1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số đặc điểm dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân covid 19 tại đồng tháp

73 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân COVID-19 tại Đồng Tháp
Tác giả Đào Duy Anh
Người hướng dẫn QH.2016.Y TS. Nguyễn Tuấn Sơn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Đại học Y Dược
Chuyên ngành Y học
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC Y DƯỢC ĐÀO DUY ANH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN COVID-19 TẠI ĐỒNG THÁP KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC Y DƯỢC

ĐÀO DUY ANH

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN COVID-19 TẠI

ĐỒNG THÁP

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH Y ĐA KHOA

Hà Nội - 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC Y DƯỢC

ĐÀO DUY ANH

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN COVID-19 TẠI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này, em đã nhận được

nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành

gửi lời cảm ơn tới:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội, thầy cô giảng

viên Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em

trong quá trình học tập và nghiên cứu để em có thể hoàn thành khoá luận này

Em xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn Tuấn Sơn –

những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em rất nhiều trong

suốt thời gian thực hiện và hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên, bệnh nhân điều trị tại

khu kí túc xá trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em

trong quá trình học tập và thu thập số liệu cho nghiên cứu này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giảng viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dạy dỗ, trang bị kiến thức cho

em trong suốt 6 năm theo học tại trường

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, những

người bạn thân thiết của em, những người đã cùng chia sẻ khó khăn, dành cho em

những lời động viên, chia sẻ quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 9 tháng 12 năm 2021

Sinh viên

Đào Duy Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em là Đào Duy Anh, sinh viên khoá QH.2016.Y, ngành Y đa khoa, Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Tuấn Sơn

2 Công trình này không trùng lặp bất kì nghiên cứu nào đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và

khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 9 tháng 12 năm 2021

Sinh viên

Đào Duy Anh

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 7

BẢNG 7

BIỂU ĐỒ 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 8

CHƯƠNG 1 10

TỔNG QUAN 10

1.1 Giới thiệu về dịch bệnh COVID -19 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Sự bùng phát dịch bệnh COVID-19 10

1.2 Dịch tễ học 11

1.3 Cơ chế bệnh sinh 12

1.4 Triệu chứng lâm sàng 13

1.5 Xét nghiệm cận lâm sàng 14

1.6 Phân loại các thể lâm sàng 15

1.7 Chẩn đoán xác định 18

CHƯƠNG 2 19

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 19

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 19

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 19

2.4 Công cụ nghiên cứu 22

2.5 Phương pháp nghiên cứu 22

Trang 7

2.6 Phương pháp phân tích số liệu 23

2.7 Các sai số và cách khắc phục 23

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3 25

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Một số yếu tố dịch tễ liên quan đến bệnh nhân COVID -19 tại khu kí túc xá trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp 25

3.2 Kiến thức về phòng chống dịch bệnh COVID-19 của các đối tượng trên 28

3.3 Đánh giá biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị của bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 31

Chương 4 38

BÀN LUẬN 38

4.1 Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.1 Phân bố theo độ tuổi của bệnh nhân COVID-19 38

4.1.2 Đặc điểm về giới tính 38

4.1.3 Đặc điểm về nguồn lây của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.4 Thời gian ủ bệnh 38

4.1.5 Đặc điểm đeo khẩu trang 39

4.1.6 Tình hình tiêm chủng vaccine 39

4.2 Kiến thức về dịch bệnh COVID-19 39

4.2.1 Cách tiếp cận thông tin dịch bệnh COVID-19 39

4.2.2 Nhận thức về đường lây 40

4.2.3 Nhận thức về tác hại của bệnh COVID-19 40

4.2.4 Nhận thức về tác dụng của vaccine phòng COVID-19 40

4.2.5 Mức độ áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh 41

4.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị của đối tượng nghiên cứu 41

4.3.1 Đặc điểm lâm sàng 41

4.3.2 Đặc điểm cận lâm sàng 42

4.3.3 Kết quả điều trị 42

4.4 Một số yếu tố liên quan giữa đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng 42 4.4.1 Mối liên quan giữa thời gian từ khi tiếp xúc nguồn lây tới khi nhập viện với chỉ số Ct lần 1 của ĐTNC 42

4.4.2 Mối liên quan giữa chỉ số Ct lần 1 và đặc điểm tiêm chủng vaccine 43

4.4.3 Mối liên quan giữa chỉ số Ct lần 1 và triệu chứng lâm sàng 44

CHƯƠNG 5 45

Trang 8

KẾT LUẬN 46

1 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân COVID-19 46

2 Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của bệnh nhân COVID-19 46

KHUYẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC 50

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ BẢNG

Bảng 3 1: Phân bố nhóm tuổi của ĐTNC 25

Bảng 3 2: Đặc điểm về nguồn lây của ĐTNC 26

Bảng 3 3: Thời gian ĐTNC tiếp xúc với nguồn lây cho đến khi nhập viện 26

Bảng 3 4: Tình trạng đeo khẩu trang khi tiếp xúc giữa ĐTNC với nguồn lây bệnh 27

Bảng 3 5: Tình hình tiêm chủng vacxin covid-19 của ĐTNC 28

Bảng 3 6: Nhận thức của ĐTNC về đường lây của virus SARS-CoV-2 29

Bảng 3 7: Nhận thức của ĐTNC về tác hại của bệnh COVID-19 gây ra cho người bệnh 29

Bảng 3 8: Kiến thức của ĐTNC về tác dụng của vaccine 30

Bảng 3 9: Đặc điểm về kết quả xét nghiệm RT –PCR SARS-CoV-2 và chỉ số Ct của ĐTNC 32

Bảng 3 10: Kết quả điều trị của ĐTNC 33

Bảng 3 11: Mối liên quan giữa chỉ số Ct lần 1 và thời gian ĐTNC tiếp xúc với nguồn lây cho đến khi nhập viện 34

Bảng 3 12: Mối liên quan giữa chỉ số Ct lần 1 và đặc điểm tiêm chủng vaccine của ĐTNC 34

Bảng 3 13: Mối liên quan giữa chỉ số Ct lần 1 và triệu chứng lâm sàng củaĐTNC 35

Bảng 3 14: Mối liên quan giữa chỉ số CT lần 1 và một số triệu chứng lâm sàng cụ thể của ĐTNC 35

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1: Phân bố giới tính của ĐTNC 26

Biểu đồ 3 2: Cách tiếp cận của ĐTNC về thông tin dịch bệnh COVID-19 28

Biểu đồ 3 3: Mức độ áp dụng các biện pháp phòng chống dịch của ĐTNC 31

Biểu đồ 3 4: Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng của ĐTNC 32

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vào ngày 8 tháng 12 năm 2019, một nhóm bệnh nhân có các triệu chứng giống như

viêm phổi không rõ nguyên nhân đã được báo cáo ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc

và tiếp tục lây lan với tốc độ nhanh chóng trên toàn cầu gây ra những lo ngại nghiêm

trọng [1] Sau một số thử nghiệm và nghiên cứu, tác nhân gây ra bệnh viêm phổi bí ẩn

này được xác định là một loại coronavirus mới (nCoV), virus được đặt tên là SARS – CoV – 2 (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng coronavirus 2) [2]

SARS–CoV–2 lây truyền chính qua các giọt bắn đường hô hấp của những người

nhiễm bệnh Những giọt bắn này có thể được truyền sang người lành nếu họ tình cờ

tiếp xúc trực tiếp với người bị nhiễm bệnh hoặc gián tiếp thông qua các đồ đạc bao

gồm quần áo, tay nắm cửa,… Các nghiên cứu đã báo cáo rằng SARS–CoV–2 cũng có

thể lây truyền qua đường khí dung (lây truyền qua đường không khí) [3]

Thời gian ủ bệnh trung bình của SARS–CoV–2 được ước tính là 5,1 ngày và phần

lớn bệnh nhân sẽ xuất hiện các triệu chứng trong vòng 11,5 ngày kể từ ngày nhiễm

bệnh Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là sốt, ho, khó thở và ít gặp hơn là đau

họng, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, khó chịu, đau cơ và tiêu chảy [4] Theo một báo cáo về đặc điểm lâm sàng COVID -19 của Stokes và cộng

sự trong số 373.883 trường hợp nhiễm bệnh thì 70% trong số họ bị sốt, ho, khó thở;

36% trường hợp xuất hiện đau cơ và 34% trường hợp đau đầu [5]

Hầu hết bệnh nhân mắc COVID-19 đều mắc bệnh nhẹ hoặc trung bình, tuy nhiên có

đến 5–10% mắc bệnh nặng và thậm chí đe dọa tính mạng[7] Hiện nay, xét nghiệm

RT - PCR dịch hầu họng vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán COVID-19 [7];

đối với những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, nên tập trung vào việc phòng ngừa lây truyền,

điều trị triệu chứng[8]; các biện pháp chăm sóc điều trị hỗ trợ như thở oxy thông khí và

quản lý chất lỏng vẫn là tiêu chuẩn chăm sóc Một số thử nghiệm lâm sàng hiện đang

cố gắng xác định loại thuốc hoặc sự kết hợp mạnh nhất chống lại căn bệnh này [7]

Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) chính thức tuyên bố COVID-19 là đại dịch vào ngày

11 tháng 3 năm 2020 Ngoài ra, đánh giá rủi ro của WHO đã phân loại COVID-19 là

một đại dịch toàn cầu “nguy cơ rất cao”[1] Tính đến ngày 23/9/2022 WHO công bố

trên toàn cầu đã có 229.858.719 trường hợp được xác nhận nhiễm SARS–CoV–2,

Trang 11

trong đó có 4.713.543 trường hợp tử vong Tại Việt Nam , từ ngày 3 tháng 1 năm

2020 đến ngày 23 tháng 9 năm 2021 , đã có 718.963 trường hợp được xác nhận nhiễm SARS – CoV – 2 với 17.781 trường hợp tử vong[9] ; trong đó tỉnh Đồng Tháp

đã ghi nhận 8205 ca nhiễm và 205 ca tử vong

Dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến khá phức tạp với số ca mắc tăng nhanh

và số ca tử vong tăng rất cao và xuất hiện nhiều loại biến chủng của virus rất nguy hiểm Vì vậy, việc đánh giá tình hình dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp điều trị đã được ghi nhận tại các cơ sở điều trị cho bệnh nhận nhiễm SARS – CoV – 2 là hết sức quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả điều trị và đưa ra những phương pháp phù hợp, hiệu quả cao

Do đó chúng tôi tiến hành đề tài “ Một số đặc điểm dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và

kết quả điều trị bệnh nhân Covid-19 tại Đồng Tháp” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến trường cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp tháng 8 năm 2021

2 Đánh giá biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến trường cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp tháng 8 năm 2021

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về dịch bệnh COVID -19

1.1.1 Khái niệm

Vào tháng 12 năm 2019, hàng loạt bệnh nhân có các triệu chứng giống như viêm

phổi nhưng không rõ nguyên nhân đã xuất hiện tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc

Sau đó, chúng được xác nhận là do virus corona mới gây ra Ban đầu, chúng được dự

kiến đặt tên là virus corona mới 2019 (2019-nCoV) Đến ngày 11 tháng 2 năm 2020,

Uỷ ban Quốc tế về Phân loại Virus (ICTV) quyết định đặt tên chính thức cho chủng

corona mới này là SARS – CoV – 2 khi họ phân tích rằng chúng cùng loại với virus

SARS từng gây ra đại dịch năm 2003 nhưng là một chủng khác loài Loại virus này gây

nên căn bệnh với tên gọi là bệnh coronavirus 2019 (COVID-19)[10]

Coronavirus thuộc họ Coronaviridae trong bộ Nidovirales Coronavirus là virus có hệ

gen ARN dương sợi đơn kèm nucleocapsid đối xứng xoắn ốc Các hạt virus

coronavirus chứa 4 protein cấu trúc chính là protein S, lớp màng M, vỏ E và

nucleocapsid N [ 11]

Virus corona gây ra cảm mạo cùng với các triệu chứng khá nghiêm trọng giống như

Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) và Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng

(SARS) [10] Tháng 12 năm 2019 tới nay, thành phố Vũ Hán của tỉnh Hồ Bắc liên tục

xét nghiệm bệnh cúm rộng rãi và các bệnh tật liên quan, phát hiện nhiều trường hợp

bệnh viêm phổi do nguyên nhân virus, tất cả cùng chẩn đoán là viêm phổi virus/ truyền

nhiễm phần phổi Uỷ ban Sức khoẻ Vệ sinh Nhà nước Trung Quốc nhận định đây là

bệnh truyền nhiễm loại B, chiếu theo quản lí loại A [12]

1.1.2 Sự bùng phát dịch bệnh COVID-19

Ngày 31/12/2019, giới chức y tế Trung Quốc báo cáo với văn phòng

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Trung Quốc về việc phát hiện một chủng virus mới

chưa từng biết tới, gây ra căn bệnh giống như viêm phổi ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc Chỉ hai tuần sau khi báo cáo những ca bệnh đầu tiên, các

nhà khoa học Trung Quốc đã xác định được chủng virus mới này có mức độ

giống > 70% với SARS- CoV và giống > 95% với coronavirus ở dơi Các ca bệnh xuất

Trang 13

hiện đầu tiên xuất hiện ở chợ hải sản Hoa Nam và nhanh chóng lây lan ra xung quanh

theo cấp số nhân; tuy nhiên, một số trường hợp nhiễm bệnh không tiếp xúc trực tiếp

với chợ hải sản Hoa Nam, cho thấy rằng đã có việc lây truyền từ người sang người Để

ngăn chặn việc lây truyền bệnh dịch, thành phố Vũ Hán đã quyết định phong toả toàn

thành phố ngay sau đó Nhưng do sự di cư ồ ạt của người dân Trung Quốc nhân dịp

đầu năm mới đã làm cho dịch bệnh nhanh chóng vượt qua địa phận thành phố này sang

các thành phố khác của tỉnh Hồ Bắc [13] Trước tình hình đó, ngày 30/1/2020

WHO quyết định tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới virus

corona gây ra (sau này dịch bệnh được đặt tên chính thức là dịch COVID-19) là “ vấn

đề y tế khẩn cấp toàn cầu’’ [14] Ngày 11/3/2020, tổng giám đốc của WHO, tiến sĩ

Tedros Adhanom Ghebreyesus đã tuyên bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu trước bối

cảnh số ca nhiễm trên toàn thế giới đã vượt mốc 126.000 ca nhiễm và dịch đã lan ra

123 quốc gia và vùng lãnh thổ [15][9]

1.2 Dịch tễ học

Trong đợt bùng phát dịch vào cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc,

Trung Quốc, các nhà khoa học nghi ngờ nguồn lây bệnh xuất phát từ chợ buôn bán hải

sản Hoa Nam, nơi nhiều loài động vật sống khác nhau được tập trung trong lồng, tạo

cơ hội cho quá trình lây truyền virus Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng hiện nay cho

thấy chợ này không phải nguồn gốc của đợt bùng phát dịch Mặc dù các mẫu lấy ở môi

trường tại khu chợ nơi bán động vật hoang dã đều dương tính với SARS – CoV – 2,

nhưng các mẫu mô động vật ở chợ âm tính với virus này [16]

Vào cuối tháng 12 năm 2019, Uỷ ban Y tế thành phố Vũ Hán báo cáo cho

WHO có 41 trường hợp “ viêm phổi không rõ nguyên nhân” Vào ngày 8 tháng 1 năm

2020, mầm bệnh đã được xác định và sự lây truyền từ người sang người được báo cáo

ngay sau đó Số ca tích luỹ ở Vũ Hán sau đó tăng lên gấp đôi sau từ 2,3 – 3,3 ngày

[17] Vào ngày 18 tháng 1 năm 2020, số ca tích luỹ đã tăng lên gần 4000 ca [9] Từ 14

đến 22 tháng 1 năm 2020, các trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên được xác nhận bên

ngoài Trung Quốc bao gồm 3 phụ nữ và 1 đàn ông ở Thái Lan, 1 đàn ông ở Nhật Bản,

1 phụ nữ ở Hàn Quốc, 1 phụ nữ ở Đài Loan, 1 đàn ông ở Hồng Kông,

1 phụ nữ ở Ma Cao và 1 đàn ông ở Hoa Kì Ngày 26 tháng 2 năm 2020, WHO báo cáo

rằng các trường hợp mắc mới ở Trung Quốc đã giảm nhưng đột ngột tăng mạnh ở Ý,

Trang 14

Iran và Hàn Quốc Và lần đầu tiên, số trường hợp mắc mới bên ngoài Trung Quốc đã vượt quá số trường hợp mắc mới ở Trung Quốc [18]

Vào ngày 11 tháng 3 năm 2020, khi quá trình lây lan trong cộng đồng đang diễn ra

ở nhiều nơi trên khắp thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ) đã tuyên bố COVID-19

là đại dịch toàn cầu [15] Sau đó, dịch bệnh ở Trung Quốc dần lắng xuống và dịch bệnh tại các nước Tây Âu, chủ yếu là Ý, Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Hoa Kì đã trở thành những điểm nóng mới Đến nay, dịch đã lan rộng ra 223 quốc gia và vùng lãnh thổ Tính đến ngày 24/9/2021, số ca nhiễm trên toàn thế giới là 229.858.719 ca, trong đó có 4.713.543 ca tử vong

Tại Việt Nam ghi nhận trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên vào ngày 23 tháng 1 năm

2020 Ca nhiễm đầu tiên là một người đàn ông Trung Quốc 61 tuổi nhập cảnh vào thành phố Hồ Chí Minh từ Vũ Hán ngày 13 tháng 1 năm 2020 để gặp con trai Tính cho đến ngày 24/9/2021, số ca nhiễm tại Việt Nam là 736.972 ca, trong đó có 18.220 ca tử vong [9] Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, ngày 24 tháng 2 năm 2021 lô vaccine đầu tiên được nhập về Việt Nam bao gồm 117.600 liều của hãng AstraZenenca Cho đến ngày 24 tháng 9 năm 2021, Việt Nam đã triển khai tiêm được 36.793.910 liều vaccine, trong đó tiêm mũi 1 là 29.534.498 liều, tiêm mũi 2 là 7.259.412 liều

1.3 Cơ chế bệnh sinh

Bề mặt của virus SARS – CoV – 2 được bao phủ bởi một số lượng lớn các protein gai (protein S), những protein này giúp cho virus xâm nhập vào tế bào vật chủ Mỗi protein gai gồm 2 tiểu đơn vị S1 và S2 Tiểu đơn vị S1 ở đầu gai chứa miền gắn kết thụ thể (RBD) gắn kết với men chuyển angiotensin 2 (ACE2) trên tế bào biểu mô đường

hô hấp của người Tiểu đơn vị S2, nằm trên cuống gai làm trung gian cho hợp nhất màng tế bào vật chủ và virus cần thiết cho sự xâm nhập của virus [19] Protease serine xuyên màng 2 (TMPRSS2 -1) chịu trách nhiệm phân cắt 2 tiểu đơn vị S1 và S2 giúp cho quá trình hợp nhất của virus với màng tế bào vật chủ diễn ra [20]

Men chuyển angiotensin 2 (ACE2) được xác định lần đầu tiên vào năm 2000 ACE2 phân bố rộng rãi trong các cơ quan khác nhau của con người (niêm mạc miệng

và mũi, vòm họng, phổi, dạ dày, ruột non, ruột kết) , da, hạch bạch huyết, tuyến ức, tủy xương, lá lách, gan, thận và não) Phát hiện đáng chú ý nhất là sự biểu hiện bề mặt của

Trang 15

protein ACE2 trên tế bào biểu mô phế nang phổi và tế bào ruột của ruột non Hơn nữa, ACE2 hiện diện trong các tế bào nội mô động mạch và tĩnh mạch và các tế bào cơ trơn động mạch ở tất cả các cơ quan được nghiên cứu [21] Sự phân bố rộng rãi của các thụ thể ACE2 khắp cơ thể có thể giải thích sự ảnh hưởng đến đa cơ quan trong COVID-19 ACE2 điều chỉnh hệ thống renin-angiotensin bằng cách xúc tác quá trình thuỷ phân octapeptide angiotensin 2 (Ang II, chất co mạch ) thành heptapeptide angiotensin 1-7 (Ang 1-7, chất giãn mạch ) Ang 1-7 cũng đối kháng Ang 1-7 cũng đối kháng tác dụng kích thích của Ang II với quá trình sản xuất ra các cytokine tiền viêm như IL-6 ACE2 đã được chứng minh là có chức năng bảo vệ ở phổi, tim mạch và các cơ quan khác Hậu quả của việc suy giảm ACE2 sau khi nhiễm tế bào ở vật chủ để lại kích thích tiền viêm của Ang II và hậu quả là tổn thương phổi và các cơ quan khác không được giải quyết [22]

Nhiễm vi-rút nội mô dẫn đến tổn thương tế bào nội mô, kích hoạt giải phóng các cytokine tiền viêm và rối loạn chức năng vi tuần hoàn ở phổi, tim và gan Ngoài ra còn gây nên tình trạng tăng đông máu dẫn đến hình thành huyết khối vi mạch Khi xảy ra ở phổi, huyết khối vi mạch có thể làm suy giảm quá trình trao đổi oxy; khi xảy ra trong các tĩnh mạch, nó có thể dẫn đến huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi và trong động mạch, đột quỵ do thiếu máu não cục bộ, thiếu máu cục bộ ở chi và nhồi máu cơ tim [23]

1.4 Triệu chứng lâm sàng

- Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày

- Khởi phát: triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ Một số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy Một số trường hợp có biểu hiện rối loạn khứu giác hoặc tê lưỡi

Trang 16

(ARDS) , sốc nhiễm trùng, suy chức năng các cơ quan bao gồm tổn thương thận và tổn thương tim, dẫn đến tử vong

+ Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng ban đầu tới khi diễn biến nặng thường khoảng 7-8 ngày

+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và mắc các bệnh mạn tính kèm theo Ở người lớn, các yếu tố tiên lượng tăng nguy cơ tử vong

là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao khi nhập viện và nồng độ D-dimer > 1ug/L

1.5 Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm huyết học, sinh hoá máu thay đổi không đặc hiệu:

- Số lượng bạch cầu trong máu có thể bình thường hoặc giảm; số lượng bạch cầu lympho thường giảm, đặc biệt nhóm diễn biến nặng

- Protein C phản ứng (CRP) bình thường hoặc tăng, procalcitonin (PCT) thường bình thường Một số trường hợp có thể tăng nhẹ ALT, AST, CK, LDH

- Hiện nay xét nghiệm RT-PCR hoặc giải trình tự gen từ các mẫu bệnh phẩm được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nhiễm SARS – CoV – 2

- Ở giai đoạn sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang bình thường

Trang 17

- Khi có viêm phổi, tổn thương thường ở hai bên với dấu hiệu viêm phổi kẽ hoặc đám

mờ (hoặc kính mờ) lan toả, ở ngoại vi hay thuỳ dưới Tổn thương có thể tiến triển

nhanh trong ARDS Ít khi gặp dấu hiệu tạo hang hay tràn dịch, tràn khí màng phổi

1.6 Phân loại các thể lâm sàng

Viêm đường hô hấp cấp tính do SARS – CoV – 2 có thể biểu hiện các thể bệnh trên

lâm sàng như sau:

- Không triệu chứng:

Người ngiễm SARS – CoV – 2 được khẳng định bằng xét nghiệm RT- PCR

dương tính nhưng không có triệu chứng lâm sàng

- Viêm đường hô hấp trên

Người bệnh có các triệu chứng không đặc hiệu như sốt, ho khan, đau họng,

nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ Người cao tuổi hoặc người suy giảm

miễn dịch có thể có các triệu chứng không điển hình

- Viêm phổi nhẹ

o Người lớn và trẻ lớn: bị viêm phổi và không có dấu hiệu viêm phổi nặng

o Trẻ nhỏ: trẻ có ho hoặc khó thở và thở nhanh Thở nhanh được xác định khi

nhịp thở ≥60 lần/ phút ở trẻ dưới 2 tháng ≥ 50 lần/ phút ở trẻ từ 2-11 tháng;

≥ 40 lần/ phút ở trẻ từ 1-5 tuổi ) và không có các dấu hiệu của viêm phổi nặng

o X-quang phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ

- Viêm phổi nặng

o Người lớn và trẻ lớn: sốt hoặc nghi ngờ nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất kỳ

một dấu hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/ phút, khó thở nặng, hoặc SpO2 ≤ 93% khi thở

khí phòng

o Trẻ nhỏ: ho hoặc khó thở, và có ít nhất một trong các dấu hiệu sau đây: tím tái

hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);

+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau: không thể

uống/ bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hôn mê); co giật Có thể có các dấu hiệu khác

Trang 18

của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/ phút như trên) Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X- quang phổi để xác định các biến chứng

- Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ( ARDS )

o Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong vòng một tuần kể từ khi có các triệu chứng lâm sàng

o X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ hai phế trường mà không phải do tràn dịch màng phổi, xẹp thuỳ phổi hoặc các nốt ở phổi

o Nguồn gốc của phù phổi không phải do suy tim hoặc quá tải dịch Cần đánh giá khách quan (siêu âm tim) để loại trừ phù phổi do áp lực thuỷ tĩnh nếu không thấy các yếu tố nguy cơ

o Thiếu oxy máu ở người lớn: phân loại dựa vào chỉ số PaO2/ FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F) khi không có kết quả PaO2:

+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤ 300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥ 5cm H2O

+ ARDS vừa:100mmHg < P/F ≤ 200mmHg với PEEP ≥ 5cmH2O

+ ARDS nặng: P/F ≤ 100 mmHg với PEEP ≥ 5cm H2O

+ Khi không có PaO2: S/F ≤ 315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh không thở máu)

o Thiếu oxy máu ở trẻ em: phân loại dựa vào các chỉ số OI hoặc OSI cho người bệnh thở máy xâm nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy không xâm nhập (NIV):

+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥ 5cm H2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2 ≥ 300 mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264

+ ARDS nhẹ (thở máy xâm nhập): 4 ≤ OI < 8 hoặc 5 ≤ OSI < 7,5

+ ARDS vừa (thở máy xâm nhập): 8 ≤ OI < 16 hoặc 7,5 ≤ OSI < 12,3

+ ARDS nặng (thở máy xâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3

- Nhiễm trùng huyết

o Người lớn: có dấu hiệu rối loạn chức năng các cơ quan

Trang 19

+ Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hôn mê

+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hoà oxy thấp

+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím

+ Thiểu niệu hoặc vô niệu

+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactat, tăng

bilirubin…

o Trẻ em: khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2 tiêu chuẩn

của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải là thay đổi thân

nhiệt hoặc số lượng bạch cầu bất thường

- Sốc nhiễm trùng

o Người lớn: hạ huyết áp kéo dài mặc dù đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận

mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và nồng độ

lactat huyết thanh > 2 mmol/L

o Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định khi có:

+ Bất kỳ tình trạng hạ huyết áp nào: khi huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc

> 2SD dưới ngưỡng bình thường theo lứa tuổi, hoặc (trẻ < 1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ

1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 1-10 tuổi: < 90 mmHg)

+ Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc chậm

(< 90 nhịp/ phút hoặc > 160 nhịp/ phút ở trẻ nhũ nhi, và < 70 nhịp/ phút hoặc > 150 nhịp/ phút ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (> 2 giây); hoặc

giãn mạch ấm/ mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban

xuất huyết; tăng nồng độ lactat; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt

- Hội chứng viêm hệ thống liên quan tới COVID -19 ở trẻ em

Chẩn đoán khi có các tiêu chuẩn sau: Trẻ 0-19 tuổi có sốt ≥ 3 ngày và có 2 trong

các dấu hiệu sau:

1) Ban đỏ hoặc xung huyết giác mạc hoặc phù nề niêm mạc miệng, bàn tay,

bàn chân;

2) Hạ huyết áp hoặc sốc;

Trang 20

3) Suy giảm chức năng tim, tổn thương màng tim, viêm màng ngoài tim, bất thường mạch vành xác định qua siêu âm, tăng proBNP, Troponin;

4) Rối loạn đông máu (PT, APTT, D-dimer cao); Rối loạn tiêu hoá cấp tính (ỉa chảy, đau bụng, nôn)

Và có tăng các markers viêm (CRP, máu lắng, procalcitonin)

Và không có các căn nguyên nhiễm trùng khác

Và có bằng chứng của nhiễm virus SARS – CoV – 2 hoặc tiếp xúc gần với người mắc COVID-19

1.7 Chẩn đoán xác định

Là ca bệnh có biểu hiện lâm sàng nêu trên và có xét nghiệm RT-PCR dương tính

với SARS – CoV – 2

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là bệnh nhân đang điều trị bệnh COVID-19 xác định nhiễm virus SARS – CoV – 2 tại bệnh viện dã chiến trường Cao đẳng Cộng

đồng tỉnh Đồng Tháp thuộc tầng 1 trong mô hình tháp 3 tầng của Việt Nam

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân đang điều trị bệnh COVID-19 tại bệnh viện dã chiến tại trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp trong khoảng thời gian từ 19/8/2021

đến ngày 14/9/2021

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Đối tượng không đủ tiêu chuẩn trên

- Đối tượng vắng mặt tại thời điểm điều tra

- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: bệnh viện dã chiến tại trường Cao đẳng Cộng đồng

Đồng Tháp tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

- Thời gian nghiên cứu: ngày 19/8/2021 đến ngày 14/9/2021

- Thời gian thu thập số liệu: 19/8/2021 đến ngày 14/9/2021

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

- Chúng tôi đã thu thập được thông tin từ 240 bệnh nhân tại bệnh viện dã chiến tại

trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Trang 22

Bảng 2.1 Một số biến số nghiên cứu

1 Họ và tên Họ và tên đầy đủ của

6 Thông tin liên

không? Thời gian lưu trú tại đó là bao lâu ?

Định tính Phỏng vấn

Trang 23

Định tính Phỏng vấn

Trang 24

Định tính Phỏng vấn

18 Triệu chứng

cận lâm sàng

Chỉ số CT trong xét nghiệm RT-PCR

Định tính Phỏng vấn

19 Kết quả Kết quả điều trị của

người bệnh nhiễm SARS- CoV- 2

Định tính Phỏng vấn

2.4 Công cụ nghiên cứu

Bộ câu hỏi tự điền ( Phụ lục 1 )

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Liên hệ và thu thập thông tin hàng ngày của bệnh nhân tại bệnh viện dã chiến trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp đã đáp ứng tiêu chí chọn đối tượng (từ ngày 19/8/2021 đến ngày 14/9/2021) rồi điền vào bộ câu hỏi mẫu

Trang 25

2.6 Phương pháp phân tích số liệu

Thông tin được làm sạch và mã hoá Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1

Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê STATA Cả thống kê mô tả và thống kê suy luận được thực hiện

Thống kê mô tả các biến định lượng bao gồm trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn, thống kê mô tả các biến định tính bao gồm tỉ lệ phần trăm

Thống kê suy luận cho biến định lượng được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm Mức ý nghĩa thống kê p<0,05 được sử dụng trong thống kê suy luận

- Đối với các sai số trong quá trình nhập liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếu nhằm kiểm tra thông tin một cách kĩ lưỡng nhất, hạn chế sai số một cách tối đa

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu có sự đồng ý của cơ sở nghiên cứu và sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu

- Trước khi tham gia, đối tượng nghiên cứu được cung cấp rõ ràng, đầy đủ thông tin liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào

Trang 26

- Nghiên cứu chỉ lấy số liệu của bệnh nhân không ảnh hưởng tới sức khoẻ của bệnh nhân Số liệu chỉ được sử dụng trong nghiên cứu này

- Trung thực trong xử lý số liệu

- Đảm bảo trích dẫn chính xác về nguồn tại liệu tham khảo

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số yếu tố dịch tễ liên quan đến bệnh nhân COVID -19 tại khu kí túc xá trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

Bảng 3 1: Phân bố nhóm tuổi của ĐTNC

là 29,2 tuổi trong đó đối tượng nhỏ nhất là 1 tuổi và cao nhất là 65 tuổi

Trang 28

Biểu đồ 3 1: Phân bố giới tính của ĐTNC

Nhận xét:

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu giới tính nam là 54,2% cao hơn giới tính nữ với tỷ lệ 45,8% Tỷ lệ nam/nữ là 1,2/1

Bảng 3 2: Đặc điểm về nguồn lây của ĐTNC

Tỉ lệ phân bố giới tính

Nam Nữ

Trang 29

Bảng 3 3: Thời gian ĐTNC tiếp xúc với nguồn lây cho đến khi nhập viện

Đối tượng nghiên cứu có thời gian tiếp xúc với nguồn lây cho đến khi nhập viện

từ trên 2 đến 14 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,7%; trong vòng 2 ngày chiếm 33,7%

và trên 14 ngày là 6,6%

Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc đến khi vào viện của đối tượng nghiên cứu

là 4,8 ngày trong đó ngắn nhất là 0 ngày và dài nhất là 40 ngày

Bảng 3 4: Tình trạng đeo khẩu trang khi tiếp xúc giữa ĐTNC với nguồn lây bệnh

Nhận xét:

Tình trạng đeo khẩu trang khi tiếp xúc giữa đối tượng nghiên cứu và nguồn lây thu thâp được như sau: tỷ lệ cả hai người đều không đeo là cao nhất với 86,2%; tỷ lệ cả

Trang 30

hai người cùng đeo là 11,1%; tỷ lệ chỉ đối tượng nghiên cứu đeo và chỉ người nhiễm bệnh đeo lần lượt là 1,6% và 1,1%

Bảng 3 5: Tình hình tiêm chủng vacxin covid-19 của ĐTNC

3.2 Kiến thức về phòng chống dịch bệnh COVID-19 của các đối tượng trên

Biểu đồ 3 2: Cách tiếp cận của ĐTNC về thông tin dịch bệnh COVID-19

Nhận xét:

0 10

Trang 31

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tiếp cận thông tin qua tivi là cao nhất chiếm 85%; qua mạng internet chiếm 53,8%; chính quyền chiếm 31,3%, truyền miệng là 31,3% và

tỷ lệ đối tượng nghiên cứu không biết thông tin là 7,5%

Bảng 3 6: Nhận thức của ĐTNC về đường lây của virus SARS-CoV-2

của virus SARS-CoV-2

Bảng 3 7: Nhận thức của ĐTNC về tác hại của bệnh COVID-19

gây ra cho người bệnh

Trang 32

Tổng số 240

Nhận xét:

Đa số đối tượng nghiên cứu nhận thức rằng bệnh COVID-19 có thể gây tử vong chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,4% Nhận thức rằng bệnh gây cảm cúm thông thường và không gây hại với tỷ lệ lần lượt 12,5% và 2,1% Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu không rõ

về tác hại của bệnh COVID-19 là 17,5%

Bảng 3 8: Kiến thức của ĐTNC về tác dụng của vaccine

Trang 33

Biểu đồ 3 3: Mức độ áp dụng các biện pháp phòng chống dịch của ĐTNC

Nhận xét:

Khi ở nhà, đa số đối tượng nghiên cứu không áp dụng các biện pháp phòng chống dịch chiếm tỷ lệ tới 60,4%, có 22,9% đối tượng áp dụng không

đầy đủ biện pháp 5K và 16,7% đối tượng nghiên cứu áp đụng đầy đủ biện pháp 5K

Khi ở ngoài cộng đồng, đa số đối tượng nghiên cứu có áp dụng

biện pháp phòng chống dịch, áp dụng không đầy đủ 5K với tỷ lệ cao nhất 50,4%,

áp dụng đầy đủ 5K với tỷ lệ 43,8%; còn lại 5,8% không áp dụng biện pháp phòng chống dịch

3.3 Đánh giá biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị của bệnh nhân

mắc bệnh COVID-19

0 20 40 60 80 100

Ở nhà Cộng đồng

16.7

43.8 22.9

50.4 60.4

5.8

Đầy đủ 5K Không đầy đủ 5K Không áp dụng

Trang 34

Biểu đồ 3 4: Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng của ĐTNC

Nhận xét:

Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có triệu chứng sốt, ho chiếm khá cao lần lượt là

45,8% và 45%; một số triệu chứng khác như ngạt mũi, rối loạn khứu giác, rối loạn vị giác, khó thở chiếm tỷ lệ ít hơn lần lượt là 21,7%, 13,8%, 12,9% và 4,6%

Không có bệnh nhân nào biểu hiện co kéo cơ hô hấp hay bất thường khi nghe phổi

Bảng 3 9: Đặc điểm về kết quả xét nghiệm RT –PCR SARS-CoV-2 và chỉ số CT của

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Sốt Ho Khó thở Ngạt mũi Rối loạn

khứu giác Rối loạn vị giác Rale phổi

Trang 35

Tổng số 240 100,0 240 100,0 240 100,0

Nhận xét:

Trong lần xét nghiệm SARS-CoV-2 dương tính đầu tiên, đa số bệnh nhân dương tính CT nhỏ hơn 20 với tỷ lệ 45,4%, nhóm dương tính CT từ 20 đến dưới 30 chiếm 37,1%, còn lại 17,5% đối tượng dương tính CT trên 30

Trong lần xét nghiệm thứ 2, đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính chiếm tỷ lệ 79,2%, nhóm dương tính CT từ 30 trở lên có tỷ lệ 15,8%, chỉ còn 5% bệnh nhân dương tính CT dưới 30

Trong lần xét nghiệm thứ 3, tỷ lệ bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính là cao nhất 85,4%, tỷ lệ dương tính CT từ 30 trở lên chiếm 13,8%, chỉ có 2 đối tượng dương tính CT từ 20 đến dưới 30 chiếm 0,8%

Bảng 3 10: Kết quả điều trị của ĐTNC

Trang 36

Bảng 3 11: Mối liên quan giữa chỉ số CT lần 1 và thời gian ĐTNC tiếp xúc với nguồn

lây cho đến khi nhập viện

Nhận xét: Tỷ lệ tiêm chủng mũi 1 của đối tượng nghiên cứu khác nhau giữa các nhóm:

CT lần 1 dưới 20, từ 20 đến dưới 30, từ 30 trở lên với tỷ lệ lần lượt là 12,8%, 16,9%,

2,4% Sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kê (p=0,06)

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:48

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm