Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu
về lá chè vằng để khai thác hết hiệu quả điều trị từ cao chiết này Để có cơ sở khoa học giúp khai thác hết tiềm năng của chè vằng và lấy đó làm căn cứ cho việc sử dụng thuốc trên lâm sàng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “đánh
Trang 10giá tính an toàn và tác dụng trên các thông số lipid máu của cao chiết từ lá cây
chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) trên thực nghiệm” với hai
mục tiêu như sau:
1 Đánh giá độc tính bán trường diễn của cao chiết lá chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) trên động vật thực nghiệm
2 Đánh giá tác dụng trên các thông số lipid máu của cao chiết lá cây chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) trên chuột nhắt trắng
Trang 11Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 SINH LÝ HỌC LIPID MÁU
1.1.1 Lipid, cấu tạo của lipid
Lipid là thành phần quan trọng của màng tế bào Lipid không tan trong nước nên để tuần hoàn được trong huyết tương và hệ bạch huyết, chúng phải kết hợp với protein đặc hiệu tạo thành phức hợp lipoprotein (LP) [2, 10] Lipid
là những sản phẩm ngưng tụ của các acid béo với alcol Ngoài ra, lipid là danh
từ chỉ dùng cho acid béo, cholesterol tự do và cholesterol este
Trong cơ thể, lipid tồn tại dưới 3 dạng:
+ Cấu trúc: có trong tất cả các mô, tham gia cấu tạo màng tế bào, thành phần là các loại lipid phức tạp, phổ biến là phospholipid
+ Dự trữ: tạo nên lớp mỡ dưới da thành phần chủ yếu là triglycerid (TG) + Lưu hành: gồm phospholipid (PL), triglycerid (TG), cholesterol tự do (FC), cholesterol este (CE) và acid béo tự do
1.1.2 Thành phần của lipoprotein
Lipoprotein là những phân tử hình cầu gồm 2 phần: nhân và vỏ [1, 10] Phần vỏ được cấu tạo bởi các phân tử lipid phân cực gồm phospholipid, cholesterol tự do và các apoprotein Phần vỏ đảm bảo tính tan của LP trong huyết tương, có tác dụng vận chuyển các lipid không tan Phần nhân: chứa triglycerid và cholesterol este hoá không phân cực
1.1.3 Phân loại lipoprotein
Dựa vào tỷ trọng, lipoprotein được chia thành 5 loại, lipoprotein có hàm lượng lipid càng cao thì tỷ trọng càng thấp Bao gồm: Chylomicron (CM), VLDL (lipoprotein tỷ trọng rất thấp), LDL (lipoprotein tỷ trọng thấp), IDL (lipoprotein tỷ trọng trung bình), HDL (lipoprotein tỷ trọng cao)
Trang 12Bảng 1.1: Phân loại và đặc điểm của các lipoprotein huyết tương
Lipoprotein Tỷ trọng (g/ml) Đường kính trung bình (nm)
Nguồn gốc: Sản phẩm chuyển hóa của VLDL
Chức năng: Tiền chất của LDL
Nguồn gốc: Sản phẩm chuyển hóa VLDL qua IDL
Chức năng: Vận chuyển cholesterol từ gan đến mô ngoại vi
Nguồn gốc: Gan, ruột
Chức năng: Vận chuyển cholesterol trở về gan
(Wiliam J.Marshall, Clinical chemistry, Fourth Edition, Mosby 2000)
Các thành phần trên được mô tả như sau:
+ Chylomicron (CM): Đây là loại lipoprotein với hàm lượng lipid cao
nhất, vì vậy tỷ trọng của nó là nhỏ nhất ApoB-48, apoE và apoC-II là các apoprotein chủ yếu của loại lipoprotein này CM chỉ có mặt trong huyết tương một thời gian ngắn (khoảng vài giờ) sau bữa ăn giàu lipid, nhiệm vụ vận chuyển triglycerid trong thức ăn từ ruột tới gan Loại này do thời gian tồn tại ít nên không gây nên các rối loạn trong cơ thể dù nhiều hay ít [21]
+ Lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL): Loại Lipoprotein này được tổng
hợp tại gan, có tác dụng vận chuyển trigycerid nội sinh vào hệ tuần hoàn Apoprotein của VLDL bao gồm ApoB-100, ApoC-I, ApoC-II và apoE VLDL
Trang 13được vận chuyển từ gan đến mô mỡ, hoạt hóa enzym lipoprotein lipase, xúc tác thủy phân trigycerid, giải phóng acid béo [21]
+ Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL): Là sản phẩm thoái hóa của VLDL
trong máu, giàu cholesterol và cholesterol ester Apoprotein của LDL là
ApoB-100 LDL có vai trò vận chuyển cholesterol đến các mô Cholesterol trong LDL được coi là cholesterol xấu vì nó tham gia vào sự hình thành và phát triển các mảng xơ vữa động mạch, gây nên các bệnh tim mạch nguy hiểm [21]
+ Lipoprotein tỷ trọng trung gian (IDL): IDL chính là dạng chuyển hóa
trung gian giữa LDL và VLDL VLDL sau khi giải phóng trigycerid, nhận thêm cholesterol ester và mất đi ApoC sẽ chuyển thành IDL, sau đó nhanh chóng
bị thoái hóa thành LDL [21]
+ Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL): HDL được tạo thành ở gan và ruột
non, nó giàu protein, hàm lượng lipid thấp HDL có vai trò vận chuyển cholesterol ở các mô ngoại vi về gan để thoái hóa thành acid mật Cholesterol của HDL được xem là cholesterol tốt vì chúng giúp bảo vệ thành mạch, giảm nguy cơ xơ vữa Một số nghiên cứu cho rằng, HDL giúp loại trừ các mảng xơ vữa, hạn chế các mảng xơ vữa này phát triển HDL cao giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lý về tim mạch, ngược lại, khi HDL thấp thì khả năng mắc bệnh sẽ tăng lên [21, 33]
1.1.4 Chuyển hóa lipoprotein
Trong cơ thể, lipoprotein được tổng hợp theo 2 con đường: con đường ngoại sinh và con đường nội sinh [8]
+ Con đường ngoại sinh: liên quan đến lipid do thức ăn đưa vào, sau
khi ăn thức ăn giàu chất béo, triglycerid và cholesterol được hấp thu vào tế bào ruột dưới dạng acid béo và cholesterol tự do rồi được tái este hóa, sáp nhập và vận chuyển bởi phân tử chylomicron theo mạch bạch huyết vào tuần hoàn Trong máu, lipoprotein lipase thủy phân triglycerid của chylomicron thành acid béo cung cấp cho mô, phần còn lại là chylomicron tồn dư bị gan thâu tóm
+ Con đường nội sinh: liên quan đến lipid được tổng hợp tại gan: VLDL
được tổng hợp ở gan, vận chuyển trong máu phần triglycerid bị thủy phân bởi lipoprotein lipase tạo acid béo cung cấp cho mô, phần còn lại là VLDL tồn dư
Trang 14hay IDL Khoảng một nửa IDL được chuyển hóa ở gan, phần còn lại tiếp tục bị thủy phân phần triglycerid thành acid béo cho mô, trở thành LDL LDL bị thâu tóm bởi tương tác với receptor LDL màng tế bào, cung cấp cholesterol cho mô
Ba enzym vận chuyển ngược cholesterol: protein (CETP), lecithin-cholesterol-acyltransferase (LCAT), và hepatic lipase cùng với HDL-C chịu trách nhiệm vận chuyển cholesterol dư thừa từ mô ngoại
cholesterol-estertransfer-vi về gan thải trừ vào mật Tại huyết tương, HDL-C gắn và hoạt hóa đặc hiệu LCAT, ester hóa cholesterol tự do ở bề mặt, cholesterol este được chuyển vào lõi HDL mới sinh ra tạo HDL mới Tiếp đó, enzym CETP trung gian vận chuyển một triglycerid của LDL, VLDL hoặc chylomicron để trao đổi một cholesterol este với HDL Cuối cùng, enzym hepatic lipase tạo ra IDL từ LDL
và biến đổi HDL2 thành HDL3 trở về gan Vì vậy cholesterol của HDL-C được coi là cơ chế chống xơ vữa động mạch quan trọng nhất
Hình 1.1: Chuyển hóa lipid trong cơ thể
Ở người bình thường, quá trình tổng hợp và thoái hóa lipid được điều hòa bởi nhiều cơ chế và phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể, nhờ đó mà duy trì được
sự ổn định hàm lượng lipid và lipoprotein trong máu Khi có sự bất thường, sẽ dẫn đến hội chứng rối loạn lipoprotein hay được gọi là rối loạn lipid máu
Trang 151.2 SINH LÝ BỆNH RỐI LOẠN LIPID MÁU
Nguyên nhân và phân loại rối loạn lipid máu
Bình thường: Lipid toàn phần trong máu ổn định trong khoảng 600-800
mg/dl, là nhờ sự cân bằng giữa cung cấp (hấp thu, tổng hợp) và tiêu thụ Tăng lipid máu có thể gặp sau bữa ăn, do sự huy động của tuyến yên, tuyến giáp hay thượng thận hay sự giảm sử dụng và chuyển hóa làm gan giảm sản xuất chất vận chuyển mỡ (apoprotein) Tăng lipid máu trong một thời gian ngắn không gây hậu quả gì đáng kể, nhưng nếu tăng kéo dài thì dẫn đến một số hậu quả: béo phì, suy giảm chức năng một số cơ quan (gan), tăng cholesterol gây xơ vữa động mạch [9]
Nguyên nhân gây rối loạn lipid máu có thể là nguyên phát (do các bệnh
về gen) hoặc thứ phát (do thói quen ăn uống, sinh hoạt hoặc một số bệnh lý) Các nguyên nhân thứ phát có thể góp phần làm rối loạn lipid máu do nguyên nhân tiên phát biểu hiện ra hoặc nặng nề hơn, ví dụ rối loạn lipid máu hỗn hợp mang tính gia đình có thể chỉ biểu hiện ra khi có sự tham gia có ý nghĩa của các nguyên nhân thứ phát [8]
➢ Nguyên nhân nguyên phát:
Rối loạn lipid máu nguyên phát do đột biến gen làm tăng tổng hợp quá mức cholesterol (TC), triglycerid (TG), LDL-C hoặc giảm thanh thải TC, TG, LDL-C hoặc giảm tổng hợp HDL-C hoặc tăng thanh thải HDL-C Rối loạn lipid máu thường xảy ra sớm ở trẻ em và người trẻ tuổi, ít khi kèm thể trạng béo phì, gồm các trường hợp sau:
+ Tăng glycerid nguyên phát: là bệnh cảnh di truyền theo gen lặn, biểu
hiện lâm sàng thường người bệnh không bị béo phì, có gan lách lớn, cường lách, thiếu máu giảm tiểu cầu, nhồi máu lách, viêm tụy cấp gây đau bụng
+ Tăng lipid máu hỗn hợp: là bệnh cảnh di truyền, trong gia đình có
nhiều người cùng mắc bệnh Tăng lipid máu hỗn hợp có thể do tăng tổng hợp hoặc giảm thoái biến các lipoprotein Lâm sàng thường béo phì, ban vàng, kháng insulin, đái tháo đường tuyp 2, tăng acid uric máu [5]
➢ Rối loạn lipid máu thứ phát
Trang 16Nguyên nhân của rối loạn lipid máu do lối sống tĩnh tại, dùng nhiều bia rượu, thức ăn giàu chất béo bão hòa Các nguyên nhân thứ phát khác của rối loạn lipid máu như đái tháo đường, bệnh thận mạn tính, suy giáp, xơ gan, dùng thuốc thiazid, corticoids, estrogen, chẹn beta giao cảm [5]
➢ Tăng lipid thứ phát:
+ Đái tháo đường: thường tăng triglycerid máu do hoạt tính enzym
lipoprotein lipase giảm Nếu glucose máu được kiểm soát tốt thì triglycerid sẽ giảm sau vài tuần Tăng TG máu là yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch ở người bệnh đái tháo đường [5]
+ Cường cortisol (Hội chứng Cushing): có tình trạng giảm dị hóa các
lipoprotein do giảm hoạt tính enzym lipoprotein lipase Tình trạng này càng rõ hơn trong trường hợp kèm kháng insulin và đái tháo đường [5]
+ Sử dụng estrogen: ở phụ nữ dùng estrogen thời gian dài, có sự gia tăng
TG do tăng tổng tổng hợp VLDL Trong thai kỳ, nồng độ estrogen tăng cũng làm gia tăng TG gấp 2-3 lần và sẽ trở lại mức bình thường sau sinh khoảng 6 tuần [5]
+ Nghiện rượu: làm rối loạn lipid máu, chủ yếu tăng triglycerid (TG)
Đặc biệt, rượu làm tăng đáng kể nồng độ triglycerid máu ở những người tăng sản TG nguyên phát hoặc thứ phát do các nguyên nhân khác Hội chứng Zieve tăng TC máu, rượu chuyển thành acetat làm giảm sự oxyd hóa các acid béo ở gan nên acid béo tham gia sản xuất TG gây gan nhiễm mỡ và tăng sản xuất VLDL, chức năng gan giảm dẫn đến giảm hoạt tính enzym LCAT (Lecithin cholesterol acyltransferase: enzym ester hóa cholesterol) nên cholesterol ứ đọng trong hồng cầu làm vỡ hồng cầu gây thiếu máu tan huyết [5]
+ Bệnh thận: trong hội chứng thận hư, tăng VLDL và LDL do gan tăng
tổng hợp để bù vào lượng protein máu giảm do thải qua nước tiểu TG tăng do albumin máu giảm nên acid béo tự do gắn với albumin cũng giảm, acid béo tự
do gắn vào lipoprotein làm cho sự thủy phân TG của các lipoprotein này cũng giảm [5]
1.2.1 Hậu quả của rối loạn lipid máu
Trang 17+ Trên hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, nhồi máu não,
đột quỵ Rối loạn lipid máu là nguyên nhân dẫn tới quá trình xơ vữa động mạch làm hẹp lòng động mạch Lượng máu không đủ cung cấp cho tim và não - hai
cơ quan quan trọng của cơ thể Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây ra các biến chứng nhồi máu cơ tim, nhồi máu não Bên cạnh đó các mảng
xơ vữa gây ra do rối loạn lipid máu khiến mạch máu bị thu nhỏ lại, thành mạch
bị xơ vữa, không đàn hồi Vì vậy lượng máu lưu thông chảy qua sẽ khó khăn đòi hỏi tim phải tăng co bóp dẫn tới huyết áp tăng cao
+ Trên hệ nối tiết: Một số tuyến nội tiết sản xuất ra các hormon cho cơ
thể phải sử dụng cholesterol như estrogen, testosterone và cortisol Vì vậy phụ
nữ trung niên sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch tương tự nam giới do nồng
độ estrogen suy giảm
+ Trên hệ thần kinh: cholesterol trong máu cao có thể đẩy nhanh quá
trình hình thành các mảng beta-amyloid gây tổn thương não ở những người mắc bệnh Alzheimer
+ Trên hệ tiêu hóa: khi có quá nhiều cholesterol trong dịch mật, phần
dư thừa sẽ thúc đẩy hình thành các tinh thể, lâu dài sẽ tạo thành sỏi cứng trong túi mật, đường mật trong gan Hệ quả sẽ gây tắc nghẽn làm người bệnh đau quặn từng cơn hoặc sốt cao do nhiễm trùng - nhiễm độc từ đường mật
1.3 CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN LIPID MÁU
Rối loạn lipid máu được đặt ra ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hoặc biến chứng của rối loạn lipid máu (ví dụ xơ vữa động mạch) Rối loạn lipid máu tiên phát được nghi ngờ ở những bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng của rối loạn lipid máu, bệnh xơ vữa động mạch xuất hiện sớm (trước 60 tuổi), tiền sử gia đình có người mắc bệnh động mạch hoặc cholesterol máu >
240 mg/dl (>6,2 mmol/L) Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm các thành phần lipid máu: cholesterol toàn phần, TG, HDL-cholesterol và LDL-cholesterol [8]
Định lượng các thành phần lipid máu: TC, TG, HDL-C được định lượng trực tiếp; nồng độ TC và TG phản ánh cholesterol và TG trong các lipoprotein lưu hành, bao gồm chylomicron, VLDL, IDL, LDL, và HDL Nồng độ TC thay đổi khoảng 10% và TG biến đổi tới 25% giữa các ngày khác nhau ngay cả trong
Trang 18điều kiện bình thường TC và HDL-C có thể xét nghiệm khi bệnh nhân không đói, tuy nhiên người ta thường xét nghiệm khi đói để đạt độ chính xác tối đa và chắc chắn Không nên làm xét nghiệm khi bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính, nhất là viêm nhiễm vì lúc này TG thường tăng và cholesterol thường giảm Các thành phần lipid máu có thể thay đổi trong thời gian 30 ngày sau nhồi máu
cơ tim cấp, tuy nhiên kết quả xét nghiệm trong vong 24h sau khi bị nhồi máu
cơ tim cấp vẫn có giá trị hướng dẫn điều trị bằng thuốc hạ lipid máu [8]
Nồng độ non-HDL-C thường được tính bằng công thức:
(Non-HDL-C) = (TC) – (HDL-C) Các xét nghiệm khác: Glucose máu khi đói, SGOT, SGPT, creatinin, TSH và protein niệu
Nên được xét nghiệm cho hầu hết các bệnh nhân mới được chẩn đoán rối loạn lipid máu và những bệnh nhân có các thành phần lipid máu biến đổi theo chiều hướng xấu đi không giải thích được Ngoài ra, cũng nên định lượng C-creractive protein (CRP) và homocysteine nếu điều kiện cho phép [8]
1.4 ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU
1.4.1 Không dùng thuốc
+ Thay đổi lối sống
+ Hạn chế thực phẩm chứa cholesterol và axit béo bão hòa là biện pháp hiệu quả nhất làm giảm LDL-C và TG, khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa kỳ
và NCEP lượng chất béo trung bình ở người lớn ≤ 30% tổng calo nhập vào trong 24h, hạn chế thức ăn chiên xào…
+ Giảm cân nặng càng gần BMI < 22 càng tốt
+ Hoạt động thể lực: ngồi tại chỗ < 2h/ngày, và tăng thời gian hoạt động mạnh > 60 ph/ngày, 3 – 4 lần/ tuần
+ Ngừng hút thuốc lá…[12-14]
Trang 19Cơ chế: ức chế HMG-CoA reductase, ngăn chặn tổng hợp cholesterol
Tác dụng phụ: đau cơ, nhức đầu, chướng bụng, nổi mẩn đỏ, tăng men gan
Nhựa gắn với acid mật
Cơ chế: tăng oxyd hóa cholesterol thành acid mật
Tác dụng phụ: táo bón, chướng bụng, đầy hơi, buồn nôn
Cơ chế: là chất chủ vận cho yếu tố chuyển nhân, kích thích sự tổng hợp các men oxyd hóa acid béo làm giảm TG
Tác dụng phụ: khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy
10mg/ngày
Cơ chế: ức chế hấp thu cholesterol trên thành ruột non (NPC1L1)
Trang 201.5 CÁC MÔ HÌNH GÂY TĂNG LIPID MÁU TRÊN THỰC NGHIỆM
Để nghiên cứu thuốc điều trị rối loạn lipid máu, trước hết phải gây được
mô hình tăng lipid máu Có ba mô hình dược lý đã được nghiên cứu và áp dụng trên động vật thực nghiệm là: gây tăng cholesterol hoặc lipid máu ngoại sinh (đưa cholesterol và mỡ theo đường thức ăn), gây tăng cholesterol máu nội sinh (gây tăng tổng hợp cholesterol) hoặc phối hợp cả hai loại này
Động vật thường được sử dụng trong các mô hình tăng cholesterol máu là: thỏ, chuột cống, chuột nhắt, hamster, ngoài ra có thể dùng khỉ, lợn, chim cút…
Tại Việt Nam, các mô hình đánh giá tác dụng hạ lipid máu chưa có nhiều Tập trung chủ yếu vào các mô hình gây tăng bằng các chất gây tăng theo cơ chế ngoại sinh như mô hình gây tăng bằng chế độ ăn giàu chất béo, giàu cholesterol Việc gây tăng bằng chế độ ăn giàu cholesterol đã được chứng minh
có thể gây tăng được lipid máu Tuy nhiên chỉ 30% cholesterol có nguồn gốc ngoại sinh, 70% còn lại được gan tổng hợp có nguồn gốc nội sinh Do vậy, việc gây tăng bằng chế độ ăn thường mất thời gian, tốn kém, mức gây tăng thường không cao, chưa thực sự phù hợp với mục đích sàng lọc thuốc
Để gây tăng lipid máu nội sinh, các chất gây tăng lipid máu thường sử dụng là Tween 80 (Polysobarte 80), Triton WR-1339 (Tyloxapol), Poloxamer
407 (P-407), với đặc điểm chung: liều đơn tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm màng bụng có thể gây tăng lipid nhanh và rõ rệt, nồng độ đỉnh quan sát được sau khi gây tăng bằng Tween 80 là 6-12 giờ, Triton WR-1339 là khoảng 24 giờ, P-407
là khoảng 36 giờ sau tiêm Do đó, so với gây tăng lipid máu bằng chế độ ăn thì phương pháp này nhanh và đơn giản hơn giúp phát hiện các thuốc có tác dụng trên sinh tổng hợp và chuyển hóa lipid, thích hợp cho việc nghiên cứu, sàng lọc ban đầu [23, 40]
Trên thế giới mô hình gây tăng lipid máu theo cơ chế nội sinh (kích thích gan tăng tổng hợp cholesterol) thường hay được áp dụng hơn để sàng lọc các thuốc có tác dụng hạ lipid máu Các mô hình này đã được chứng minh có khả năng tăng mạnh lipid máu trong thời gian ngắn, thuận tiện và tiết kiệm được chi phí, phù hợp để sàng lọc và đánh giá các thuốc hạ lipid máu Trong các chất
Trang 21gây tăng theo cơ chế nội sinh, P-407 được sử dụng khá phổ biến, hiệu quả gây tăng cao và không gây độc tính cho động vật thực nghiệm [36].
Mô hình gây tăng lipid máu bởi Poloxamer 407: mô hình được nghiên cứu bởi Johnston T.P và cộng sự Năm 1992, nhóm nghiên cứu của Johnston tiêm phúc mạc liều duy nhất P407 1,5g/kg trên chuột cống cho thấy khả năng tăng cholesterol và triglycerid huyết tương của P407 Sau đó là những nỗ lực
tìm kiếm cơ chế gây tăng lipid máu trên cả invivo thực nghiệm động vật và
invitro ty thể tế bào gan sử dụng liều 300mg/kg P407 [36]
1.6 GIỚI THIỆU VỀ CAO CHIẾT LÁ CÂY CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae)
Chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume Oleaceae) là một loài cây
mọc khá phổ biến ở nước ta đặc biệt là các tỉnh miền Trung, được sử dụng rộng rãi để chữa viêm loét ngoài da, thông kinh, hoạt huyệt, chữa viêm tuyến sữa, trị thiếu máu, bổ gan, thải độc, ổn định huyết áp, kích thích tiêu hoá, ngủ ngon giấc, chống oxi hoá Chè được thu hái phơi khô hoặc nấu cao [7].
Hình 1.6: Cây chè vằng tự nhiên và các sản phẩm cao chiết
Trang 22Chè vằng còn được gọi là chè cước man, dây cẩm vân, cây dâm trắng,
cây lá ngón, dây vắng, mổ sẻ Tên khoa học Jasminum subtriplinerve Blume,
thuộc họ Nhài (Oleaceae) Nhiều người gọi nhầm cây chè vằng là cây lá ngón, nhưng một cây có hoa vàng (lá ngón thật), một cây kia hoa trắng (chè vằng), ngoài ra còn có một số điểm khác cần chú ý để tránh nhầm lẫn [20]
Mô tả cây: chè vằng là một cây nhỏ, mọc thành bụi ở bờ rào hay bụi tre
hoặc mọc ở các cây lớn Thân cây cứng, chia thành từng đốt, đường kính 5-6
mm, chia thành nhiều cành, có thể vươn cao 1-1,5m và vươn dài đến 15-20m, thân và cành đều nhẵn Lá mọc đối, hình mũi mác, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, dài 4-7,5cm, rộng 2-4,5cm, những lá phía trên nhỏ hơn lá phía dưới, mép nguyên, có 3 gân rõ rệt Cuống lá nhẵn, dài 3-12mm Hoa mọc thành xim nhiều hoa (chừng 7-9 hoa), cánh hoa màu trắng Quả hình cầu, đường kính 7-8mm (bằng hạt ngô) Khi chín có màu vàng, trong quả có một hạt rắn chắc Mùa quả chín tháng 7-10 [20].
Thành phần hóa học: Nghiên cứu từ những năm 1984 cho thấy chè vằng
có terpenoid, glycosid đắng, flavonoid, syringin Nhiều hợp chất có dược tính tốt đã được biết và công nhận như betulin, axit betulinic, 3β-acetyl-oleanoic, lupeol, β-sitosterol, rutin, astragalin, isoquercetrin, nicotiflorin, verbascosid, isoverbascosid, isooleoverbascosid, apiosylverbascosid, 6'-O-menthiafoloylverbascosid, Daucosterol, Dotriacontanol có trong chè vằng
(Jasminum subtriplinerve Blume) [7, 43]
Tác dụng sinh học: Chè vằng có 4 nhóm hợp chất (terpenoid, glycosid
đắng, flavonoid, syringin) đều có tác dụng kháng khuẩn (tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan máu, Shigella dysenteriae, S.shigae, trực khuẩn thương hàn, Achromobacter và ức chế yếu hơn đối với trực khuẩn mủ xanh) Tác dụng sinh học chủ yếu của chè vằng là tác dụng kháng khuẩn Ngoài ra, chè vằng còn có tác dụng chống viêm, hạ sốt, làm lành vết thương bảo vệ niêm mạc, tăng tiết dịch mật, giảm nhu động ruột Hoạt tính kháng khuẩn của chè vằng không biến động theo thời tiết và thời kỳ sinh trưởng của cây [11]
Trang 23Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
▪ Nguyên liệu: Lá chè vằng được thu mua tại huyện Thanh Chương và
Tương Dương, tỉnh Nghệ An sẽ được chiết, cô đặc tạo cao chiết theo các bước
mô tả như sau:
- Chọn lọc, xử lý, làm sạch lá
- Lấy chất dịch chiết: Cho lá đã xử lý vào nồi đun với tỉ lệ 4kg nguyên liệu và 4 lít nước Sau khi đun lần thứ nhất, để nguội, dùng mảnh vải mỏng hoặc vải màn gạn vắt bỏ bã, để lắng lọc lấy phần trong Lặp lại với quá trình trên, chiết lần 2 với 4 lít nước Kết thúc 2 lần đun thu được 5 lít dịch chiết
- Cô đặc thành cao: khi cô phải ở nhiệt độ thấp, thời gian cô 4-5 giờ Cao thu được cao ở thể dẻo, đặc quánh, sờ không dính tay Bảo quản ở nơi kín khí,
hạn chế oxi, phòng tránh oxy hóa, ở nhiệt độ phòng và áp suất thường
Trang 24- Kết quả: Với 4kg nguyên liệu lá và 4 lít nước, chiết ở nhiệt độ sôi
100oC, áp suất thường Đem cô đặc thu được 10-15% nước Qua quá trình nấu
từ 10-12 giờ, thu được 1 lạng cao lá ở thể dẻo, đặc quánh, sờ không dính tay
Bảo quản kín khí, tránh oxy hóa, nhiệt độ phòng và áp suất thường
▪ Động vật thực nghiệm:
+ Chuột cống trắng chủng Wistar khỏe mạnh, cả hai giới, trọng lượng
180 ± 20g: để đánh giá độc tính bán trường diễn
+ Chuột nhắt trắng dòng Swiss khỏe mạnh, cả hai giới, trọng lượng trung
bình 25 ± 2 g/con (để đánh giá tác dụng trên lipid máu)
+ Chuột được cung cấp bởi Học viện Quân y và được nuôi bằng thức ăn
tổng hợp, uống nước đun sôi để nguội, phòng nuôi chuột được khống chế nhiệt
độ trong khoảng 23-25C, độ ẩm 45-75% [3, 44, 50].
Thuốc, hóa chất và máy móc phục vụ nghiên cứu:
+ Poloxamer 407 500g (Sigma – Singapore)
+ Atorvastatin viên nén bao phim 10mg (STADA - Việt Nam)
+ Fomandehit 500ml (công ty TNHH SX TM Việt Mỹ - Việt Nam)
+ Máy phân tích huyết học tự động Coulter LH 780, Máy phân tích sinh
hóa tự động Beckman Coulter AU5800 Kính hiển vi Bộ dụng cụ chẩn đoán
ERBA thương mại được sử dụng để phân tích huyết thanh học của cholesterol
toàn phần (TC), triglycerid (TG), lipoprotein- cholesterol mật độ cao (HDL-C)
+ Các hóa chất xét nghiệm và làm tiêu bản mô bệnh học